Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp giúp học sinh khối 5, trường tiểu học ninh lộc học tốt quy trình vẽ biểu cảm

PHÒNG GDĐT NINH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG TIỂU HỌC NINH LỘC

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Kính gửi: Hội đồng Xét duyệt sáng kiến thị xã
BÁO CÁO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2018-2019
Đề tài
“Một số giải pháp giúp học sinh khối 5, trường Tiểu học Ninh Lộc học tốt
quy trình vẽ biểu cảm”
Người thực hiện: Trương Hưởng, sinh năm: 1978
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Ninh Lộc
Trình độc chuyên môn: Cao Đẳng sư phạm Mĩ thuật
Đề tài chuyên môn: Mĩ thuật
Thời gian thực hiện SKKN: tháng 9/2018 đến 5/2018
Đạt CSTĐCS từ năm:
A. ĐẶT VẤN ĐỀ

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hội họa có một vai trò quan trọng trong cuộc sống hướng con người đi tìm cái
đẹp.Từ lâu hội họa đã cuốn hút trẻ thơ với sức mạnh diệu kì của nó. Nhà điêu khắc nổi
tiếng người Pháp OWiter Rodanh đã nói:"Thế giới chỉ có được hạnh phúc khi mỗi
người có một tâm hồn nghệ sĩ ". Môn Mĩ thuật ở trường tiểu học trang bị cho học sinh
những kiến thức ban đầu, cơ bản nhất góp phần từng bước hình thành khả năng cảm
thụ cái đẹp,biết vận dụng cái đẹp vào cuộc sống sinh hoạt hàng ngày .
Môn Mĩ thuật là môn học nghệ thuật, thu hút rất nhiều học sinh. Cho đến nay các
trường đã có giáo viên dạy Mĩ thuật, phong trào học Mĩ thuật ngày càng sôi nổi, hầu
hết các em học sinh hào hứng. Tất cả mọi người đã hiểu được đây là một môn học
không thể thiếu trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy không ít giáo viên, học sinh và các
bậc phụ huynh luôn coi trọng và đầu tư cho môn học. Qua đó các em thấy rằng Mĩ
1


thuật là môn học bổ ích, lý thú và tươi vui, có tính giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ
cao và còn bổ trợ tích cực cho các môn học khác. Vì thế các em sẽ đón nhận tiết học
một cách nhiệt tình và hào hứng không còn là sự bắt buộc hay gò bó nữa.
Trong những năm 2002 - 2003 các địa phương trên toàn quốc nỗ lực tổ chức dạy
học với chương trình và sách giáo khoa mới, môn Mĩ thuật được giảng dạy chính thức
trong cả nước với quy định là môn học bắt buộc. Được sự quan tâm quản lý, chỉ đạo
của các cấp, công tác giảng dạy ở trường Tiểu học đang từng bước ổn định và phát
triển, chất lượng giáo viên cũng dần được nâng cao. Năm học 2014-2015, Bộ Giáo dục
và Đào tạo chỉ đạo triển khai phương pháp dạy - học Mĩ thuật mới sử dụng những quy
trình Mĩ thuật của SAEPS ở tất cả các trường Tiểu học trên toàn quốc, là sự đúc kết
những kinh nghiệm quý báu từ Vương quốc Đan Mạch và nền giáo dục nghệ thuật tiên
tiến trên thế giới. Những quy trình Mĩ thuật theo phương pháp mới của SAEPS đều
hướng tới mục tiêu lấy học sinh làm trung tâm; kích thích sự tương tác, tư duy sáng tạo
và phát triển nhận thức. Trong 7 quy trình Mĩ thuật thử nghiệm thì có một quy trình mà
tôi rất tâm đắc đó là quy trình thứ 2: Vẽ biểu cảm – là một quy trình đòi hỏi ở các em
khả năng quan sát, tư duy cao và cũng là mục tiêu để hình thành những kỹ năng cần
thiết cho các em.
Từ thực tế giảng dạy trong suốt những năm qua tôi nhận thấy rằng các em rất
hứng thú với cách học mới này đặc biệt là với quy trình vẽ biểu cảm. Tuy nhiên cũng
có nhiều vấn đề còn tồn tại trong quá trình thực hành của các em, sự thiếu tự tin,
không mạnh dạn, không thể hiện bản thân mình vì có thể các em chưa thật sự hiểu vấn
đề, lối vẽ chỉ quan sát mẫu mà không nhìn vào giấy, thoạt mới nghe qua có lẽ không
riêng gì ở học sinh mà người lớn còn thấy lạ, và cho rằng không nhìn giấy thì sao vẽ
được, và vẽ sẽ không ra gì, rất lộn xộn...Cho nên tôi luôn tìm cách làm sao để các em
đến với những bài học sử dụng qui trình vẽ biểu cảm một cách nhẹ nhàng, thoải mái tự
do thể hiện bản thân mình. Đó là lý do để tôi thực hiện đề tài “Một số giải pháp giúp
học sinh khối lớp 5, trường Tiểu học Ninh Lộc học tốt quy trình vẽ biểu cảm” theo
phương pháp Mĩ thuật mới (dự án do Đan Mạch hỗ trợ).
1. Mục đích đề tài:
Nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản của cái đẹp để các em tiếp xúc
và làm quen với cái đẹp, cảm thụ, yêu quý cái đẹp, biết vận dụng vào trong cuộc sống
2


