Tải bản đầy đủ

ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG BỆNH NHÂN NGỪNG TUẦN HOÀN NGOẠI VIỆN vào KHOA cấp cứu –BỆNH VIỆN hữu NGHỊ đa KHOA NGHỆ AN

1

SỞ Y TẾ NGHỆ AN

BỆNH VIỆN HNĐK NGHỆ AN
KHOA CẤP CỨU

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM 2017

ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG BỆNH NHÂN NGỪNG
TUẦN HOÀN NGOẠI VIỆN VÀO KHOA CẤP CỨU –
BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ ĐA KHOA NGHỆ AN

Nhóm nghiên cứu: 1. Ths Nguyễn Đức Phúc
2. Bs CK1 Trần Bá Biên
3. Ths Nguyễn Hữu Tân

Vinh – 02/201


CÁC TỪ VIẾT TẮT


AHA

: (American Heart Association)
Hội tim mạch học Hoa Kỳ

BN

: Bệnh nhân

CPR

: (Cardiopulmonary Resuscitation) Hồi sinh tim phổi

ILCOR

: (International Liaison Committe on Resuscitation)
Ủy ban Liên lạc Quốc tế về Hồi sinh

NTH

: Ngừng tuần hoàn

PIV

: (Plus Intravenous) Tiêm nhanh đường tĩnh mạch

VF

: (Ventricular Fibrillation) Rung thất

VT

: (Ventricular Tachycardia) Nhịp nhanh thất


MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG


DANH MỤC BIỂU ĐỒ


6

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngừng tuần hoàn (NTH) hay cũng gọi là ngừng tim là một cấp cứu hết
sức khẩn cấp, có thể xảy ra bất kỳ nơi nào trên đường phố, trong bệnh viện,
công trường, bãi biển, gia đình,....Cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện là một
phần quan trọng của y học cấp cứu. Mặc dù hồi sức tim phổi bằng ép tim
ngoài lồng ngực đã được tiến hành hơn 40 năm nhưng tỷ lệ bệnh nhân sống
sót trong các nghiên cứu khác nhau vẫn còn rất thấp. Hiệp hội Tim Hoa Kỳ đã
đưa ra khái niệm chuỗi sống sót nhằm tối ưu hóa dư hậu của các bệnh nhân
ngừng tuần hoàn. Chuỗi này bao gồm việc đánh giá sớm bệnh nhân NTH,
CPR sớm, sốc khử rung sớm và hồi sức nâng cao sớm. Ba yếu tố đầu tiên liên
quan đến Cấp cứu trước bệnh viện. Thực tế cho thấy nhiều bệnh nhân NTH
ngoài bệnh viện được cứu sống là nhờ sự can thiệp đúng và kịp thời trước lúc
vào bệnh viện. Như vậy, Cấp cứu trước viện tốt là chìa khóa nâng cao khả
năng sống sót của bệnh nhân [1],[2],[3],[4].
Ở các quốc gia có nền y học tiên tiến, Cấp cứu trước bệnh viện đã phát
triển thành một hệ thống chặt chẽ. Bên cạnh nhân viên y tế được đào tạo về
cấp cứu còn có sự tham gia của nhiều thành phần cộng đồng dưới sự hướng
dẫn chuyên môn của các chuyên gia cấp cứu. Vì vậy hiệu quả cấp cứu ngoài
bệnh viện ngày càng nâng cao. Ở Việt Nam, hệ thống cấp cứu đang còn ở giai
đoạn hoàn thiện nên Cấp cứu trước bệnh viện vẫn là một lĩnh vực cần sự quan
tâm đầu tư nhiều hơn nữa.
Trong các nghiên cứu gần đây tỷ lệ bệnh nhân sống sót ra viện sau cấp
cứu ngừng tuần hoàn tại Mỹ chiếm khoảng 5%, riêng đối với NTH do rung
thất tỷ lệ này là 31% [5], tại Hàn Quốc cao nhất là đạt được 18% [6]. Tuy
nhiên các bệnh nhân này ít nhiều để lại các di chứng, đặc biệt là các di chứng
về thần kinh.


