Tải bản đầy đủ

HỘI CHỨNG ASPERGER

1

HỘI CHỨNG ASPERGER
1. Đại cương
Hội chứng Asperger (viết tắt AS) là một rối loạn phát triển ở trẻ em, nằm
trong nhóm các rối loạn phát triển lan tỏa, có đặc điểm là các bất thường ở ba lĩnh
vực: tương tác xã hội; giao tiếp; hành vi rập khuôn, ý thích thu hẹp. Tuy nhiên, trẻ
mắc hội chứng này có nhận thức cao hơn và khả năng ngôn ngữ tốt hơn.
Hội chứng này được đặt theo tên của bác sĩ nhi khoa người Áo Hans
Asperger năm 1944, nghiên cứu và mô tả những trẻ thiếu kỹ năng giao tiếp
phi ngôn ngữ, thể hiện hạn chế sự đồng cảm với các trẻ xung quanh và sự
vụng về.
Nguyên nhân chính xác của hội chứng AS còn chưa rõ. Hội chứng có thể
một phần là do di truyền (cha hoặc mẹ, thường là cha bị hội chứng AS hay ít
ra là đặc tính tương tự như AS) và não bộ có những thay đổi. Yếu tố di truyền
trong hội chứng AS thường rõ rệt hơn là các chứng tự kỷ.
Tỉ lệ của hội chứng AS khoảng 2-3/1000 trẻ em. Hội chứng AS biểu hiện
bất thường muộn sau 3 tuổi trong khi trẻ mắc chứng tự kỷ biểu hiện bất
thường sớm trước 3 tuổi. Do vậy việc phát hiện ra trẻ bị hội chứng AS thường
là khi cho đi học mẫu giáo hoặc trong những năm đầu của tiểu học. Nam gặp
nhiều hơn nữ gấp 8- 10 lần.

Không có điều trị đặc hiệu, các can thiệp tâm lý nhằm cải thiện triệu
chứng và chức năng. Hầu hết trẻ AS cải thiện khi chúng đến tuổi trưởng thành
nhưng những khó khăn xã hội và giao tiếp có thể vẫn tồn tại. Một số nhà
nghiên cứu và những người bị Asperger đã ủng hộ sự thay đổi trong thái độ
đối với quan điểm cho rằng đó là một sự khác biệt, chứ không phải là một
khuyết tật mà phải được điều trị hoặc chữa khỏi.


2
Hiện nay, có nhiều bài viết về hội chứng AS có lẽ vì vậy mà tỷ lệ người
bị hội chứng này sẽ cao hơn. Chuyên đề này có mục đích mô tả hội chứng
Asperger một cách chi tiết hơn về dịch tễ, phân loại chẩn đoán cũng như điều
trị bệnh.
2. Lịch sử của bệnh
Hội chứng Asperger được bác sỹ nhi khoa người Áo Hans Asperger đề
cập đến lần đầu tiên trong một bài báo năm 1944, mô tả bốn trường hợp gặp
khó khăn trong giao tiếp, tách biệt xã hội. Ngay trước đó, năm 1943, bác sỹ
Leo Kanner đã mô tả một tình trạng bệnh tương tự. Cả hai tác giả này đều sử
dụng thuật ngữ “tự kỷ” để nói về bệnh. Tuy nhiên, các bệnh nhân mà Hans
Asperger quan sát được đều nói được, có trí thông mình bình thường hoặc
cao, trong khi các bệnh nhân của Leo Kanner không hoặc rất ít nói và có
nhiều bất thường về hành vi hơn. Mặc dù vậy, cả hai nhóm đều có một số
điểm chung như kém tương tác, giao tiếp, có những sở thích/mối bận tâm thu
hẹp, hành vi lặp đi lặp lại... Sau này, năm 1981 qua bài báo mô tả một loạt
trường hợp trẻ có những triệu chứng tương tự của tác giả Lorna Wing, thuật
ngữ “hội chứng Asperger” mới được sử dụng rộng rãi. Hiện nay, trong bảng
phân loại bệnh quốc tế ICD 10, hoặc sách phân loại và thống kê bệnh tâm
thần DSV-IV của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ, hội chứng này đã được
phân loại thành một nhóm riêng, có tiêu chuẩn chẩn đoán, nằm trong mục các
rối loạn phát triển lan tỏa ở trẻ em.
3. Dịch tễ học
- Cho đến nay, những cuộc khảo cứu có giá trị nhất cho thấy chứng AS
phổ biến hơn là bệnh tự kỷ dạng "cổ điển". Có nhiều nghiên cứu về hội chứng
AS cho thấy tỉ lệ bị bệnh khác nhau.Thông thường cứ 10,000 trẻ em thì có 4
em bị bệnh tự kỷ, nhưng có thể có tới 20-25 em bị hội chứng AS.


