Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu sản xuất và cung ứng than hữu cơ từ phế phẩm trong nông nghiệp tại Thái Bình (than củi trấu)

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI BÌNH
----------- o0o -----------

ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài: Nghiên cứu sản xuất và cung ứng than hữu cơ
từ phế phẩm trong nông nghiệp tại Thái Bình (than củi trấu)
Địa chỉ: xóm 1 - Thôn Thượng - xã An Tràng - huyện Quỳnh Phụ
tỉnh Thái Bình.

Sinh viên thực hiện

: Phạm Thị Dịu

Giao viên hướng dẫn

: TS. Viên Thị An

Thái Bình, tháng 5 năm 2015
1



PHẦN I- LỜI NÓI ĐẦU
1 - Tính cấp thiết hình thành đề án.
Trong vòng 200 năm trở lại đây, đặc biệt là trong mấy chục năm qua, quá trình
phát triển công nghiệp hoá đã làm gia tăng lượng khí thải nhà kính vào bầu khí quyển. Hệ quả
là khí hậu bị biến đổi, nhiệt độ bề mặt Trái đất tăng lên, nước biển dâng, kéo theo các sự kiện
thời tiết cực đoan. Bên cạnh đó, Các nguồn tài nguyên có hạn (than đá, dầu DO; FO, …) ngày
càng cạn kiệt làm cho việc khai thác ngày càng khó khăn. dẫn đến làm cho giá thành các
nguồn nhiên liêu tăng ngày càng cao. Giá thành sản xuất chung của các ngành cũng tăng
theo… Đứng trước tình trạng đó thế giới nói chung và Việt nam nói riêng cần tìm ra giải pháp
cũng như nguồn nhiên liệu để thay thế nguồn nhiên liệu tự nhiên. Việc tìm ra nguồn năng
lượng mới để thay thế đang được tiến hành ở khắp nơi trên thế giới.Việt Nam là Nước sản
xuất lúa gạo thứ 2 trên thế với, chỉ riêng Đồng bằng sông Hồng sản xuất hơn 20 triệu tấn lúa
mỗi năm. Và hơn 5 triệu tấn trấu được thải ra từ sản xuất lúa gạo không được tận dụng hết mà
còn thảy ra ngoài gây ô nhiễm môi trường. Nguồn trấu này có xu hướng ngày càng tăng cao.
Và cũng theo những nghiên cứu mới đây. Năng lượng sinh khối từ nông nghiệp, đặc biệt từ
vỏ trấu là nguồn năng lượng mới đầy hứa hẹ có thế thay thế dầu và than đá . Đề tài NCKH
sản xuất và cung ứng than hữu cơ được ra đời nhằm thực hiện hoá vấn đề nêu trên, cung cấp
cho ngừơi tiêu dùng nguồn năng lượng xanh, thân thiện với môi trường như củi trấu, dầu sinh
học, các năng lương sinh khối từ phế phẩm nông nghiệp. Trong giai đoạn đầu phát triển doanh
nghiệp sẽ sản xuất và cung cấp củi trấu và trấu viên, đồng thời cũng nghiên cứu và phát triển
thêmnhiều sản phẩm mới phụ vụ nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Từ việc tận dụng các
nguồn phế phẩm nông nghiệp để sản xuất các nguồn năng lượng tự nhiên góp phần làm giảm
thiểu chất thải ra môi trường gây ô nhiễm, nâng cao đời sống nông thôn…
2- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-

Đối tượng: Phụ phẩm trong nông nghiệp.

-

Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn tỉnh Thái Bình.

3- Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những phế phẩm trong nông nghiệp, xử lý theo quy trình công
nghệ khép kín , hiện đại để trở thành sản phẩm than hữu cơ hạn chế sự ô nhiễm môi trường
mang lại hiệu quả kinh tế cao trong nông nghiệp.
4- Phương pháp nghiên cứu
4.1- Phương pháp tiếp cận có sự tham gia
Qúa trình nghiên cứu phế phẩm trong nông nghiệp có sự tham gia của người dân. Hầu
hết các hoạt động phải được thực hiện cùng với các thành viên cộng đồng để bàn về những