7

Tại Việt Nam theo nghiên cứu của Phùng Nam Lâm và cộng sự [7] năm
2008 tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai tỷ lệ sống sót là 0%. Theo nghiên
cứu của Đặng Đức Hoàn và cộng sự [8] năm 2012 tại khoa Cấp cứu Bệnh
viện Thanh Nhàn tỷ lệ này là 1,7%. Theo nghiên cứu của Hoàng Trọng Ái
Quốc [9] năm 2015 tại khoa Cấp Cứu Bệnh viện TW Huế tỷ lệ sống sót là
2,0%, còn theo nghiên cứu của Phạm Thị Ngọc Thảo [10] năm 2015 tại khoa
Cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy tỷ lệ này là 10,3 %. Kết quả này phản ánh phần
nào tình hình cấp cứu ngừng tuần hoàn ở Việt Nam.
Qua quá trình làm việc, chúng tôi thấy rằng tình trạng bệnh nhân ngừng
tuần hoàn ngoại viện vào khoa Cấp cứu – Bệnh viện HNĐK Nghệ An ngày
càng nhiều và với nhiều nguyên nhân khác nhau. Vì vậy, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu này nhằm các mục tiêu sau:
1.
2.

Đánh giá một số đặc điểm của bệnh nhân ngừng tuần hoàn.
Tìm hiểu nguyên nhân ngừng tuần hoàn và bước đầu đánh giá kết quả
cấp cứu ngừng tuần hoàn.


8

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Một số vấn đề cơ bản về ngừng tuần hoàn
1.1.1. Khái niệm
Ngừng tuần hoàn là trạng thái tim ngừng cung cấp máu cho cơ thể, đặc
biệt là các cơ quan quan trọng như não, tuần hoàn vành, phổi... Có 3 trạng thái
cơ bản là: Vô tâm thu, rung thất và phân ly điện cơ [1].
Nó có thể xảy ra đột ngột trên một quả tim hoàn toàn khoẻ mạnh như
trong các tai nạn do điện giật, đuối nước, sốc phản vệ, đa chấn thương...
Nhưng cũng có thể là hậu quả cuối cùng của một bệnh lý mạn tính giai đoạn
cuối như ung thư, xơ gan, suy tim, suy thận...
Trong y học, người ta còn sử dụng một số thuật ngữ khác để chỉ việc cấp
cứu trạng thái ngừng tuần hoàn như: Cấp cứu ngừng tim phổi, hồi sinh chết
lâm sàng, hồi sinh tim-phổi, hồi sinh tim-phổi-não...
1.1.2. Hậu quả sinh lý bệnh của thiếu máu não
Bình thường lưu lượng máu não ổn định ở mức 50ml/100gr tổ chức não
trong 1 phút mặc dù huyết áp động mạch có thể dao động từ 50 - 150 mmHg.
Sở dĩ như vậy là nhờ tính tự điều hoà hệ mạch não, khi huyết áp động mạch
tụt thấp, các mạch máu não giãn ra và ngược lại khi huyết áp tăng lên thì
mạch máu não co lại. Tế bào não còn có thể sống được khi lưu lượng máu não
> 20 ml/kg/phút, dưới ngưỡng này thì sẽ giãn mạch não tối đa và sự sống của
tế bào não phụ thuộc trực tiếp vào thời gian thiếu máu não. Tế bào não là tế
bào đặc biệt nhất trong cơ thể, khi đã tổn thương thì không có tái tạo và bù
đắp như các tế bào khác. Trong điều kiện bình thường khả năng chịu đựng
thiếu oxy của não tối đa là 5 phút. Khoảng thời gian này còn gọi là giai đoạn
chết lâm sàng và việc cấp cứu nhằm cung cấp lại máu và oxy cho não phải
được tiến hành trong giai đoạn này mới có thể cứu sống được bệnh nhân. Quá


9

thời gian này, các tế bào não bị tổn thương không còn khả năng hồi phục và
bệnh nhân chuyển sang giai đoạn chết sinh vật hay chết não [1],[2],[3].
Trong một số trường hợp đặc biệt, khả năng chịu đựng thiếu oxy não có
thể kéo dài hơn như: Ngừng tim trong điều kiện hạ thân nhiệt (mổ với tuần
hoàn ngoài cơ thể - hạ thân nhiệt, ngừng tim ngoài trời băng tuyết, chết đuối
trong nước lạnh...), ngừng tim mà trước đó có sử dụng các thuốc làm giảm
tiêu thụ oxy não như bacbituric, trẻ sơ sinh...[3].
1.1.3. Mục đích của việc cấp cứu
Trong điều kiện nhanh nhất có thể, cung cấp được máu cùng với oxy đến
cho tế bào não, nhất là trong vòng 5 phút đầu kể từ lúc ngừng tim.
Chính vì vậy, việc cấp cứu ngừng tim-phổi cần tiến hành tại chỗ, khẩn
trương kiên trì và đúng kỹ thuật.
1.1.4. Nguyên nhân