hàng ngày. Hỗ trợ các em ở các môn học khác giúp các em phát triển toàn diện, lâu dài
về Đức - trí - thể - mĩ và các kỹ năng cơ bản góp phần hình thành con người Việt Nam
Xã hội chủ nghĩa.
a) Đối tượng nghiên cứu
Học sinh Khối 5, trường Tiểu học Ninh Lộc, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
b) Cơ sở nghiên cứu
Góp phần giúp học sinh có thói quen quan sát một cách tập trung và có tính sáng
tạo, bài vẽ sinh động hơn thì tôi đã nghiên cứu và giới thiệu những biện pháp tích cực
trong việc dạy học Mĩ thật. Thông qua các biện pháp này tôi có thể nâng cao kiến thức
của bản thân và ý thức được việc nghiên cứu, tìm tòi phương pháp giảng dạy là một
nhu cầu cũng như nhiệm vụ của mình.
c) Nhiệm vụ nghiên cứu
Đưa ra một số biện pháp để nhằm góp phần khắc phục khó khăn trong điều kiện
thực tế ở địa phương và vẽ hình tự tin, biết cách sử dụng màu phù hợp, bố cục hợp lý
nhằm nâng cao chất lượng dạy-học môn mĩ thuật ở tiểu học. Đồng thời, cho các em
thấy được cái hay, cái đẹp, ngộ nghĩnh, đáng yêu của quy trình vẽ biểu cảm.
2. Phương pháp
a) Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát, vấn đáp, trắc nghiệm, phân tích.
- Rèn kĩ năng vẽ hình, vẽ màu.
- Trò chơi học tập.
- Liên hệ với thực tiễn cuộc sống....
b) Giới hạn của đề tài
Chỉ nghiên cứu về rèn luyện kĩ năng vẽ hình tự tin, bố cục hợp lý tạo, màu sắc
phong phú tạo ra một bức tranh đẹp trong bài vẽ cho học sinh lớp 5, trường Tiểu học
Ninh Lộc, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
II. THỰC TRẠNG
1. Thuận lợi
3


a. Quan điểm nhận thức về môn Mĩ thuật:
- Bản thân là một giáo viên trẻ,được đào tạo chuyên về môn Mĩ thuật, được
tham gia các buổi tập huấn, tôi có nhiều điều kiện để tự học hỏi, tìm tòi và tiếp thu các
phương pháp hay và mới lạ từ bạn bè đồng nghiệp, cộng với sự gắn bó với các em học
sinh.
- Môn Mĩ thuật là môn học nghệ thuật vui tươi, nhẹ nhàng, thu hút rất nhiều học sinh.
- Cho đến nay các trường đã có giáo viên dạy Mĩ thuật, phong trào học Mĩ
thuật ngày càng một sôi nổi, hầu hết các em học sinh hào hứng với môn học và môn
học đã được chú ý. Tất cả mọi người đã hiểu được đây là một môn học nghệ thuật sáng
tạo, vì vậy không ít giáo viên và học sinh, các bậc phụ huynh luôn coi trọng và đầu tư
cho môn học. Qua đó các em thấy rằng Mĩ thuật là môn học bổ ích, lý thú và tươi vui,
có tính giáo dục đạo đức, thẩm mĩ cao và là môn học bổ trợ tích cực cho các môn học
khác.Vì thế các em đón nhận tiết học một cách nhiệt tình và hào hứng.
b.Trang thiết bị dạy học:
- Để giảng dạy môn mĩ thuật trong chương trình đào tạo được thành công, điều này
phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như : tài liệu, phương tiện, đồ dùng trực quan,
....Được sự đồng ý của Ban giám hiệu, giáo viên đã chuẩn bị các dụng cụ hỗ trợ một
phần đồ dùng học tập của học sinh như: giấy vẽ, máy phát nhạc, sách tham khảo, một
số tranh ảnh có liên quan đến bài học, ...
2. Khó khăn:
a, Về nhận thức:
- Bên cạnh những thuận lợi như trên thì dạy và học môm Mĩ thuật vẫn còn gặp
phải một số khó khăn như:
+ Chương trình dạy học Mĩ Thuật theo phương pháp Đan Mạch mới áp dụng nên
các em còn lúng túng trong cách phân chia nhóm, cách quản lý nhóm của nhóm trưởng
còn rụt rè...
+ Không chỉ học sinh mà giáo viên cũng còn bỡ ngỡ, chưa nắm chắc được các kiến
thức trong 7 quy trình.

4


+ Do quan niệm của một số bậc phụ huynh, thiếu sự quan tâm học tập cho học
sinh, còn chưa coi trọng môn học Mĩ thuật ... Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng học tập của giáo viên và học sinh gây cho học sinh cảm giác chán nản, không tự
tin khi học bài. Trên thực tế điều tra tôi còn thấy có giáo viên giảng dạy bộ môn về
phương pháp sư phạm còn hạn chế, lời nói còn chưa hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, trình
bày bảng còn vụng về, lúng túng không khoa học,... dẫn đến học sinh không lắng nghe,
không tập trung tìm hiểu bài còn mơ hồ, không nắm được mục tiêu của bài học. Điều
đó khiến cho các em không thích thú với bài học, thể hiện tác phẩm của mình qua loa,
đại khái, vì thế không thấy được cái hay, cái đẹp và vận dụng vào cuộc sống hàng
ngày.
b. Trang thiết bị dạy, học:
- Bên cạnh đó còn một số học sinh tỏ thái độ thờ ơ với môn học vì thực tế không
những em có hoàn cảnh còn khó khăn không chuẩn bị đủ đồ dùng học tập để phục
vụ cho tiết học mà những em gia đình có điều kiện cũng không chuẩn bị đủ đồ dùng
học tập cho các em, ví dụ: giấy A4, A3… Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần
học tập của các em.
- Ngoài ra điều kiện nhà trường còn thiếu thốn như : chưa đầu tư về công nghệ
thông tin, phòng học chức năng, chương trình dạy học mới chưa có đồ dùng dạy học
đáp ứng đầy đủ cho giáo viên và học sinh, ... vì thế ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập
và giảng dạy của giáo viên và học sinh.
Vì vậy, là một giáo viên luôn tâm huyết với nghề tôi luôn tự học hỏi, tìm tòi, cố
gắng nỗ lực hết mình để làm sao mang lại hiệu quả tốt nhất cho các em khi học bộ
môn Mĩ thuật.
Thói quen theo cách học vẽ từ trước nên khi áp dụng phương pháp học mới các em
còn nhiều bỡ ngỡ. Vì thế trong quá trình giảng dạy, tôi luôn phải cố gắng chuẩn bị tốt
các khâu để kích thích động viên học sinh thường xuyên, kịp thời để các em cảm thụ
hình ảnh, phát huy tối đa năng khiếu của mình.
Không chỉ với các em mà với bản thân tôi cũng thế khi tiếp cận và thực hiện cách
học mới mà ở đây là cách vẽ biểu cảm tôi cũng còn nhiều vấn đề đặt ra, nên trong suốt
quá trình dạy tôi luôn tìm tòi cùng các em khám phá, mạnh dạn thể hiện thì kết quả sẽ
được như ý.
5


