Tải bản đầy đủ

Hướng dẫn HS kỹ năng làm phần đọc hiểu trong đề thi vào lớp 10 THPT môn ngữ văn

1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1.1. Cơ sở lý luận
Tháng 10/2013, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa XI đã thông qua Nghị quyết 29 - NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập Quốc tế”. Xác
định được nhiệm vụ quan trọng đó nên những năm qua Bộ Giáo dục đã không
ngừng đưa ra những giải pháp mang tính cải tiến như: chuẩn bị đổi mới chương
trình sách giáo khoa, đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới phương pháp dạy
học… Những thay đổi đó nhằm phát triển năng lực người học, góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu hội nhập Quốc tế của đất nước.
Năm học 2018 – 2019, Sở GD và ĐT Thanh Hóa tiến hành lớp chuyên đề
“Đổi mới kiểm tra, đánh giá môn học theo định hướng phát triển năng lực người
học” đối với tất cả các môn. Riêng môn Ngữ văn, yêu cầu đề thi môn gồm có
hai phần: Đọc hiểu và làm văn. Chuyên đề được triển khai rộng khắp trong cả
tỉnh. Sở Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các Phòng Giáo dục triển khai đến toàn
thể giáo viên trên địa bàn các thành phố, thị xã, cũng như các huyện. Sở Giáo
dục cũng yêu cầu các trường lưu ý việc ra đề phải phù hợp với đối tượng học
sinh. Cụ thể là tập trung đánh giá hai kỹ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu văn
bản và kĩ năng tạo lập văn bản. Đề thi gồm hai phần: Đọc hiểu và tạo lập văn

bản, trong đó tỷ lệ điểm của phần tạo lập văn bản nhiều hơn phần Đọc hiểu. Đây
là hướng đổi mới kiểm tra đánh giá sự ghi nhớ những kiến thức của học sinh
chuyển sang kiểm tra đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh (tự mình khám
phá văn bản). Cũng từ đó dạng câu hỏi Đọc hiểu bắt đầu được đưa vào đề thi để
thay thế cho dạng câu hỏi tái hiện kiến thức. Có thể nói đây là sự đổi mới tích
cực trong cách ra đề Ngữ văn theo định hướng mới. Nếu dạng câu hỏi tái hiện
kiến thức chỉ có thể kiểm tra học sinh ở mức nhận biết, thông hiểu, có biết, hiểu,
nắm được những kiến thức văn học đã được dạy trong chương trình hay không
thì dạng câu hỏi Đọc hiểu đã nâng cao hơn một mức vận dung thấp, vận dụng
sáng tạo, kiểm tra, phát triển được năng lực tự cảm nhận một văn bản bất kì (có
thể văn bản đó hoàn toàn xa lạ đối với các em). Như vậy có thể thấy, bên cạnh
việc ôn tập, rèn kỹ năng viết phần tự luận thì việc ôn tập và rèn kỹ năng làm
dạng câu hỏi đọc hiểu là điều cần thiết phải trang bị cho học sinh.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn :
Câu hỏi Đọc hiểu là một kiểu dạng khá mới mẻ được đưa vào đề thi
THCS nên chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng trong chương trình
1


Ngữ văn bậc THCS. Dạng này cũng không có nhiều tài liệu, bài viết chuyên sâu
để tham khảo. Nó chưa “lộ diện” thành một bài cụ thể trong sách giáo khoa. Hơn
nữa kiến thức đọc hiểu nằm rải rác trong chương trình học môn Văn từ lớp 6 đến
lớp 9. Chính vì thế mà không ít giáo viên ôn thi vào lớp 10 THPT tỏ ra lúng túng
khi hướng dẫn học sinh làm bài. Điều đó cũng ảnh hưởng ít nhiều đến chất
lượng, kết quả bài thi của học sinh.
Đọc hiểu văn bản là một trong hai phần bắt buộc có trong một đề thi vào
lớp 10 THPT. Phần này tuy không chiếm phần lớn số điểm nhưng lại có vị trí rất
quan trọng bởi nó quyết định điểm cao hay thấp trong một bài thi. Nếu học sinh
làm sai hết phần này thì chắc chắn điểm toàn bài còn lại dù có tốt mấy cũng chỉ
đạt khoảng 6,0 điểm. Ngược lại nếu học sinh làm tốt phần đọc hiểu các em sẽ có
nhiều cơ hội đạt điểm văn 7,0 điểm 8,0 thậm chí là điểm 9,0. Như vậy phần Đọc
hiểu góp phần không nhỏ vào kết quả thi môn Văn cũng như tạo cơ hội cao hơn
cho các em có cơ hội đậu vào lớp 10 THPT để học cao hơn nữa.
Có thể nói ôn tập và làm tốt phần Đọc hiểu chính là giúp các em gỡ điểm
cho bài thi của mình. Vì vậy việc ôn tập bài bản để các em học sinh lớp 9 làm tốt
phần đọc – hiểu, làm tốt bài thi của mình càng trở nên cấp thiết.
Đối với học sinh trường THCS Quảng Hùng, đây là phần kiến thức mà
các em đang rất quan tâm, mong muốn được các thầy cô củng cố để chuẩn bị
cho kì thi vào lớp 10 THPT.
Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy cũng như vai trò của một giáo viên tâm
huyết với nghề, nhiều năm ôn thi vào lớp 10 THPT, đồng thời góp phần tháo gỡ
những khó khăn trên, tôi đã lựa chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm : Một số kinh
nghiệm hướng dẫn học sinh kỹ năng làm phần Đọc hiểu trong đề thi vào lớp
10 THPT môn Ngữ văn (Dành cho học sinh lớp 9b trường THCS Quảng
Hùng)
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đưa ra đề tài này, thông qua việc hướng dẫn các em học sinh ôn luyện
kiến thức lý thuyết, lưu ý cách làm bài, luyện tập các dạng đề Đọc hiểu, tôi
muốn nâng cao chất lượng làm dạng câu hỏi Đọc hiểu của học sinh THCS nói
chung, học sinh trường THCS Quảng Hùng nói riêng, nhất là các em học sinh
lớp 9 chuẩn bị bước vào kì thi vào lớp 10 THPT. Vì thế khi nghiên cứu và thực
hiện đề tài này tôi đã hướng tới các mục đích cụ thể sau:
- Nắm vững những kiến thức lý thuyết liên quan đến câu hỏi Đọc hiểu
- Nhận diện, phân loại các loại câu hỏi Đọc hiểu theo phạm vi kiến thức.
- Hiểu được phương pháp, cách thức làm dạng câu hỏi này đạt kết quả
cao.

