Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt về tính chu vi, diện tích hình tam giác và hình thang ở trường tiểu học quảng hùng thành phố sầm sơn

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ SẦM SƠN

TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẢNG HÙNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5
HỌC TỐT VỀ TÍNH CHU VI , DIỆN TÍCH
HÌNH TAM GIÁC VÀ HÌNH THANG Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
QUẢNG HÙNG -THÀNH PHỐ SẦM SƠN

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ha
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Quảng Hùng
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Toán

SẦM SƠN NĂM 2019


MỤC LỤC

1.

Mở đầu :

1

1.1. L í do chọn đề tài:

1

1.2. Mục đích nghiên cứu

1

1.3. Đối tượng nghiên cứu

2

1.4. Phương pháp nghiên cứu

2

2. Nội dung Sáng kiến kinh nghiệm

2

2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

2

2.2. Thực trạng học về tính chu vi, diện tích hình tam giác, hình thang
của học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Quảng Hùng

5

2.3.Các giải pháp sử dụng để giúp học sinh lớp 5 học tốt về tính
chu vi, diện tích hình tam giác, hình thang

7

2. 4.Hiệu quả SKKN trong việc dạy học sinh tính diện tích hình tam
giác, hình thang

14

3. Kết luận , kiến nghị

2


1. Mở đầu
1.1.Lí do chọn đề tai:
Chương trình sách giáo khoa Toán lớp 5 đã được chỉnh lý và bổ sung
thêm nhiều mảng kiến thức mới, quan trọng làm phong phú thêm nội dung môn
toán. Đồng thời nâng cao mở rộng sự hiểu biết và tạo điều kiện cho học sinh
trong việc tiếp thu kiến thức mới cũng như vận dụng vào giải các bài toán. Hình
học là nội dung cơ bản, chủ yếu của chương trình môn Toán ở Tiểu học, nó được
rải đều ở tất cả các khối lớp và được nâng cao dần về từng mức độ. Từ nhận
diện hình ở lớp 1, 2 sang đến tính chu vi, diện tích ở các lớp 3, 4, 5. Nói chung,
hình học là môn học tương đối khó trong chương trình môn Toán vì nó đòi hỏi
người học khả năng tư duy trừu tượng, những em có học lực khá và giỏi sẽ rất
thích học môn này, ngược lại những em có khả năng tư duy chậm hơn thì rất
ngại học dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém môn toán chiếm tỉ lệ khá cao so
với các môn học khác.
Đứng trước thực trạng đó, nhiệm vụ đặt ra cho ngành giáo dục và cho mỗi
giáo viên đứng lớp là làm thế nào để nâng cao chất lượng học sinh, tránh để học
sinh ngồi nhầm lớp nhất là trong giai đoạn hiện nay cả ngành giáo dục đang ra
sức thực hiện “Hai không với bốn nội dung” của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo. Việc tìm hiểu về mức độ kiến thức hình học ở Tiểu học và biết được
người ta đưa vào những nội dung nhằm mục đích gì từ đó mà để ra phương pháp
dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh thì hiệu quả giảng dạy sẽ cao
hơn.
Trong chương trình Toán 5 việc dạy nội dung hình học cho học sinh
không khó, bên cạnh những thành công là giúp học sinh nắm được cách nhận
diện hình, tìm diện tích, chu vi, thể tích thì cũng còn những hạn chế là các em
chưa nắm rõ bản chất của đơn vị kiến thức, kết quả là chưa đáp ứng được yêu
cầu của thực hành. Làm thế nào để các em có thể sử dụng kiến thức cơ bản một
cách linh hoạt ở từng trường hợp cụ thể. Đó cũng là trăn trở của bản thân khi
dạy cho học sinh kiến thức về nội dung hình học. đây là vấn đề chưa có GV nào
ở trường nghiên cứu và chưa có kinh nghiệm để giải quyết , khắc phục.
Đặt cho mình nhiệm vụ tháo gỡ những khó khăn trên, bản thân đã nhiều
năm được phân công dạy lớp 5, năm học này lại được giao nhiệm vụ chủ nhiệm
lớp 5B.. Trong quá trình giảng dạy tôi rút ra một vài biện pháp trong việc giúp
học sinh học tèt các bài có nội dung hình học. Vì vậy tôi chọn đề tài:
“Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt về tính chu vi, diện tích hình
tam giác và hình thang ở trường Tiểu học Quảng Hùng-Thành phố Sầm
Sơn”.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
- Nhằm nâng cao chất lượng học sinh líp 5.
3