B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Nghị quyết số 29 – NQ/TW của ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa .
Tiếp tục khẳng định đổi mới phương pháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các
phương pháp tiên tiến và phát triển hiện đại vào quá trình dạy học.
Bộ môn Mĩ thuật ở trường Tiểu học là một trong những môn học đặc trưng,
không nhằm đào tạo hoạ sĩ tương lai hay tạo ra những người chuyên làm về công tác
Mĩ thuật mà nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản của cái đẹp để các em
tiếp xúc và làm quen với cái đẹp, cảm thụ, yêu quý cái đẹp, biết vận dụng vào trong
cuộc sống hàng ngày. Hỗ trợ các em ở các môn học khác giúp các em phát triển toàn
diện, lâu dài về Đức - trí - thể - mĩ và các kỹ năng cơ bản góp phần hình thành con
người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.
Trong xã hội phát triển nhu cầu thẩm mĩ ngày càng cao, do vậy việc đào tạo con
người biết nhận thức, cảm thụ cái đẹp ngày càng quan trọng. Những năm qua giáo dục
thẩm mĩ đã trở thành môn học trong chương trình giáo dục phổ thông, là một môn học
độc lập, môn Mĩ thuật có mục tiêu chương trình sách giáo khoa, sách hướng dẫn, thiết
bị riêng cho dạy và học, giáo viên được đào tạo bài bản hơn, kết quả học tập của học
sinh được theo dõi và kiểm tra, đánh giá thường xuyên một cách nghiêm túc. Việc
giảng dạy môn Mĩ thuật tiểu học nhằm đảm bảo cho các em có thể giải quyết được các
bài tập hàng ngày và hiểu về cái đẹp của nền mĩ thuật truyền thống, ngoài ra nó còn
tạo điều kiện cho học sinh học có hiệu quả cao hơn các môn học khác.

II. CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Quy trình vẽ biểu cảm là một trong bảy quy trình mĩ thuật thử nghiệm của dự án
SAEPS. Đó là vẽ hình ảnh bằng sự quan sát kết hợp tay và mắt mà không nhìn vào
giấy hướng tới hình vẽ mang tính biểu đạt cao. Những bức vẽ sẽ rất ấn tượng và đôi
khi rất hài hước.

6


Căn cứ vào mục tiêu giáo dục đã đề ra cho bậc tiểu học, xác định rõ vai trò và
mục tiêu giáo dục của bộ môn cũng thông qua thực tế giảng dạy áp dụng phương pháp
mới giúp học sinh thực hiện tốt quy trình vẽ biểu cảm trong bộ môn Mĩ thuật tôi rút ra
một số kinh nghiệm như sau:
* Giải pháp 1: Khơi gợi lòng ham thích bộ môn Mĩ thuật, thay đổi suy nghĩ về
cách học cho học sinh.
Từ thực tế giảng dạy ở giai đoạn đầu, phần đông học sinh yêu thích môn học,
được vẽ tự do, sáng tạo theo cảm xúc của mình. Tuy nhiên vẫn có một số em rất thờ ơ,
thậm chí chán nản mỗi khi đến giờ học, điều này khiến cho tiết học trở nên nặng nề,
không hứng thú. Vì vậy việc khắc phục tâm lý cho học sinh quả là khó khăn và hết sức
cần thiết. Dựa vào tâm lý của học sinh là thích khen ngợi, động viên và hay tò mò nên
trước thời gian thực hành, tôi giới thiệu cho các em một số tác phẩm vẽ tiêu biểu của
những hoạ sĩ nhí, của các bạn, những bức tranh dân gian Đông Hồ hết sức biểu cảm để
các em xem và tự học tập theo cách vẽ, cách thể hiện tranh.
Phân tích cho các em thấy được cái hay, cái đẹp, ngộ nghĩnh, đáng yêu của quy
trình vẽ biểu cảm được thể hiện qua các tác phẩm, đó là sự tự do suy nghĩ kết hợp các
giác quan, đó là sự trải nghiệm bản thân mình chứ không cóa khái niệm đúng hay sai,
đẹp hay xấu, khơi gợi lòng ham thích bộ môn Mĩ thuật ,động viên các em ai cũng có
thể vẽ, có thể bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của mình qua bài vẽ đường nét và cả màu sắc.
Bên cạnh các bức vẽ biểu cảm thì giáo viên sẽ cho các em quan sát các bức vẽ chân
dung theo cách vẽ truyền thống để các em có thể so sánh đường nét và màu sắc có sự
khác biệt rõ ràng, bản chất của các em là con nít ưa màu sắc thích vui tươi, hài hước
nên khi nhìn thấy hai bức vẽ chắc chắn các em sẽ thích vẽ biểu cảm ngay và muốn vẽ
liền. Tuy nhiên để các em chắc chắn có thể vẽ được thì cần phải quan sát thật kỹ và
quan sát như thế nào thì ở hoạt động tiếp theo các em sẽ nắm được.
Ví dụ :
Giáo viên giới thiệu những bài vẽ có đường nét ngộ nghĩnh, đáng yêu, tính biểu cảm
nổi bật và bài vẽ chân dung theo truyền thống (nhìn giấy vẽ )
Phụ lục 1 : Tranh vẽ biểu cảm

