Tải bản đầy đủ

ĐÁNH GIÁ một số yếu tố NGUY cơ và xử TRÍ THAI TO tại BỆNH VIỆN PHỤ sản TRUNG ƯƠNG năm 2020

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

PHẠM THỊ HƯƠNG GIANG

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ
VÀ XỬ TRÍ THAI TO TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN
TRUNG ƯƠNG NĂM 2020

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ


TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

PHẠM THỊ HƯƠNG GIANG

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ
VÀ XỬ TRÍ THAI TO TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN
TRUNG ƯƠNG NĂM 2020

Chuyên ngành: Sản phụ khoa
Mã số: 60720131

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Đặng Thị Minh Nguyệt

HÀ NỘI – 2019


MỤC LỤC


4

ĐẶT VẤN ĐỀ
Thai nghén và sinh đẻ là chức năng sinh lý quan trọng của người phụ nữ.
Trọng lượng khi sinh của trẻ có một vai trò quan trọng trong đời sống của trẻ sơ
sinh khi mà trẻ thay đổi từ môi trường trong buồng tử cung của người mẹ sang môi
trường sống bên ngoài. Trọng lượng của trẻ là một yếu tố góp phần không nhỏ tới tỷ
lệ tử vong, tỷ lệ mắc bệnh trong thời kỳ sơ sinh, sự phát triển về trí tuệ thể lực của
trẻ sau này.
Trọng lượng trung bình của trẻ sơ sinh Việt nam là 3000g ± 200 [1]. Nếu
quan tâm đến giá trị tuyệt đối sẽ có định nghĩa thai to (macrosomia) khi trọng lượng
thai vượt quá một giá trị cân nặng tuyệt đối bất kể tuổi thai. Ở Việt Nam, giá trị cân
nặng này hiện vẫn chưa thống nhất. Ở các nước phát triển, giá trị cân nặng tuyệt đối
này thường là 4000g hoặc 4500g [23], [34], tùy theo tác giả. Tại bệnh viện Phụ Sản
Trung ương các bác sĩ sản khoa lấy mốc 3500g cho con so và 3700g cho con rạ để
xác định thai to.Thai to có nhiều yếu tố thuận lợi để giúp trẻ phát triển tốt về thể
chất, tinh thần và vận động sau này. Tuy nhiên, ở những trường hợp đẻ thai to có thể
xảy ra nhiều nguy cơ cho cả bà mẹ và trẻ sơ sinh. Phát hiện và đánh giá nguy cơ
thai to có ý nghĩa quan trọng trong chăm sóc, quản lý thai nghén và tiên lượng cuộc
đẻ.


5

Theo nghiên cứu của Vũ Thị Duyên [2] tại bệnh viện Bạch Mai trong hai năm
từ 2002 – 2003 trẻ có cân nặng ≥ 4000g chiếm tỷ lệ 2,78%. Lê Thị Yến nghiên
cứu trong năm 2002 bệnh viện Phụ Sản Trung ương tỷ lệ trẻ đẻ ≥ 4000g là 2,6%.
Một nghiên cứu khác của Vetr M [3] từ năm 2000 – 2004 tỷ lệ đẻ thai ≥ 4000g ở
Cộng hoà Czech là 10,8%… và gần đây nhất là nghiên cứu của Buasaykham năm
2007 tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương trẻ sinh ra có trọng lượng lớn hơn hoặc
bằng 4000g chiếm tỉ lệ 2,09% [4]. theo nghiên cứu của Mathew M [5] về các yếu tố
nguy cơ của thai to ≥ 4000g và các hậu quả lâm sàng trên 350311 thai phụ cũng cho
thấy rằng những người mẹ đẻ thai to thường có những yếu tố nguy cơ liên quan:
tiền sử bị tiểu đường từ trước hoặc tiểu đường xuất hiện trong khi mang thai, béo
phì, tăng cân nhiều khi mang thai, tỷ lệ phải can thiệp phẫu thuật mổ lấy thai cao.
Các biến chứng trong chuyển dạ: ngôi bất thường, chảy máu, sang chấn đường sinh
dục …. đều cao hơn nhóm phụ nữ đẻ con có trọng lượng trung bình. Mặt khác, trẻ
sơ sinh nặng cân cũng hay gặp một số yếu tố nguy cơ: sang chấn trong cuộc đẻ,
ngạt, hạ đường huyết…
Trong những năm gần đây ở Việt Nam, với sự phát triển của nền kinh tế và
xã hội, đời sống của người dân được cải thiện, việc chăm sóc và quản lý thai nghén
tốt hơn, trọng lượng trẻ sơ sinh cũng có xu hướng tăng hơn so với những thập kỷ
trước. Nguy cơ trong khi có thai và trong chuyển dạ của những trường hợp thai to
cũng giảm đi. Như vậy quản lý thai nghén tốt, phát hiện, điều trị sớm các yếu tố
nguy cơ, dự đoán trọng lượng thai trước sinh, phân tuyến đẻ đúng quy định sẽ góp
phần làm giảm các biến chứng trong và sau đẻ về phía mẹ và thai cho các trường
hợp đẻ thai phát triển quá mức trong tử cung. Xuất phát từ tình hình thực tế và tầm
quan trọng của vấn đề này, với mục tiêu chăm sóc sức khoẻ sinh sản dành ưu tiên
cho bà mẹ và trẻ em, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá một số yếu tố nguy cơ
và xử trí sản khoa của thai to tại bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2020".
Mục tiêu của nghiên cứu:
1.

Các yếu tố nguy cơ liên quan đến sinh thai to tại bệnh viện Phụ sản Trung
ương.


6

2.

Mô tả các phương pháp xử trí và các tai biến cho sơ sinh và sản phụ sinh
thai to tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.


7

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. KHÁI NIỆM THAI TO
Có hai khái niệm về thai to:


Nếu quan tâm đến giá trị tuyệt đối sẽ có định nghĩa thai to (macrosomia)

khi trọng lượng thai vượt quá một giá trị cân nặng tuyệt đối bất kể tuổi thai. Ở Việt
Nam, giá trị cân nặng này hiện vẫn chưa thống nhất. Tại bệnh viện Phụ Sản Trung
ương, các bác sĩ sản khoa lấy mốc con to là từ 3500g với con so và từ 3700g với
con rạ. Ở các nước phát triển, giá trị cân nặng tuyệt đối này thường là 4000g hoặc
4500g [23], [34], tùy theo tác giả, trong đó thai to phân ra làm 2 loại [9]:


Thai to toàn bộ: các kích thước của thai đều tăng một cách cân đối.