2


- Luyện tập một số đề Đọc hiểu để rèn kĩ năng làm bài
- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
- Đề tài này cũng có thể coi là tài liệu để các giáo viên tham khảo khi dạy
các tiết ôn tập, ôn thi học kì, ôn thi vào lớp 10 THPT, ôn thi học sinh giỏi.
1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh kỹ năng làm phần Đọc hiểu
trong đề thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn (Dành cho học sinh lớp 9b trường
THCS Quảng Hùng).
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sáng kiến đã sử dụng các phương pháp sau
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp điều tra
1.5. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
- Hướng dẫn chi tiết cách xác định PTBĐ, các biện pháp tu từ, từ. câu, …
- Định hướng cách làm bài đọc hiểu.
- Có bài tập minh họa.

3


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Quan niệm về Đọc hiểu
Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người để chiếm lĩnh văn hóa. Khái
niệm Đọc hiểu (comprehension reading) có nội hàm khoa học phong phú có
nhiều cấp độ gắn liền với lí luận dạy học văn, lí thuyết tiếp nhận tâm lí học nghệ
thuật, lí thuyết giao tiếp thi pháp học, …
Đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và
chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sử
dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe. Hiểu là
phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý
nghĩa của mối quan hệ đó. Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận
dụng vào đời sống. Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi Cái gì? Như thế nào?
Làm thế nào?
Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích,
khái quát, biện luận đúng- sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tư duy và
biểu đạt. Mục đích trong tác phẩm văn chương, Đọc hiểu là phải thấy được:
+ Nội dung của văn bản.; Mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả tổ
chức và xây dựng; Ý đồ, mục đích.
+ Thấy được tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm; Giá trị đặc sắc
của các yếu tố nghệ thuật.
+ Ý nghĩa của từ ngữ được dùng trong cấu trúc văn bản; Thể lọai của văn
bản, hình tượng nghệ thuật…
Theo Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng “Đọc hiểu là một khái niệm
khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ
năng lực văn của người đọc”. “Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa
văn bản”. Còn với Giáo sư Trần Đình Sử “Đọc hiểu văn bản như một khâu đột
phá trong việc đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với
việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến”. Phó
giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Thị Hạnh, dựa trên cơ sở ngôn ngữ học, khẳng định : “
Đọc hiểu là một hoạt động giao tiếp ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết
thành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết, tình cảm hoặc hành vi của
chính mình, đọc hiểu là hoạt động đọc cho mình”
Như vậy, Đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn
bản thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh. Đọc hiểu là tiếp úc với văn bản,
hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu
các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình

4


tượng nghệ thuật. Với quan điểm phát huy vai trò chủ thể của học sinh, xuất
phát từ đặc thù của văn chương (nghệ thuật ngôn từ), mà vấn đề Đọc hiểu văn
bản ngày càng được quan tâm .
2.1.2. Văn bản Đọc hiểu
Trong chương trình Ngữ văn của Việt Nam nêu hai loại văn bản để dạy
Đọc hiểu, đó là: Văn bản văn học và văn bản nhật dụng. Trong đó các văn bản
được xếp theo tiến trình lịch sử hoặc theo thể loại. Các văn bản văn học đa dạng
hơn các văn bản nhật dụng. Hai loại văn bản này cũng chính là các ngữ liệu để
học sinh khai thác.
Thực tế cho thấy văn bản Đọc hiểu nói chung và văn bản Đọc hiểu trong
nhà trường nói riêng rất đa dạng và phong phú. Có bao nhiêu loại văn bản trong
cuộc sống thì có bấy nhiêu loại được dạy trong nhà trường. Điều đó cũng có
nghĩa là văn bản Đọc hiểu trong các đề thi rất rộng. Đề thi có thể là văn bản các
em đã được tiếp cận, đã được học, hoặc cũng có thể là văn bản hoàn toàn xa lạ.
Từ năm 2014 Bộ GD & ĐT đưa phần Đọc hiểu vào đề thi môn Ngữ văn đã đổi
mới kiểm tra, đánh giá năng lực Đọc hiểu của học sinh. Và năm học 2018 –
2019 Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa đưa vào chương trình thi vào lớp 10
THPT cũng như thi học sinh giỏi các cấp. Việc làm này có tác động tích cực đến
quá trình rèn khả năng tiếp nhận văn bản Đọc hiểu của các em.
2.1.3. Vấn đề Đọc hiểu môn Ngữ văn trong nhà trường THCS
Nhằm phát huy khả năng chủ động tiếp cận văn bản của học sinh, từ đề
thi học sinh giỏi các cấp và đề thi vào lớp 10 THPT chính thức đưa câu hỏi Đọc
hiểu vào đề thi. Khi có quyết định nhiều học sinh, các thầy cô tỏ ra lung túng vì
cho rằng đây là vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Nhưng thực chất bản chất của vấn đề
không hoàn toàn mới. Vì hoạt động đọc hiểu vẫn diễn ra thường xuyên trong các
bài giảng văn. Các thầy cô vẫn thường cho học sinh tiếp cận văn bản bằng cách
đọc ngữ liệu, sau đó đặt câu hỏi để học sinh trả lời, nghĩa là đang diễn ra hoạt
động đoc hiểu. Tuy nhiên giữa hoạt động đọc hiểu và dạng câu hỏi đọc hiểu có
nét tương đồng và khác biệt. Nét tương đồng là phương thức tiếp cận văn bản là
giống nhau: bắt đầu từ đọc rồi đến hiểu. Còn nét khác biệt là Đọc hiểu trong dạy
học văn nói chung là hoạt động trên lớp có sự định hướng của người thầy, còn
câu hỏi Đọc hiểu trong đề thi là hoạt động độc lập, sáng tạo của học sinh, nhằm
đánh giá năng lực người học. Hơn nữa những kiến thức trong dạng câu hỏi Đọc
hiểu rất phong phú, học sinh phải biết huy động những kiến thức đã học ở các
lớp dưới để trả lời câu hỏi. Như vậy hoạt động đọc hiểu vẫn thường xuyên diễn
ra trong môn Ngữ văn ở các nhà trường.