7


Phụ lục 2: Tranh vẽ truyền thống
Việc quan trọng yêu cầu của mỗi tiết học là giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ đồ
dùng trực quan, trực quan phải đẹp, hấp dẫn, đặc biệt không quá trừu tượng để học
sinh quan sát, để học sinh cảm nhận được cái đẹp, ngộ nghĩnh của quy trình vẽ biểu
cảm và có hứng thú với bài học, muốn được thể hiện.
Trong mỗi tiết học, giáo viên cần lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy học
phù hợp để luôn luôn tạo được không khí học tập vui vẻ, nhẹ nhàng, hấp dẫn, lôi cuốn
học sinh, tránh giờ học tẻ nhạt, khô cứng.
Giáo dục Mĩ thuật kích thích mọi giác quan và kết hợp nhiều trải nghiệm của học
sinh. Những trải nghiệm này chính là các yếu tố khởi đầu trong các quy trình dạy và
học Mĩ thuật. Hình thức giao tiếp thông qua hình ảnh sẽ giúp học sinh mở rộng vốn
ngôn ngữ của mình, đúng như câu ngạn ngữ Trung hoa:
“ Nghe rồi sẽ quên,
Nhìn rồi sẽ nhớ,
Chỉ có tự làm mới hiểu ”.
Hiểu về tâm lý và động viên, khuyến khích học sinh cố gắng trong học tập.
Không áp đặt đòi hỏi quá cao đối với học sinh. Nên lấy động viên, khích lệ là chính,
cố gắng tìm những ưu điểm dù là nhỏ nhất ở từng học sinh để kịp thời động viên, khen
ngợi.
Giáo viên cần phải hiểu được đặc điểm tâm lý của trẻ, hiểu biết được mức độ
cảm nhận của học sinh về thế giới xung quanh thông qua các bài học, luôn tôn trọng
gần gũi học sinh, có tính kiên trì trong công tác giảng dạy, khéo léo động viên kịp thời
đối với các em. Đặc biệt không nên chê các em trước mặt các bạn khác trong lớp điều
đó sẽ làm cho các em thấy thiếu tự tin và không muốn làm để không bị chê.
* Giải pháp 2: Hình thành cho học sinh thói quen quan sát để từ đó áp dụng
vào vẽ biểu cảm có hiệu quả.
Tôi nhận thấy rằng để sử dụng phương pháp này thực sự có hiệu quả thì các em
phải luôn có thói quen quan sát một cách tập trung và có tính sáng tạo, hình dung được
các nét tự nhiên của vẽ biểu cảm. Ở đây, học sinh cần quan sát thật tập trung, khi vẽ
chủ yếu sử dụng sự kết hợp mắt và tay. Các em cố gắng không nhìn vào giấy. Giáo
8


viên chia sẻ ngay từ đầu với học sinh rằng, mục đích không phải vẽ cho giống y mẫu,
mà chúng ta quan sát để ghi nhớ mẫu và truyền cảm xúc qua tay, thể hiện lên giấy, tạo
ra bức vẽ ấn tượng và hài hước, có tính mới lạ và điều mà các em không làm được nếu
vẽ nhìn giấy, đôi khi lại kích thích cho sự tò mò của các em.
Ví dụ1: Bài vẽ chân dung biểu cảm
Trước khi bắt đầu vẽ biểu cảm, tôi sẽ cho vài học sinh nhận xét về một số nét biểu
cảm trên gương mặt của bạn mình như là: buồn, vui, ngạc nhiên, lo lắng ..
Mỗi trạng thái cảm xúc đều cho các em tự phát hiện bằng nhưng câu hỏi cụ thể,
Nhìn gương mặt em thấy bạn có tâm trạng gì? Tâm trạng đó thể hiện rõ trên bộ phận
nào?khi thay đổi cảm xúc thì hình dạng của các bộ phận trên mặt ra sao?...
Giáo viên chú ý giúp các em nhất là các em học yếu thiếu tự tin thì các em có thể quan
sát nhiều lần, sau quan sát bằng mắt thì nhắm mắt lại hình dung ra khuôn mặt bạn, và
quên thì lại quan sát cứ như thế nhiều lần thì các đường nét sẽ có thể tự tin hơn
Phụ lục 3: Biểu cảm trên gương mặt : vui, giận, buồn
Ví dụ 2 : Trong bài vẽ tĩnh vật lọ và quả:
Giáo viên hướng dẫn học sinh cách quan sát các vật mẫu như thế nào để giúp các em
có thể ghi nhớ trong đầu mình những hình ảnh chính của lọ hoa và quả. Học sinh vẽ
tập trung trong vòng 10 - 15 phút. Mắt của các em nhìn tới đâu thì tay cầm bút vẽ trên
giấy theo các bộ phận mắt quan sát. Các em cố gắng không nhìn vào giấy và đưa nét
vẽ liền mạch khi vẽ. Học sinh rất thích thú với hoạt động này và tham gia một cách
hăng say.
Trong không khí làm việc tập trung và đầy háo hức, các em đã thể hiện hết khả năng
quan sát và trí tưởng tượng phong phú của mình, cùng với sự hỗ trợ kịp thời của cô
giáo khi các em gặp khó khăn.
* Giải pháp 3 : Tổ chức các hoạt động học tập một cách hiệu quả.
Chuẩn bị cho tiết dạy: Xác định rõ mục tiêu bài học, soạn giáo án kỹ lưỡng cho
từng hoạt động, đảm bảo tất cả các học sinh đều hứng thú tham gia các hoạt động học
tập.