2


vấn đề của họ. Nghiên cứu sử dụng phương pháp PRA với sự tham gia của các tác nhân tham
gia liên kết, bao gồm: người trồng lúa, người cung cấp dịch vụ đầu vào, các cơ sở chế biến,
người thu gom; cơ chế hợp tác; trong phân phối lợi ích; xác định các giải pháp nhằm tăng
cường hợp tác, liên kết các các tác nhân tham gia.
4.2- Phương pháp tiếp cận chuỗi giá tri
Chuỗi giá trị được vận dụng trong nghiên cứu này là một tập hợp những hoạt động do
nhiều người khác nhau tham gia thực hiện (nhà cung cấp đầu vào, người thu gom, nhà chế
biến, công ty, người bán sỉ, người bán lẻ...) để sản xuất ra một sản phẩm sau đó bán cho người
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu (phương pháp tiếp cận toàn cầu). Phương pháp tiếp cận
CGT có ý nghĩa rất lớn đối với phát triển bền vững sản phẩm/ngành hàng, nhất là sản phẩm
nông nghiệp. Nghiên cứu áp dụng chuỗi giá trị để xác định các tác nhân tham gia chuỗi và
mối liên kết giữa các tác nhân; sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân tham gia chuỗi thông
qua giá trị gia tăng tạo qua từng tác nhân; sự quản lý và điều hành chuỗi.
4.3- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Thái Bình là một trong những tỉnh có giá trị ngành chăn nuôi chiếm tỷ lệ cao trong cơ
cấu nông nghiệp. Để đảm bảo tính đại diện, đề tài tiến hành chọn điểm nghiên cứu căn cứ trên
thực trạng phát triển của các huyện. Dựa trên tình hình phát triển ngành chăn nuôi gia cầm,
nghiên cứu lựa chọn huyện Quỳnh Phụ làm điểm nghiên cứu. Huyện Quỳnh Phụ nằm trong
khu vực có hệ thống giao thông thuận lợi, nối địa bàn huyện với Hải Dương, Hải Phòng,
thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa trong vùng.
4.4 -Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Các số liệu thứ cấp có liên quan bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật, tài liệu, báo
cáo liên quan phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gia cầm, phát triển bền vững. Các chính
sách đã ban hành về khuyến khích phát triển sản xuất và cung ứng than hữu cơ; cho vay vốn
phát triển kinh tế; các chính sách về đầu tư cơ sở hạ tầng; chính sách về liên kết trong sản xuất
và cung ứng than hữu cơ.
4.5- Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Thông tin sơ cấp được thu thập thông quan điều tra chọn mẫu căn cứ trên các điểm
nghiên cứu đã lựa chọn. Ở mỗi xã điều tra nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành khảo sát bằng phỏng
vấn sâu và bảng câu hỏi. Đối tượng khảo sát được lựa chọn như sau:
Phỏng vấn sâu: Dựa trên cách tiếp cận có sự tham gia và tiếp cận chuỗi giá trị, các đối
tượng được lựa chọn điều tra bao gồm: Cán bộ chính quyền các cấp (huyện, xã); Cán bộ lãnh
đạo nông nghiệp các cấp (Sở NN  PTNT vác các đơn vị trực thuộc: Chi cục Phát triển nông
thôn, Trung tâm Khuyến nông; Phòng Nông nghiệp và PTNT các huyện, trạm khuyến
nông...);

3


Thảo luận nhóm (công cụ PRA): Thảo luận nhóm được thực hiện để bổ sung cho điều
tra bằng bảng câu hỏi. Nghiên cứu sẽ tiến hành 01 cuộc thảo luận nhóm/điểm nghiên cứu
(khoảng 5-10 người tham gia). Những thông tin thu thập thông qua thảo luận nhóm như:
quan điểm, nhận định về sản xuất và cung ứng than hữu cơ ra thị trường.
Điều tra bằng bảng câu hỏi: Bảng câu hỏi điều tra 6 đối tượng (cơ sở sản xuất, người
nông dân, nhà thu gom phế phẩm , nhà bán buôn, người bán lẻ,khách hàng)
Mục tiêu 1 : Sử dụng câu hỏi định lượng và định tính nhằm xác định kết quả, hiệu quả
của sản xuất và cung ứng than hữu cơ.
Mục tiêu 2 : Dùng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1-5) để xác định các yếu tố ảnh hưởng
và tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và cung ứng.
Mục tiêu 3 : Sử dụng câu hỏi mở, nhằm thu thập ý kiến của các thành phần tham gia liên
kết sản xuất và cung ứng than hữu cơ đề xuất giải pháp nhằm phát triển bền vững.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận chuyên đề gồm ba chương
Chương I: Cơ sở lý luận về sản xuất và cung ứng than hữu cơ từ phế phẩm nông
nghiệp.
Chương II: Thực trạng sản xuất và cung ứng than hữu cơ tại Thái Bình.
Chương III: Các giải pháp sản xuất và cung ứng than hữu cơ.