- Giúp học sinh hình thành kĩ năng, sử dụng thành thạo và vận dụng một
cách linh hoạt các công thức trong giải toán về các yếu tố hình học.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Tìm hiểu nội dung, phương pháp dạy bài hình tam giác, hình thang.
- Nghiên cứu cách hình thành kiến thức mới và vận dụng vào từng bài cụ thể.
Tiến hành thực nghiệm: Qua kiểm tra, khảo sát kết quả học tập của học sinh ở
từng năm học đối với học sinh lớp tôi chủ nhiệm và học sinh khối 5 của trường
Tiểu học Quảng Hùng-Thành phố Sầm Sơn”.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
- Xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài
- Tìm hiểu nội dung, phương pháp để hình thành, khắc sâu và vận dụng công
thức
- Thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp thống kê số liệu.
- Phương pháp thử chọn...
2. Nội dung Sáng kiến kinh nghiệm:
2.1.Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
2.1.1.Cơ sở toán học
- Nội dung kiến thức SGK: Đặc điểm hình tam giác,phân biệt 3 dạng hình
tam giác,nhận biết đáy và đường cao, tính diện tích hình tam giác và tam giác
vuông.
- Có biểu tượng về hình thang, nhận biết được một số đặc điểm của hình
thang, phân biệt hình thang vuông với hình thang thường,tính diện tích hình
thang, vuông vận dụng vào giải toán có liên quan.
a. Hình tam giác
* Nhận diện hình tam giác.
- Tam giác có 3 cạnh, 3 góc, 3 đỉnh; có 1 đáy, 2 cạnh bên và 1 đường cao
tương ứng.
A

3 góc: góc A, góc B, góc C
3 đỉnh: đỉnh A, đỉnh B, đỉnh C
3 cạnh: cạnh AB, cạnh AC, cạnh BC
Đáy BC, đường cao AH vuông góc với BC: Có
3 dạng hình tam giác: Bài Hình tam giác(Tr 85)

B

H

C

4


+ Dạng 1.Tam giác có 3 góc nhọn: Từ một đỉnh bất kì, ta có thể kẻ một
đường cao tương ứng xuống đáy (cạnh đối diện). Cả 3 đường cao này đều nằm
trong tam giác.
A

A

H
B

C

H

C

B

A

H

C

B

+ Dạng 2.Tam giác có một góc tù và hai góc nhọn: từ một đỉnh bất kì ta kẻ được
đường cao tương ứng với đáy: có hai đường cao ngoài tam giác.
A

A

A
H

H

B

Đáy BC, đường cao AH

C

C
B
Đáy AC, đường cao BH

C

B

H
Đáy AB, đường cao CH

+ Dạng 3.Tam giác có 1 góc vuông và hai góc nhọn (Tam giác vuông)
Do 2 cạnh góc vuông vuông góc với nhau nên chúng đều có thể làm
đường cao
5


A

A

A
K

C

B

Đáy BC, đường cao AB

C

B

C

B

Đáy AB, đường cao BC

Đáy AC, đường cao BK

• Hai tam giác nếu có chung đường cao (đường cao bằng nhau) và đáy bằng
nhau (chung đáy) thì chúng có diện tích bằng nhau.
* Diện tích hình tam giác (Tr 87 - SGK) :Công thức tính diện tích hình tam giác:
S=

a×h
2

Trong đó: S: Diện tích
a: Độ dài đáy
h: Chiều cao
b. Hình thang: Bài: Hình thang (Tr 91 - SGK)
* Nhận diện hình thang.
A

- Có 2 cạnh đáy đối diện AB, CD song song
với nhau

B

- Có 2 cạnh bên AD, BC.
D

- AH là đường cao.
- Nếu từ 1 điểm bất kỳ ở đáy bé ta hạ vuông
góc xuống đáy lớn thì ta có đường cao của
hình thang.

A

- Nếu cạnh bên AD vuông góc với 2 đáy AB
và CD thì hình thang này là hình thang vuông,
AD là đường cao.

D

C

H
B

C

* Bài: Diện tích hình thang (Tr 93 - SGK).Công thức tính diện tích hình thang:
S=