9


Giáo viên trực tiếp thao tác vẽ lên bảng cho cả lớp cùng quan sát, nắm được các
bước thực hiện một cách cụ thể nhất.
Để học sinh hiểu được thế nào là vẽ biểu cảm, đòi hỏi người giáo viên phải thực
hành thị phạm cho học sinh quan sát. Trong tiết dạy tôi thường kết hợp vừa vẽ vừa
hướng dẫn cho các em hiểu, chỉ cho các em biết cách đặt bút vẽ ở đâu, bắt đầu quan
sát và vẽ như thế nào, đặt ra những câu hỏi gợi mở hướng các em tự suy nghĩ, tìm ra
cách giải quyết vấn đề.
Ví dụ : Bài vẽ chân dung
Trước khi vẽ lên bảng cho học sinh quan sát tôi sẽ gọi một học sinh lên làm mẫu,
hướng dẫn cho các em biết tôi sẽ quan sát bạn như thế nào, mặt bạn có hình dáng ra
sao, tóc dài hay ngắn, những bộ phận trên khuôn mặt bạn nằm ở vị trí nào trên khuôn
mặt…Tiếp đó tôi sẽ hướng dẫn các em nên đặt bút ở đâu trong khung giấy, tập trung
sự chú ý của các em khi quan sát giáo viên thị phạm, mắt nhìn đến đâu tay vẽ đến đó,
lưu ý là nét vẽ liền mạch.
Phụ lục 4:
Hình a: Giáo viên thị phạm

Hình b: Vẽ nét liền mạch

Tiếp theo đó đặt câu hỏi gợi mở, để học sinh biết cách vẽ thêm nét làm cho hình vẽ
trở nên sinh động, và bộc lộ rõ tình cảm như: “ Em đoán xem nhân vật trong hình vui
hay buồn? Làm sao để thể hiện rõ cảm xúc của nhân vật..”
sinh cách vẽ màu chú trọng đến những mảng màu tương phản,

Hướng dẫn học
cường điệu về đường

nét có tính chuyển động (nhiều nét cong lượn). Vui dùng màu gì và buồn dùng màu gì
cho phù hợp.
Để tiết kiệm giấy vẽ, tận dụng những đồ dùng có sẵn trong điều kiện học sinh của
trường còn nhiều khó khăn, do đó việc chuẩn bị đồ dùng của các em đôi khi còn chưa
đầy đủ, nếu thực hiện theo đúng hướng dẫn, mỗi tiết học vẽ biểu cảm mỗi học sinh cần
dùng 5 tờ giấy để trải nghiệm vẽ không nhìn giấy sẽ gặp không ít khó khăn, để khắc
phục điều đó tôi thường cho học sinh tận dụng vẽ trên bảng con dùng phấn vẽ hoặc vẽ
trên giấy lịch cũ, vẽ lần lượt nhiều hình.
Phụ lục 5: Học sinh vẽ bảng con

10


Như vậy các em vừa trải nghiệm được hoạt động, vừa tiết kiệm được giấy vẽ, luôn
chú ý có những câu hỏi cho các lần vẽ để các em thấy được quá trình thực hành, luyện
tập thường xuyên sẽ cho ta kết quả tốt hơn.
Câu hỏi mấu chốt: ( lần vẽ 1)


Đường nét nào mà em nhận thấy trên khuôn mặt ?



Nơi các đường nét của cổ và mặt gặp nhau ?



Có bao nhiêu đường nhận thấy trên mái tóc ?



Cổ tiếp nối với ngực và vai ở điểm nào ?



Đường nét nào nhận thấy ở áo quanh cổ và hai vai ?
Câu hỏi mấu chốt: ( lần vẽ 2)



Bức tranh nào thực sự giống người em vẽ ?



Bức tranh nào đẹp, tại sao ?



Bức tranh lần 2 có đẹp hơn lần 1 ? Tại sao ?



Cảm xúc bao trùm bức tranh ?



Cảm xúc cá nhân ? Tại sao nhận ra điều đó ?



Bạn có thích cách vẽ này không, tại sao ?

Sau đó các em có thể tự tin mà thể hiện thành một bài vẽ mà các em cho là tốt
nhất . Tùy điều kiện thực tế mà giáo viên yêu cầu học sinh thể hiện màu sắc, chất
liệu phù hợp để vẽ nhằm tăng tính biểu cảm. Với đặc thù trường tiểu học Nhơn Hội thì
đa số các em học sáp màu, sáp dầu, rất ít dùng màu nước. Nên tôi đã khuyến khích để
các em mạnh dạn sử dụng màu nước nhằm phát huy năng khiếu kịp thời cho ra những
tác phẩm hóm hỉnh, trong trẻo, lạ mắt. Ở bước này giáo viên cần quan sát theo dõi mỗi
bàn, gợi ý kịp thời để học sinh tạo ra được nhiều tác phẩm vui mắt, độc và lạ.
Bên cạnh đó việc tô màu cho tranh chân dung biểu cảm thì các em còn có thể
sáng tạo thêm ra kết hợp với giấy màu hay các vật liệu khác sao cho phù hợp.như giấy
11