Thai to từng phần: chỉ một phần nào đó của thai phát triển quá mức như đầu

to, bụng to… Loại này thường do các bệnh lý dị dạng trầm trọng của thai như não
úng thủy, bụng cóc…


Nếu quan tâm đến sự phân bố trọng lượng thai theo tuần tuổi lúc sinh, và

chọn mốc khi đối chiếu cân nặng với đường bách phân vị, ta sẽ có định nghĩa [73]:


Sơ sinh cân nặng phù hợp với tuổi thai (AGA): có cân nặng tương xứng với

tuổi thai từ đường bách phân vị 10th đến 90th.


Sơ sinh cân nặng lớn hơn so với tuổi thai (LGA): có cân nặng trên đường

bách phân vị 90th.


Sơ sinh cân nặng nhỏ hơn so với tuổi thai (SGA): có cân nặng dưới đường

bách phân vị 10th.
Tuổi thai dựa vào ngày đầu của kỳ kinh cuối (sản phụ nhớ rõ ngày kinh và
kinh nguyệt đều) hoặc siêu âm 3 tháng đầu thai kỳ có đối chiếu sổ khám thai và hồ
sơ khám.
Bảng 1.1. Bách phân vị trọng lượng thai theo tuổi thai [18]
Tuổi thai
5
26

10

Bách phân vị
50

90

95


8

27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42

591
670
772
910
1088
1294
1513
1735
1950
2156
2357
2543
2685
2761
2777
2764

702
798
925
1085
1278
1495
1725
1950
2159
2354
2541
2714
2852
2929
2948
2935

1035
1196
1394
1637
1918
2203
2458
2667
2831
2974
3117
3253
3400
3495
3527
3522

1635
1977
2361
2710
2986
3200
3370
3502
3596
3668
3755
3867
3980
4060
4094
4098

1927
2237
2553
2847
3108
3338
3536
3697
3812
3888
3956
4027
4107
4185
4217
4213

(Bảng 1.1 ở trên được công bố trong Hội nghị quốc gia về tăng trưởng thai ở
Mỹ năm 1996 của tác giả Alexander. Nghiên cứu được thực hiện trên 3,1 triệu sản
phụ sinh đơn thai trong năm 1991, tại Mỹ).


9

1.2. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THAI NHI BÌNH THƯỜNG
1.2.1. Sự hình thành và phát triển bào thai
Trong nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt, các nang noãn trong buồng trứng phát triển
lớn lên, được chọn lọc, trưởng thành. Đến ngày 14 của chu kỳ kinh 28 ngày, hiện
tượng trứng rụng xảy ra và được hút vào vòi trứng. Ở đó, trứng có thể gặp tinh
trùng và thụ tinh. Hợp tử do trứng và tinh trùng tạo thành sẽ phát triển thành phôi
nang tự do di chuyển trong vòi trứng. Buồng tử cung sẽ là nơi phôi nang đến làm tổ
và phát triển. Toàn bộ quá trình này diễn ra trong vòng 2 tuần kể từ khi rụng trứng
[30].
Bắt đầu tuần lễ thứ ba kể từ khi rụng trứng, hợp tử vừa được tạo thành có tên
gọi theo quy ước là phôi. Hầu hết giai đoạn này đều có hCG dương tính vào lúc này.
Túi ối khoảng 1 cm và đã phân tách tuần hoàn thai phụ và con riêng biệt. Cuối tuần
thứ 6 sau thụ tinh, phôi dài 23mm, đầu rất lớn so với thân mình, ngón tay, ngón
chân và tai ngoài đã xuất hiện. Bắt đầu tuần thứ 8 kể từ lúc thụ tinh, tức là tuần thứ
10 tính từ kinh chót của vòng kinh 28 ngày, phôi chuyển qua giai đoạn thai. Cấu
trúc cơ thể lúc này đã được phác họa đầy đủ, chỉ cần tăng trưởng nữa mà thôi [30].
Tuổi thai được tính từ ngày đầu kỳ kinh cuối cho nên thực chất tuổi thai được
tính trước ngày rụng trứng và thụ tinh khoảng 2 tuần và trước thời điểm làm tổ của
phôi nang 3 tuần. Thời gian mang thai chuẩn là 280 ngày, tức là 40 tuần. Các nhà
phôi học thì thường mô tả phát triển phôi thai từ lúc rụng trứng hay lúc thụ tinh
[30].


10

Bảng 1.2. Phát triển thai [30]
Chiều dài
Tuổi thai
(tuần)
10
12

Đặc điểm

Cân nặng đầu mông
(g)
5
14

(cm)
4
7-8

16
20

110
300

12
16

Cấu trúc cơ thể đã đầy đủ.
Xương có trung tâm đốt hóa. Ngón tay,
chân có móng. Cơ quan sinh dục xác định.
Cơ quan sinh dục phát triển.
Da trở nên đục, nhiều lông tơ.

24

630

21

Da nhăn. Đầu lớn. Bắt đầu có khả năng thở.

28

1100

25

Da đỏ phủ chất gây dày.

32

1800

28

Có khả năng sống.

36

2500

32

Da bớt nhăn do mỡ dưới da phát triển.
Khả năng sống mạnh.

40

3100

36

Trẻ sơ sinh hoàn chỉnh.

Bảng 1.2 theo dõi diễn tiến về trọng lượng và chiều dài của thai nhi theo
tuần tuổi tính từ kinh chót để hình dung ra quy mô và tốc độ phát triển của một
thai nhi.
Vì thai trong tư thế tự nhiên là co gập đùi và cẳng chân, nên chiều dài theo dõi
được là chiều dài ngồi, đo từ đầu đến mông.
1.2.2. Sinh lý thai nhi đủ tháng
Thai sống trong tử cung phụ thuộc hoàn toàn vào thai phụ qua hệ tuần hoàn tử
cung, nhau, vì vậy sinh lý bộ máy hô hấp, tuần hoàn có những điểm khác biệt so với
người lớn.
1.2.2.1. Tuần hoàn
Tim có 4 buồng nhưng 2 tâm nhĩ thông nhau bởi lỗ Botal, động mạch phổi
thông với động mạch chủ bởi ống động mạch. Từ 2 động mạch chậu trong tách ra 2
động mạch rốn đi theo dây nhau vào bánh nhau, máu đỏ đi từ các mao mạch của các
tua nhau trở về nuôi dưỡng thai nhi qua tĩnh mạch rốn. Chu kỳ tuần hoàn như sau:


11

máu đỏ từ các gai nhau mang các chất dinh dưỡng và oxy đi vào thai nhi bằng tĩnh
mạch rốn. Khi tới tĩnh mạch chủ dưới máu đỏ sẽ pha trộn với máu đen từ nửa dưới
cơ thể, để cùng đổ vào tĩnh mạch chủ. Đến tâm nhĩ phải máu một phần xuống tâm
thất phải để vào động mạch phổi, một phần qua lỗ Botal sang tâm nhĩ trái. Vì phổi
chưa làm việc nên một phần máu từ động mạch phổi theo ống động mạch đến động
mạch chủ. Động mạch chủ cũng nhận máu từ tâm thất trái chảy ra, rồi đem đi nuôi
khắp cơ thể, đến động mạch hạ vị tách ra hai động mạch rốn đưa máu về bánh nhau
để trao đổi chất. Như vậy, hầu hết máu trong thai nhi là máu pha trộn, nồng độ bão
hòa oxy thấp. Sau khi thai nhi sổ ra ngoài được gọi là trẻ sơ sinh, khi cuống rốn
được cắt thì nhau đình chỉ chức phận của nó. Trẻ sơ sinh bắt đầu thở, phổi bắt đầu
hoạt động, tiểu tuần hoàn bắt đầu làm việc, lỗ Botal đóng lại, ống động mạch teo đi,
các mạch máu rốn và ống Arantius thôi làm việc. Trẻ sơ sinh bắt đầu sống với hệ
tuần hoàn vĩnh viễn giống như người lớn [11].
1.2.2.2. Hô hấp
Thai nhi nằm trong tử cung sử dụng oxy trong máu thai phụ nhờ trao đổi qua
nhau thai. Phổi chưa hoạt động nên xẹp, đặc, thả xuống nước thì chìm. Carbonic từ
các tế bào của thai nhi được chuyển vào các gai nhau rồi thải vào các hồ huyết để về
máu thai phụ. Máu từ tĩnh mạch rốn đến thai nhi có oxy nên mang màu đỏ, trái
lại máu ở động mạch rốn thì đen vì có chứa carbonic. Sự trao đổi oxy và carbonic
qua gai nhau do sự chênh lệch nồng độ giữa máu thai phụ và máu con quyết định,
khi sản phụ bị ngạt, thai nhi có thể nhường oxy cho thai phụ và có thể tử vong
trước. Nhưng thai nhi sử dụng ít oxy nên khả năng chịu đựng thiếu oxy của thai nhi
khá cao. Máu động mạch của thai thường chỉ bão hòa khoảng 75% oxy. Vì vậy
trong trường hợp thai phụ bị tử vong một cách đột ngột (do tai nạn,…) thì thai nhi
có thể sống thêm một thời gian và người ta có thể đặt vấn đề phẫu thuật nhanh để
cứu thai nhi sau khi sản phụ tử vong trong vòng 15 phút [11].
Tuy vậy, nếu thai nhi bị thiếu oxy thì sẽ có những hậu quả sau:


12

Đầu tiên là toan khí do ứ đọng carbonic, sau đó bị toan chuyển hóa do thừa
acid lactic.
-

Thiếu oxy sẽ gây hiện tượng tập trung tuần hoàn co mạch ngoại biên và nội

tạng để tập trung máu vào những bộ phận quan trọng như não, tim. Tình trạng thiếu
oxy làm tăng nhu động ruột và tống phân su vào nước ối. Vì vậy, nước ối có
lẫn phân su là triệu chứng quan trọng của suy thai.
1.2.2.3. Tiêu hóa
Khi còn trong bụng thai phụ, thai nhi nhận những chất dinh dưỡng của thai
phụ từ bánh nhau, thẩm thấu qua thành của gai nhau.
Bộ máy tiêu hóa cũng có hoạt động chút ít. Trong ống tiêu hóa có phân su là
chất dịch sánh đặc, có chứa chất nhầy của niêm mạc dạ dày, ruột, mật, nước ối do
thai uống vào và ít tế bào bong từ đường tiêu hóa [11].
1.2.3. Dinh dưỡng trong thai kỳ
1.2.3.1. Hoạt động trao đổi chất của bánh nhau
Khoảng gian gai nhau là ngăn vận chuyển sinh học chính giữa thai phụ và thai.
Máu thai phụ nằm trong khoang này và ngoài mạch, thấm đẫm chung quanh các
nguyên bào nuôi. Sự vận chuyển các chất từ thai phụ vào thai trước tiên phải đi từ
khoảng gian gai nhau vào hợp bào nuôi. Đó là oxy và các chất dinh dưỡng. Đào thải
các chất chuyển hóa cũng theo đường này với hướng ngược lại. Các gai nhau
và khoảng gian gai đóng vai trò như là phổi, hệ tiêu hóa và thận của thai.
Lưu lượng máu đi qua tử cung, nhau lúc gần sinh khoảng 800ml/phút. Các chất
từ máu thai phụ muốn vào được máu thai phải đi qua hợp bào nuôi, chất nền khoảng
gian gai và thành mao mạch thai. Hàng rào này không phải là màng vật lý đơn thuần.
Hợp bào nuôi có thể thụ động, hoặc chủ động thúc đẩy, điều chỉnh lượng và tốc độ
nhiều chất vào thai. Mao mạch của thai phát triển trên bề mặt gai nhau để hấp thu dinh
dưỡng. Thame (2001) đo thể tích bánh nhau bằng siêu âm ở quý II để tiên đoán trọng
lượng thai và chứng minh rằng chỉ số này đáng tin cậy hơn cả số đo kích thước thai
cùng thời điểm [85]. Tổng diện tích bề mặt này lúc thai đủ tháng khoảng 10m2.


