Tải bản đầy đủ

Kinh nghiệm tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào môn sinh học 8 nhằm rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh trường THCS quảng đông

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GD& ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
----------*****----------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài:

KINH NGHIỆM TÍCH HỢP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
VÀO MÔN SINH HỌC 8 NHẰM RÈN LUYỆN THÊM KỸ
NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG THCS QUẢNG ĐÔNG

Người thực hiện: Trịnh Thị Hân
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Quảng Đông
SKKN thuộc lĩnh vực: Sinh học

0


THANH HÓA, NĂM 2019

M ỤC L ỤC
Mục lục.................................................................................................................1
1.Mở đầu...............................................................................................................2
1.1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................2
1.2. Mục đích nghiên cứu:....................................................................................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu....................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................2
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm...................................... ...............................2
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm .......................................................2
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm..................................................................................................................3
2.3.Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.............................................4
2.3.1..Phân loại kiến thức kỹ năng sống..............................................................4
2.3.2. Phân loại các bài dạy trong chương trình sinh học 8 có thể lồng ghép giáo
dục kỹ năng sống..................................................................................................4
2.3.3. Tích hợp kỹ năng sống thông qua bộ môn.................................................4
2.3.4. Một số ví dụ minh họa tích hợp từng nhóm kỹ năng sống trong chương
trình sinh học 8.....................................................................................................5
2.3.4.1. Nhóm kỹ năng sống tự phục vụ, chăm sóc bản thân liên quan đến thể
chất, sức khỏe.......................................................................................................5
2.3.4.2.Kỹ năng sống liên quan đến nhận thức, thực hành..................................8
2.3.4.3. Kỹ năng điều chỉnh và quản lí cảm xúc, tinh thần..................................9
2.4.Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục...........................................9
3. Kết luận, kiến nghị.........................................................................................10
3.1.Kết luận................................................................................................ .......10
3.2 Kiến nghị............ .........................................................................................10

1


1. Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
Khi tham gia vào bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào phục vụ cho cuộc
sống đều đòi hỏi chúng ta phải thỏa mãn những kỹ năng tương ứng. Đối với học
sinh việc hình thành các kỹ năng cơ bản trong học tập và sinh hoạt là vô cùng
quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau
này. Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu
ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc
về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo kích động. Đặc biệt trong
giai đoạn hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những
yếu tố tích cực và tiêu cực, học sinh luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn
những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thử thách, những áp lực tiêu
cực. Nếu không được giáo dục kĩ năng sống, nếu thiếu kĩ năng sống, các em dễ
bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực
dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Một trong các nguyên nhân dẫn đến
các hiện tượng tiêu cực của một bộ phận học sinh phổ thông trong thời gian vừa
qua chính là do các em thiếu những kĩ năng cần thiết như: kĩ năng từ chối, kĩ
năng kiên định, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng thương lượng, kĩ năng
giao tiếp....Vì vậy, việc giáo dục kĩ năng sống cho các em là rất cần thiết, giúp
các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng
và Tổ quốc; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của
cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người,
sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hoà và lành mạnh.
1.2. Mục đích nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu với mục đích:
- Thực hiện đúng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục và đào
tạo
- Giáo dục cho học sinh các kỹ năng rèn luyện sức khỏe, ý thức tự bảo vệ bản
thân, phòng ngừa các tệ nạn xã hội.
- Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, phù hợp và đáp ứng nhu cầu của thời đại.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu là các em học sinh lớp 8 trường THCS Quảng Đông
trọng tâm là năm học 2017 - 2018
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Điều tra khảo sát thực tế.
- Nghiên cứu tài liệu
- Ứng dụng thể nghiệm
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Kỹ năng sống là gì? Có nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau về kỹ
năng sống. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) kỹ năng sống là kỹ năng thiết
thực mà con người cần có để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh, đó là những kỹ
2