màu, sợi len, vãi..kích thích tự tìm tòi khám phá cho các em. Nét vẽ biểu cảm với màu
sắc tự nhiên sẽ làm cho bài học thêm thú vị hơn.
Phụ lục 6: Học sinh vẽ màu và kết hợp sáng tạo vật liệu khác
*Giải pháp 4: Tổ chức hoạt động trưng bày, nhận xét bài vẽ của học sinh sao
cho thật lôi cuốn.
Giáo viên nên sử dụng kĩ thuật phòng tranh để học sinh trưng bày sản phẩm, điều
này sẽ giúp học sinh có thêm kinh nghiệm thực tế và hứng thú, yêu thích tác phẩm của
mình và học hỏi từ sản phẩm của bạn. Học sinh thưởng thức, thảo luận và nhận xét,
đánh giá kết quả học tập của nhau, trong quá trình nhận xét đánh giá, giáo viên khuyến
khích sự giao lưu, trao đổi và gợi mở những ý tưởng tiếp theo cho bài học sau của học
sinh.
Giáo viên có thể hướng dẫn làm khung tranh để học sinh trang trí, tạo thành bức
tranh đẹp để tặng bạn bè, người thân, trưng bày góc học tập,…
Ví dụ: Trưng bày kết quả học tập vẽ chân dung biểu cảm
Sau khi giáo viên cho học sinh trưng bày sản phẩm lên bảng, cho 2 học sinh đóng
vai phóng viên, tổ chức cuộc phỏng vấn buổi triển lãm.
Như vậy học sinh sẽ được thoải mái hỏi – đáp về những “ tác phẩm” của các bạn
Phụ lục 7: Học sinh trưng bày sản phẩm
Tiếp đó giáo viên tổ chức bình chọn những tác phẩm được thể hiện có cảm xúc,
đường nét, màu sắc ấn tượng thể hiện được đặc điểm nổi bậc nhất của nhân vật ….
Phụ lục 8: Tổ chức bình chọn tác phẩm
III. HIỆU QUẢ
Qua thời gian giảng dạy được áp dụng những phương pháp mới trong soạn và
giảng, với sáng tạo của thầy và họat động tích cực của học sinh cùng với một số
phương pháp tổ chức hợp lý, bản thân tôi nhận thấy kết quả đạt được một cách rất tích
cực với tỷ lệ học sinh yêu thích môn học Mĩ thuật, tự tin thể hiện, bộc lộ được cảm
xúc qua tranh vẽ, hoàn thành được bài vẽ ngay tại lớp, thúc đẩy hứng thú học tập đạt
những yêu cầu cụ thể là rất khả quan, điều đó chứng tỏ thành tích đạt được qua trải

12


nghiệm hoàn toàn có sức thuyết phục. Những con số biểu hiện trong bảng thống kê
dưới đây đã nói rất rõ điều đó:
Phụ lục 8: Bảng so sánh kết quả khảo sát về mức độ hoàn thành bài vẽ biểu cảm
thời điểm đầu năm học
Phụ lục 9: Kết quả học kì I năm học 2018- 2019
Phụ lục 10: Bảng so sánh kết quả khảo sát về mức độ hoàn thành bài vẽ biểu cảm
thời điểm đầu năm học và cuối học kì II
BẢNG SO SÁNH KẾT QUẢ KHẢO SÁT
VỀ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH BÀI VẼ BIỂU CẢM
THỜI ĐIỂM ĐẦU NĂM HỌC VÀ CUỐI HKII
NĂM HỌC : 2018– 2019

Lớp

Sĩ số

ĐẦU NĂM HỌC

CUỐI HKII

Hoàn

Tỉ lệ

Hoàn

Tỉ lệ

Hoàn

Tỉ lệ

Hoàn

Tỉ lệ

thành tốt

%

thành

%

thành

%

thành

%

tốt
5A

23

5

21,7

18

78,3

12

52,8

11

47,2

5B

29

8

27,6

21

72,4

14

48,8

15

51,2

5C

29

10

34,5

20

65,5

15

51,7

14

48,3

5D

11

3

27,3

8

72,7

6

54,4

5

45,6

5E

25

6

24

19

76

10

40

15

60

Với kết quả như trên, tôi thấy việc dạy học Mĩ thuật muốn có kết quả giảng dạy
cao thì người thầy phải không ngừng tìm tòi và đổi mới phương pháp dạy học, để tạo
được cách dạy lấy học sinh làm trung tâm cho bài dạy, giáo viên chỉ đóng vai trò là
những người thúc đẩy, biết cần phải thêm chất xúc tác gì vào nước tưới để giúp những
cây non đó phát triển. Thông qua môn Mĩ thuật, sẽ trang bị cho các em một số kiến
thức, kỹ năng cơ bản về hội họa, tiếp thu những tinh hoa của nền Mĩ thuật dân tộc. Từ
đó, phát huy óc sáng tạo và tính thẩm mỹ góp phần phát triển năng khiếu, phát hiện tài
năng và bồi dưỡng nhân tài cho thế hệ tương lai.
13


Với kết quả này, mỗi chúng ta cũng không lấy đó làm bằng lòng để rồi dừng ở
đó. Theo tôi đã là giáo viên thì việc học hỏi, tìm tòi và sáng tạo trong cách dạy là một
nhiệm vụ mỗi ngày của người thầy, hoạt động đó phải được diễn ra thường xuyên có
như vậy mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao đối với môn Mĩ thuật và đặc biệt có
thể tạo điều kiện cho học sinh vững vàng bước vào chương trình Mĩ thuật ở bậc Trung
học cơ sở.
Sau khi áp dụng các giải pháp trên vào thực tế giảng dạy. Kết quả thu được thật
đáng khích lệ, không còn học sinh xếp loại chưa hoàn thành nữa, mà
tỷ lệ ở mức hoàn thành và hoàn thành tốt rất cao. Đạt 100% vượt chỉ tiêu nhà trường
giao .
Ngoài những kết quả trên, điều làm tôi cảm thấy thành công nhất là sự hứng thú
học tập, sự tích cực khi tham gia các hoạt động và nụ cười rạng rỡ của các em khi hoàn
thành sản phẩm.