13

Khuếch tán là phương cách trao đổi chất qua nhau đơn giản nhất. Hầu hết các
chất có khối lượng phân tử dưới 500D dễ dàng khuếch tán qua gai nhau. Trọng
lượng phân tử càng nhỏ, tốc độ khuếch tán càng nhanh. Khuếch tán đơn giản là cơ
chế vận chuyển oxy, carbonic, nước, hầu hết chất điện giải. Bánh nhau cung cấp
khoảng 8 ml oxy/phút mỗi kg cân nặng của thai nhi. Kho dự trữ oxygen chỉ đủ cho
1-2 phút nên sự cung cấp phải liên tục. Độ bão hòa oxygen trung bình ở khoảng
gian gai nhau là 65-75%. Mặc dù pO2 tương đối thấp, thai bình thường vẫn thích
nghi, không thiếu oxy. Lý do là cung lượng tim trên một đơn vị trọng lượng ở thai
lớn hơn, khả năng vận chuyển oxy của Hb thai tốt hơn và nồng độ Hb ở thai cao
hơn ở người lớn. Khí CO2 cũng bằng cách khuếch tán đi từ thai vào sản phụ. Tính
thấm của CO2 qua nhau cao hơn O2 và ái lực với CO2 của Hb thai rất thấp so với
của thai phụ, cho nên chỉ cần một độ chênh lệch áp lực 5mmHg, sự vận chuyển
CO2 đã diễn ra rất hiệu quả.
Tuy nhiên, khuếch tán đơn giản không phải là cơ chế duy nhất vận chuyển các
chất trọng lượng phân tử nhỏ, đặc biệt là những chất có nồng độ thấp trong huyết
tương thai phụ nhưng quan trọng cho sự tăng trưởng của thai. Một ví dụ là acid
ascorbic, với trọng lượng phân tử nhỏ, không được vận chuyển bằng khuếch tán đơn
giản, và nồng độ của nó trong máu thai cao gấp 4 lần trong máu sản phụ [60]. Sắt trong
huyết tương thai cũng cao hơn ở thai phụ mặc dù khả năng gắn kết sắt của huyết
tương thai phụ mạnh hơn thai. Đó là do vận chuyển chủ động, thậm chí lượng
vận chuyển không phụ thuộc vào trạng thái sắt của thai phụ.
Insulin, hormon steroid, hormone giáp đi qua nhau rất chậm. Hormon được tổng
hợp trong nguyên bào nuôi sẽ đi vào tuần hoàn cả thai phụ lẫn con nhưng không đều.
Ví dụ nồng độ hCG, hLP trong máu thai phụ cao hơn trong máu thai rất nhiều. Những
chất trọng lượng phân tử cao thường không qua nhau, nhưng có một ngoại trừ quan
trọng là IgG (160.000) đi qua nhau nhờ thụ thể trong nguyên bào nuôi.
1.2.3.2. Dinh dưỡng thai
Trong hai tháng đầu thành phần của phôi hầu như là nước, dần dần những
thành phần đặc hơn được thêm vào. Bởi vì, trứng người chỉ có một lượng nhỏ noãn
hoàng nên sự phát triển của phôi thai rất sớm lệ thuộc vào dưỡng chất lấy được từ


14

thai phụ. Vài ngày đầu sau khi làm tổ, dinh dưỡng của phôi nang (blastocyte) đến từ
dịch kẽ của nội mạc tử cung. Tuần thứ 3 sau thụ tinh, mạch máu thai xuất hiện trong
gai nhau. Tuần thứ tư một hệ thống tim mạch hình thành. Tuần hoàn thật sự đã xác
lập và nuôi dưỡng phôi.
Cuối cùng các bữa ăn của thai phụ cung cấp tất cả chất dinh dưỡng tới thai.
Thực phẩm sản phụ ăn sẽ được chuyển vào dạng dự trữ và được sử dụng liên tục.
Ba kho dự trữ lớn của thai phụ là gan, cơ và mỡ. Nội tiết giúp cho chương trình dự
trữ là insulin có liên quan mật thiết tới chuyển hóa các chất dinh dưỡng hấp thu từ
ruột thai phụ. Sự chế tiết insulin duy trì nhờ nồng độ glucose và acid amin tăng
trong máu. Hiệu quả thực sự là dự trữ glucose dưới dạng glycogen ở gan và cơ, giữ
lại một số acid amin dưới dạng protein, và năng lượng dư thừa dưới dạng mỡ. Dự
trữ mỡ của thai phụ đạt đỉnh cao vào 3 tháng giữa thai kỳ, sau đó giảm dần vì sự sử
dụng của thai tăng.
Lúc đói glucose phóng thích từ glycogen, nhưng kho glycogen của thai phụ
không lớn và không thể cung cấp đủ lượng glucose cho nhu cầu năng lượng thai
phụ và phát triển thai. Việc phân cắt triacylglycerol dự trữ trong mô mỡ cung cấp
năng lượng cho thai phụ ở dạng acid béo tự do. Phân hủy lipid được hoạt hóa trực
tiếp hoặc gián tiếp nhờ một số nội tiết gồm: glucagon, norepinephrine, placental
lactolgen, glucocortico-steroid và thyroxine.
Thai nhi phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn dinh dưỡng từ thai phụ. Để tồn tại và
phát triển, thai không thể là vật ký sinh thụ động, nó chủ động tham gia vào việc
cung cấp dinh dưỡng cho chính nó. Vào giữa thai kì, nồng độ glucose trong thai độc
lập và có thể cao hơn ở thai phụ.
Vì glucose là một chất dinh dưỡng quan trọng cung cấp năng lượng cho phát
triển thai. Những cơ chế giảm thiểu sử dụng glucose từ thai phụ thì có lợi cho thai.
Hoạt động chuyển hóa của hPL, một nội tiết tố thường có rất nhiều trong thai phụ
nhưng không có trong thai, được nghĩ là ngăn chặn việc lấy và sử dụng glucose
ngoại biên đồng thời huy động và sử dụng acid béo tự do. Vận chuyển glucose qua


15

nhau là một quá trình khuếch tán có hỗ trợ. Người ta đã phát hiện được 6 loại
protein vận chuyển glucose.
Mỡ trung tính không đi được qua nhau nhưng thành phần của nó là glycerol và
acid béo thì qua được bằng cách khuếch tán. Acid béo còn được tổng hợp ở bánh
nhau. Men lipoprotein lipase chỉ xuất hiện ở phía thai phụ của bánh nhau mà không
phía con, cho thấy quá trình thủy phân chất béo xảy ra ở máu sản phụ nhưng lại bảo
tồn mỡ trung tính ở thai. Acid béo chuyển đến thai sẽ tổng hợp thành triacylglycerol
gan thai.
Bánh nhau tập trung một lượng lớn acid amin trong tế bào nhờ quá trình thủy
phân. Các acid amin trung tính từ thai phụ được các nguyên bào nuôi bắt lấy. Sau đó
chúng được tập trung trong hợp bào nuôi rồi di chuyển qua phía thai bằng cách
khuếch tán. Các dữ liệu từ chọc dò cuống rốn cũng cho thấy nồng độ amino acid
trong máu cuống rốn cao hơn trong máu thai phụ [60].
Protein và những phân tử lớn qua nhau rất hạn chế. Cũng có những ngoại lệ
mà quan trọng phải kể đến là Immunoglobulin G (IgG). Chúng đi qua nhau với một
lượng rất lớn.
Các ion như Iod, kẽm, calci phải được vận chuyển chủ động qua nhau. Quá
trình cần năng lượng và chất vận chuyển trung gian. Các vitamin A,C và D cũng
vậy và nồng độ của chúng trong máu thai luôn cao hơn trong máu thai phụ [30].
1.3. THAI TO VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

Trong số những yếu tố có thể dẫn đến thai to thì đái tháo đường và béo phì
đang là những yếu tố thời sự nhất hiện nay. Các yếu tố khác như tuổi thai phụ, tiền sử
sinh con to, thể tạng của thai phụ và chồng thai phụ, chủng tộc, con rạ, tăng cân thai
phụ trong thai kỳ quá mức, thai quá ngày sinh, giới tính cũng được cho là nguyên nhân.
Nhiều yếu tố nguy cơ có thể xuất hiện trên cùng một thai phụ [17], [24], [95].
Thai nhi sống và phát triển trong buồng tử cung phụ thuộc hoàn toàn vào thai
phụ qua tuần hoàn thai. Vì vậy, thể tạng của thai phụ khi bắt đầu mang thai và quá
trình tăng cân của thai phụ trong suốt thai kỳ có tác động rất lớn đến sự phát triển
của thai và ảnh hưởng đến cân nặng của trẻ lúc sinh.