Trong đó: S

( a + b) × h
2

: Diện tích

a, b: Độ dài 2 đáy
6


h

: chiều cao

2.1.2 Cơ sở thực tiễn:
Năng lực tư duy của học sinh tiểu học có sự khác biệt .Cùng một lứa tuổi,
cùng học một chương trình như nhau nhưng hoạt động tư duy có những nét
riêng đối với từng em . Sự phát triển nhận thức của học sinh cùng lứa tuổi không
đồng đều, lĩnh hội kiến thức trước đó thiếu vững chắc. Các em gặp khó khăn khi
chuyển hình thức thao tác tư duy này sang hình thức thao tác tư duy khác. Suy
luận thường máy móc hay dựa vào tương tự. Căn cứ vào các dấu hiệu bên ngoài
suy luận thường là những khẳng định không căn cứ. Trong một chừng mực nào
đó, các em có thể giải được một bài toán bằng “bắt chước ” theo các mẫu đã có
nhưng mơ hồ, thường hay sai lầm khi lập luận tính toán. Khi giải các bài tập
mới, các em thường lao vào giải bằng cách tái hiện, máy móc, có khi không đầy
đủ, khi hỏi về lý lẽ các em không giải thích được. Đa số còn lúng túng khi trình
bày lời giải. Diễn đạt bằng ngôn ngữ khó khăn, chưa gọn gãy, sử dụng thuật ngữ
toán học lúng túng, nhiều chỗ lẫn lộn. Hình thức trình bày bài giải toán chưa
khoa học, chưa đạt yêu cầu. Xác định chưa đúng dạng toán dẫn đến giải sai hoặc
nhầm lẫn cách giải dạng toán điển hình này thành dạng toán điển hình khác. Vận
dụng còn nhầm lẫn công thức tính chu vi, diện tích các hình đã học. Kể cả có
những vấn đề vướn mắc chưa hiểu.Vì thế, để giúp học sinh hiểu và tránh được
khó khăn, sai sót trong khi giải toán có lời văn nói chung và các bài toán có nội
dung hình học nói riêng, chúng ta cần giúp học sinh nắm được từng dạng toán
trong chương trình cũng như các công thức hình học cần sử dụng để giải quyết.
Tuy nhiên, để giúp các đối tượng học sinh khắc phục và hoàn thiện những thực
trạng nêu trên là một vấn đề không đơn giản. Ở lớp 5B tôi chủ nhiệm cũng như
các lớp trong khối trong những năm qua, tôi đã suy nghĩ và đưa ra: " Một số
biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt về tính chu vi, diện tích hình tam giác,
hình thang".
2.2. Thực trạng học về tính chu vi, diện tích hình tam giác, hình thang của
học sinh lớp 5 trường Tiểu học Quảng Hùng
a. Nội dung kiến thức SGK:
- Hình tam giác: dạy 4 tiết từ tiết 85 đến tiết 88.
Tiết 85: Hình tam giác
Tiết 86: Diện tích hình tam giác
Tiết 87+88: Luyện tập thực hành
- Hình thang: Dạy 4 tiết từ tiết 90 đến tiết 93
Tiết 90: Hình thang
Tiết 91: Diện tích hình thang
Tiết 92+93: Thực hành luyện tập
Ngoài 2 tiết 85 và 90 là giới thiệu về hình, các tiết còn lại chủ yếu học
sinh vận dụng công thức để tính diện tích của một hình sau khi đã cho các số
liệu cụ thể.
b. Những khó khăn khi học sinh học về phần này:
7


- Đặc điểm của học sinh Tiểu học là hiểu và ghi nhớ máy móc nên trước 1 bài
bất kỳ các em thường đặt bút tính luôn nhiều khi dẫn đến những sai sót không
đáng có do các em chưa chú ý đến các số đo của đáy, đường cao, … hoặc mối
liên hệ giữa các yếu tố trong công thức tính.
- Trí nhớ của học sinh chưa bền vững chỉ dừng lại ở phát triển tư duy cụ thể
còn tư duy trừu tượng, khái quát kém phát triển (nhất là ở học sinh chưa hoàn
thành) nên khi gặp những bài cần có sự tư duy logic như tính chiều cao hay độ
dài đáy thì các em không làm được do không có công thức tính.
- So với mặt bằng toàn huyện thì chất lượng mũi nhọn học sinh trường Tiểu
học Quảng Hùng chưa cao so với một số trường khác trong cụm nên gặp khó
khăn nhất định khi bồi dưỡng học sinh giao lưu câu lạc bộ trí tuệ tuổi th cấp
huyện.
- Đặc điểm của trẻ ở Tiểu học là chóng nhớ nhưng nhanh quên. Sau khi học bài
mới, cho các em luyện tập ngay thì các em làm được bài nhưng chỉ sau một thời
gian ngắn kiểm tra lại thì hầu như các em đã quên hoàn toàn, đặc biệt là những
tiết ôn tập, luyện tập cuối năm.
Cụ thể: Sau khi các em học xong bài Diện tích hình tam giác, cho các em
làm bài trong sách giáo khoa (làm đề kiểm tra luôn)
Đề kiểm tra 20 phút
Bài 1: Tính diện tích hình tam giác có:
a, Độ dài đáy là 8 cm, chiều cao là 6 cm
b, Độ dài đáy là 2,3 dm, chiều cao là 1,2 dm
c, Độ dài đáy là 5 m, chiều cao là 24 dm
Bài 2 : Hãy vẽ các đường cao tương ứng với các đáy được vẽ trong mỗi hình
tam giác dưới đây :
A