C. KẾT LUẬN
Mĩ thuật là môn học nghệ thuật, kết quả của nó là kết quả của cảm xúc, chứ không đơn
giản là kỹ thuật hay kỹ năng. Muốn tạo ra cái đẹp, học sinh phải có cảm xúc, cảm xúc
phải xuất phát từ sự rung động của học sinh trước vẻ đẹp của đối tượng cùng với
phương pháp giảng dạy hấp dẫn, lôi cuốn của giáo viên. Cái đẹp phù hợp với cách
nhìn, cách nghĩ, cách cảm nhận của mỗi học sinh. Trẻ em có cách nhìn, cách nghĩ,
cách cảm nhận riêng, không giống cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm nhận của người lớn.
Qua quá trình áp dụng phương pháp dạy học Mĩ thuật mới, tôi nhận thấy cái
hay của phương pháp này là đặt người học vào vị trí chủ động phải tìm hiểu vấn đề và
tìm ra cách giải quyết hiệu quả, sáng tạo nhất. Việc đánh giá học sinh cũng không còn
bị đặt quá nặng vào sản phẩm của các em mà nó được đánh giá dựa trên cả quá trình
mà các em tham gia.
Đây là một chương trình giáo dục Mĩ thuật Tiểu học năng động, phát huy, rèn
luyện được nhiều kỹ năng cho học sinh, đặc biệt là kỹ năng sống. Giáo viên cần cho
học sinh mang sản phẩm về nhà để trưng bày thành góc Mĩ thuật ở gia đình, nhà

14


trường có thể tổ chức triển lãm, trưng bày sản phẩm của học sinh vào các ngày sinh
hoạt tập thể.

I. PHẠM VI ỨNG DỤNG
Học sinh khối 5, trường Tiểu học Ninh Lộc.
II. Ý NGHĨA
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục toàn diện cho đất nước, từ nhiệm vụ phải giáo dục
thẩm mĩ cho thế hệ trẻ để xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, việc giảng dạy Mĩ thuật nhằm mục tiêu giáo dục con người có một tầm quan
trọng trong các trường phổ thông nói chung và cấp Tiểu học nói riêng.
Phụ lục 11: Kế hoạch bài dạy minh họa theo quy trình vẽ biểu cảm lớp 5
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Phương pháp giảng dạy Mĩ thuật (Nhà xuất bản Giáo dục )
- Sách Dạy Mĩ thuật lớp 5 ( Bộ giáo dục và đào tạo )
- Tài liệu dạy học mĩ thuật ( Dự án hỗ trợ giáo dục mĩ thuật Tiểu học Saeps )
- Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học ( Bộ giáo
dục và đào tạo )
Ninh Lộc, ngày 10 tháng 5 năm 2019
HIỆU TRƯỞNG

Người viết

Trương Hưởng

15


PHỤ LỤC
Phụ lục 1 : Tranh vẽ biểu cảm

Phụ lục 2: Tranh vẽ truyền thống

16


Phụ lục 3: Biểu cảm trên gương mặt : vui, giận, buồn

17


Phụ lục 4:
Hình a: Giáo viên thị phạm

Hình b: Vẽ nét liền mạch

Hình a

Hình b

Phụ lục 5: Học sinh vẽ bảng con

18


Phụ lục 6: Học sinh vẽ màu và kết hợp sáng tạo vật liệu khác

Phụ lục 7: Học sinh trưng bày sản phẩm

19


Phụ lục 8: Tổ chức bình chọn tác phẩm

20


21


Phụ lục 8: Bảng so sánh kết quả khảo sát về mức độ hoàn thành bài vẽ biểu cảm
thời điểm đầu năm học
BẢNG SO SÁNH KẾT QUẢ KHẢO SÁT
VỀ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH BÀI VẼ BIỂU CẢM
THỜI ĐIỂM ĐẦU NĂM HỌC
NĂM HỌC : 2018 – 2019
(Khi chưa áp dụng phương pháp Đan Mạch)
Lớp Tổng Tự tin thể hiện,
số

thể hiện được

học

cảm xúc.

sinh

SL

Vẽ rập khuôn,
thiếu tự tin

Hoàn thành

Chưa hoàn

bài tại lớp

thành bài tại
lớp

%

SL

%

SL

%

SL

%

5A

23

5

21,2

11

47,8

17

73,9

6

26.1

5B

29

8

27,6

13

44,8

21

72,4

8

27,6

5C

29

10

34,5

9

31

22

75,8

7

24,2

5D

11

3

27,3

5

45,5

7

63,6

4

36,4

5E

25

6

24

8

32

18

72

7

28

Phụ lục 9: Kết quả học kì I năm học 2018- 2019
* KẾT QUẢ HỌC KÌ I NĂM HỌC 2018 - 2019
(Sau khi đã áp dụng phương pháp mĩ thuật Đan Mạch)

Lớp Tổng Tự tin thể hiện,
số

thể hiện được

học

cảm xúc.