năng mà mỗi cá nhân phải có để tương tác với những người khác một cách hiệu
quả hoặc ứng phó với những vấn đề hay thách thức của cuộc sống hàng ngày.
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh có thể coi là việc tổ chức các hoạt
động đa dạng, phong phú nhằm kích thích học sinh tham gia một cách tích cực,
chủ động vào quá trình hoạt động. Qua đó hình thành hoặc thay đổi hành vi của
học sinh theo hướng tích cực nhằm phát triển nhân cách toàn diện giúp học sinh
có thể sống an toàn, khỏe mạnh và tích cực chủ động vào các quá trình hoạt
động, qua đó hình thành hoặc thay đổi hành vi của học sinh theo hướng tích cực
nhằm phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh. Giúp học sinh có thể sống an
toàn, khỏe mạnh và tích cực, chủ động trong cuộc sống hàng ngày. Giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh là giáo dục cho các em cách sống tích cực trong xã hội
hiện đại. Các kỹ năng đó mỗi học sinh cần phải hình thành cho bản thân dưới sự
định hướng hỗ trợ từ phía gia đình, nhà trường và xã hội. Trong trường học, mỗi
môn học, đều có thể hình thành các kỹ năng thuộc các lĩnh vực khác nhau và
môn sinh học lớp 8 với đặc trưng là nghiên cứu về cơ thể người, nghiên cứu về
chính bản thân mình, khám phá những điều bí ẩn của cơ thể có thể lồng ghép
những nhóm kỹ năng liên quan đến thể chất sưc khỏe, nhận thức, quản lí cảm
xúc, tinh thần... Một con người có sức khỏe tốt sẽ đem lại nhiều lợi ích cho cuộc
sống. “ Một tinh thần minh mẫn nằm trong một cơ thể tráng kiện”. Từ đó trí tuệ
mới được mở mang có cơ hội chiếm lĩnh khoa học và đào tạo một đội ngũ tương
lai có một trí tuệ và sức khỏe vững vàng.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Giáo dục kĩ năng sống đây là một trong nội dung của phong trào xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực. Là yêu cầu, là xu hướng của xã hội hiện
đại trong thế giới đang toàn cầu hóa như hiện nay. Bên cạnh đó khả năng đáp
ứng của bộ môn sinh học đặc biệt sinh học 8 đối với đề tài này là rất lớn, có thể
tiếp cận và thực hiện được.
Thực tế việc giáo dục toàn diện cho học sinh, trong đó có kĩ năng sống ở
nước ta còn hạn chế. Các trường THCS nói chung còn quan niệm dạy học là dạy
kiến thức chứ chưa dạy các em thái độ, kĩ năng ứng xử trong các mối quan hệ
(với con người, với môi trường thiên nhiên,….). Hơn nữa, giáo viên bộ môn với
45 phút còn phải lo chuyển tải đầy đủ các nội dung bài dạy. Trong thời gian qua
nhiệm vụ này được xem là của giáo viên chủ nhiệm. Trong khi đó giáo viên chủ
nhiệm cả tuần cũng chỉ có một tiết sinh hoạt lớp. Thầy cô giáo chủ nhiệm được
giao phụ trách học sinh nhưng không có thời gian nắm tình hình của từng em.
Nhiều ý kiến cho rằng đó là một khiếm khuyết rất lớn trong giáo dục và
đào tạo học sinh. Chúng ta mới chỉ nghiêng về đào tạo mà coi nhẹ phần giáo dục
toàn diện cho học sinh.
Qua khảo sát học sinh lớp 8, trường THCS Quảng Đông nơi tôi công tác
tôi thấy: Khi nói đến những vấn đề liên quan đến kĩ năng chăm sóc sức khỏe,
phát triển thể chất đa số các em còn rất mơ hồ, thậm chí có nhiều em không
quan tâm gì về các vấn đề này mà đối với các em đó là những vấn đề thuộc về tự
nhiên, phát triển theo quy luật tự nhiên.
3