5


Đọc hiểu là quá trình thâm nhập vào văn bản với thái độ tích cực, chủ
động. Đây là một năng lực cần thiết mà người học nói chung và học sinh THCS
cần quan tâm. Nếu chúng ta không có trình độ năng lực đọc thì hiểu đúng, đánh
giá đúng văn bản. Không nắm vững, đánh giá được văn bản thì không thể tiếp
thu, bồi đắp được tri thức và cũng không có cơ sở để sáng tạo. Vì thế vấn đề Đọc
hiểu môn ngữ văn trong nhà trường là rất cần thiết. Hiện nay Đọc hiểu văn học
trong nhà trường THCS thường hướng tới các vấn đề cụ thể sau:
- Nhận biết đúng, chính xác về văn bản
+ Thể loại của văn bản: Các thể thơ, truyện, kí,...
+ Hiểu đề tài, nhan đề, chủ đề, tóm tắt được các nội dung của văn bản
+ Hiểu các phương thức biểu đạt của văn bản (phương thức tự sự, biểu
cảm, thuyết minh, miêu tả,...)
+ Hiểu các thao tác lập luận (thao tác phân tích, bình luận, chứng minh,
bác bỏ...)
- Thông hiểu, đánh giá đúng văn bản
+ Cảm nhận được những đặc sắc, nổi bật của văn bản: từ ngữ, hình ảnh,
chi tiết quan trọng, đặc sắc, các biện pháp tu từ...
+ Hiểu được ý nghĩa hàm ẩn của văn bản, đánh giá được nội dung, ý
nghĩa của văn bản bằng kiến thức, kinh nghiệm của mình.
- Vận dụng văn bản để giải quyết một vấn đề cụ thể.
+ Liên hệ mở rộng một vấn đề nào đó từ văn bản bằng suy nghĩ, ý kiến
của mình
+ Vận dụng văn bản để trình bày phƣơng hƣớng, biện pháp giải quyết
một vấn đề cụ thể của cuộc sống, của xã hội.
2.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.2.1.Thực trạng nghiên cứu đề Đọc hiểu môn Văn THCS
Ngay từ khi Sở GD&ĐT thông báo và hướng dẫn, các trường THCS thực
hiện đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong kì thi học sinh giỏi, thi khảo
sát chất lượng cuối học kì và sắp tới là kì thi vào lớp 10 THPT . Vấn đề Đọc
hiểu thu hút sự chú ý của rất nhiều các thầy cô và học sinh nhất là học sinh lớp
9. Cùng với việc chuyên viên của Sở GD & ĐT giải đáp những thắc mắc về
hướng ra đề phần Đọc hiểu (liên quan đến phần ngữ pháp, Tiếng Việt, ngữ liệu
chủ yếu lấy phần đọc thêm, trong chương trình, ngoài chương trình) thì nhiều
thầy cô giáo luyện thi có nhiều kinh nghiệm cũng đăng trên trang cá nhân của
mình những bài ôn tập Đọc hiểu. Song những hướng dẫn ôn tập đó chưa chi tiết,
chưa cụ thể và chưa có tính hệ thống. Riêng phần Đọc hiểu một cách bài bản
những kiến thức lý thuyết, bài tập thường gặp trong đề Đọc hiểu và cũng chưa