sinh

SL

Vẽ rập khuôn,
thiếu tự tin

Hoàn thành

Chưa hoàn

bài tại lớp

thành bài tại
lớp

%

SL

%

SL

%

SL

%

5A

23

18

78,3

5

21,7

23

100

0

0

5B

29

22

75,7

7

24,3

29

100

0

0

5C

29

23

79,3

6

20,7

29

100

0

0

5D

11

7

63,6

5

36,4

11

100

0

0

22


5E

25

19

76

6

24

25

100

0

0

Phụ lục 10: Bảng so sánh kết quả khảo sát về mức độ hoàn thành bài vẽ biểu cảm
thời điểm đầu năm học và cuối học kì II
BẢNG SO SÁNH KẾT QUẢ KHẢO SÁT
VỀ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH BÀI VẼ BIỂU CẢM
THỜI ĐIỂM ĐẦU NĂM HỌC VÀ CUỐI HKII
NĂM HỌC : 2018– 2019

Lớp

Sĩ số

ĐẦU NĂM HỌC

CUỐI HKII

Hoàn

Tỉ lệ

Hoàn

Tỉ lệ

Hoàn

Tỉ lệ

Hoàn

Tỉ lệ

thành tốt

%

thành

%

thành

%

thành

%

tốt
5A

23

5

21,7

18

78,3

12

52,8

11

47,2

5B

29

8

27,6

21

72,4

14

48,8

15

51,2

5C

29

10

34,5

20

65,5

15

51,7

14

48,3

5D

11

3

27,3

8

72,7

6

54,4

5

45,6

5E

25

6

24

19

76

10

40

15

60

Phụ lục 11: Kế hoạch bài dạy minh họa theo quy trình vẽ biểu cảm lớp 5


Kế hoạch bài dạy hoàn chỉnh :

__TUẦN 1__
Ngày soạn: ..................
Ngày dạy: ...................

CHỦ ĐỀ 1 (2 tiết)
CHÂN DUNG TỰ HỌA
(Tiết 1)

I. MỤC TIÊU:
23


- Kiến thức: HS nhận ra đặc điểm riêng, sự cân đối của các bộ phận trên khuôn mặt.
- Kĩ năng: HS thể hiện được tranh chân dung tự họa bằng nhiều hình thức và các
chất liệu khác nhau.
II. CHUẨN BỊ:
1. Đồ dùng:
* Giáo viên:
- Sách học MT lớp 5, tranh chân dung phù hợp nội dung chủ đề.
- Sản phẩm của HS về tranh chân dung tự họa.
* Học sinh:
- Sách học MT lớp 5.
- Màu, giấy, keo, bìa gương, ảnh chân dung, vải, sợi len, hoa, lá...
2. Quy trình thực hiện:
- Sử dụng quy trình: Vẽ biểu cảm.
3. Hình thức tổ chức:
- Hoạt động cá nhân.
- Hoạt động nhóm.
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY-HỌC:

Hoạt động của GV

Hoạt động của HS

1. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG:
- Tổ chức cho HS chơi trò chơi: Đoán tâm trạng

- HS chơi theo hướng dẫn của GV

qua biểu hiện trên khuôn mặt.
- GV nhận xét, giới thiệu chủ đề.

- Lắng nghe, mở bài học

2. HOẠT ĐỘNG 1: TÌM HIỂU
* Mục tiêu:
+ HS hiểu được khái niệm tranh chân dung tự họa

- Hiểu khái niệm tranh chân dung tự họa

là gì và biết được các bộ phận trên khuôn mặt con

và biết được các bộ phận trên khuôn mặt

người.
24


+ HS nắm được nội dung, màu sắc, chất liệu có thể con người.
thực hiện bức tranh chân dung tự họa.

- Nắm được nội dung, màu sắc, chất liệu
có thể thực hiện bức tranh chân dung tự

+ HS tập trung, nắm bắt được kiến thức cần đạt

họa

trong hoạt động này.

- Tập trung, ghi nhớ kiến thức của hoạt

* Tiến trình của hoạt động:

động.

- Tổ chức HS hoạt động theo nhóm.
- Yêu cầu HS quan sát hình 1.1 sách Học MT để

- Hoạt động nhóm

tìm hiểu về tranh chân dung tự họa và cách vẽ

- Quan sát, thảo luận nhóm, báo cáo kết

tranh chân dung tự họa qua các câu hỏi gợi mở.

quả thảo luận của nhóm mình.

- GV tóm tắt:
+ Tranh chân dung tự họa có thể được vẽ theo
quan sát qua gương mặt hoặc vẽ theo trí nhớ nhằm - Ghi nhớ
thể hiện đặc điểm của khuôn mặt và biểu đạt cảm
- Lắng nghe, tiếp thu
xúc của người vẽ.
+ Khuôn mặt người bao gồm các bộ phận: Mắt,
mũi, miệng, tai nằm đối xứng với nhau qua trục
dọc chính giữa khuôn mặt.
+ Tranh chân dung tự họa có thể vẽ khuôn mặt, - Tiếp thu
nửa người hoặc cả người và thể hiện bằng nhiều
hình thức, chất liệu.
+ Tranh chân dung tự họa có bố cục cân đối, màu
sắc hài hòa, kết hợp đậm nhạt để biểu đạt được
cảm xúc của nhân vật.

- Có thể vẽ màu, xé cắt dán bằng giấy
màu, vải, đất nặn...

3. HOẠT ĐỘNG 2: CÁCH THỰC HIỆN
- Tiếp thu

* Mục tiêu:
+ HS tìm hiểu, nêu được cách vẽ chân dung tự họa
theo ý hiểu của mình.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×