Chính vì vậy mà tôi đưa ra vấn đề : “ Tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào
môn sinh học 8 nhằm rèn luyện thêm kỹ năng sống cho học sinh trường THCS
Quảng Đông”.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1. Phân loại kiến thức kĩ năng sống:
Chương trình sinh học 8 có thể lồng ghép giáo dục kĩ năng sống. Chia làm
3 nhóm:
- Kĩ năng sống tự phục vụ, chăm sóc bản thân liên quan đến thể chất sức khỏe.
- Kĩ năng sống liên quan đến tự nhận thức, thực hành.
- Kĩ năng điều chỉnh và quản lí cảm xúc, tinh thần.
2.3.2. Phân loại các loại bài dạy trong chương trình sinh học 8 có thể lồng
ghép giáo dục kĩ năng sống:
- Kĩ năng sống tự phục vụ, chăm sóc bản thân liên quan đến thể chất sức khỏe
gồm các bài: Bộ xương, Cấu tạo và tính chất của xương, Cấu tạo và tính chất
của cơ, Hoạt động của cơ, Tiến hóa của hệ vận động. Vệ sinh hệ vận động, Vệ
sinh hệ tiêu hóa, Vệ sinh hệ hô hấp, Vệ sinh hệ tuần hoàn, Vệ sinh hệ bài tiết, Vệ
sinh da, Vệ sinh mắt, Vệ sinh hệ thần kinh, Tiêu chuẩn ăn uống- Nguyên tắc lập
khẩu phần, Vitamin và muối khoáng, Sự điều hòa và phối hợp hoạt động của các
tuyến nội tiết, Các bệnh lây qua đường tình dục, Đại dịch AIDS – Thảm họa của
loài người.
- Kĩ năng sống liên quan đến tự nhận thức, thực hành, gồm các bài: Thực hành
tập băng bó và sơ cứu cho người gãy xương, Thực hành hô hấp nhân tạo, Thực
hành sơ cứu cầm máu. Thụ tinh, thụ thai và phát triển của thai, Phản xạ không
điều kiện và phản xạ có điều kiện.
- Kĩ năng điều chỉnh và quản lí cảm xúc, tinh thần, gồm các bài: Hoạt động thần
kinh cấp cao ở người, Tuyến sinh dục, Cơ quan sinh dục nam, Cơ quan sinh dục
nữ, Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai, Các bệnh lây qua đường tình
dục, Đại dịch AIDS – thảm họa của loài người.
2.3.3. Tích hợp kỹ năng sống thông qua bộ môn:
Để việc lồng ghép kĩ năng sống thông qua bộ môn sinh học 8 đạt hiệu
quả cao, tránh gò bó, ôm đồm đi quá đà ảnh hưởng đến nội dung bài dạy thì đòi
hỏi giáo viên cần phải chuẩn bị đầy đủ và đúng các quy trình của một tiết dạy.
Khâu dặn dò rất cần thiết nên giáo viên giành 3 phút để dặn dò các em. Có dặn
dò kĩ các em mới chuẩn bị bài tốt và như thế tiết học mới đạt hiệu quả cao.Và
khâu chuẩn bị giáo án của giáo viên cũng được đổi mới. giáo viên phải đưa ra
các câu hỏi có phát huy tính tích cực phù hợp với mọi đối tượng, thực tế, gần gũi
với các em thì mới giáo dục kĩ năng sống có kết quả cao. Nên tiến hành theo các
bước sau:
Bước 1: Xác định địa chỉ tích hợp cụ thể: Tích hợp nội dung giáo dục kỹ năng
sống nào vào tiết học nào, nội dung bài học nào cho phù hợp?
Bước 2: Xác định nội dung giáo dục kỹ năng sống có thể tích hợp: Nội dung bài
học có liên quan như thế nào với nội dung tích hợp kỹ năng sống? Biểu hiện
trong thực tế của mối liên hệ đó.
4