16

1.3.1. Tăng cân sản phụ khi mang thai và thai to
Ở Mỹ, Hytten đưa ra tiêu chuẩn tăng cân sinh lý bình thường của một thai phụ
trong một thai kỳ là 12,5kg. Trong đó, khoảng 9kg là để tạo lập ra thai, nhau, nước
ối, phát triển vú, tử cung, gia tăng lượng máu và giữ nước. Còn 3,5kg góp phần vào
kho mỡ dự trữ của thai phụ [47]. Quá trình hiểu biết và nhìn nhận về tăng cân thai
phụ là cả một lịch sử đấu tranh giữa các quan niệm.
Đầu thế kỷ 19 có một khái niệm ăn kiêng để phòng ngừa sinh khó. Nhưng
đồng thời ở giai đoạn này cũng có những công trình nghiên cứu công bố có mối liên
quan giữa thai nhẹ cân và việc ăn uống không đầy đủ ở thai phụ. Những năm 1930,
tăng cân quá mức ở thai phụ được coi là dấu hiệu của phù và nguy cơ tiềm tàng của
tiền sản giật. Hạn chế tăng cân khi mang thai còn được coi là cách phòng bệnh, và
thai phụ được khuyến khích không nên tăng cân quá 6,8kg trong một thai kỳ. Qua
70 năm tiêu chuẩn tăng cân trong thai kỳ cho các thai phụ ngày nay tăng gần gấp
đôi, và quan điểm ăn uống phù hợp đã thay thế sự kiêng cữ quá mức [83]. Ảnh
hưởng của tăng cân thai phụ lên trọng lượng thai còn tùy thuộc vào tình trạng dự trữ
của thai phụ trước lúc mang thai. Dự trữ này phản ánh qua chỉ số khối cơ thể (BMI).
Chỉ số khối càng cao tức là thai phụ ở tình trạng béo phì thì ảnh hưởng của sự tăng
trọng thai phụ lên trọng lượng thai càng lớn [83]. Viện Y học Hoa Kỳ (IOM) đưa ra
một hướng dẫn tăng cân theo chỉ số khối (BMI) cho các thai phụ.
Bảng 1.3. Hướng dẫn của IOM cho tăng cân trong thai kỳ [15].
Chỉ số BMI trước khi mang thai

Đề nghị tăng cân theo IOM (kg)

<19,8 (thấp)

12,5 - 18

19,8 – 26 (bình thường)

11,5 – 16

26,1 – 29 (cao)

7 – 11,5

>29 (béo phì)

6

Thai phụ tăng cân nhiều hơn tiêu chuẩn của IOM, thì nguy cơ sinh thai to tăng
khoảng 3 lần. Trẻ sơ sinh của những sản phụ này cũng có nguy cơ hạ đường huyết
và tăng billirubin máu gấp 1,5 lần. Tăng cân của thai phụ trong mỗi quý có ảnh
hưởng khác nhau lên tăng trọng của thai [43]. Quý II của thai kỳ là lúc mức tăng
cân ảnh hưởng lớn nhất. Abrams và Selvin đã tính toán ra là mỗi kg tăng trọng của


17

thai phụ trong quý I và quý III sẽ làm cho trọng lượng thai tăng 18g và 17g, nhưng
mỗi kg tăng trọng thai phụ của quý II làm tăng cân nặng thai nhi đến 32,8g [15].
Nghiên cứu năm 2006 của Nguyễn Thị Tuyết Anh tại bệnh viện Đại học Y
dược 2, đã chứng minh sự tăng cân thai phụ trong thai kỳ có liên quan với trọng
lượng trẻ sơ sinh với hệ số tương quan R = 0,84 và một thai phụ tăng hơn 16kg lúc
mang thai có trọng lượng con trung bình là 3800g [1].
Trong nghiên cứu tiền cứu của Phan Thị Kim Ngân trên 134 sản phụ tại xã
Hương Hồ, thành phố Huế cho thấy tăng cân thai phụ khi mang thai có ảnh hưởng
đến cân nặng con lúc sinh với hệ số tương quan R = 0,67 [10].
Nghiên cứu của Phạm Thị Quỳnh Hoa ( 2007) cho thấy nhóm thai phụ tăng
trên 12kg đặc biệt tăng trên 18kg trong suốt thai kỳ có nguy cơ sinh thai to tăng so
với nhóm thai phụ tăng ≤12kg [3]. Bergmann so sánh nhóm thai phụ tăng cân trong
thai kỳ ≥16kg thấy tăng nguy cơ thai to gấp 3 lần so với nhóm thai phụ tăng cân
trong thai kỳ <10 kg [24].
1.3.2. BMI thai phụ và thai to
BMI là từ viết tắt của chỉ số khối cơ thể là một đại lượng tính bằng trọng
lượng cơ thể (kg) chia cho bình phương chiều cao (m). Chỉ số này nhằm khảo sát
mức độ cân đối của cơ thể. Phân loại BMI theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có
tiêu chuẩn dành riêng cho người Châu Á.
Bảng 1.4. Phân loại BMI theo chuẩn chung của tổ chức Y tế thế giới (WHO), và
chuẩn dành riêng cho người châu Á (IDI&WPRO) [21].
WHO BMI
IDI&WPRO BMI
2
Phân loại
(kg/m )
(kg/m2)
Cân nặng thấp (gầy)
<18,5
<18,5
Bình thường
18,5 – 24,9
18,5 – 22,9
Thừa cân
25
23
Tiền béo phì
25 – 29,9
23 – 24,9
Béo phì độ I
30 – 34,9
25 – 29,9
Béo phì độ II
35 – 39,9
30
Béo phì độ III
40
Nhiều nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa thai phụ béo phì và mang thai
con to [29], [53], [75]. Thai phụ có chỉ số khối (BMI) càng cao thì khi mang thai có