4


PHẦN B: NỘI DUNG DỰ ÁN
Chương I: Cơ sở lý luận về sản xuất và cung ứng than hữu cơ từ phế phẩm nông
nghiệp.
I - Sản xuất và cung ứng than hữu.
1 - Than hữu cơ.
Việt Nam nằm trong top những nước tiêu thụ năng lượng tương đối lớn so với khu vực
và trên thế giới. Tăng trưởng kinh tế liên tục với tốc độ khá cao của Việt Nam giúp cải thiện
mức sống của người dân và làm tăng nhu cầu sử dụng năng lượng. Việt Nam sẽ trở thành
nước nhập khẩu than trước năm 2020. Nếu không đảm bảo được kế hoạch khai thác hợp lý và
tiết kiệm nguồn tài nguyên than, tình huống phải nhập khẩu than sẽ xuất hiện sớm hơn vào
khoảng năm 2015-2018. Điều đó cho thấy vấn đề đảm bảo nguồn than cho sản xuất điện của
Việt Nam sẽ chuyển từ giới hạn trong phạm vi một quốc gia thành một phần của thị trường
quốc tế và chịu sự tác động thay đổi của nó.
Bên cạnh đó sản phẩm than hữu cơ được ép 100% từ vỏ trấu, qua công nghệ sản xuất
làm nóng chảy chất keo tự nhiên (Lignin) trong vỏ trấu, cùng với áp lực cao tạo nên sự gắn
kết vỏ trấu lại với nhau thành một khối thống nhất gọi là củi trấu. Trong vỏ trấu chứa khoảng
75% chất hữu cơ dễ bay hơi sẽ cháy trong quá trình đốt và khoảng 25% còn lại chuyển thành
tro. Chất hữu cơ chứa chủ yếu cellulose, lignin và Hemi - cellulose (90%), ngoài ra có thêm
thành phần khác như hợp chất nitơ và vô cơ. Lignin chiếm khoảng 25-30% và cellulose chiếm
khoảng 35-40%.
2 - Tầm quan trọng than hữu cơ.
1. Than hữu cơ giá rất rẻ, với nhiệt lượng 3900-4200 kcal/ 1kg, lại là chất đốt sạch
không gây ô nhiễm môi trường, giúp làm sạch môi trường bằng việc giải quyết rác thải nông
nghiệp này. Trong khi đó than đá với nhiệt lượng 4700-6700 Kcal/ kg, như vậy sơ với than củi
trấu thì đây là một bài toán dễ cho lợi nhuận chi phí sản xuất công nghiệp, tiết kiệm cho quý
công ty từ 45-60% chi phí, giúp giá thành hạ giá cạnh tranh. Với các nhà máy có các lò hơi,
chế biến hải sản, chế biến thực phẩm gia súc,sản xuất bia hay các nôi hấp sấy khác tiết kiệm
chi phí điện năng, than đá. Chính vì nhiều lợi ích củi trấu mang lại, hiện nay cung không đủ
cầu cho các nhà máy xí nghiệp...
2. Than hữu cơ được sản xuất từ 100% là vỏ trấu, là nguyên liệu thiên nhiên, tận dụng
từ phế thải nông nghiệp, giúp hạn chế ô nhiễm môi trường. Đặc biệt than hữu cơ lại rất thơm
khi đốt, một hương thơm miền quê rất dễ chịu. Với trách nhiệm của các xí nghiệp nhà máy là
bảo vệ môi trường, giảm tải khí thải CO, S và các khí thải độc hại khác bằng việc thay thế
than đá, than củi. Chính vì thế, than hữu cơ ra đời là một giải pháp thay thế, không gây độc
hại môi trường, và góp phần bảo vệ rừng, tạo dựng môi trường xanh sạch đẹp.

5


3. Than hữu cơ có cấu tạo là dang thanh khối mang tính đồng nhất, về hình dạng cũng
như chất lượng, nên rất dễ lưu trữ. Là dạng chất đốt sạch, được đóng gói bao bì, nên khi công
nhân cầm vào cũng sạch sẽ, không bụi bẩn và đen nhèm như than đá và than củi. Than hữu
cơ được đóng gói theo quy cách bì nên rất là dễ vận chuyển, lại có thể chất đống cao nên tiết
kiệm không gian kho bãi, đặc tính này không phải nhiên liệu nào cũng làm được. Hơn nữa,
than hữu cơ còn có cấu trúc rỗng lõi bên trong nên có tiết diện tiết xúc không khí nhiều , dễ
bắt lửa, cháy đợm, cháy lâu và nhiệt độ cao.
4. Một điều lợi nữa, đó chính là việc chất đốt còn thải ra tàn tro độc hại. Với than hữu
cơ vấn đề tàn tro và các thải loại ra lại được , đóng gói bao bì và phân phối cho nông dân làm
phân bón trồng cây. Không như những loại nhiên liệu khác như than đá, than củi, khi dùng
xong, việc xử lý tàn tro phế thải loại cũng là một điều nhức nhối, bơi chúng không thể nào
làm phân bón hay dùng làm cải tạo đất được. Vì vậy,than hữu cơ hoàn toàn giải quyết được
bài toán khó khăn này, lại tiết kiệm rất nhiều chi phí phát sinh và nhiên liệu.
II - Phế phẩm trong nông nghiệp để sản xuất than hữu cơ.
1- Phế phẩm trong nông nghiệp.
Phế phẩm nông nghiệp là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động nông
nghiệp. Nguồn gốc phát sinh phế phẩm nông nghiệp từ quá trình chế biến các loại cây công
nghiệp, cây lương thực, sản xuất hoa quả, thực phẩm…Các phế phẩm nông nghiệp chủ yếu
là vỏ trấu, mùn cưa, bã mía, cùi ngô, bẹ ngô, xơ dừa, rơm, rạ…Đây là nguồn nguyên liệu
khổng lồ luôn luôn tồn tại và ngày càng gia tăng. Riêng đồng bằng sông Hồng, sản lượng
trấu thu gom được lên tới 1,4 – 1,6 triệu tấn. Tổng sản lượng phế thải sinh khối hằng năm ở
nước ta có thể đạt tới 8 – 11 triệu tấn,. Đặc biệt là chất thải ra từ các nhà máy mía đường.
Hiện tại trong cả nước có đến 10 – 15% tổng sản lượng bã mía. Phế phẩm từ lúa gạo gồm
có rơm, rạ, vỏ trấu. Rơm, rạ là phần thân và gốc của cây lúa sau khi tách hết phẩn hạt. Vỏ
trấu và phần vỏ bên ngoài của hạt lúa. Hạt lúa sau khi tách phần vỏ thành hạt gạo.
Việt Nam là quốc gia đứng thứ hai về sản xuất lúa gạo sau Thái Lan. Do đó, hàng
năm lượng rơm, rạ và vỏ trấu thải ra ngoài tương đối lớn.
Hiện nay, một phần nhỏ rơm rạ được sử dụng làm phân bón sinh học, còn lại chủ
yếu là đốt bỏ ngay trên đồng ruộng gây ra lãng phí và ảnh hưởng tới môi trường. Nếu biết
tận dụng nguồn rơm rạ này sẽ có ý nghĩa về nhiều mặt.
Bên cạnh đó, khói tỏa ra từ những nơi đốt ảnh hưởng tới sức khỏe người dân trong
khu vực và những vùng phụ cận. Không khí ngột ngạt, gây ra hiện tượng khó thở. Không chỉ
có như vậy,việc đốt rơm rạ còn ảnh hưởng tới con người và phương tiện tham gia giao thông
trên đường. Trênmột số tuyến đường quốc lộ, đường liên huyện, liên xã…bà con nông dân