Nguyên nhân do tim
Bệnh thiếu máu cơ tim.
Tắc mạch vành cấp.
Các bệnh cơ tim.
Viêm cơ tim.
Chấn thương tim chèn ép tim cấp.
Kích thích trực tiếp vào tim.
Nguyên nhân tuần hoàn:
Thiếu khối lượng tuần hoàn cấp (các loại sốc).
Tắc mạch phổi (do khí, do cục nghẽn).
Cơ chế phản xạ dây phế vị.
Nguyên nhân hô hấp:
Tràn khí màng phổi nặng.
Thiếu oxy cấp (thường gây ra vô tâm thu): dị vật, tắc đường thở.
Ưu thán.
Nguyên nhân rối loạn chuyển hoá
Rối loạn chuyển hoá kali.
Tăng canxi máu cấp.
Tăng catecholamin cấp.
Hạ thân nhiệt.
Nguyên nhân do thuốc, nhiễm độc


10


-

Tác động trực tiếp của thuốc gây ngừng tim.
Do tác dụng phụ của thuốc.
Nguyên nhân khác:
Đuối nước.
Điện giật.
1.1.5. Triệu chứng và chẩn đoán.
Dựa vào 3 triệu chứng cơ bản sau [4]:



Mất ý thức: Được xác định khi bệnh nhân gọi hỏi không có đáp ứng trả lời,



không có phản xạ thức tỉnh.
Ngừng thở hoặc thở ngáp: Xác định khi lồng ngực và bụng bệnh nhân hoàn



toàn không có cử động thở.
Ngừng tim: Khi mất mạch cảnh hoặc mất mạch bẹn.
Ngoài ra bệnh nhân còn có các triệu chứng khác như: Da nhợt nhạt hoặc
tím tái, giãn đồng tử và mất phản xạ đồng tử với ánh sáng, nếu bệnh nhân
đang được phẫu thuật sẽ thấy máu ở vết mổ tím đen và ngừng chảy.
Nếu bệnh nhân đang thở máy, hôn mê thì thấy monitor tim sẽ báo động,
SpO2 giảm đột ngột.
1.1.6. Xử trí
Khi đã chẩn đoán là ngừng tim lập tức phải xử trí ngay [4]. Ba yếu tố
đảm bảo thành công:

-

Kíp cấp cứu thành thạo.
Tổ chức dây chuyền cấp cứu tốt.
Can thiệp sớm, kịp thời, chỉ có 3 - 4 phút để hành động.
Có hai tình huống xảy ra khi có ngừng tuần hoàn: Không có trang bị và
có trang bị đầy đủ.


-

Các bước (C, A, B) và các biện pháp hồi sinh tim - phổi - não.
Các bước tiến hành hồi sinh tim phổi cơ bản (CPR):
C - Ép tim (Chest compressions)
Ngay lập tức khi xác định bệnh nhân ngừng hô hấp tuần hoàn với
nguyên tắc “ép mạnh và nhanh”, ép 30 lần sau đó mới thổi ngạt 2 lần (chú ý:
không áp dụng đối với trẻ sơ sinh).


11

+ Vị trí: 1/3 dưới xương ức. Dùng cườm bàn tay trái áp vào 1/3 dưới
xương ức nạn nhân, bàn tay kia đặt lên trên và lồng các ngón vào nhau. Hai
cánh tay duỗi thẳng ép thẳng góc với lồng ngực (trẻ em 1 - 8 tuổi: một bàn
tay; < 12 tháng tuổi: dùng 2 ngón tay; trẻ sơ sinh dùng 2 ngón tay).
+ Tần số: 100 – 120 lần/phút, hạn chế tối thiểu gián đoạn ép tim.
+ Biên độ: # 5 cm ở người lớn; # 1/3 đường kính trước sau ở trẻ em.
Phối hợp 30 lần ép tim, 2 lần thông khí. Khi đặt được nội khí quản thì
không còn chu kỳ 30: 2 mà ép tim liên tục ít nhất 100 lần/phút và bóp bóng 8
- 10 lần/phút qua nội khí quản.
Nên thay đổi người ép tim mỗi 2 phút để đảm bảo nhát bóp hiệu quả.
A - Kiểm soát đường thở (Airway)
Trong khi một người ép tim thì người thứ hai kiểm soát đường thở và
chuẩn bị cung cấp 2 lần thông khí ngay lập tức sau khi người ép tim hoàn tất
30 lần ép tim.
Nhanh chóng móc họng lấy hết dị vật, lau sạch miệng, mũi, để người
bệnh nằm ngửa, ưỡn cổ, hàm dưới đẩy ra trước.
Đặt đường thở nhân tạo: canule, mask, nội khí quản (< 20 giây).
B - Thổi ngạt (Breathing)
Miệng - miệng, miệng - mũi: Quỳ chân, ngửa đầu lên hít hơi dài rồi cúi
xuống áp chặt vào miệng nạn nhân, một tay bịt hai lỗ mũi nạn nhân (hoặc bịt
miệng bằng hai ngón tay nếu thổi ngạt qua miệng - mũi), một tay đẩy hàm ra
trước. Thổi hết hơi ra, đồng thời ngước nhìn lồng ngực xem có phồng lên không.
Bóp bóng bằng mask: Áp sát mặt nạ vào miệng, mũi người bệnh bóp
bóng với oxy 100%.
Kết hợp thổi hoặc bóp bóng qua mặt nạ với ép tim theo chu kỳ 30: 2 (30
lần ép tim và 2 lần thổi ngạt).
Bóp bóng qua nội khí quản 8 - 10 lần/phút và không theo chu kỳ 30: 2.