6


phân loại quy cũ, chi tiết, hệ thống kiến thức để học sinh dễ ôn tập. Chính vì thế
đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh kỹ năng
làm phần Đọc hiểu trong đề thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn”(Dành cho học
sinh lớp 9b trường THCS Quảng Hùng)vẫn là một đề tài mới, có tính ứng dụng,
cần thiết rất cao.
2.1.2. Thực trạng đề thi môn Văn có câu hỏi Đọc hiểu
Năm học 2018- 2019 Sở GD& ĐT quyết định đổi mới kiểm tra đánh giá.
Đề thi môn Ngữ văn bắt buộc có thêm phần Đọc hiểu. Trong đề thi vào lớp 10
THPT phần Đọc hiểu chiếm 3/10 điểm toàn bài. Xét về mức độ kiến thức và
tương quan thời gian trong toàn bài thi thì cấu trúc phần Đọc - hiểu như thế là
hợp lí.
Như phần đặt vấn đề chúng tôi có giới thiệu, dạng câu hỏi đọc hiểu đã
xuất hiện thường niên trong các kì thi Đại học, Cao đẳng, các kì thi học sinh
giỏi... Thậm chí trong các nhà trường phổ thông cơ sở dạng đề này cũng thường
xuyên được các thầy cô sử dụng cho các bài kiểm tra, thường xuyên, định kì.
2.3. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐÊ
Thực trạng đề thi có dạng câu hỏi Đọc hiểu xuất hiện phong phú như vậy
nhưng trong chương trình sách giáo khoa môn Ngữ văn của trung học cơ sở lại
không có một kiểu bài dạy riêng để hướng dẫn cho thầy cô giáo cũng như các
em học sinh nắm được phương pháp làm dạng đề này một cách hiệu quả nhất.
Chính vì vậy mà như đã trình bày ở phần lí do chọn đề tài nhiều em học sinh tỏ
ra rất lúng túng, băn khoăn về cung cấp kiến thức lý thuyết như thế nào, rèn
luyện kĩ năng ra sao để các em tự làm tốt được phần đọc hiểu trong bài thi.
Đứng trước thực trạng đó, bằng kinh nghiệm của bản thân đang trực tiếp ôn thi
vào lớp 10 THPT, qua những năm dạy đội tuyển học sinh giỏi, dạy chuyên đề
cũng như trao đổi với đồng nghiệp, tôi đề xuất cách hướng dẫn học sinh thi vào
lớp 10 THPT ôn tập dạng câu hỏi Đọc hiểu theo hướng sau:
2.3.1. Ôn luyện lý thuyết Đọc hiểu:
2.3.1.1. Những vấn đề liên quan đến đọc hiểu: Giáo viên nghiên cứu tài liệu
và hướng dẫn cho học sinh nắm bắt được những dạng kiến thức lý thuyết liên
quan đến câu hỏi Đọc hiểu trong đề thi. Bao gồm các dạng như:
- Các phương thức biểu đạt: Miêu tả, tự sự, biểu cảm, thuyết minh, nghị
luận.
- Các biện pháp tu từ: Nhân hóa, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ, nói
quá, …
- Các câu hỏi liên quan đến kiến thức Tiếng Việt lớp 9: Các phương châm
hội thoại; Sự phát triển của từ vựng; Khởi ngữ; Các thành phần biệt lập;....

7


- Các câu hỏi liên quan đến kiến thức tiếng Việt lớp 9: Các phương châm
hội thoại; Sự phát triển của từ vựng; Cách dẫn trực tiếp, gián tiếp; Nghĩa tường
minh và hàm ý; Các thành phần biệt lập; Khởi ngữ.
- Xác định nội dung, chi tiết, hình ảnh chính trong văn bản (nhan đề, chủ
đề, chi tiết, hình ảnh đặc sắc)
2.3.1.2. Cách xác định và trả lời các câu hỏi phần đọc hiểu:
a) Các phương thức biểu đạt và cách xác định đúng phương thức biểu đạt:
Nhìn chung trong giao tiếp con người ít khi sử dụng một phương thức
biểu đạt thuần túy mà thường sử dụng nhiều phương thức biểu đạt một lúc. Dù
có vận dụng bao nhiêu phương thức biểu đạt trong một văn bản thì trong đó vẫn
phải có một phương thức chủ đạo.
* Phương thức tự sự: Tự sự là kể lại, thuật lại sự việc, hay một chuỗi các sự việc
có quan hệ nhân quả dẫn đến kết quả - Trình bày theo diễn biến sự vật, sự việc.
- Cách nhận biết:
+ Dạng tồn tại: Văn bản tự sự: tác phẩm truyện, tiểu thuyết; bản tin báo
chí; bản tường thuật, bản tường trình…
+ Đặc trưng của văn bản tự sự: Có cốt truyện; có nhân vật tự sự, sự việc;
có tư tưởng, chủ đề; có ngôi kể thích hợp.
* Phương thức miêu tả: Tái hiện các tính chất, thuộc tính sự vật, hiện tượng,
giúp con người cảm nhận và hiểu được chúng.
- Cách nhận biết:
+ Từ ngữ, câu văn giàu sức gợi giúp người đọc, người nghe có thể thấy sự
vật, hiện tượng, con người như đang hiện ra trước mắt qua ngôn ngữ miêu tả.
+ Dạng văn bản: Các bài văn tả cảnh, tả người, vật; đoạn văn miêu tả
trong tác phẩm tự sự.
* Phương thức biểu cảm: Bày tỏ, bộc lộ cảm xúc, tâm trạng trước những vấn đề
tự nhiên, xã hội, sự vật...
- Cách nhận biết:
+ Các văn bản: thơ trữ tình, tùy bút; các bức điện mừng, thăm hỏi, chia
buồn…
+ Mật độ các từ ngữ biểu cảm xuất hiện trong văn bản.
* Phương thức nghị luận: Là phương thức chủ yếu được dùng để bàn bạc phải
trái, đúng sai nhằm bộc lộ rõ chủ kiến, thái độ của người nói, người viết – nêu ý
kiến đánh giá, bình luận.
- Cách nhận biết:
+ Dạng văn bản tồn tại: các văn bản chính luận, trình bày tư tưởng, chủ
trương quan điểm của con người đối với tự nhiên, xã hội, qua các luận điểm,
luận cứ và lập luận thuyết phục.

8


- Thể loại:
+ Văn nghị luận trung đại: hịch, cáo, chiếu, biểu…
+ Văn nghị luận hiện đại: xã luận, bình luận, lời kêu gọi; sách lí luận; bài
viết tranh luận về một vấn đề trính trị, xã hội, văn hóa.
* Phương thức thuyết minh: Giới thiệu, cung cấp, giảng giải những tri thức về
một sự vật, hiện tượng nào đó cho người đọc, người nghe - Giới thiệu đặc điểm
tình chất, cấu tạo, công dụng.
- Cách nhận biết:
+ Dạng văn bản: Các văn bản giới thiệu sản phẩm, giới thiệu di tích, thắng
cảnh, nhân vật; trình bày tri thức và phương pháp trong khoa học….
Sau khi hướng dẫn cụ thể cách nhận biết các phương thức biểu đạt, giáo viên
yêu cầu học sinh hệ thống bằng bản đồ tư duy để giúp học sinh khắc sâu kiến
thức.

b) Các biện pháp tu từ
Các biện pháp tu từ thường gặp khi các em làm bài tập phần đọc hiểu Ngữ
văn bao gồm: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, điệp ngữ, nói quá, nói giảm nói
tránh, liệt kê, tương phản, đối lập, Câu hỏi tư từ.
Để làm tốt nội dung này, giáo viên gợi dẫn, giúp học sinh hệ thống hóa
kiến thức về những nội dung có liên quan bằng bản đồ tư duy, từ đó giúp các em
ghi nhớ, khắc sâu kiến thức.