6


chất rơm rạ thành đống để đốt. Khói mù mịt, giảm tầm nhìn của người tham gia giao thông
và không biết bao nhiêu vụ tai nạn thương tâm đã xảy ra trong điều kiện như vậy.
Trong thành phần của rơm, rạ là xenlulozo và hemixenlulozo và một số hợp chất
hữu cơ khác, khi bị đốt, những chất này bị phân hủy tạo thành CO 2, gây ra ôi nhiễm môi
trường khí. CO2là một trong những chất khí cơ bản gây ra hiệu ứng nhà kính, nguyên nhân
của việc làm cho Trái Đất nóng lên. Hằng năm, sau mỗi mùa vụ không biết bao nhiêu tấn
CO2 được thải vào môi trường vì nguyên nhân trên.
2 - Tầm quan trọng của việc sử dụng phế phẩm trong nông nghiệp để sản xuất
than hữu cơ.
- Giai quyết vấn đề phế phẩm nông nghiệp gây ô nhiễm môi trường.
Hàng năm có hàng triệu tấn phế phẩm trong nông nghiệp thải ra môi trường biến môi
trường của chúng ta ô nhiễm đặc biệt trên các dòng sông. Nhờ có các nhà máy sản xuất than
hữu cơ mà hàng năm lượng trấu thải ra môi trường giảm một cách đáng kể và còn đem lại một
nguồn thu lớn cho người sản xuất.Than hữu cơ không chỉ ứng dụng tốt cho các doanh nghiệp
và các cơ sở sản xuất lớn mà còn cho các quán ăn, nhà hàng và hộ gia đình. Đây là nguồn
nhiên liệu thay thế cho gas và củi thông thường vì giá thành gas và củi thông thường đắt hơn
mà thậm chí dùng gas thì nguy cơ xảy ra nguy hiểm vẫn luôn thường trực.Việc sản xuất
ra than hữu cơ cũng giải quyết được nhu cầu bức thiết cho các doanh nghiệp xay xát gạo là
lượng trấu tạo ra không biết bỏ đi đâu và tạo được nguồn nhiên liệu thay thế tiết kiệm chi phí
cho xã hội, giảm thiệu ô nhiễm môi trường.
- Giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính
Nguyên nhân gây ra hiệu ứng nhà kính là do hàm lượng các khí thải có trong môi
trường cao bao gồm: CO2, CH4, CFC, SO2,… Hàm lượng SO2 và CO2 trong than hữu cơ <
0,02% do vậy giảm thiểu đáng kể lượng khí thải ra môi trường.
- Chi phí thấp hơn so với nhiên liệu truyền thống
So với chi phí đốt lò hơi để vận hành máy móc bằng những nhiên liệu truyền thống
như: Than đá, dầu mỏ thì khi đốt bằng củi trấu có thể tiết kiệm được khoảng 20 đến 30% do
giá thành của than hữu cơ khoảng 1500đ/Kg
- Thân Thiện với môi trường
Là một loại sản phẩm mới và độc đáo trên thị trường, gắn liền với mỗi câu hát và lời ru.
Một dạng năng lượng xanh cho cuộc sống bền vững của chúng ta.
- Khi đốt cháy hiệu quả cao và triệt để
Khi cháy than hữu cơ đạt khoảng 3900-4200Kcal/kg, cháy và giữ nhiệt trong thời gian
dài.