12

Chú ý tránh thông khí quá mức (trừ trẻ sơ sinh ép tim và thông khí theo
tỉ lệ 3: 1 hoặc khi xác định do bệnh lý tim mạch thì ép tim và thông khí theo
chu kỳ 15: 2).
-

Hồi sinh tim phổi nâng cao
Khi bệnh nhân ngừng tuần hoàn, trên ECG sẽ thấy 1 trong 3 loại sau:
Rung thất: Có thể sốc điện.
Vô tâm thu hoặc hoạt động điện vô mạch: Là hai loại sốc điện không
hiệu quả.


13

Trường hợp rung thất (VF) - ngừng tuần hoàn
Gọi người giúp CPR
Cấp Ôxy
Gắn monitor

Kiểm tra nhịp

Rung thất hoặc nhanh thất mất mạch

Sốc điện (120 - 200J)

CPR, NKQ, PIV

Kiểm tra điện tim có thể sốc
Sốc điện 200J

CPR và
Adrenalin 1mg TM mỗi 3 - 5ph

Kiểm tra điện tim có thể sốc
Sốc điện 200J

CPR và
Adrenalin 1mg TM mỗi 3 - 5ph
NaHCO3 (1 mEq/kg),
Lidocain(1,5mg/kg) lặp lại trong 3 - 5ph
MgSO4 1 - 2g TM (nhanh thất đa dạng)

Kiểm tra điện tim có thể sốc
Sốc điện - thuốc - sốc - thuốc
Rung thất có 3 pha


14

Pha điện (electrical phase): 4 phút đầu. Sốc điện nhiều khả năng sống
sót nhất.
Pha huyết động hay tuần hoàn (hemodynamic or circulatory phase): 4 10 phút sau VF: VF thường là sóng nhỏ nên phải CPR tốt để bảo đảm tưới
máu vành/não trước khi khử rung.
Pha chuyển hóa (metabolic phase): Trên 10 phút: nếu không chuyển
nhanh qua được nhịp tưới máu (có mạch), bệnh nhân sẽ không sống sót.
Tiến hành
Ép tim:
Guidelines của AHA 2015: Ép mạnh và nhanh ở giữa ngực.
Tần số:100 - 120/phút.
Độ sâu ít nhất 50 mm, không quá 60 mm.
Ngực nở hoàn toàn giữa các lần ép.
Mục tiêu: Tối ưu hóa áp lực tưới máu vành => tối đa hóa sự trở về tuần
hoàn tự nhiên.
Chú ý: Giảm thiểu thời gian ngưng ép, đặc biệt là giai đoạn chuyển qua
hồi sinh tim cao cấp.
Thông khí:
Giai đoạn đầu ép tim quan trọng hơn.
Vô mạch kéo dài: Thông khí quan trọng hơn.
Tỉ lệ V: C = 2: 30 (bệnh nhân chưa được đặt NKQ); 8 - 10: 100 (bệnh
nhân đã được đặt NKQ).
Không cần đồng bộ, nhưng không quá 1 giây/1nhịp thở và tránh thông
khí quá mức.
Khử rung sớm:
Trong vòng 3 giây sau ngừng tim.
2 pha tăng tỉ lệ thành công: Khoảng 85% với lần sốc đầu tiên với mức
năng lượng 200 - 360j (1 pha: 360j).