18

nguy cơ cao huyết áp do thai và thai to càng tăng [94]. Nguyễn Thanh Tuyền trong
một nghiên cứu tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định (2004) cũng nhận thấy thai phụ
dư cân hoặc béo phì có con nặng cân hơn thai phụ có BMI trung bình [14]. Thai ở
thai phụ béo phì ngoài nguy cơ thai to, còn tăng nguy cơ chết lưu, sinh non, dị tật
ống thần kinh và béo phì niên thiếu (ACOG, 2005) [16]. Yếu tố tăng cân thai phụ
lúc mang thai cũng tương tác thêm vào để làm tăng nguy cơ thai to. Tỷ lệ đái tháo
đường trong số thai phụ béo phì cũng cao hơn. Tuy rằng, đái tháo đường và béo phì
ở thai phụ cùng làm tăng nguy cơ thai to, đa số các nhà nghiên cứu cho rằng béo phì
có vai trò lớn hơn [56], [62]. Thai phụ đái tháo đường làm tăng dự trữ mỡ ở thai,
làm tăng kích thước chu vi vai và chi trên của thai nên làm tăng nguy cơ sinh kẹt
vai. Trái lại, thai phụ béo phì không phải là yếu tố làm tăng nguy cơ này [72].
1.3.3. Đái tháo đường và thai to
Đái tháo đường ở thai phụ là một yếu tố quan trọng gây ra thai to. Nhiều
nghiên cứu cho thấy tác động này là do tăng insulin và các yếu tố tăng trưởng (IGFI) trong thai [44], [71], [78]. Đái tháo đường (ĐTĐ) có thể xuất hiện lúc mang thai,
còn được gọi là đái tháo đường thai kỳ (GDM) [91].
ĐTĐ thai kỳ thường khởi phát ở tuần lễ thứ 24, đôi khi cũng có thể xuất hiện
sớm hơn, ĐTĐ khởi phát do nhu cầu tăng insulin của quá trình phát triển thai. Khi
thai nhi phát triển nhu cầu chuyển hóa đường của thai phụ tăng lên, trong giai đoạn
sau của thai nghén nhu cầu về insulin tăng gấp 2 lần so với bình thường. Đồng thời
cơ thể thai phụ có một số hormone kháng insulin, cơ thể không đáp ứng đủ nhu cầu
lượng insulin, đường huyết sẽ tăng cao và xuất hiện ĐTĐ. Thai nhi của một thai phụ
ĐTĐ, ngoài nguy cơ lớn quá mức còn có nguy cơ dị tật ống thần kinh, hạ đường
huyết, calci huyết, magne huyết và sang chấn sản khoa [26], [31], [50].
Ở các nước phát triển tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường cao nên vấn đề phòng
ngừa cho thai phụ có tầm quan trọng quốc gia [45]. Tuy nhiên thai phụ đái tháo
đường không phải đối tượng quan tâm trong nghiên cứu này của chúng tôi.
1.3.4. Một số yếu tố khác và thai to


19

Tiền căn sinh con to cũng là một yếu tố nguy cơ sinh con to. Gaudet (2014)
nhận thấy sản phụ có tiền sử sinh con to có nguy cơ sinh con to ở lần mang thai tiếp
theo gấp 3 lần sản phụ không có tiền căn sinh con to [38]. Một sản phụ đã từng sinh
con nặng 4000g, thì khả năng sinh đứa con tiếp theo là 4500g trở lên cao gấp 5 đến
10 lần sản phụ không có tiền căn như vậy [55], [62]. Thậm chí cân nặng lúc sinh
của chính sản phụ cũng là yếu tố tiên đoán cân nặng con sinh lần tiếp theo [62].
Thai to cũng gặp nhiều ở những sản phụ có tiền sử sinh nhiều lần [49]. Và có
3 nghiên cứu đoàn hệ chứng minh rằng đa sản (sinh từ 5 lần trở lên) cũng làm tăng
nguy cơ sinh con to [22], [52], [86].
Tuổi sinh đẻ của thai phụ luôn là một vấn đề được các nhà sản khoa quan tâm.
Tuổi của thai phụ liên quan đến sự hoàn thiện hay suy giảm chức năng của các cơ
quan của cơ thể thai phụ. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến quá trình mang thai và tác
động đến sự phát triển của thai. Nghiên cứu của Jolly và Onyiriuka cũng đã chứng
minh rằng thai phụ lớn tuổi làm tăng nguy cơ sinh con to [49], [65]. Thai quá ngày
sinh cũng là yếu tố nguy cơ quan trọng của thai to.Tuổi thai ≥42 tuần tăng nguy cơ
thai to gấp 3 lần [38] .
Ở bất cứ tuổi thai nào thì trẻ sơ sinh nam thường nhiều hơn trẻ sơ sinh nữ, cho
nên chúng chiếm tỷ lệ lớn hơn trong số thai to [48], [55].
Phụ nữ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha có nhiều nguy cơ sinh con to hơn phụ nữ
da trắng, da đen và châu Á [33], [90]. Chiều cao của thai phụ và chồng, chủng tộc
cũng có vai trò trong xác lập trọng lượng thai, nhưng những yếu tố này tương tác
qua lại theo một kiểu phức tạp cùng với yếu tố môi trường lúc mang thai [92]. Hiện
nay vẫn chưa xây dựng được một kiểu kết hợp nào đủ để sử dụng trên lâm sàng.
1.3.5. Chẩn đoán thai to
Ước lượng trọng lượng thai trong những trường hợp thai to thường khó khăn
vì những lý do: thai phụ béo phì, bất thường về nước ối, ngôi thai. Thách thức này
buộc các thầy thuốc phải phối hợp nhiều phương pháp như thăm khám lâm sàng cẩn
thận, tỉ mỉ (đo bề cao tử cung, vòng bụng, sờ nắn thai) kết hợp với siêu âm đo các kích