Bước 3: Lựa chọn con đường tích hợp: Lựa chọn cách thức tích hợp và thời
gian, thời điểm nhất định trong tiết dạy có thể tích hợp. Nghĩa là lồng ghép nội
dung giáo dục kỹ năng sống vào chỗ nào, cách nào trong tiến trình bài dạy, tạo
tình huống như thế nào cho tự nhiên và hiệu quả nhất. Qua việc nghiên cứu
chương trình sinh học 8 tôi nhận thấy có thể lồng ghép giáo dục kỹ năng sông
theo 2 con đường: quy nạp và diễn dịch:
+ Con đường quy nạp: Từ việc giáo viên đưa ra nội dung giáo dục kỹ năng sống
liên quan, thông qua các hoạt động dạy học để xây dựng nội dung bài học.
+ Con đường diễn dịch: Sau khi hình thành nội dung học tập, giáo viên dẫn học
sinh tới việc chỉ ra những biểu hiện hay tác động của nó đối với kỹ năng sống
liên quan.
Tuy nhiên con đường diễn dịch thường an toàn hơn, không tốn nhiều thời gian,
kết quả chắc chắn hơn. Con đường quy nạp lại gây được hứng thú cũng như tạo
được cho học sinh học tập tích cực hơn. Giáo viên nên căn cứ vào tình hình thực
tế của lớp và nội dung bài học để lựa chọn con đường tích hợp cho phù hợp.
Qua thực nghiệm tôi nhận thấy có thể tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào
tất cả các bước trong tiết dạy kể cả bước kiểm tra bài cũ, tuy nhiên thuận lợi
nhất vẫn bước củng cố bài học. Có thể củng cố từng phần hay toàn bài học đều
hiệu quả. Lúc này, học sinh vừa học xong kiến thức nên muốn liên hệ thực tế
bản thân hay thực tế cuộc sống, còn giáo viên thông qua tích hợp có thể mở
rộng, khắc sâu kiến thức cho học sinh nhưng vẫn đảm bảo thời gian của tiết học.
2.3.4. Một số ví dụ minh họa tích hợp từng nhóm kỹ năng sống trong chương
trình sinh học 8
2.3.4.1. Nhóm kĩ năng sống tự phục vụ, chăm sóc bản thân liên quan đến thể
chất sức khỏe:
* Giáo dục kĩ năng giúp bộ xương phát triển tốt:
Ví dụ: Bài 11 “Tiến hóa hệ vận động, vệ sinh hệ vận động” Khi đến phần “III
-vệ sinh hệ vận động”, giáo viên đặt câu hỏi: Để cơ và xương phát triển cân đối,
chúng ta cần làm gì? Vì sao em lại đưa ra ý kiến đó?
Với câu hỏi thứ nhất học sinh dễ dàng trả lời được vì đó là nội dung bài học
nhưng câu hỏi 2 đa số các em không giải thích được hoặc giải thích còn chung
chung. Tuy nhiên giáo viên cần thiết phải hỏi câu này để đòi hỏi học sinh phải
tập trung suy nghĩ, các em trả lời và bổ sung cho nhau, sau đó giáo viên mới
chốt kiến thức liên hệ với sinh hoạt hàng ngày để học sinh tự nhận thức nhằm
thay đổi, sửa chữa những thói quen không tốt hàng ngày:
- Ngồi học không ngay ngắn vài lần chưa làm cong vẹo cột sống, tuy nhiên nếu
chúng ta thường xuyên ngồi không đúng tư thế (cúi gò lưng, nghiêng vẹo sang
một bên... từ hôm này qua hôm khác nhiều năm liền, hay thường xuyên mang
vác quá sức cũng làm cong vẹo cột sống.
- Không thường xuyên luyện tập thể dục thể thao, không lao động chân tay sẽ
làm cơ xương yếu nhưng nếu lại luyện tập và lao động quá sức cũng không tốt
cho sự phát triển của cơ xương cũng như các cơ quan khác.
- Chế độ dinh dưỡng hợp lí, tắm nắng đúng cách...
5