15

Giữa các lần khử rung là 2 phút CPR. Không được ngắt quãng.
Chú ý: Nếu nghi ngờ rối loạn nhịp không phải là VF/VT => kiểm tra
mạch tức thì xem nhịp có tạo ra tuần hoàn tự nhiên ? Nếu không mạch =>
CPR tiếp tục => đánh giá lại nhịp: nhịp không có tổ chức => can thiệp khác:
vị trí ống NKQ ? Đường truyền IV và truyền dịch ? Thuốc cấp cứu:
Epinephrine…, thuốc chống rối loạn nhịp ? Có chỉ định tạo nhịp ? Tìm và
điều trị nguyên nhân đảo ngược được ?.
Thuốc dùng trong rung thất
Epinephrine 1mg IV sau lần sốc điện thứ 2.
Lặp lại 3 - 5 phút nếu VF/VT vô mạch dai dẳng.
Liều cao hơn: 0,2mg/kg kết quả không khác, có thể gây hại.
Vasopressine: Thuốc thay thế Epinephrine; 40UI IV đơn liều.
Thuốc chống loạn nhịp:
Trong VF/VT vô mạch trơ:
Amiodarone 300mg PIV nếu VF/VT vô mạch sau 3 lần sốc điện. Nếu tái
phát => 150mg nữa PIV. Truyền duy trì 900mg/24giờ.
Lidocaine: Thay thế Amiodarone, nhưng không nên dùng nếu đã cho
Amiodarone. Liều 1mg/kg IV, lặp lại mỗi 3 - 5phút nếu cần. Giờ đầu không
quá 3mg/kg.
MgSO4 1- 2g IV: VT đa dạng (xoắn đỉnh), hoặc nghi ngờ giảm Mg máu.
NaHCO3: 1meq/kg IV: Tăng K máu, toan chuyển hóa, quá liều 1 số thuốc.

Vô tâm thu hoặc phân ly điện cơ - ngừng tuần hoàn
Gọi người giúp CPR


16

Cấp Ôxy
Gắn monitor

Kiểm tra nhịp

Vô tâm thu, phân ly điện cơ

CPR, NKQ, PIV

Adrenalin 1mg TM mỗi 3 - 5ph
Atropin 1mg TM (lặp lại đến 3 liều cách 3 - 5ph)
NaHCO3 1mEq/kg TM
Tìm và điều trị nguyên nhân (Giảm oxy, tăng/hạ K+ máu, nhiễm toan
nặng, ngộ độc thuốc, hạ thân nhiệt, giảm thể tích, chèn ép tim, tràn khí
màng phổi, hạ thân nhiệt,….)
Và CPR (5 chu kỳ, # 2ph)

Kiểm tra điện tim không thể sốc
Lặp lại Adrenalin, Atropin, NaHCO3 0,5 mEq/kg/ mỗi 10ph
Và CPR
Sốc điện 120 - 200 V nếu điện 2 pha, 300 - 360 V nếu dùng điện 1 pha.


17

Hoạt động điện vô mạch
Hoạt động điện hiện diện mà không có mạch sờ được (ngoài VT/VF).
Thường có nguyên nhân chuyên biệt => phát hiện sớm và điều trị hiệu
quả => có thể đảo ngược được.
Nếu phức bộ rộng và chậm => tiên lượng xấu (nguyên nhân thường là:
Tăng K máu, giảm thân nhiệt, giảm PO2, toan máu, quá liều thuốc (TCA, ức
chế beta, ức chế Ca, digoxin,….).
Nếu phức bộ hẹp và nhanh => tiên lượng tốt hơn nhiều (nguyên nhân
thường là: Giảm V, nhiễm trùng, thuyên tắc phổi, chèn ép tim).
Epinerphrine 1mg IV/3 - 5ph cho đến khi đạt tuần hoàn bình thường.
NaHCO3 1meq/kg: Tăng K máu, toan máu trước đó, kiềm hóa nước tiểu
(quá liều TCA…), ngưng tim lâu (đã đặt NKQ và thở máy).
Chú ý:
NaHCO3 không được sử dụng thường qui trong toan A. Lactic do ngưng
tim trừ khi các can thiệp ban đầu không hiệu quả (ép tim, thông khí, khử rung,
vận mạch).
Có hại trong toan hô hấp => không chỉ định.
Atropine 1mg IV/3-5ph khi tần số tim chậm tuyệt đối (< 60), hay tương
đối (tần số < mong muốn so với tình trạng hiện tại của bệnh nhân).
Vô tâm thu
Tỉ lệ sống sót: 1 - 2 %.
Điều trị giống hoạt động điện vô mạch.
Tạo nhịp qua da: Có thể hiệu quả nếu áp dụng sớm và phối hợp với điều
trị bằng thuốc. Không có bằng chứng sử dụng thường qui.
Khi nào ngừng cấp cứu
Thời gian cấp cứu phụ thuộc vào: tình trạng bệnh, nguyên nhân gây
ngừng tuần hoàn.
Diễn biến trong khi cấp cứu: Can thiệp sớm hay muộn.