A

B

C

A

B

C
Đáy AB

Đáy AB

B

C
Đáy AC

Biểu điểm chấm :
Bài 1: 6 điểm (mỗi câu 2 điểm)
Bài 2: 4 điểm. Ở tam giác 1: 1 điểm
Ở tam giác 2: 2 điểm
Ở tam giác 3: 1 điểm
Thống kê kết quả chấm bài của học sinh tại lớp 5B năm học 2018- 2019 khi
8


chưa ứng dụng SKKN như sau : ( Sĩ số 27 em)
Bài 1
Kết quả

Câu a

Câu b
TL

Câu c
SL

TL

Bài 2
Câu a

SL

TL

SL

SL

Điểm 9,10

26

96.3

17

63

2

7.5

27

Điểm 7,8

1

3.7

7

25.9

7

25.9

Điểm 5,6

0

3

11.1

9

Điểm 3,4

0

0

9

TL
100

Câu b
SL

Câu c

TL

SL

TL

3

11.1

1

3.7

0

8

29.6

3

11.1

33.3

0

6

22.3

7

25.9

33.3

0

10

37

16

59.3

Nhìn vào bảng thống kê ta thấy đa số các em vận dụng công thức và lý
thuyết đã học mà giáo viên hướng dẫn như sách giáo khoa nên đã làm được câu
a, câu b của bài 1 và câu a bài 2, còn câu c bài 1, câu b, câu c bài 2 các em còn
sai và còn nhiều em chưa tìm được các làm.
Học sinh nhận biết , nhắc lại được kiến thức kĩ năng đã học.Trình bày, giải
thích được kiến thức theo cách hiểu của cá nhân.
Học sinh chưa biết vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề mới một cách linh
hoạt
c.Về giáo viên
Quyết định chất lượng dạy học phụ thuộc nhiều vào giáo viên. Do cấu
trúc các bài này trong sách giáo khoa ở những tiết học đầu mới chỉ là giới thiệu
và hình thành công thức để học sinh nắm được và giải toán nên trong qúa trình
lên lớp giáo viên cũng chỉ có thể giúp học sinh giải quyết những bài tập trong
sách .Chưa có sự đào sâu, mở rộng. Đối với đối tượng học sinh chậm hiểu thì lại
càng khó khăn hơn trong việc vận dụng công thức để xác định những yếu tố
trong công thức đó.
Ví dụ : Hình tam giác: Hình thành và vận dụng công thức để tính diện
tích.Chưa yêu cầu tính độ dài đáy hay đường cao.
2.3.Các biện pháp sử dụng để giúp học sinh lớp 5 học tốt về tính chu vi,
diện tích hình tam giác, hình thang.
*Phân tích nội dung, phương pháp dạy 2 loại hình
* Biện pháp 1:Cách xác định đáy và đường cao ở các loại hình tam giác.
+ Bài giới thiệu về hình tam giác (Tiết 85)
- Cho học sinh quan sát hình và chỉ ra 3 cạnh, 3 góc, 3 đỉnh sau đó giới

9


thiệu cho học sinh 3 loại hình tam giác, từ đây học sinh nhận diện hình để xác
định đâu là tam giác có 3 góc nhọn, đâu là tam giác có 1 góc tù và 2 góc nhọn,
đâu là tam giác vuông có 1 góc vuông, 2 góc nhọn ( ở bài tập 1 trang 86.)
- Cho học sinh nhận biết đáy và đường cao tương ứng bằng cách quan sát và
dưới sự hướng dẫn của giáo viên học sinh đọc tên được các đường cao ứng với
đáy (ở bài tập 2 trang 86.)
* Biện pháp 2:Cách xác định công thức biến đổi từ công thức tính diện tích
hình tam giác( Công thức tính đường cao; Công thức tính cạnh đáy)
+ Bài diện tích hình tam giác (tiết 86)
- Dạy bài này bằng cách cắt ghép 2
tam giác bằng nhau, giáo viên thao tác
trên đồ dùng cho học sinh quan sát và
cho học sinh làm theo, sau đó mới
hình thành công thức và nhận xét :
Hình chữ nhật ABCD có chiều dài
bằng độ dài đáy DC của tam giác

A

E

B

D

H

C

EDC, có chiều rộng bằng chiều cao EH của tam giác EDC.