9


c) Các câu hỏi liên quan đến kiến thức tiếng Việt lớp 9:
Riêng phần kiến thức tiếng Việt lớp 9, học sinh mới học, do đó, giáo viên
gợi dẫn để học sinh nhớ lại nội dung và khái quát bằng bản đồ tư duy.
* Các phương châm hội thoại

10


* Sự phát triển của từ vựng:

* Khởi ngữ:

11


* Các thành phần biệt lập:

2.3.1.3. Một số lưu ý về phương pháp làm Đọc hiểu
Để làm tốt bài đọc hiểu, học sinh cần chú ý các vấn đề sau:
- Đọc kĩ ngữ liệu trong đề.
- Đọc câu hỏi, tìm các kiến thức có liên quan.
- Đối chiếu với lý thuyết đã hướng dẫn để nhận diện phương thức biểu
đạt, các biện pháp tu từ,…
- Đọc kĩ, tìm hiểu từ ngữ quan trọng, thông điệp hay nội dung ý nghĩa, bài
học cuộc sống,… mà ngữ liệu hướng tới.
- Về cách trả lời câu hỏi phần đọc hiểu: Thường là câu trả lời ngắn, do đó,
giáo viên định hướng cho học sinh không nên viết dài dẫn đến không đúng ý.
Phải trả lời đúng trọng tâm câu hỏi. Riêng phương thức biểu đạt, phải xác định
đúng phương thức biểu đạt chính, tránh hiện tượng liệt kê tất cả các phương thức
biểu đạt được học. Với câu hỏi liên quan đến nội dung, ý nghĩa, cảm nhận đòi
hỏi học sinh phải đọc thật kĩ ngữ liệu, xác định xem vấn đề mà ngữ liệu đề cập,
chú ý các từ ngữ quan trọng (từ khóa), khi xác định được từ khóa chắc chắn học
sinh sẽ làm bài tốt.
2.3.1.4. Bài tập rèn kĩ năng Đọc hiểu
Sau khi giáo viên ôn tập, hướng dẫn học sinh nắm chắc lý thuyết, tôi cung
cấp cho các em học sinh các đề Đọc hiểu thuộc văn bản nhật dụng và văn bản
văn học. Phần này người viết đưa 5 đề với các loại câu hỏi thường gặp trong đề

12


thi để học sinh luyện tập, rèn kĩ năng làm bài. Các câu hỏi thể hiện ở các mức:
nhận biết, thông hiểu, vận dụng. Sau mỗi đề có đáp án để các em đối chiếu, giáo
viên sửa bài cho học sinh. Nếu học sinh còn lúng túng, chưa nắm vững nội dung
cũng như cách thức xác định vấn đề, qua từng đề, giáo viên củng cố, nhắc lại
một lần nữa để học sinh ghi nhớ và khắc sâu kiến thức. Từ đó, giúp học sinh làm
tốt phần đọc hiểu trong đề thi.
ĐỀ SỐ 1:
I. ĐỀ BÀI
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Chích đi kiếm mồi, tìm được những hạt kê ngon lành ấy, bèn gói lại thật cẩn
thận vào chiếc lá, rồi mừng rỡ chạy đi tìm người bạn thân thiết của mình. Vừa
gặp Sẻ, Chích đã reo lên:
- Chào bạn Sẻ thân mến! Mình vừa kiếm được mười hạt kê rất ngon! Đây
này, chúng mình chia đôi: cậu năm hạt, mình năm hạt.
- Chia làm gì cơ chứ? Không cần đâu! – Sẻ lắc lắc chiếc mỏ xinh xắn của
mình, tỏ ý không thích. – Ai kiếm được thì người ấy ăn!
- Nhưng mình với cậu là bạn của nhau cơ mà. Đã là bạn thì bất cứ cái gì
kiếm được cũng phải chia cho nhau. Lẽ nào cậu không nghĩ như thế?
Nghe Chích nói, Sẻ rất xấu hổ. Thế mà chính Sẻ đã ăn hết cả một hộp kê
đầy.
Sẻ cầm năm hạt kê Chích đưa, ngượng nghịu nói:
- Mình rất cảm ơn cậu, cậu đã cho mình những hạt kê ngon lành này, còn
cho mình một bài học quý về tình bạn.
( Bài học quý, trong Tiếng Việt 5, tập một, 2000)
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.
Câu 2 (0,5 điểm): Câu văn sau đây liên quan đến phương châm hội thoại nào :
- "Mình rất cảm ơn cậu, cậu đã cho mình những hạt kê ngon lành này, còn
cho mình một bài học quý về tình bạn.”
Câu 3 (1,0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ có trong câu
chuyện trên?
Câu 4 (1,0 điểm): Bài học mà em rút ra được từ câu chuyện trên là gì ?
II. GỢI DẪN:
- Đọc kĩ câu chuyện, xem xét nhân vật, sự việc.
- Nhớ lại kiến thức đã học về các phương châm hội thoại.
- Nhớ lại kiến thức đã học về các biện pháp tu từ, tìm dấu hiệu và trả lời
câu hỏi vì sao?
- Tình bạn của Sẻ và Chích gợi cho em suy nghĩ gì?