18

Ba tình huống có thể xảy ra:
Tim đập trở lại, hô hấp tự nhiên trở lại
Cần tiếp tục theo dõi hô hấp (thông khí nhân tạo) và duy trì huyết áp.
Điều trị tích cực trong 24 - 48 giờ. Chú ý giải quyết nguyên nhân.
Mất não
Tim đập nhưng bệnh nhân hôn mê sâu, đồng tử giãn to, trụy mạch, đái
nhiều, không thở tự nhiên.
Co cứng kiểu mất não: Hai tay và hai chân duỗi cứng
Sau 24 giờ có thể ngừng hồi sức.
Nếu điện não đồ là đường thẳng có thể ngừng hồi sức sau 8 giờ.
Tim không đập lại
Mặc dù đã xử trí đúng quy cách, có thể ngừng cấp cứu sau 60 phút.
Chú ý:
Nếu bệnh nhân bị ngộ độc các loại thuốc an thần hay thuốc ngủ thì
không nên kết luận là mất não. Cần tiếp tục điều trị tích cực đến khi bệnh
nhân tỉnh.
1.2. Lịch sử về cấp cứu ngừng tuần hoàn
Năm 1740 Viện hàn lâm khoa học Paris chính thức khuyến cáo thổi
ngạt miệng – miệng cho bệnh nhân đuối nước.
Năm 1903 Dr George Crile báo cáo ca đầu tiên cấp cứu thành công trên
người bằng ép tim ngoài lồng ngực.
Năm 1960 Hồi sinh tim phổi chính thức phát triển. Hội Tim mạch Hoa
Kì đề nghị các thầy thuốc làm quen và tiến hành Hồi sinh tim phổi trước, sau
đó đào tạo cho cộng đồng.
Năm 1993 Ủy ban Liên lạc Quốc tế về Hồi sinh (International Liaison
Committe on Resuscitation, viết tắt là ILCOR) được thành lập nhằm nhận
diện và xem xét các chứng cứ khoa học về hồi sinh tim phổi và cấp cứu tim
mạch và tiến đến một sự đồng thuận quốc tế về các khuyến cáo điều trị.
ILCOR gồm 7 tổ chức là Hiệp hội Tim Hoa Kỳ (American Heart


19

Association), Hội đồng Hồi sinh Châu Âu (European Resuscitation Council,
Hội Tim và Đột quị Canada (Heart and Stroke Foundation of Canada), Hội
đồng Hồi sinh Nam Phi (Resuscitation Council of Southern Africa), Ủy ban
Hồi sinh Úc và New Zealand (Australian and New Zealand Committee on
Resuscitation), Hội Tim Liên Mỹ (InterAmerican Heart Foundation) và Hội
đồng Hồi sinh Châu Á (Resuscitation Council of Asia) . Kết quả hoạt động
của ILCOR là việc công bố “Hướng dẫn quốc tế về Hồi sinh tim phổi và cấp
cứu tim mạch năm 2000” [1]. Đây là văn kiện đồng thuận đầu tiên về hồi sinh
tim phổi và cấp cứu tim mạch. Trong những năm sau đó, các chuyên gia thuộc
các hội đồng thành viên của ILCOR lại tiếp tục công việc đánh giá các chứng
cứ khoa học. Các khuyến cáo được cập nhật mỗi 5 năm/lần.
Năm 2005 ILCOR đưa ra các khuyến cáo quốc tế lần 2 về hồi sinh tim
phổi [2].
Năm 2010 IlCOR đưa ra các khuyến cáo quốc tế lần 3 về hồi sinh tim
phổi, có nhiều thay đổi so với các khuyến cáo trước [3].
Năm 2015: Tháng 2 Hội nghị đồng thuận của ILCOR tại Dallas (Hoa
Kỳ). Ngày 15/10 các khuyến cáo mới 2015 được công bố thay thế các hướng
dẫn cũ và có nhiều những thay đổi quan trọng [4].