Diện tích hình chữ nhật gấp 2 lần diện tích hình tam giác



Diện tích hình chữ nhật ABCD là CD x AD = DC x EH
Vậy diện tích tam giác EDC là

DC × EH
2

Từ đây mà phát biểu quy tắc và hình thành công thức : S =

a×h
2

Trong đó S Là diện tích, a là độ dài đáy, h là chiều cao.
Rút ra công thức tính cạnh đáy và đường cao: a = s : h × 2 ; h= s : a × 2
Từ đây, các em sẽ vận dụng công thức để làm bài tập tính diện tích tam
giác biết độ dài đáy a và chiều cao h ở tiết 86,87,88.
* Biện pháp 3: Cách xác định công thức biến đổi từ công thức tính diện tích
hình thang( Công thức tính đường cao; Công thức tính tổng 2 đáy)

10


A

D

B

C

H

+ Bài giới thiệu về hình thang (tiết 90)
- Cho học sinh quan sát và chỉ ra hình thang ABCD có :


Cạnh đáy AB, CD ; 2 cạnh bên AD, BC.



Hai cạnh đáy song song



Giới thiệu đường cao AH và độ dài AH là chiều cao.

- Học sinh vận dụng khái niệm: Hình thang có 1 cặp cạnh đối diện song song để
nhận diện hình ở bài 1 (trang 91) vẽ hình thang ở bài 2 (trang 92) và nắm khái
niệm hình thang vuông ở bài 3.
+ Bài diện tích hình thang (tiết 91)
- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát và thao tác trên đồ dùng để thấy cắt
ghép hình thang trở thành hình tam giác. Vì vậy diện tích hình thang ABCD
bằng diện tích tam giác ADK.
- Từ đó mà xây dựng công thức và phát biểu quy tắc :
S=

( a + b) × h
2

h = s: ( a + b) × 2
(a+b)= s:h × 2

Trong đó:

S : là diện tích
a,b : là độ dài các cạnh đáy
h

: là chiều cao

Rút ra công thức tính đường cao và tổng hai cạnh đáy.
- Cuối cùng học sinh vận dụng công thức để tính diện tích hình khi biết độ dài
hai đáy và chiều cao ở tiết 91+92+93. Ở trường tiểu học hiện nay có thuận lợi là
học sinh đã được quan sát từ đồ dùng trực quan, bộ đồ dùng học toán 5. Vì vậy,
giáo viên tæ chøc cho häc sinh tù t×m tßi vµ lÜnh héi những đơn vị
kiến thức cần thiết cho các em .
* Hình tam giác
Ở lớp 5, hình tam giác được dạy từ tiết 85 đến tiết 88, trong đó có 1 tiết về
nhận dạng và các đặc điểm của hình, các tiết còn lại dành cho việc hình thành và
vận dụng công thức tính diện tích.
11


Tiết 85: Sách giáo khoa giới thiệu về hình tam giác với 3 góc, 3 đỉnh, 3
cạnh, cách xác định đương cao tương ứng với cạnh đáy và nhận diện các loại
hình tam giác. Bài này giáo viên cần giúp học sinh :
- Nhận biết hình và đặc điểm của hình
- Phân biệt 3 dạng hình
- Nhận biết đáy và xác định đường cao tương ứng.
Việc tiến hành dạy bài này như đã trình bày ở phần trước: Từ phân tích
nội dung, khi các em đã nắm được trọng tâm bài, giáo viên giúp học sinh xác
định rõ đường cao xuất phát từ 1 đỉnh luôn vuông góc với đáy tương ứng.
Khi giúp học sinh phân biệt 3 dạng hình giáo viên cần tiến hành thêm 1 số
công việc như sau:
Với tam giác có 3 góc nhọn
Sau khi học sinh đã quan sát trong sách giáo khoa về đặc điểm của loại
hình này, GV có thể gợi mở bằng 1 số câu hỏi sau:
- Ba góc của tam giác lớn hơn hay nhỏ hơn góc vuông?
- AH là đường cao tương ứng với đáy BC như hình vẽ trên bảng. Nếu lấy đáy
là AC ta sẽ có đường cao nào? Tương tự nếu lấy đáy là AB thì đường cao sẽ hạ
từ đâu?
Học sinh sẽ suy nghĩ để tìm cách vẽ trong vở hoặc trên bảng lớp với các
loại hình đều có đáy BC ,AC, AB như hình vẽ dưới đây:

12


A

A

H
B

C

H

C

B

A

H

C

B

Tiếp theo, giáo viên đưa ra 1 số hình tam giác với các vị trí đáy khác
nhau, yêu cầu học sinh vận dụng những điều vừa học xác định đường cao lần
lượt với các đáy AB, AC, BC.
Sau khi đã vẽ xong, giáo viên cùng học sinh thống nhất các đường cao
tương ứng với các đáy như các hình dưới đây:
A
A

B

H

B
B

H
C

C

H

C

A

Cuối cùng giáo viên hỏi: Ba đường cao của tam giác có 3 góc nhọn nằm
trong hay ngoài tam giác?
Tam giác có 1 góc tù và 2 góc nhọn
13