13


III. ĐÁP ÁN
Câu 1:Phương thức biểu đạt chính : Tự sự
Câu 2: Câu văn trên liên quan đến phương châm lịch sự.
Câu 3:
- Biện pháp tu từ: Nhân hóa (Chích, Sẻ).
- Tác dụng: Gần gũi, có tình cảm suy nghĩ như con người.
Câu 4: Bài học rút ra từ câu chuyện trên là : sự quý trọng, thân tình trong tình
bạn. Đã là bạn thân của nhau thì phải biết quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau: miếng
ngon chia đôi, nỗi buồn sẻ nửa. Đó mới là cơ sở để xây dựng một tình bạn chân
thành, đằm thắm.
ĐỀ SỐ 2:
I. ĐỀ BÀI: Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi :
Chuyện kể , một danh tướng có lần đi ngang qua trường học cũ của mình
liền ghé vào thăm . Ông gặp lại người thầy từng dạy mình hồi nhỏ và kính cẩn
thưa :
- Thưa thầy , thầy còn nhớ con không ? Con là …
Người thầy giáo già hoảng hốt :
- Thưa ngài , ngài là …
- Thưa thầy, với thầy, con vẫn là đứa học trò cũ . Con có được thành công
hôm nay là nhờ sự giáo dục của thầy ngày nào …
(Ngữ văn 9-Tập 1)
Câu 1 ( 0,5 điểm ) : Câu truyện trên sử dụng phương thức biểu đạt nào ?
Câu 2 ( 0,5 điểm ) Hai nhân vật trong câu chuyện trên đã tuân thủ phương
châm hội thoại nào?
Câu 3 ( 1 điểm ) Cách dùng từ xưng hô trong câu truyện trên thể hiện thái độ gì
của người nói?
Câu 4 ( 1 điểm) Em hãy nêu ý nghĩa của câu chuyện trên?
II. ĐÁP ÁN
Câu 1: Phương thức đạt: Tự sự
Câu 2: Phương châm lịch sự
Câu 3:
- Cách xưng hô của vị tướng: Thể hiện thái độ tôn trọng, tôn kính người thầy đã
có công dạy dỗ mình nên người.
- Cách xưng hô của thầy giáo: Thể hiện thái độ tôn trọng vị tướng- dù còn tre
tuổi nhưng có địa vị trong xã hội.
Câu 4: Thể hiện truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc : Tôn trọng và biết ơn
người thầy giáo đã có công dạy ta nên người.

14


ĐỀ SỐ 3:
1. PHẦN ĐỌC HIỂU (3 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
“Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều.
Chiều chiều trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau thả diều thi.
Cánh diều mềm mại như cánh bướm. Chúng tôi sung sướng đến phát dại nhìn
lên trời. Tiếng sáo diều vi vu trầm bổng. Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè…như gọi
thấp xuống những vì sao sớm.
Ban đêm trên bãi thả diều còn gì huyền ảo hơn. Có cảm giác diều đang
trôi trên dải Ngân Hà. Bầu trời tự do đẹp như một thảm nhung khổng lồ. Có cái
gì cứ cháy lên, cháy mãi trong tâm hồn chúng tôi. Sau này tôi mới hiểu đấy là
khát vọng. Tôi đã ngửa cổ suốt một thời mới lớn để chờ đợi một nàng tiên áo
xanh bay xuống từ trời và bao giờ cũng hi vọng khi tha thiết cầu xin: “Bay đi
diều ơi! Bay đi!” Cánh diều tuổi ngọc ngà bay đi mang theo nỗi khát khao của
tôi”
(Cánh diều tuổi thơ, Ta Duy Anh, Tiếng Việt 4, tập 1, NXB GD VN, 2017)
Câu 1 ( 0,5 điểm): Xác định những phương thức biểu đạt chính được sử dụng
trong văn bản.
Câu 2 ( 0,5 điểm): Tác giả đã chọn những chi tiết nào để tả cánh diều?
Câu 3(1,0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ có trong văn
bản.
Câu 4 (1,0 điểm): Theo em tác giả muốn nói điều gì qua hình ảnh cánh diều ?
II. ĐÁP ÁN
Câu 1: Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn trên: Tự sự
Câu 2: Những chi tiết tác giả đã lựa chọn để tả cánh diều:
+ Cánh diều mềm mại như cánh bướm.
+ Tiếng sáo vi vu trầm bổng.
+ Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè…như gọi thấp xuống những vì sao sớm.
Câu 3: Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: “Bầu trời tự do đẹp như một
thảm nhung khổng lồ” là biện pháp so sánh.
- Tác dụng: Gợi vẻ đẹp của bầu trời đêm. Tác giả so sánh bầu trời đêm với
tấm thảm nhung cũng mịn và không một gợn mây, mở ra một không gian cao
rộng.
Câu 4: Qua hình ảnh cánh diều, tác giả muốn nói:
+ Cánh diều là những kỉ niệm tuổi thơ của tác giả với những người bạn
nơi thôn quê. Đó là kí ức đẹp theo tác giả suốt đời.