20

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
-

Đối tượng nghiên cứu: Gồm tất cả bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện vào

-

khoa Cấp Cứu – BV HNĐK Nghệ An từ 01/03/2017 – 30/09/2017.
Tiêu chuẩn chẩn đoán ngừng tuần hoàn ngoại viện theo hướng dẫn của Hội
tim mạch Hoa Kỳ năm 2015 [4]:
+ Bệnh nhân đột ngột mất ý thức.
+ Ngừng thở, hoặc thở ngáp.
+ Mất mạch cảnh và/hoặc mất mạch bẹn.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang.
2.2.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu lấy toàn bộ bệnh nhân được chẩn đoán ngừng tuần hoàn vào
Khoa Cấp Cứu Bệnh viện HNĐK Nghệ An trong khoảng thời gian từ ngày
01/03/2017 đến ngày 30/09/2017.
2.2.3. Nội dung nghiên cứu

-

Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh nhân ngừng tuần hoàn và các kiểu điện tim

-

thường gặp.
Nghiên cứu nguyên nhân của ngừng tuần hoàn.
Đánh giá hiệu quả của cấp cứu ngừng tuần hoàn.
 Phương tiện nghiên cứu thu thập thông tin: Xây dựng mẫu bệnh án

-

nghiên cứu và biểu mẫu thống kê, thống nhất nội dung.

Các biến cố nghiên cứu:
Hỏi bệnh và khám lâm sàng bệnh nhân ngừng tuần hoàn vào cấp cứu (tuổi,

-

giới, tiền sử bệnh lý, triệu chứng trước ngừng tuần hoàn,....).
Chọn phác đồ cấp cứu phù hợp với tình trạng bệnh nhân, từng loại bất thường

-

dựa trên điện tim.
Đánh giá bệnh nhân trong lúc cấp cứu, sự thay đổi điện tim, mạch, huyết áp,



hô hấp...trong quá trình cấp cứu. Nhận định kết quả sau quá trình cấp cứu.
Phương tiện trợ giúp trong cấp cứu ngừng tuần hoàn:


21

-

Máy Monitor, máy sốc điện, máy ghi điện tim, máy truyền dịch, bơm tiêm

-

điện.
Các loại thuốc trong cấp cứu ngừng tuần hoàn: Adrenalin, Atropin,
Aminodaron, Magie Sulfat, Lidocain,...
2.2.4. Quản lý và phân tích số liệu

- Các số liệu được nhập lý bằng và xử phần phềm SPSS 16.0 .
- Kiểm định sự khác biệt giữa 2 tỷ lệ bằng test Chi-Square, sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê với p < 0,05 khi Chi-Square > 3,84.

- Kiểm định sự khác biệt giữa 2 giá trị trung bình bằng test t – student, sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 khi t > 1,96.
2.2.5. Đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành khi có sự ủng hộ của lãnh đạo bệnh viện HNĐK
Nghệ An, lãnh đạo khoa Cấp Cứu bệnh viện HNĐK Nghệ An.

- Toàn bộ số liệu thu thập được trong nghiên cứu là hoàn toàn trung thực.
- Toàn bộ thông tin cá nhân của các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được
giữ bí mật.


22

CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung bệnh nhân ngừng tuần hoàn
3.1.1. Phân bố bệnh nhân theo giới

Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ giới tính của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Nhận xét: Theo kết quả nghiên cứu:
- Nhóm bệnh nhân nam chiếm 75%.
- Nhóm bệnh nhân nữ chiếm 25%.
3.1.2. Phân bố bệnh nhân theo tuổi
Bảng 3.1. Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi ( n = 88)
Nhóm
tuổi
Số bệnh
nhân
Tỷ lệ
(%)
Nhận xét:

< 15

15 - 40

41 - 60

61 – 80

>80

Tổng

4

20

29

25

10

88

4,5%

22,7%

33,0%

28,4%

11,4%

100%

- Tuổi trung bình: 52,42 ± 21,52, tuổi lớn nhất là 89, tuổi nhỏ nhất là 3.


23

- Nhóm tuổi 41 – 60 chiếm tỷ lệ cao nhất: 33,0%.
3.1.3. Tiền sử bệnh lý
Bảng 3.2. Tiền sử bệnh lý của bệnh nhân NTH (n = 88)
Bệnh lý

Số bệnh nhân

Tỷ lệ (%)

Tim mạch

20

22,7 %

Đột quị não

2

2,3 %

Ung thư

1

1,1 %

Đái tháo đường

7

8,0 %

Bệnh thận

1

1,1 %

Hô hấp

6

6,8 %

Xơ gan

6

6,8%

Nhiều bệnh phối hợp

8

9,1 %

Không rõ hoặc không có

37

42,0 %

Tổng

88

100 %

Nhận xét:
- Nhóm bệnh nhân có tiền sử bệnh lý tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất: 22,7%.
- Có 37 (42,0%) bệnh nhân không có hoặc không rõ có tiền sử mắc các bệnh
lý nội khoa.