Với đối tượng học sinh tiÕp thu chËm
thì việc xác định đường cao trong loại tam giác
này thực sự khó khăn, các em sẽ không kẻ được
nếu không có sự giúp đỡ của giáo viên. Sách giáo
khoa đã giới thiệu đường cao AH tương ứng với
đáy BC nhưng giáo viên cần lưu ý học sinh để kẻ
được đường cao trước hết ta phải kéo dài đáy
sang hai bên, sau đó kẻ đường cao AH từ đỉnh A

A

H

C

B

vuông góc xuống BC.
Tương tự phần trên, giáo viên cũng đưa ra các tam giác với các vị trí đáy
khác nhau và yêu cầu học sinh thực hành kẻ đường cao tương ứng với các đáy.
Nhưng giáo viên vẫn phải lưu ý học sinh thực hiện theo 2 bước:
- Kéo dài đáy sang 2 bên.
- Kẻ đường cao từ đỉnh vuông góc xuống đáy.
Sau khi các em thực hiện xong, đáp án đúng sẽ là:
A

C

C
H
H

H
B
Đáy BC, đường cao AH

C

B
A
Đáy AB, đường cao CH

B
A
Đáy AC, đường cao BH

Cuối cùng, giáo viên hỏi: Em có nhận xét gì về 3 đường cao trong tam
giác có 1 góc tù, 2 góc nhọn? (Có 2 đường cao ngoài và 1 đường cao trong tam
giác).
Việc sử dụng đường cao ngoài của tam giác rất khó cho học sinh tiÕp
thu chËm tuy nhiên ta vẫn phải cho các em làm quen để học sinh nắm được
bản chất từ đó các em có điều kiện học tốt hơn ở các bài học khác. Ví dụ, ở bài
học 2, tiết 93 phần ôn tập - luyện tập: Để tính được diện tích hình tam giác BEC
học sinh buộc phải dùng đường cao ngoài tam giác từ đỉnh B xuống đáy EC, đó
chính là đường cao hình thang ABCD (trang 95). Điều này sẽ thật sự có ích
không những ở học sinh tiÕp thu chËm mà nó đặc biệt quan trọng cho học
sinh tiÕp thu nhanh vì đây là tiền đề, là cơ sở cho các em học tốt hơn môn
hình học ở lớp trên. Hiện nay ở các đề thi câu lạc bộ toán bậc tiểu học không
14


bao giờ vắng bóng bài toán có nội dung hình học cần sử dụng đường cao ngoài
tam giác.
Tam giác có 1 góc vuông và 2 góc nhọn:
Trong sách giáo khoa chỉ giới thiệu AB là đường cao ứng với đáy BC còn
ở bài tập 2 chỉ yêu cầu học sinh xác định đường cao trong tam giác thì giáo viên
cho học sinh quan sát và khẳng định thêm:
- Nếu xem BC là đáy thì AB là đường cao
- Nếu xem AB là đáy thì BC là đường cao
Sau khi học sinh nhận biết được đáy, chiều cao của loại tam giác này, giáo
viên lại cho học sinh xác định với các tam giác có vị trí đáy khác nhau. Đáp án
cuối cùng là:
C

B

C

A

K
A

B
Đáy BC, đường cao AB

C
Đáy AB, đường cao BC

A
B
Đáy AC, đường cao
BKBBK

Nhận xét về các đường trong tam giác vuông: 2 cạnh vuông góc với nhau
chính là 2 đường cao tương ứng với đáy và 1 đường cao nữa nằm trong tam giác
Kết luận: Trong 1 tam giác ta có thể kẻ 3 đường cao tương ứng với 3 đáy
của nó. Tuỳ vào hình dạng, đặc điểm của tam giác và đáy của nó mà đường cao
tam giác có thể nằm trong hay nằm ngoài hay chính là cạnh của tam giác.
Tiết 86: Diện tích tam giác
Sách giáo khoa đã hình thành quy tắc, công thức tính rõ ràng:
S=

a×h
2

Trong đó: S: Diện tích
a: Độ dài đáy
h: Chiều cao
Sau khi có công thức, học sinh lắp số liệu các em sẽ làm được bài tập 1, 2
(tiết 86) bài 1, 2, 3, 4 (tiết 87) và bài 3 (tiết 88).
Tiếp theo, giáo viên phải làm rõ cho học sinh 2 nội dung sau:
+ Cũng như việc tính diện tích hình chữ nhật, hình thoi, hình bình hành, để
tính được diện tích tam giác thì các số đo: chiều cao, độ dài đáy phải cùng 1 đơn
vị đo, nếu vậy các em sẽ làm đúng bài 2a (tiết 86) và bài 1b (tiết 87)
15


+ Cho học sinh nhận xét thêm về công thức
S=

a×h
2

Ta xem: (a x h) là số bị chia
2 là số chia
S là số chia
Thì a x h = 2 x S
a x h là thừa số
2 x S là tích.
Nếu a là thành phần chưa biết thì a = 2 x S : h.