15


+ Cánh diều tuổi thơ là nơi chở những khát vọng, những ước mơ của tác
giả bay cao, bay xa.
ĐỀ SỐ 4
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc kĩ đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Giữa năm 2015, bà Lê Thị Thảo, mẹ của Hòa, quyết định tặng thận...
[...] Tháng 3- 2016, Hòa lên bàn mổ để tặng một quả thận cho một người phụ nữ
trạc tuổi mẹ mình. Người được nhận thận quê ở Hà Nam, đã bị suy thận nhiều
năm và cần được ghép thận để tiếp tục được sống.
[...] Để tặng được quả thận, từ khi quyết định hiến tặng đến khi lên bàn mổ, bà
Thảo đã phải hơn 10 lần một mình một xe máy từ Bắc Ninh ra bệnh viện Việt
Đức ở Hà Nội để làm các xét nghiệm. Con gái bà Thảo cũng vậy, và cuối năm
2016 khi mẹ con bà được mời lên truyền hình để nói về ý nghĩa của việc hiến
tặng mô tạng, hai mẹ con lại chở nhau bằng xe máy từ Bắc Ninh lên Hà Nội rồi
vội vã trở về ngay trong đêm... Nếu có ai hỏi về chuyện hiến thận đã qua, bà chỉ
phẩy tay cười: “Cứ nghĩ bình thường đi, bình thường với nhau đi, bây giờ tôi
chẳng phải đang rất khỏe là gì...”.
Và nhờ cái “bình thường” của mẹ con bà Thảo, giờ đây có thêm hai gia
đình được hạnh phúc vì người thân của họ khỏe mạnh trở lại. Ở Bắc Ninh, gia
đình bà Thảo cũng đang rất vui vẻ. Nỗi đau đớn của ca đại phẫu thuật đã qua đi,
giờ đây trên bụng hai mẹ con là hai vết sẹo dài như chứng nhân về quyết định rất
đỗi lạ lùng, về việc sẵn sàng cho đi mà không băn khoăn một phần thân thể của
mình.
Có lẽ bạn đọc nghĩ rằng đó là hai con người kỳ lạ, nhưng khi gặp họ và
trò chuyện, chúng tôi mới thấy mẹ con bà Thảo không kỳ lạ chút nào, họ chỉ
muốn tặng quà một cách vô tư để nhận lại một thứ hạnh phúc tinh thần nào đó
mà tôi không thể nào định danh được!
(Trích “Hai mẹ con cùng hiến thận” Lan Anh, Báo Tuổi Trẻ ngày 31/5/2018)
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra lời dẫn trực tiếp được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 3. (1,0 điểm): Xác định và nêu tác dụng của phép tu từ được sử dụng trong
câu văn sau: “Nỗi đau đớn của ca đại phẫu thuật đã qua đi, giờ đây trên bụng hai
mẹ con là hai vết sẹo dài như chứng nhân về quyết định rất đỗi lạ lùng, về việc
sẵn sàng cho đi mà không băn khoăn một phần thân thể của mình”.
Câu 4. (1,0 điểm): Theo em “ thứ hạnh phúc tinh thần mà người viết không thể
nào định danh được” đã nêu ra trong văn bản trên là gì?

16


II. ĐÁP ÁN
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: phương thức nghị luận.
Câu 2: Lời dẫn trực tiếp: "Cứ nghĩ bình thường đi, bình thường với nhau đi, bây
giờ tôi chẳng đang rất khỏe là gì..."
Câu 3:
- Phép tu từ được sử dụng trong câu là: so sánh "…hai vết sẹo dài như
chứng nhân…."
- Tác dụng:
+ Khẳng định giá trị của những vết thương mà hai mẹ con phải chịu đựng.
+ Hai vết sẹo ấy là bằng chứng sáng rõ nhất của tinh thần làm việc thiện,
sẵn sàng cho đi một phần thân thể của mình mà không cần đáp lại.
=> Khẳng định tinh thần hiến dâng, biết sống vì người khác của hai mẹ con.
Câu 4: Thứ hạnh phúc tinh thần mà người viết không thể nào định danh được đó
là niềm vui và hạnh phúc của việc cho đi, của tinh thần sẻ chia, biết sống vì
người khác, biết yêu thương với những số phận bất hạnh trong cuộc đời.
ĐỀ SỐ 5
I. PHẦN 1: ĐỌC – HIỂU (3.0 điểm)
Đọc Phần văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Biết nói gì trước biển em ơi!
Trước cái xa xanh thanh khiết không lời
Cái hào hiệp ngang tàng của gió
Cái kiên nhẫn của nghìn đời sóng vỗ
Cái nghiêm trang của đá đứng chen trời
Cái giản đơn sâu sắc như đời.
Chân trời kia biển mãi gọi người đi
Bao khát vọng nửa chừng tan giữa sóng
Vầng trán mặn giọt mồ hôi cay đắng
Bao kiếp vùi trong đáy lặn mù tăm
Nhưng muôn đời vẫn những cánh buồm căng
Bay trên biển như bồ câu trên trên đất
Biển dư sức và người không biết mệt
Mũi thuyền lao mặt sóng lại cày bừa
Những chân trời ta vẫn mãi tìm đi.
(Trích Trước biển, Vũ Quang Dương, NXB Văn học 1988)
Câu 1(0,5điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn thơ trên?

17


Câu 2 (0,5 điểm): Xác định thành phần biệt lập trong câu thơ:
“Biết nói gì trước biển em ơi!”
Câu 3 (1,0 điểm): Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong sáu
câu thơ đầu đoạn trích?
Câu 4 (1,0 điểm): Em hiểu như thế nào về nội dung hai câu thơ:
“Bao kiếp vùi trong đáy lặn mù tăm
Nhưng muôn đời vẫn những cánh buồm căng”
II. ĐÁP ÁN
Câu 1:Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ: Biểu cảm
Câu 2: Thành phần biệt lập trong câu thơ: “em ơi” - Thành phần goi đáp
Câu 3: Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê:
- Thể hiện rõ nét, cụ thể những cảm nhận về biển của nhân vật trữ tình;
khơi gợi trong nhân vật trữ tình những khát khao chinh phục;
- Tạo âm điệu hào hứng, hân hoan, sôi nổi cho đoạn thơ.
Câu 4: Nội dung hai câu thơ:
- Viết về những mất mát của con người trên hành trình chinh phục biển cả
nhưng vẫn không ngăn cản được con người tiếp tục ra khơi.
- Hai câu thơ gợi liên tưởng đến những khó khăn, mất mát trong hành
trình thực hiện khát vọng. Bằng tinh thần lạc quan và niềm tin vào cuộc sống,
con người vẫn không ngừng vươn tới để khám phá, chinh phục.
2.4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Thực hiện ý tưởng của mình, trên cơ sở bám sát chương trình phân môn,
trong các bài kiểm tra thường xuyên và định kì về nghị luận văn học của học
sinh, tôi đã kiểm tra câu hỏi Đọc hiểu. Đồng thời tôi đã trao đổi với đồng nghiệp
về cách hướng dẫn học sinh ôn tập về dạng đề này, được các thầy cô ủng hộ và
cũng nhân rộng ra các lớp, nhất là các lớp học cuối cấp nhằm trang bị cho các
em những kiến thứ cơ bản để các em thi vào lớp 10 THPT. Sau quá trình thực
hiện, tôi đã kiểm tra (ba lần) và kết quả đạt được như sau:
* Lần 1: Khi chưa ôn luyện và rèn kĩ năng Đọc hiểu
Lớp
9b