3.1.4. Triệu chứng trước ngừng tuần hoàn
Bảng 3.3. Triệu chứng trước ngừng tuần hoàn (n = 88)
Triệu chứng
Khó thở
Rối loạn ý thức
Đau ngực
Đau đầu

Số bệnh nhân
19
15
24
7

Tỷ lệ (%)
21,6 %
17 %
27,3 %
8,0 %


24

Nôn ra máu
Không rõ hoặc không có
Tổng
Nhận xét:

4
19
88

4,5 %
21,6 %
100 %

- Đau ngực là triệu chứng trước NTH chiếm tỷ lệ cao nhất: 27,3 %, nôn ra
máu chiếm tỷ lệ thấp nhất: 4,5%.
- Có 19 (21,6%) bệnh nhân không có hoặc không rõ triệu chứng trước NTH.
3.1.5. Phương tiện vận chuyển bệnh nhân
Bảng 3.4. Phương tiện vận chuyển bệnh nhân (n = 88)
Phương tiện
Xe cấp cứu 115
Xe cấp cứu bệnh viện
Xe cấp cứu cá nhân
Phương tiện cá nhân
Phương tiện công cộng
Tổng

Số bệnh nhân
18
33
22
12
3
88

Tỷ lệ (%)
20,5 %
37,5 %
25 %
13,6 %
3,4 %
100 %

Nhận xét:
- Xe cấp cứu bệnh viện là phương tiện vận chuyển bệnh nhân chiếm tỷ lệ cao
nhất: 37,5 %, phương tiện công cộng chiếm tỷ lệ thấp nhất: 3,4 %.
3.1.6. Nơi xảy ra ngừng tuần hoàn
Bảng 3.5. Nơi xảy ra ngừng tuần hoàn (n = 88)
Địa điểm
Tại nhà
Đường phố
Xe cấp cứu
Xe cá nhân
Tại khoa cấp cứu
Tổng

Số bệnh nhân
14
9
44
9
12
88

Tỷ lệ (%)
15,9 %
10,2 %
50 %
10,2 %
13,6 %
100 %

Nhận xét:
- Nơi xảy ra ngừng tuần hoàn nhiều nhất là trên xe cấp cứu chiếm 50%.
3.1.7. Xử trí trước khi vào khoa Cấp cứu
Bảng 3.6. Xử trí trước khi vào khoa cấp cứu (n = 88)


25

Xử trí
Vừa vận chuyển vừa cấp cứu
Vận chuyển không cấp cứu
Tổng

Số bệnh nhân
21
67
88

Tỷ lệ (%)
23,9 %
76,1 %
100 %

Nhận xét:
- Bệnh nhân vừa vận chuyển vừa được cấp cứu chiếm tỷ lệ thấp 23,9 %.
3.1.8. Thời gian từ NTH tới khi vào khoa Cấp cứu
Bảng 3.7. Thời gian từ NTH tới khi vào khoa cấp cứu (n = 88)
Thời gian

Số bệnh nhân

Tỷ lệ (%)

> 8 phút

59

67,0 %

≤ 8 phút

29

33,0 %

Tổng

88

100 %

Nhận xét:
- Số bệnh nhân có thời gian từ lúc NTH tới khi vào khoa cấp cứu > 8 phút
chiếm tỷ lệ cao: 67,0 %.
3.1.9. Đặc điểm điện tim của bệnh nhân ngừng tuần hoàn
Bảng 3.8. Đặc điểm điện tim của bệnh nhân NTH (n = 88)
Đặc điểm điện tim
Vô tâm thu
Rung thất/ nhịp nhanh thất
Phân ly điện cơ
Tổng

Số bệnh nhân
65
19
4
88

Tỷ lệ (%)
73,9 %
21,6 %
4,5 %
100 %

Nhận xét:
- Hình ảnh điện tim của bênh nhân NTH thường gặp nhất là vô tâm thu:
73,9%, ít gặp nhất là phân ly điện cơ: 4,5%.
3.1.10. Mối liên quan giữa đặc điểm điện tim và nguyên nhân NTH
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa đặc điểm điện tim và nguyên nhân NTH
(n = 88)
Nguyên nhân
Vô tâm thu

Đặc điểm điện tim
Rung thất/ nhịp Phân ly điện cơ

Tổng


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×