20

thước của thai, giúp họ đưa ra được chẩn đoán đúng, chỉ định can thiệp điều trị lâm
sàng kịp thời góp phần giảm tỷ lệ các biến chứng và tử vong cho cả sản phụ và con.
Để ước tính trọng lượng thai trước sinh trên lâm sàng các thầy thuốc phải dựa
vào các số đo chiều cao tử cung và vòng bụng. Nghiên cứu của Noumi cho rằng tỉ lệ
chẩn đoán đúng thai to dựa vào lâm sàng (sai lệch 10% trọng lượng thật của thai) là
72%, tuy nhiên độ nhạy của phương pháp này chỉ chiếm 50% và độ đặc hiệu là
95%. Mặc dù giá trị chẩn đoán trọng lượng thai trên lâm sàng của phương pháp đo
chiều cao tử cung không cao nhưng nó lại là phương pháp đơn giản, an toàn, kinh
tế, dễ thực hiện ở các tuyến, đặc biệt ở những tuyến cơ sở chưa có siêu âm.
Trên thế giới, siêu âm đã được ứng dụng vào thập kỷ 60, để chẩn đoán cân
nặng và theo dõi sự phát triển của thai trong tử cung đạt kết quả chính xác, giúp các
thầy thuốc đưa ra các chỉ định can thiệp điều trị lâm sàng được kịp thời, góp phần
giảm tỷ lệ tử vong sản phụ và con. Siêu âm cho phép đo các kích thước các phần
của thai để xác định trọng lượng thai trong tử cung, như các phương pháp: đo
đường kính lưỡng đỉnh, chu vi đầu, đường kính ngang bụng, chu vi bụng, đường
kính trung bình bụng, chiều dài xương đùi.... Tại bệnh viện Hùng Vương, cân nặng
thai nhi theo siêu âm được tính toán dựa vào công thức Hadlock 2, có sử dụng
thông số: đường kính lưỡng đỉnh, chu vi bụng, chiều dài xương đùi. Công thức
Hadlock 2 đã được báo cáo có ước tính trọng lượng thai tốt hơn so với các công
thức khác [36], [69]. Đối với thai có trọng lượng ≥4000g, siêu âm 1 tuần trước sinh
có giá trị chẩn đoán dương tính là 62%. Nghiên cứu của Njoku (2014) về giá trị ước
đoán trọng lượng thai của một số phương pháp chẩn đoán nhận thấy rằng: tỷ lệ chẩn
đoán đúng (sai lệch 10% trọng lượng sau sinh) là 72%, độ nhạy là 69,4%, và giá trị
chẩn đoán âm tính là 92,7% [63].
1.3.6. Xử trí thai to
- Đề phòng thai ≥ 4000g: vấn đề này cũng đã được quan tâm [22], ngoài
những yếu tố không thể can thiệp: yếu tố gen, di truyền, thai to ≥ 4000g ở người đẻ
nhiều lần, thì việc quản lý điều trị có hệ thống bệnh tiểu đường, giữ tình trạng ổn


21

định của tiểu đường trong khi có thai cũng có thể hạn chế được tình trạng thai phát
triển quá mức trong tử cung [27].
- Trước những trường hợp nghi ngờ thai to có sự bất tương xứng tương đối với
khung chậu, cần phải làm nghiệm pháp lọt ngôi chỏm khi đủ điều kiện, nếu thất bại
chỉ định mổ lấy thai. Nếu nghiệm pháp thành công, ngôi có thể lọt xuống người phụ
nữ có thể đẻ được song có thể gặp nhiều biến chứng: sang chấn thai nhi, chấn
thương đường sinh dục người mẹ, chảy máu sau đẻ. Vì vậy, cần phải cắt nới tầng
sinh môn rộng, giác kéo hay foxep lấy thai. Trong trường hợp có sự bất cân xứng
giữa thai và khung xương chậu rõ rệt cần chỉ định mổ lấy thai sớm để hạn chế các
biến chứng do đẻ đường âm đạo thai ≥ 4000g [1], [28].
Trong trường hợp đẻ khó do mắc vai cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các
bác sỹ sản khoa và sơ sinh, đôi khi cần thiết có cả bác sỹ gây mê hồi sức để giảm
đau cho sản phụ, làm mềm cơ giúp lấy thai được dễ dàng.

Hình 1.1: Mắc vai. Nguồn:Operative Obstetrics.
Hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (1991) đã đề nghị một số bước thực hiện khi mắc
vai [65]:
(1) Yêu cầu người trợ giúp, một bác sĩ gây mê hồi sức, một bác sĩ nhi. Ở thời điểm
này khởi đầu bằng kéo nhẹ nhàng. Thông tiểu nếu bàng quang căng.


22

(2) Cắt rộng tầng sinh môn.
(3) Nhờ một người phụ ấn trên xương mu trong khi kéo dần đầu ra.
(4) Thủ thuật Mc Robert: cần hai người phụ. Mỗi người nắm một bên chân và gấp
mạnh đùi mẹ cho áp sát vào bụng. Những thủ thuật này đã giải quyết được hầu hết
các trường hợp đẻ khó do vai to, tuy nhiên nếu thủ thuật này thất bại, có thể thực
hiện tiếp các bước sau:
(5) Thực hiện thủ thuật xoay của Woods: xoay dần dần vai sau 180 độ ra trước theo
cách xoắn lại thì vai trước sẽ đỡ bị chèn ép.
(6) Cố gắng kéo cánh tay sau ngoài nhưng nếu cánh tay này duỗi ra sau quá mức thì
khó thực hiện.

Hình 1.3: Thủ thuật ấn trên xương mu. Nguồn: Williams Obstetric.
Những kỹ thuật khác chỉ thực hiện khi những thủ thuật trên thất bại:
- Thủ thuật Rubin I: đè ép trên xương vệ.
- Thủ thuật Rubin II: đè ép phía sau của vai trước, giúp đưa trục vai thai theo
vị trí đường kính chéo và mặt thai hướng về âm đạo.


23

- Thủ thuật Jacquemier hay Barnum: sinh vai sau trước, tìm cẳng tay và cánh
tay trong âm đạo và kéo nhẹ nhàng ra khỏi âm đạo.
- Thủ thuật Gaskin: xoay thai theo nhiều hướng.
- Bẻ xương đòn: giúp giảm đường kính vai.

Hình 1.4: Thủ thuật McRoberts. Nguồn: Operative Obstetrics.
1.3.7. Các biến chứng của thai to
1.3.7.1. Đối với sản phụ
Thai to làm muộn quá trình chuyển dạ, cuộc chuyển dạ tự nhiên khó khởi
động được, vì vậy tỷ lệ phải gây chuyển dạ hoặc mổ lấy thai chủ động trong những
trường hợp thai to cao hơn nhóm thai có trọng lượng bình thường.
Nếu cuộc chuyển dạ được diễn ra, thì các rối loạn cơn co tử cung làm quá
trình chuyển dạ kéo dài hoặc đình trệ. Sự bất cân xứng giữa thai và khung chậu sản
phụ làm giai đoạn II chuyển dạ kéo dài, tỷ lệ sinh phải can thiệp thủ thuật cao.
Cuộc chuyển dạ thai to có thể khiến cho sản phụ mệt mỏi, kiệt sức, sau sinh dễ
gây chảy máu do đờ tử cung. Bên cạnh đó, nếu không được theo dõi và can thiệp
kịp thời có thể gặp các biến chứng như vỡ tử cung hoặc tổn thương đường sinh dục
ở các mức độ khác nhau như rách cổ tử cung, rách phức tạp tầng sinh môn, chảy
máu sau sinh…