(1)

Nếu h là thành phần chưa biết thì h = 2 x S :a

(2)

Đến đây học sinh có thể dùng 2 công thức (1) và (2) để làm bài tập dạng:
a) Tam giác có diện tích là 39.44 cm 2, chiều cao là 5.8 cm. Tính độ dài
cạnh đáy?
b) Tam giác có diện tích là

1 2
1
m , độ dài đáy là m. Tính chiều cao?
5
4

Và học sinh thực hành tốt bài tập 1 tiết 103 (trang 106): Tam giác có diện tích
5/8 m2, chiều cao 1/2 m. Tính độ dài đáy của tam giác đó.
Từ công thức tổng quát trên, học sinh dễ dàng giải bài toán này.
Giải
5
8

1
2

5
2

Độ dài của tam giác là: (2 × ) : = (m)
Đáp số:

5
m
2

Tóm lại: Đối với hình tam giác giáo viên cần giúp học sinh làm rõ các nội dung
ngoài sách giáo khoa:
- Xác định đường cao ngoài
- Các yếu tố độ dài đáy, chiều cao phải cùng đơn vị đo.
-Tìm hiểu công thức tính độ dài đáy, chiều cao
- Hai tam giác bất kỳ nếu có chung đáy (đáy bằng nhau), chiều cao bằng
nhau (chung chiều cao) thì hai tam giác đó có diện tích bằng nhau.
* Hình thang
Tiết 90: Giới thiệu về hình thang
16


Nội dung phần này đã được phân tích kỹ ở phần trªn. Tiết này giáo viên
cần giúp học sinh hình thành biểu tượng về hình thang, nhận biết 1 số đặc điểm
phân biệt được hình thang với một số hình đã học và rèn kỹ năng vẽ hình cho
học sinh.
Ở tiết này, giáo viên cần củng cố thêm: Ở bất cứ 1 điểm nào trên đáy bé ta
kẻ đường vuông góc xuống đáy lớn thì ta được đường cao của hình thang.
2.4. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm trong việc dạy học sinh tính diện tích
hình tam giác, hình thang.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 5 nhiều năm. Tôi đã nắm vững
được đặc điểm tâm lí, nhận thức của lứa tuổi cách tiếp thu và lĩnh hội kiến thức
của các em từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Năm học 2018 - 2019
trong mỗi tiết dạy , bài dạy về hình tam giác, hình thang ở lớp 5B
do tôi chủ nhiệm cũng như các lớp còn lại trong khối 5 áp dụng các
biện pháp nêu trên với mục tiêu: Kiểm chứng tính hiệu quả của quá trình đã xây
dựng ở phần trªn, dạy bài mới, kết hợp tổng quát và khắc sâu kiến thức của học
sinh.
Đối tượng: Học sinh lớp 5B.
Nội dung: - Dạy bài hình tam giác, diện tích hình tam giác
- Tiến hành kiểm tra sau tiÕt häc
Tiến trình thực nghiệm
Bước 1: Soạn bài và dự kiến các tình huống lên lớp.
Bước 2: Hướng dẫn học sinh học bài: Phần này đã trình bày ở trên.
Ở đây không phải là các bước lên lớp mà chỉ là việc khắc sâu mà mở rộng
kiến thức để học sinh hiểu rõ hơn. Vì vậy, sau khi dạy ta tiến hành kiểm tra đề
như đã kiểm tra ở năm học trước.
Đề kiểm tra 20 phút
Bài 1: Tính diện tích hình tam giác có:
a, Độ dài đáy là 8 cm, chiều cao là 6 cm
b, Độ dài đáy là 2,3 dm, chiều cao là 1,2 dm
c, Độ dài đáy là 5 m, chiều cao là 24 dm
Bài 2 : Hãy vẽ các đường cao tương ứng với các đáy được vẽ trong mỗi hình
tam giác dưới đây :

17


A

A

B

C

A

B

B

C

C
Đáy AC

Đáy AB

Đáy AB

Thống kê kết quả chấm bài của học sinh tại lớp 5B năm học 2018- 2019 khi
đã ứng dụng SKKN như sau : ( Sĩ số 27 em)
Bài 1
Kết quả