?Vì sao trẻ em Việt Nam thường mắc bệnh còi xương? Trả lời được câu hỏi này
thêm một lần nữa khẳng định các em cần ăn đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt là
những chất giàu canxi để giúp bộ xương phát triển tôt.
Cuối cùng giáo viên nhấn mạnh thêm về độ tuổi vàng để phát triển bộ xương,
nếu qua độ tuổi đó rồi thì có chăm sóc hay luyện tập chỉ còn mang tính chất duy
trì. Từ đó giáo dục các em hãy tận dụng thời cơ rèn luyện hệ vận động khoa học
ngay từ khi còn nhỏ.
* Kĩ năng về phòng tránh một số bệnh tật thông thường:
Ví dụ : Bài “Vệ sinh mắt”:
Trong phần củng cố mục I, giáo viên yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi sau:
? Do những nguyên nhân nào mà học sinh cận thị nhiều? Để không bị cận thị em
cần phải làm gì?
? Tại sao không đọc sách nơi thiếu ánh sáng hay đang đi tàu xe?
- Qua câu hỏi này giáo dục cho học sinh ngồi học đúng tư thế, đảm bảo khoảng
cách giữa mắt và sách, khi xem ti vi không ngồi gần; không đam mê trò chơi
điện tử, phải đọc sách nơi có ánh sáng; ....Tuy nhiên với câu hỏi này đa số học
sinh trả lời đúng nhưng còn chung chung, khó áp dụng vào cuộc sống. Vì vậy
giáo viên cần cho học sinh thảo luận các câu hỏi thêm: Khoảng cách giữa mắt và
sách vở là bao nhiêu? Khoảng cách từng mắt đến tivi là bao nhiêu là đúng. Thực
tế rất nhiều gia đình thường để tivi gần bàn ghế, khi ngồi xem khoảng cách chỉ
đạt từ 1 đến 1,5m gây ảnh hưởng lớn đến mắt.
- Ở phần củng cố mục II, giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi:
? Nêu các cách phòng tránh bệnh đau mắt hột mà em biết?
- Từ đó giáo dục cho các em không dụi tay bẩn vào mắt, không dùng chung
khăn mặt, không tắm sông, thường xuyên rửa mắt bằng nước muối loãng, ....
* Kĩ năng về sức khỏe sinh sản:
Ví dụ 1: Bài 58 “Tuyến sinh dục”
+ Tìm hiểu về vai trò của tinh hoàn và hoocmôn sinh dục nam: ở phần này
giáo viên hướng dẫn cho học sinh quan sát hình vẽ, sơ đồ, trao đổi nhóm để
hoàn thành phần điền từ. (GV dùng tranh màu phóng to giới thiệu cho học sinh
vị trí của các tế bào kẽ, chức năng của tế bào kẽ, sau khi hoạt động GV cho đại
diện HS nhóm báo cáo phần điền từ đồng thời chỉ trên tranh vẽ vị trí của các tế
bào kẽ, sự điều hòa hoạt động của các tuyến nội tiết.
Vai trò nội tiết của tinh hoàn là tiết hoocmôn sinh dục nam testôsterôn: Tìm
hiểu vai trò của hoocmôn do tế bào kẽ tiết ra giáo viên cho các em học sinh nam
chuẩn bị trước ở nhà phiếu học tập ( bảng 58.1).
GV thu lại đề phát hiện một số em phát triển không bình thường để kịp thời
có lời khuyên thích hợp cho các em.
+ Tìm hiểu về buồng trứng và hoocmoon sinh dục nữ: Cách tiến hành như
hoạt động 1 song giáo viên đặc biệt chú ý giới thiệu kỹ hình 58.3 (buồng trứng,
ống dẫn trứng, phễu dẫn trứng, trứng và các nang trứng gốc, sự phát triển của
trứng, trứng chín và rụng trứng sự hình thành thể vàng, vai trò của thể vàng)
Đặc biệt giáo viên cần lưu ý các em gái trong việc vệ sinh cơ quan sinh dục.
6