24

Những trường hợp thai quá to khi sinh ngả âm đạo sẽ làm đường sinh dục dưới
của sản phụ giãn nở quá mức làm giảm hoặc mất khả năng nâng đỡ của đáy chậu và
đây là một trong những nguyên nhân gây sa sinh dục sau này [4].
Nghiên cứu của Mulik thấy rằng tỷ lệ mổ sinh tăng gấp đôi, băng huyết sau
sinh cũng gấp đôi và nhu cầu truyền máu tăng gấp 5 lần ở nhóm sản phụ có con trên
4500g so với nhóm sản phụ có con nặng dưới 4000g [87].
Trong nghiên cứu của Jolly (2003) cho các nhận xét khi so sánh thời gian
chuyển dạ sinh thai to với thai có trọng lượng bình thường như sau: nguy cơ giai
đoạn I và II chuyển dạ kéo dài tăng gấp 1,6 lần và gấp 2 lần, gia tăng nguy cơ sinh
thủ thuật gấp 1,8 lần, chấn thương âm đạo - tầng sinh môn độ 3 gấp 2,7 lần, mổ lấy
thai cấp cứu gấp 1,8 lần, chảy máu sau sinh gấp 2 lần, chỉ số apgar của trẻ sơ sinh
sau sinh <4 gấp 1,4 lần, và sơ sinh phải chăm sóc đặc biệt gấp 1,5 lần [49].
1.3.7.2. Đối với trẻ sơ sinh
Tần suất sinh khó do vai hay gặp ở những trường hợp thai to toàn bộ do đường
kính lưỡng mỏm vai quá lớn nên vai kẹt trong tiểu khung. Tần suất sinh khó do vai
tỷ lệ thuận với trọng lượng thai. Nếu trọng lượng thai ≥4500g tỷ lệ kẹt vai tăng gấp
2 lần. Vai to thường chỉ được chẩn đoán ra khi đầu đã sổ mà vai bị kẹt không sổ ra
được dù người đỡ đẻ đã đỡ theo đúng cơ chế sinh, lúc này phải can thiệp các thủ
thuật để lấy thai [4], [25].
Nếu quá trình chuyển dạ kéo dài và không được theo dõi xử trí tích cực dễ dẫn
đến suy thai cấp. Trong trường hợp sinh ngả âm đạo, với thai to rất dễ gây biến
chứng kẹt vai, tổn thương đám rối thần kinh cánh tay, gãy xương đòn, xương cánh
tay, xuất huyết não, nặng hơn có thể gây tử vong.
Nghiên cứu của John F Rodis (2016) về hiện tượng kẹt vai trong các quá trình
sinh có nhận xét sau: kẹt vai xảy ra trong 0,2% - 3% tổng số sinh và là một cấp cứu
sản khoa. Tổn thương đám rối thần kinh cánh tay là một trong các biến chứng
nghiêm trọng chiếm 2% - 16% ở các trường hợp kẹt vai, trong đó có 30% các
trường hợp sẽ có tổn thương thần kinh lâu dài. Và một số biến chứng khác bao gồm
gãy xương đòn, rách cơ thắt hậu môn của sản phụ, thậm chí tử vong sơ sinh. Kẹt vai


25

không thể dự đoán chắc chắn ở trước và trong sinh. Ít nhất 50% số sản phụ có biến
chứng kẹt vai mà không có các nguy cơ có thể nhận ra được. Các yếu tố nguy cơ
thường gặp nhất là thai to (nguy cơ cao nhất), thai phụ béo phì, đái tháo đường, con
so lớn tuổi [58].
Sau sinh, đối với sơ sinh thai to bắt buộc phải xét nghiệm đường huyết để
tránh nguy cơ hạ đường huyết dẫn đến hôn mê. Schaefer-Graf (2002) tiến hành
nghiên cứu trên 887 sơ sinh quá cân so với tuổi thai của các thai phụ không bị đái
tháo đường: 16% sơ sinh hạ đường huyết xảy ra trong vòng 24 giờ đầu sau sinh. Tỷ
lệ này giảm rõ rệt trong những giờ tiếp theo sau sinh: từ 9,2% trong giờ đầu tiên,
đến 3,5% giữa 2đến 5 giờ đầu sau sinh, 2,4% giữa 6 và 24 giờ đầu [76].
1.3.7.3. Đối với thai
Nếu kiểm soát đường huyết thai phụ không tốt, thai có nguy cơ chết lưu. Theo
Mondestin (2002) tỷ lệ thai lưu tăng gấp đôi ở nhóm sản phụ sinh con to [59].
1.4. CÁC NGHIÊN CỨU

1.4.1. Nghiên cứu trên thế giới
Orskou và cộng sự (2003) đi tìm các yếu tố nguy cơ thai to trên 36.265 ca sinh
Đan Mạch trong giai đoạn 1990 - 1999. Họ kết luận tìm thấy nguy cơ trên đối tượng
thai phụ to lớn, tuổi trên 30, con rạ, thai quá ngày, không hút thuốc. Một thai phụ
nặng trên 80kg, cao trên 1,9m, thai con thứ 3 trở lên có nguy cơ thai to tăng gấp đôi.
Ở thai quá ngày, nguy cơ cũng tăng gấp đôi. Họ còn nhận thấy trong giai đoạn 10
năm nghiên cứu, thai phụ có sự gia tăng trọng lượng, chiều cao, tuổi, trình độ học
vấn và giảm hút thuốc, uống rượu, cà phê dẫn đến tỷ lệ thai to gia tăng [66].
Một nghiên cứu bệnh chứng của Hedderson và cộng sự (2006) trên 45.245 sản
phụ sinh từ 1996 đến 1998 ở Bắc California cho thấy thai phụ tăng cân nhiều hơn
hướng dẫn của Viện Y học của Mỹ (IOM) thì nguy sơ sinh thai to tăng 3 lần, nguy
cơ trẻ sơ sinh bị hạ đường huyết hoặc tăng bilirubin tăng 1,5 lần [43].
Yin và cộng sự (2005) ở Đại học Sun Yat-sen, Guangzhou, Trung Quốc trên
một nghiên cứu với 769 sản phụ kết luận thai phụ có BMI trước mang thai ở nhóm
dư cân thì bị tăng huyết áp do thai và thai to nhiều hơn nhóm thai phụ thiếu cân (p <


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×