Số HS
44

Điểm 2,5 - 3
5

Điểm 1,5 – 2,5
10

Điểm 1
10

Điểm dưới 1
14

Điểm 1
14

Điểm dưới 1
10

* Lần 2: Sau khi vừa thực hiện SKKN
Lớp
9b

Số HS
44

Điểm 2,5 - 3
8

Điểm 1,5 – 2,5
12

* Lần 3: Sau khi học sinh được luyện các dạng đề đọc hiểu
Lớp
9b

Số HS
44

Điểm 2,5 - 3
15

Điểm 1,5 – 2,5
14

Điểm 1
10

Điểm dưới 1
5
18


3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Đọc hiểu là một phần thi bắt buộc được đưa vào kì thi THPT Quốc gia
môn Ngữ văn năm học 2018 2019 nên đang là vấn đề được nhiều thầy cô và học
sinh quan tâm, nhất là học sinh lớp 9. Vốn là giáo viên tâm huyết với nghề, luôn
trăn trở làm thế nào để học sinh yêu thích môn văn, làm thế nào để kết quả thi
môn Văn ngày một nâng cao nên tôi đã nghiên cứu và lựa chọn đề tài “Hướng
dẫn học sinh kỹ năng làm phần Đoc hiểu trong đề thi vào lớp 10 THPT môn
Ngữ văn”. Qua một năm trực tiếp ôn luyện cho học sinh lớp 9 của trường, tôi đã
giảng dạy và áp dụng thành công đề tài này. Với các bước thực hiện như hướng
dẫn ở trên, tôi nhận thấy sau khi giáo viên ôn luyện lý thuyết cũng như luyện đề
cho học sinh các em không còn lung túng khi làm phần Đọc – hiểu trong kì thi
tuyển sinh vào lớp 10 THPT.
Vẫn biết rằng trong một đề thi có nhiều câu, để có kết quả cao còn phụ
thuộc nhiều yếu tố, phụ thuộc vào chất lượng các câu khác.Tuy nhiên câu hỏi
này chiếm 3,0/10,0 điểm vì thế nó không chỉ là phần gỡ điểm mà nó còn là phần
quyết định nâng điểm số của toàn bài. Nếu học sinh chỉ làm tốt phần tự luận thì
điểm tối đa cũng chỉ đạt 6/7 điểm. Nhưng nếu làm tốt câu hỏi Đọc hiểu học sinh
sẽ có thể đạt 7, 8 điểm. Vì vậy giáo viên hướng dẫn học sinh làm tốt phần Đọc
hiểu là rất cần thiết và quan trong.
Trong khi nhiều thầy cô, học sinh vẫn đang lung túng khi ôn luyện phần
Đọc hiểu thì sáng kiến kinh nghiệm này có thể coi như cuốn tài liệu hữu ích tháo
gỡ những khó khăn trên. Sáng kiến cung cấp phương pháp ôn luyện với một hệ
thống kiến thức lý thuyết bài tập minh họa chi tiết, thiết thực sẽ giúp các em học
sinh, nhất là các em học sinh lớp 9 tự tin khi làm bài thi.
3.2. Kiến nghị đề xuất
Đoc – hiểu văn bản một phần thi bắt buộc trong đề thi vào lớp 10 THPT
nhưng thực tế trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn bậc THCS chưa xuất
hiện một bài học riêng để giáo viên và học sinh được trang bị phương pháp, kĩ
năng dạy học kiểu bài này. Vậy thiết nghĩ Bộ Giáo dục nhân kì thay sách lần tới
nên bổ sung tiết dạy về kiểu bài Đoc - hiểu có tính đặc thù vào chương trình
sách giáo khoa bậc THCS.
Sở Giáo dục nên tiếp tục tổ chức lớp tập huấn về phương pháp ôn luyện
phần Đoc- hiểu để thầy cô ôn luyện cho học sinh dự thi vào lớp 10 THPT một
cách bài bản, giúp học sinh tự tin trong kì thi, đem lại kết quả học tập cao hơn.

19


Trên đây là một vài suy nghĩ của cá nhân tôi, vì vậy không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của hội đồng
khoa học và đồng nghiệp để sáng kiến được đầy đủ , hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Thanh Hóa, ngày 10 tháng 4 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là sang kiến
kinh nghiệm của mình viết, không
sao chép lại nội dung của người
khác.

Nguyễn Thị Thu

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 6,7,8,9.
2. Sách giáo viên Ngữ văn 6,7,8,9.
3. Tài liệu chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn THCS.
4. Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn THCS - Dự án phát triển GD
THCS II - Bộ GD & ĐT - T.S Nguyễn Văn Nam.
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: Một số đề thi thử và thi chính thức vào lớp 10 các tỉnh, thành phố.
PHỤ LỤC 2: Đề, đáp án và bài làm của học sinh lần 1.
PHỤ LỤC 3: Đề, đáp án và bài làm của học sinh lần 2.
PHỤ LỤC 4: Đề, đáp án và bài làm của học sinh lần 3.

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×