-Vai trò nội tiết của buồng trứng là tiết hoocmôn phụ sinh dục nữ: ơstrôgen
Phần củng cố bài, giáo viên đặt câu hỏi:
- Nêu những dấu hiệu xuất hiện ở tuổi dậy thì của nam, nữ ?
-Trong những biến đổi đó, biến đổi nào là quan trọng cần lưu ý?
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên cần lưu ý cho học sinh: trong các dấu hiệu
biến đổi của cơ thể ở tuổi dậy thì , thì dấu hiệu quan trọng nhất là xuất tinh lần
đầu ở các em nam và sự hành kinh lần đầu ở nữ. Đây là dấu hiệu có khả năng
sinh sản, song các em chưa thể sinh sản được. Vì sao? Giáo viên giải thích rõ
cho các em vì sao ở tuổi các em chưa sinh sản được. Đồng thời qua đó giáo dục
các em cần có lối sống trong sáng, lành mạnh, trong quan hệ bạn bè,...
GV: Giải thích một số thắc mắc của HS cũng như một số hiện tượng thực tế:
Pêđê là do rối loạn hoạt động nội tiết (các tế bào kẽ không tiết hoocmon
Testostêrôn hoặc tiết qua ít đối với các em nam, hoặc nang trứng không tiết ra
hoocmôn Ơstrrôgen hoặc quá ít với các em nữ), các đặc tính sinh dục phụ có thể
thay đổi do hoocmon phụ sinh dục song cơ quan sinh dục là yếu tố quyết định
giới tính không thể thay đổi.
Ví dụ 2: Bài “Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai”
- Nêu rõ những ảnh hưởng của có thai sớm ngoài ý muốn của tuổi vị
thành niên? Phải làm gì để điều đó không xảy ra?
- Những hậu quả có thể xảy ra khi phải xử lý đối với việc mang thai
ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên là gì? Làm thế nào để tránh được ?
Thông qua các câu hỏi trên giáo dục các em học sinh biết mình cần
phải làm gì khi còn là học sinh. (Sống vô tư, hồn nhiên, tập trung vào học tập,
không đua đòi, bồng bột, nhất thời hồ đồ để lại hậu quả đáng tiếc xảy ra).
* Kĩ năng bảo vệ môi trường sống:
Ví dụ 1: Bài “Vệ sinh hô hấp”.
Nội dung chính của bài là hình thành cho các em các kỹ năng để bảo vệ hệ hô
hấp tránh các tác nhân có hại và kỹ năng rèn luyện để có hệ hô hấp khỏe mạnh
theo yêu câu của bài học. Ngoài ra giáo viên nên đặt câu hỏi
- Trồng cây xanh có lợi gì trong việc làm sạch bầu khí quyển xung quanh ta?
Qua câu trả lời giáo dục học sinh trồng và bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường
sống.
Ví dụ 2: Bài: “Vệ sinh da”. Phần “III- Phòng chống bệnh ngoài da”
Sau khi học sinh đã có các kỹ năng bảo vệ da và các hình thức rèn luyện da giáo
viên đặt câu hỏi: Điều gì sẽ xảy ra khi da thường xuyên tiếp xúc với môi trường
ô nhiễm?
Giáo dục học sinh ngoài việc bảo vệ da và rèn luyện da các em cần bảo
vệ môi trường sống đặc biệt là môi trường nước, môi trường không khí bằng
cách vệ sinh trường lớp, nhà ở, bảo vệ môi trường xung quanh..
2.3.4.2. Kĩ năng sống liên quan đến tự nhận thức, thực hành
* Kĩ năng xây dựng nhân cách:
Ví dụ 1: Bài “Vệ sinh hệ thần kinh”:
Giáo viên cho học sinh hoạt động nhóm để hoàn thành bảng 54 SGK
7


Chất kích thích

Tên chất

Tác hại

? Nêu những biểu hiện về cử chỉ và hành động của những người nghiện rượu,
thuốc lá, ma túy?
Qua đó giáo viên giáo dục học sinh sống có nhân cách: không bê tha, nói tục,
trộm cắp, gây gỗ đánh nhau, ....Để tăng tính giáo dục giáo viên cho học sinh
xem một số hình ảnh, video về gây gỗ đánh nhau, bê tha khi nghiện rượu bia,
hình ảnh phổi của bệnh nhân nghiện thuốc lá...
* Kĩ năng xây dựng thói quen đúng giờ:
Ví dụ: Bài “Phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện”:
- Em hãy cho ví dụ về một số phản xạ có điều kiện?
- Nêu sự thành lập và ức chế phản xạ có điều kiện?
- Điều đó có ý nghĩa gì?
- Sau khi học sinh cho ví dụ giáo viên điều chỉnh bổ sung từ đó cho các
em thói quen:
- Đi ngủ đúng giờ, dậy đúng giờ.
- Đi học đúng giờ.
- Có thời gian biểu học tập.
- Ăn đúng giờ, điều độ.
- Học bài và làm bài đầy đủ trước khi đến lớp...
* Kĩ năng phòng ngừa tai nạn cho trẻ:
Ví dụ : “Thực hành hô hấp nhân tạo”: Phần củng cố bài giáo viên đặt câu hỏi để
học sinh khắc sâu các kỹ năng cần thiết khi gặp nạn nhân bị đuối nước:
-Trước khi hô hấp cho người bị đuối nước, điện giật, ta cần phải làm gì?
-Trình bày phương pháp hà hơi thổi ngạt, phương pháp ép lồng ngực?
- Giáo viên lưu ý các em việc hô hấp nhân tạo chỉ thành công khi nạn nhân mới
ngừng thở vì vậy bản thân các em cũng cần thận trọng để tránh điều đáng tiếc
xảy ra.
* Kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào việc giải thích các hiện tượng trong
thực tế đời sống, học tập và sản xuất:
Ví dụ 1: Bài “Thân nhiệt”
?Vì sao khi mùa hè, da người ta hồng hào, còn mùa đông, nhất là khi
trời rét, da thường tái hoặc sởn gai ốc?
Để trả lời câu hỏi học sinh cần vận dụng kiến thức về cơ chế tự điều hòa thân
nhiệt của cơ thể: Khi trời nắng nóng, cơ thể cần thoát nhiệt ra môi trường vì vậy
có phản xạ giãn mao mạch máu dưới da, tăng lưu lượng máu qua mao mạch
dưới da nên da hồng hào. Khi trời lạnh, cơ thể cần chống thoát nhiệt ra môi
trường bằng phản xạ co mao mạch máu dưới da, cơ chân lông co làm cho da tái
thậm chí sởn gai ốc.
2.3.4.3. Kĩ năng điều chỉnh và quản lí cảm xúc, tinh thần :