7


- Giảm chi phí xử lý khí thải ra môi trường cho các nhà máy
Đối với những nhiên liệu truyền thống thì khí thải ra môi trường rất nhiều, các nhà máy xí
nghiệp gần các khu dân cư thành thị họ phải lắp đặt các dụng cụ xử lý trước khi thải ra môi
trường nên chi phí cho sản xuất là cao. Khi đốt cháy than hữu cơ thoang thoảng hương thơm
của mùi lúa mới đặc biệt không gây ô nhiễm môi trường vì hàm lượng các chất gây độc hại là
rất ít nên chi phí xử lý khí thải là không cao.
- Tăng tuổi thọ thiết bị lò hơi
Lưu huỳnh tồn tại trong nhiên liệu đốt lò dưới nhiều dạng khác nhau, thông thường là
dưới dạng các hợp chất sulfua, disulfua hay dưới dạng di vòng. Khi bị đốt cháy lưu huỳnh sẽ
chuyển thành SO2, khí này cùng với khói thải sẽ được thoát ra ngoài, trong thời gian này
chúng có thể tiếp xác với oxy để chuyển một phần thành khí SO3. Khi nhiệt độ của dòng khí
thải xuống thấp thì các khí này sẽ kết hợp với hơi nước để tạo thành các axit tương ướng, đó
chính là các axit vô cơ có độ ăn mòn các kim loại rất lớn. Thực tế thì các axit sulfuaric sẽ gây
ăn mòn ở nhiệt độ thấp hơn 100 ÷ 150oC, còn axit sulfuarơ chỉ gây ăn mòn ở nhiệt độ thấp
hơn 40 ÷ 50oC. Do vậy hàm lượng lưu huỳnh càng ít thì tuổi sự ăn mòn sẽ chậm và tuổi thọ
lò hơi sẽ cao.
- Tro của than hữu cơ sau khi đốt được dung cải tạo đất rất tốt
Sau khi than hữu cơ cháy hết để lại phần tro trộn với một số loại phân bón khác giúp cải
tạo đất và là một hỗn hợp rất tốt cho cây trồng
Chương II: Thực trạng sản xuất và cung ứng than hữu cơ tại Thái Bình.
I- Tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp tại tỉnh Thái Bình.
Thái Bình là tỉnh có nhiều tiềm năng trong phát triển nông nghiệp. Năm 2011, trong
tổng diện tích đất tự nhiên là 157 nghìn ha, thì đất cho sử dụng nông nghiệp là 97,2 nghìn ha
(chiếm tới 61,9% tổng.Trong ngành trồng trọt, cây lương thực vẫn là cây trồng chủ yếu,
chiếm 63,3% giá trị sản xuất của ngành. Lúa giữ địa vị ưu thế trong các loại cây lương thực.
Diện tích lúa năm 2011 là 165,7 nghìn ha, sản lượng đạt 1.091,3 nghìn tấn. Lúa được phân bố
hầu hết ở các huyện trong tỉnh. Từ những năm 1970 trở lại đây, năng suất lúa thường xuyên
giữ vững ở vị trí hàng đầu cả nước và năng suất khá đồng đều ở các huyện trong tỉnh. Năng
suất lúa năm 2011 đạt 65,86 tạ/ha, cao nhất cả nước. diện tích đất tự nhiên) và thu hút gần
60% lao động làm trong lĩnh vực nông nghiệp.

II - Thực trạng sản xuất và cung ứng than hữu cơ tại Thái Bình.
1- Vai trò của than hữu cơ trong sản xuất công nghiệp.

8


Theo điều tra và khảo sát tại Thái Bình có 9 KCN và 15 CCN. Lượng than củi có thể
thay thế cho các KCN và CCN = 246.840.000 : 4000 = 61710 tấn.
Thiết bị Nồi hơi hiện nay được sử dụng rất phổ biến, rộng khắp ở các cơ sở sản xuất
công nghiệp và dịch vụ đời sống như dệt may, bia rượu, nước giải khát, dược phẩm, chế biến
thực phẩm, nông sản, hoa quả, tẩy nhuộm, sản xuất giấy, chế biến thức ăn chăn nuôi, tơ tằm,
thủ công mỹ nghệ, sản xuất tôn mạ, nấu ăn, massage, sấy… Thay vì dùng than đá hoặc gas để
phục vụ sản xuất thì các doanh nghiệp sử dụng than hữu cơ đây là thị trường lớn và ổn định
lâu dài nên doanh nghiệp sẽ chú trọng vào thị trường này hơn. Các doanh nghiệp thuộc khu
công nghiệp hoặc cụm công nghiệp các nhà máy thường có các lò hơi để phục vụ sản xuất
kinh doanh. Qua nghiên cứu điều tra việc sử dụng than đá vẫn là 1 nguồn nhiên liệu đang
phục vụ chính các lò hơi này.Qua tính toán thì 1kg than = 1.5kg củi. Nếu so sánh về giá thành
sẽ rẻ hơn tiết kiệm 1 khoản tiền cho công ty.Đồng thời việc giảm thiểu khí độc ra môi trường.
Người lao động đứng máy lò hơi cảm giác thoải mái khi cầm những thanh củi để đốt hơn là
việc xúc các xẻng than vào lò hơi.
2- Đối thủ trên thị trường.
Hiện nay trên thị trường mục tiêu đã xuất hiện một số đối thủ cạnh tranh trực tiếp với
doanh nghiệp chúng tôi. Những đối thủ cạnh tranh này là những người có mặt trên thị trường
từ rất sớm, họ đã có nhiều kinh nghiệm trên thị trường và kinh nghiệm tìm hiểu khách hàng,
bạn hàng. Họ đã cùng nhau chiếm lĩnh được một thị phần không nhỏ của thị trường mục tiêu.
Tuy nhiên, họ cũng có nhiều điểm yếu mà doanh nghiệp của chúng tôi có đủ tự tin để có thể
khắc phục được những điểm yếu đó và biến chúng thành điểm mạnh, thành lợi thế của doanh
nghiệp mình, từ đó có thể cạnh tranh trực tiếp với họ và giành lại thị phần.
Một số đối thủ cạnh tranh trong khu vực thị trường mục tiêu :
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.

Công ty TNHH nhiên liệu xanh Minh Phát – Hưng Yên
Công ty TNHH sản xuất và thương mại Nhà Việt – Hưng Yên
Công ty TNHH Thương mại xuất nhập khẩu Khánh Minh – Hải Phòng
Công ty TNHH Hà Kỳ - Hải Dương
Công ty CP Công nghiệp Nasa – Thái Bình
Công ty CP khoáng sản Phương Nam – Hải Phòng
Và một số doanh nghiệp nằm trên địa bàn các tỉnh, thành phố khác có khả năng cung ứng
cho thị trường mục tiêu như Hà Nội, Thanh Hóa, Ninh Bình….