Câu a

Câu b

Câu c

Bài 2
Câu a

SL

TL

SL

TL

SL

TL

SL

Điểm 9,10

27

100

24

88.9

18

66.7

27

Điểm 7,8

0

3

11.1

8

29.6

Điểm 5,6

0

0

1

3.7

Điểm 3,4

0

0

0

TL
100

Câu b
SL
18

TL

Câu c
SL

TL

66.7

17

63

0

9 33.3

9

33.3

0

0

1

3.7

0

0

0

Nhìn vào bảng thống kê ta thấy: Cùng 1 đề kiểm tra , cùng là đối tượng
HS lớp 5 ở lớp tôi 27 em và cả khối 83 em . Chất lượng học sinh đã được nâng
cao dần, học sinh đã khắc phục được những thiếu sót của mình ở bài 1b và 2b.
Với cách khai thác bài tổng quát và mở rộng, ta thấy các em đã nắm được bài,
biết vận dụng công thức để giải toán một cách linh hoạt, đây là tiền đề giúp các
em hoàn thiện hơn về mặt kiến thức để học tập tiếp những bài sắp tới.
Tiết 91 : Diện tích hình thang.
Nội dung này đã trình bày ở phần trªn.
Dạy bài cần giúp các em hình thành công thức tính, nhớ và biết vận dụng
công thức để giải toán. Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy cho học sinh, giáo
viên luôn nhắc nhở các em :
+ Độ dài 2 đáy, chiều cao của hình phải cùng đơn vị đo.
+ Hình thành công thức tính chiều cao, tổng hai đáy của hình thang (cách làm
như với hình tam giác).
Nếu S : là diện tích,
h : là chiều cao,
a, b : là độ dài hai đáy
Thì: chiều cao hình thang là: h = (S x 2): (a+b)
18


Tổng độ dài 2 đáy là: a+b = (S x 2) : h
3.Kết luận, kiến nghị :
3.1. Kết luận:
Qua công tác giảng dạy tôi nhận ra rằng: Để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy
và học cần làm tốt 1 số vấn đề sau:
- Kiểm tra đánh giá chất lượng học sinh thật chính xác ngay từ đầu năm
học và có kế hoạch bồi dưỡng, phù đạo cho các em ngay từ những tuần đầu của
năm học. Theo dõi, nhận xét, đánh giá, tuyên dương kịp thời những HS tiến bộ.
Chỉ ra hướng sửa lỗi, cách khắc phục những tồn tại. Luôn động viên theo sự tiến
bộ của các em ở các mức độ khác nhau.
- Kiên trì chịu khó không nôn nóng trước sự phát triển chậm chạp của các
em, phải biết ghi nhận từng tiến bộ của các em dù là nhỏ nhất. Đó là điều kiện
cần thiết của người giáo viên.
- Phải nghiên cứu, tìm hiểu nội dung môn học, bài học để đề ra phương
pháp giảng dạy cho từng đối tượng học. Khi dạy cần kết hợp khắc sâu, mở rộng
và chỉ rõ từng bước để các em hiểu, làm theo . phát huy tính hợp tác và sự sáng
tạo của các em trong học tập và rèn luyện. Tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi để đề ra
nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng học toán, đặc biệt là hình học ở
trường tiểu học cho học sinh là vô cùng cần thiết và phù hợp với yêu cầu thực
tiễn.
Trẻ em là tương lai của đất nước, là hạnh phúc của mỗi gia đình, chúng ta
hãy trang bị cho các em một hệ thống tri thức cơ bản, vững chắc để các em tự tin
bước vào thời đại mới: Thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
3.2. Kiến nghị:
Để nâng cao chất lượng học sinh lớp 5, giúp các em nắm vững kiến thức,
kĩ năng cơ bản và vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào thực tiễn. Tôi mạnh dạn đưa
ra 1 số kiến nghị sau.
*Đối với giáo viên:
- Không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của bản thân
bằng cách tự học, tự bồi dưỡng. Học hỏi rút kinh nghiệm qua đồng nghiệp hay
tham khảo thêm tài liệu hay trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Khi lên kế hoạch bài học cần chuẩn bị kỹ nội dung, đồ dùng và các phương
pháp dạy học
- Mạnh dạn đưa ra các biện pháp thực tiễn để cũng cố, khắc sâu kiến thức kĩ
năng cơ bản cho học sinh.
*Về phía nhà trường:
19


- Tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, phương tiện dạy học( Máy chiếu,
Đồ dùng trực quan...). Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy
-Trên đây chỉ là một vài kinh nghiệm nhỏ trong việc bồi dưỡng, phụ đạo môn
toán cho học sinh lớp 5, phần có nội dung hình học của cá nhân tôi. Trong quá
trình nghiên cứu, trình bày không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các bạn
đồng nghiệp đóng góp ý kiến.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của Hiệu trưởng

Quảng Hùng, ngày 29 tháng 5 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép của người
khác.
Người viết

Nguyễn Thị Ha

Tai liệu tham khảo
1. Sách giáo khoa toán 5.
2. Sách giáo viên toán 5.
3. Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi 5
4. Tài liệu hướng dẫn đánh giá học sinh tiểu học theo thông tư 22/2016/TT BGDĐT
20


5. Các phương pháp dạy học ở tiểu học.

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×