8


Trong cuộc sống ai cũng muốn mình khỏe mạnh, hạnh phúc nhưng không
ai cũng có được điều đó. Bệnh tật, tai nạn luôn rình rập hoặc do thiếu hiểu biết
hay một chút nông nổi đã mắc phải căn bệnh quái ác. Thông qua chương trình
sinh học 8 giáo dục các em biết cách bảo vệ mình và quan tâm, giúp đỡ mọi
người chẳng may rơi vào các hoàn cảnh ốm đau, bệnh tật hay lầm lỡ. Giáo dục
các em không phân biệt đối xử, xa lánh những nạn nhân HIV, AIDS. Hãy gần
gũi, thông cảm chia sẽ để nạn nhân này sống có ích trong những ngày còn lại
của đời mình.
Ví dụ: Bài “ Đại dịch AIDS - thảm họa của loài người”
-Ta có nên kỳ thị phân biệt đối xử với những người bị nhiễm HIV/ AIDS hay
không? Vì sao?
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên điều chỉnh bổ sung và để tăng giáo dục, giáo
viên cho học sinh đọc một lời tâm sự của nạn nhân AIDS.
Qua đó giáo dục các em: - Biết thông cảm với người bị HIV/ AIDS
- Không phân biệt đối xử với họ.
- Biết chia sẻ với nạn nhân AIDS.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục.
Nhờ giáo dục kĩ năng sống thông qua bộ môn mà học sinh nắm được
những kĩ năng sống cơ bản. Trong từng tiết dạy, nhờ giáo dục, uốn nắn, động
viên, nhắc nhở mà các em biết chăm sóc sức khỏe bản thân, quan tâm đến sự
phát triển thể chất, biết thành lập cho mình các thói quen khoa học để giữ gìn và
đảm bảo cho cơ thể phát triển tốt. Không còn bỡ ngỡ trước những thay đổi của
cơ thể đặc biệt là đang ở độ tuổi dậy thì. Không những thế các em không còn sợ
hãi mà đã biết cách sơ cứu khi gặp tai nạn như sơ cứu cầm máu, sơ cứu gãy
xương cẳng tay, hô hấp nhân tạo khi gặp nạn nhân đuối nước, điện giật... Đặc
biệt các em biết cách phòng tránh một số bệnh tật thông thường như: bệnh cong
vẹo cột sống, bệnh đau mắt hột, cận thị... Biết phòng các bệnh như: sỏi thận,
viêm đường hô hấp, tim mạch....
Hơn nữa, các em đã biết giải thích những hiện tượng xảy ra chính trên cơ
thể mình như mặt đỏ bừng khi trời nắng, da tái, nổi gai ốc khi trời lạnh, mùa
mưa, lạnh hay đi tiểu nhiều, khi bước vào phòng thi tim đập mạnh. Các em đã
biết giữ vệ sinh thân thể, vệ sinh trường lớp, nhà cửa. Các em biết được tác hại
của rượu, thuốc lá, ma túy để khỏi lâm vào các tệ nạn xã hội. Các em đã biết
đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau, biết giúp đỡ, chia sẻ với những người bị
nạn, tật nguyền như ủng hộ các bạn bị ảnh hưởng chất độc màu da cam. Không
kì thị, xa lánh những người chẳng may bị bệnh HIV-AIDS. Các em đã biết được
những dấu hiệu thay đổi trên cơ thể ở độ tuổi dậy thì giúp các em không phải
hốt hoảng lo sợ khi thấy mình có dấu hiệu thay đổi bất thường. Từ đó, các em
biết cách rèn luyện thân thể, các em nữ biết cách giữ vệ sinh kinh nguyệt, phòng
tránh các bệnh phụ khoa. Giúp các em nhận thức rõ về giới, từ đó tránh được
các điều đáng tiếc xảy ra ở tuổi vị thành niên.
3. Kết luận và kiến nghị
3.1. Kết luận:
9