Bảng phân tích điểm mạnh, yếu của các đối thủ cạnh tranh:
Điểm mạnh

Điểm yếu

9


-

Có kinh nghiệm lâu năm trên thị

trường
Có tiềm lực tài chính
Có thị phần lớn trên thị trường
Đội ngũ nhân viên, quản lý, nhân -

Giá cả sản phẩm còn cao
Chưa áp dụng nhiều chính sách ưu đãi

công có trình độ và kinh nghiệm

thị trường chưa thực sự hiệu quả

cho khách hàng
Một số hoạt động Marketing, tìm hiểu

Hiện nay, theo như doanh nghiệp đã thống kê, các đối thủ cạnh tranh trên địa bàn thị
trường mục tiêu và các đối thủ cạnh tranh trong khu vực gần thị trường mục tiêu mới chỉ đáp
ứng được từ 30-40% nhu cầu thị trường trong khi lượng khách hàng tiềm năng còn rất lớn.
Những khách hàng này sau khi nhận ra được công dụng và lợi ích của việc sử dụng sản phẩm
sẽ tạo ra một thị phần vô cùng lớn để doanh nghiệp chúng tôi có thể tiếp cận.
III- Sản xuất và cung ứng than hữu cơ từ phế phẩm nông nghiệp.
1- Thực trạng phế phẩm nông nghiệp tại Thái Bình.
Tại Thái Bình, hiện tượng đốt rơm rạ chiếm tới 36%. Kết quả khảo sát cũng cho thấy,
không còn một hộ gia đình nào sử dụng rơm rạ hay trấu trong việc đun nấu.
Vỏ trấu trước kia thường hay được sử dụng làm chất đốt hay trộn với đất sét làm
vật liệu xây dựng….Không những trấu được sử dụng làm chất đốt trong sinh hoạt mà còn
được sử dụng như một nguồn nguyên liệu thay thế cung cấp nhiệt trong sản xuất với giá rất
rẻ. Cũng như rơm và rạ, vỏ trấu có nhiều nhất ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông
Cửu Long, hai vựa lúa lớn nhất cả nước. Chúng thường không được sử dụng hết nên phải
đem đốt hoặc đổ xuống sông suối để tiêu hủy. Ngoài ra , phụ phẩm nông nghiệp được người
dân đốt gây ô nhiễm môi trường không khí và là nguyên nhân gian tiếp gây ra vụ tai nạn
giao thông do tầm nhìn hạn chế.
2- Quy trình sản xuất than hữu cơ từ phế phẩm nông nghiệp.
Vỏ trấu

Sấy trộn

Đun ép

Cắt

thành

Đóng gói

khô,làm
nguội
Mô tả quá trình sản xuất:
Bước 1: Vỏ trấu từ kho nguyên liệu được bảo quản đạt tiêu chuẩn được đưa đi sấy
trộn.
Bước 2: Khi được sấy xong vỏ trấu được đưa thẳng tới máy ép

10


Bước 3: Khi cho vào máy ép;người lao động cần dùng gậy để tuôn trấu vào máy
nhằm tránh tắc ngẽn lượng trấu vào máy.
Bước 4: Khi trấu được ép thành khuôn và ra sản phẩm.Máy được thiết kế 1 chắn
ngang ở trước máy cách nhau nhằm tạo 1 dạng khuôn đúng kích cỡ và tránh thêm 1
người phải bẻ thủ công.
Bước 5: Củi trấu thành phẩm được đóng gói và cho vào bao
3- Nguồn và khả năng cung cấp nguyên liệu
Hiện tại trên địa bàn có 2 xã An Tràng và xã Đồng Tiến tập trung đông các cơ sở xay xát
gạo lớn. Lượng trấu của 1 cơ sở là 150 bao/ngày. Mỗi bao nặng trung bình 7.5kg.Vậy tính
trung bình ta có 1 năm của 1 cơ sở sẽ có : 7.5*150*30*12=405000kg(405 tấn).
Tại xã An Tràng có 4 cơ sở; xã Đồng Tiến có 10 cơ sở. Như vậy ta có : 14*405000=5670000
kg (5670 tấn).
Qua đó ta thấy được nguồn cung cấp nguyên vật liệu đầu vào rất lớn. Là tiền đề để doanh
nghiệp phát triển mở rộng quy mô doanh nghiệp.
4- So sánh hiệu quả than hữu cơ và củi gỗ, than đá.
Nếu so sánh với củi gỗ, ta có bài toán như sau:
8 triệu tấn trấu ~ 7,5 triệu tấn củi trấu
1 ha rừng có thể trồng được 2500 cây cách đều nhau 2m và cho ra khoảng 50kg
củi/ cây/năm ~ 2500*50 = 125.000 kg = 125 tấn củi gỗ/năm
1 kg củi trấu cho nhiệt lượng khoảng 3900 kcal
1 kg củi khô cho nhiệt lượng khoảng 2100 kcal
=> 1kg củi trấu ~ 3900/2100 = 1,857 kg củi gỗ. 7,5 triệu tấn củi trấu ~ 7,5 * 1,857
= 13,93 triệu tấn củi gỗ ~ 111.428 ha rừng bằng 53% tổng diện tích .
Đây là một con số đáng kinh ngạc mà nếu chuyển đổi ngành trấu thành củi trấu
để thay thế cho các chất đốt khác thì trong mỗi năm, chúng ta tiết kiệm được một khoản
khổng lồ năng lượng bằng cách tận dụng năng lượng củi trấu. Điều đó cũng có nghĩa là
lá phổi của trái đất hành tinh chúng ta sẽ trở lại xanh hơn.
Để có số liệu so sánh tương đối chính xác với thực tế của các loại nhiên liệu ;
chúng ta sẽ so sánh hiệu quả đốt trong sản xuất công nghiệp. Cụ thể chúng ta so sánh
trong việc sử dụng các chủng loại nhiên liệu trong nồi hơi, như sau:

11


Chi phí cho
1 tấn hơi
(vnđ)

Loại nhiên liệu

Chênh lệch giá trị
so với củi trấu
(vnđ)

Tỷ suất tiêu hao
so với củi trấu
(%)

Dầu nặng

1,799,700

1,403,700

454

Than cục 4

632,100

236,100

159

Than cám

525,000

129,000

132

Củi thường

420,000

24,000

106

Củi trấu/trấu

396,000

0

0

Củi mùn cưa/
dăm bào

437,000

41,000

200

Giả thiết chọn mẫu cho dự án sản xuất trên cơ sở là 1 nồi hơi có năng suất hơi là 2
tấn/h, mỗi ngày làm việc 11h. Ta có bảng tính sau: 396.000đx2x11 = 8.712.000đ; tương
đương năng suất đạt 22 tấn hơi và đốt hết 05 tấn nhiên liệu.
5- Đánh giá lợi ích từ việc sử dụng than hữu cơ.
- Giới thiệu lợi ích của việc tham gia vào ngành của các chủ đầu tư (các nhà máy xay
xát lúa gạo, các chủ đầu tư mới muốn gia nhập ngành)
- Tạo ra làn sóng hưởng ứng sử dụng nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu xanh (củi trấu)
trong ngành chất đốt. Nâng cao ý thức của các nhà sản xuất có sử dụng chất đốt than đá, củi,
dầu... chuyển sang sử dụng chất đốt xanh có ý nghĩa với môi trường như nhà máy dệt
nhuộm, các lò gạch, gốm sứ...
- Kêu gọi sự ủng hộ, hỗ trợ bằng những cơ chế, chính sách của chính phủ trong việc
khuyến khích tận dụng nguyên vật liệu củi trấu - một loại nguyên vật liệu thừa và ít được
quan tâm do giá trị kinh tế thấp.
- Xây dựng được một ngành củi trấu, thay thế một phần cung cấp cho các nguồn
nguyên nhiên liệu tương đương như củi, than đá, dầu... là các nguyên nhiên liệu đang ngày
dần cạn kiệt và gây ô nhiễm mỗi trường.
- Đối với xã hội
Ngoài việc giúp cho các ngành khác phát triển, ngành than hữu cơ được xây dựng
thành công còn góp phần tạo ra được khối lượng công ăn việc làm, nhằm giải quyết bớt gánh
nặng thất nghiệp cho chính phủ và giải quyết một phần các tệ nạn... là các vấn đề làm cho ai
trong chúng ta cũng phải quan tâm. Việc phát triển ngành than hữu cơ đặc biệt đóng góp cho
môi trường xã hội, phát triển bền vững.
- Đối với chính phủ

12


Kêu gọi sự ủng hộ, hỗ trợ về cơ chế, chính sách quan tâm đến củi trấu, là một loại
nguyên vật liêu liên quan đến môi trường, hạn chế được nhiều vấn đề tiêu cực của ngành
chất đốt tác động tới môi trường. Từ đó cũng mong mỏi chính phủ là đầu mối phát động làn
sóng sử dụng nguyên liệu sạch trong ngành chất đốt tới các địa phương. Điều này chính là
việc làm hữu ích để dựng nên làn sóng tác động tới các nhà máy sử dụng tới chất đốt sẽ nghĩ
tới nguyên liệu than hữu cơ đầu tiên trước khi nghĩ đến các nguồn nguyên liệu khác.
Luật tiết kiệm năng lượng cũng vừa mới có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2011.
Việc có cơ chế, chính sách, hỗ trợ thuế, tài chính... để làm giảm giá bán củi trấu nhằm tác
động tới nhu cầu của các doanh nghiệp cũng là một điều hết sức cấp bách. Chính phủ phải
xem nguồn năng lượng này và có những biện pháp như trợ giá, điều tiết giá giống như
nguồn năng lượng xăng dầu.
- Đối với chính quyền đia phương
Phổ biến tuyên truyền bằng các bảng áp phích, panel tuyên truyền trước các trụ sở
cơ quan của các địa phương nhằm tác động vào ý thức của người dân ngày càng hiểu rõ hơn
về nguồn năng lượng mà chúng ta đang nắm giữ.
Chương III: Các giải pháp sản xuất và cung ứng than hữu cơ.
I- Định hướng về sản xuất than hữu cơ.
Trấu tại các nhà máy hiện nay chủ yếu được xuất đi các nơi với giá khoảng 200-300
đ/kg. Trong khi đó, than hữu cơ xuất đi tại các nhà máy có giá khoảng 800đ/kg, sau khi trừ
đi các chi phí điện nước, nhân công và thuế... thì nhà máy vẫn còn có lợi nhuận. Nhưng tại
sao các nhà máy vẫn không muốn đầu tư vào ngành ? Một lý do rất đơn giản là giá trên nếu
tung ra thị trường qua các khâu trung gian thì giá cả được đẩy lên gần gấp đôi nên các doanh
nghiệp sử dụng chất đốt vẫn không coi đây là nguồn nguyên liệu chính trong ngành chất đốt
mà chỉ là một loại chất đốt bổ sung khi thị thường khan hụt. Chính điều đó làm cho nguồn
cầu than hữu cơ không ổn định, tác động đến các doanh nghiệp xay xát lúa gạo không mạnh
đạn đầu tư cho ngành hàng này.
Hiện nay, tất cả các doanh nghiệp sản xuất than hữu cơ chủ yếu là để xuất đi nước
ngoài với giá khá cao. Lý do giá cao cũng có thể thấy được rất đơn giản là vì ở nước ngoài,
việc coi trọng nguồn nguyên liệu xanh, sạch mặc dù giá cả cao hơn của người sử dụng được
chính phủ hỗ trợ, đồng thời ý thức bảo vệ môi trường của họ cũng rất cao.
II- Các giải pháp về sản xuất và thị trường than hữu cơ.
 Chiến lược thâm nhập thị trường.