Để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn sinh học nói chung
và sinh học 8 ở trường THCS Quảng Đông nói riêng và thực hiện tốt nội dung
của phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. Tôi trình bày
một vài kinh nghiệm của bản thân đã rút ra được trong quá trình dạy môn sinh
học 8. Đối với việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh chúng ta phải tiến hành
thường xuyên, kết hợp với theo dõi, kiểm tra, động viên, nhắc nhở. Do trình độ
của học sinh không đồng đều, ý thức của mỗi em cũng khác nhau nên không thể
một sớm một chiều các em thay đổi được. Do vậy, trong từng tiết dạy tùy nội
dung bài mà giáo viên lồng ghép giáo dục kĩ năng sống sao cho phù hợp. tránh
tình trạng ôm đồm lo xoáy vào giáo dục kĩ năng sống mà quên đi hình thành nội
dung chính của bài học. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện chúng ta không có
tham vọng thực hiện giáo dục tất cả các kĩ năng sống mà tùy từng nội dung bài
học cụ thể để lồng ghép kỹ năng phù hợp và không làm cho tiết học trở nên nặng
nề.
Giáo viên giảng dạy thông qua bộ môn tìm biện pháp lồng ghép linh hoạt,
nhẹ nhàng, hiệu quả nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh mà không ảnh
hưởng đến nội dung kiến thức của bài học. Do đặc trưng bộ môn nên việc thực
hiện đề tài này mang tính khả thi. Sau một kì thực hiện các em học sinh có
chuyển biến rõ rệt từ ý thức đến những hành động thiết thực.
Đây là một đề tài bản thân tôi đúc rút trong quá trình giảng daỵ bộ môn,
rất mong được các thầy cô và đồng nghiệp cùng chia sẻ đóng góp để việc giảng
dạy sinh 8 đạt hiệu quả cao hơn, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ của nghành
giáo dục đã đề ra. Tôi xin chân thành cảm ơn ý kiến đóng góp quý báu của thầy
cô giáo và đồng nghiệp.
3.2. Kiến nghị
Đối với giáo viên: Để lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cần có sự đồng
thuận của các thầy cô giáo ở tất cả các bộ môn.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Thanh Hóa, ngày 10 tháng 4 năm
2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết SKKN

Trịnh Thị Hân

10


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:Trịnh Thị Hân
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Quảng Đông
Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
giá xếp loại
Năm học đánh
TT Tên đề tài SKKN
xếp loại
(Phòng, Sở,
giá xếp loại
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)
1.
Rèn kỹ năng giải bài tập dạng Phòng
B
2013 – 2014
oxit axit phản ứng với dung
dịch bazơ nhằm nâng cao kết
quả học tập cho học sinh lớp
9 trường THCS Quảng Đông.
2.
Rèn kỹ năng giảng dạy dạng Phòng
B
2015 – 2016
bài tập tính theo phương trình
hóa học nhằm nâng cao chất
lượng đại trà cho học sinh lớp
8 trường THCS Quảng Đông.
3.
Kinh nghiệm giáo dục học Phòng
A
2016 – 2017
sinh cá biệt ở lớp 8B nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục
đạo đức học sinh trường
THCS Quảng Đông
4.
5.
...
* Liệt kê tên đề tài theo thứ tự năm học, kể từ khi tác giả được tuyển dụng vào
Ngành cho đến thời điểm hiện tại.
----------------------------------------------------

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×