13


Công ty sẽ mở 1 trang web bán hàng trên facebook để quảng bá sản phẩm cũng như
thương hiệu của công ty.Việc người dùng truy cập Facebook thường xuyên cho thấy
Facebook là 1 kênh thông tin marketing tuyệt vời..Bên đó doanh nghiệp sẽ liên kết quảng
cáo qua các rơi được gán ngay trên chiếc máy phục vụ nông nghiệp. Do sản phẩm của doanh
nghiệp còn mới, một số doanh nghiệp chưa tin vào chất lượng cũng như hiệu quả khi sử
dụng sản phẩm. Một số doanh nghiệp lại ngần ngại khi thay đổi sản phẩm vì lo sợ phải thay
đổi công nghệ cách thức sử dụng làm tốn kém thêm chi phí. Doanh nghiệp sẽ tặng cho
khách hàng là các doanh nghiệp 50Kg để sử dụng thử và kiểm tra mức độ tiêu hao cũng như
những lợi ích khi sử dụng của trấu so với ga và than tổ ong. Đồng thời doanh nghiệp cũng
hỗ trợ đội ngũ kỹ thuật cho các doanh nghiệp trong quá trình chuyễn giao sử dụng sản phẩm.
Nhằm tạo dựng niềm tin của khách hàng vào chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp chúng
tôi xây dựng hệ thống chăm sóc khách hàng với các yêu cầu sau:
- Đảm bảo thực hiện chu trình sản xuất đặt ra.
- Thể hiện thái độ thân thiện và luôn lắng nghe khách hàng.
- Thể hiện sự chuyên nghiệp và tôn trọng khi giao tiếp với khách hàng
- Cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về tính năng công dụng của sản phẩm.
Bên cạnh đó Thái Bình là nơi hay diễn ra các hội chợ nông nghiệp.Doanh nghiệp
sẽ thông qua các hội diễn nhằm quảng bá rộng rãi tới mọi người dân.
 Chiến lược định giá thấp thâu tóm thị trường.
Định giá cho sản phẩm là một yếu tố rất quan trọng trong kế hoạch của doanh nghiệp.
Giá của sản phẩm là yếu tố tạo nên sự độc đáo cho sản phẩm và là yếu tố khẳng định đúng
với thương hiệu sản phẩm. Giúp cho sản phẩm định vị được vị trí của chính nó trong tâm trí
của người tiêu dùng. Củi thanh trấu doanh nghiệp ban đầu sẽ bán với mức giá 1300Đ/1kg.So
với giá bên ngoài bán là 1500đ/1 kg chênh lệch với giá ngoài thị trường là 200đ/1kg. Việc
áp dụng mức giá thấp sẽ khiến cho việc thâm nhập thị trường tốt hơn. Tạo được lòng tin với
khách hàng khi sử dụng. Bên cạnh đó doanh nghiệp sẽ áp dụng các chính sách như việc
hưởng hoa hồng tính theo phần trăm khi mua với sản lượng nhiều hoặc áp dụng phương thức
trả chậm đối với các hợp đồng dài hạn.

14


PHẦN C: KẾT LUẬN
Hiện nay, khi mà sự phát triển của con người đang ngày càng đe dọa sự sống trên địa
cầu nghiêm trọng. Bằng chứng là khí hậu đang dần thay đổi, mực nước biển dâng cao, tình
trạng chặt phá rừng ngày càng nhiều, diện tích cây xanh (lá phổi) đang của chúng ta đang
ngày càng bị thu hẹp, trái đất đang ấm dần lên, hiệu ứng nhà kính... đang dần hủy hoại đi
ngôi nhà mà chúng ta đang ở.
Chính vì thế, việc việc tạo ra sản phẩm mới từ phế phẩm trong nông nghiệp giải quyết
vấn đề ô nhiễm môi trường, gia tăng lợi ích cho người nông dân. Bên cạnh đó còn chung tay
xây dựng lại màu xanh của ngôi nhà hành tinh chúng ta đang cư trú cần phải được lan rộng
và cần phải tìm ra nhiều giải pháp hữu ích hơn nữa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Chính sách hỗ trợ xuất khẩu củi trấu của Việt Nam.
- Hiệp hội năng lượng Việt Nam.
- Phụ phẩm nông nghiệp.
-Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình.

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×