3
- Một số nghiên cứu về hội chứng AS:
+ Trong các nghiên cứu về AS, Chỉ có một nghiên cứu điều tra tỷ lệ AS
riêng rẽ mà không cần dùng các rối loạn phát triển lan tỏa khác vào phiếu điều
tra (Ehlers và Gillberg 1993). Trong nghiên cứu này được tiến hành ở Thụy
Điển bởi Ehlers và Gillberg (1993) lần đầu tiên điều tra có hệ thống AS, 1.519
trẻ em tham dự năm trường phổ thông, tuổi từ 7-16 năm, được đưa vào giai
đoạn sàng lọc. Các công cụ sàng lọc gồm 27 mục, câu hỏi cho hội chứng
Asperger (ASSQ) được điền vào bởi giáo viên của trẻ. Trong số những học
sinh này, 18 cá nhân vượt quá điểm cắt của năm điểm trong ASSQ đã được
lựa chọn để điều tra thêm. Giai đoạn thứ hai của điều tra liên quan đến một
hỗn hợp của một đánh giá trực tiếp của các con, các cuộc phỏng vấn của cha
mẹ, trực tiếp quan sát và phỏng vấn giáo viên. Trong số 14 trẻ em tham gia
vào giai đoạn này, bốn trường hợp được chẩn đoán AS theo ICD-10 đã được
xác định và đưa ra một tỷ lệ 28,5 trên 10.000.
Theo Ehlers và Gillberg 1993, tỷ lệ bị bệnh là 3,6 trên 1.000. Nghiên cứu
này đã bị chỉ trích vì có quá nhỏ dân số mục tiêu; cho thiếu chi tiết về việc lựa
chọn trường học, thủ tục lấy mẫu không hợp lý. Bằng chứng hạn chế cũng đã
được đưa ra về các tính chất tâm lý của câu hỏi sàng lọc và các thủ tục để lựa
chọn đối tượng đánh giá là không hoàn toàn rõ ràng. Mặc dù thực tế rằng sự
tự tin trong các báo cáo của giáo viên như cung cấp thông tin duy nhất được
nhấn mạnh, các bậc phụ huynh đóng góp nhiều hơn để chẩn đoán cuối cùng
hơn báo cáo và phỏng vấn. Cuối cùng, tỷ lệ thay đổi tùy thuộc vào chẩn đoán
cụ thể.
+ Tại Vương quốc Anh, Taylor và đồng nghiệp (1999) xác định trẻ em có
rối loạn tự kỷ ra đời từ năm 1979, trong một nghiên cứu dựa vào dân số trong
tám khu vực y tế. Dân số nghiên cứu bao gồm 490.000 trẻ em. Các công cụ


4
sàng lọc đã đăng ký tại các trung tâm kiểm soát dịch bệnh và phòng chống
(CDC) và các hồ sơ từ các trường đặc biệt. Các công cụ được sử dụng để
đánh giá chuyên sâu đánh giá tất cả các dữ liệu có sẵn trong hồ sơ của ở trẻ
em. Việc chẩn đoán thiết lập theo ICD-10 mang lại 71 trường hợp AS, trong
đó đã đưa ra một tỷ lệ 1,4 trên 10.000 (Taylor et al 1999).
+ Trong nghiên cứu của Kadesj và cộng sự. (1999), mẫu bao gồm 826 trẻ
em, độ tuổi từ 7, trong đó có bốn đáp ứng tiêu chuẩn AS, đạt tỷ lệ 48,4 trên
10.000.
+ Theo Powell và đồng nghiệp năm 2000, trên cơ sở một quần thể
nghiên cứu gồm 25.377 trẻ em. Trẻ em được chẩn đoán trước khi năm tuổi và
cư trú trong phạm vi nghiên cứu tại thời điểm chẩn đoán đã được xác định
trong hồ sơ của bốn trung tâm phát triển của trẻ. Các đánh giá chuyên sâu bao
gồm các ADI-R và chẩn đoán đã được thực hiện theo DSM-IIIR, DSM-IV và
ICD-10 tiêu chí. Tỉ lệ trên 10.000 trẻ em mỗi năm cho các khu vực kết hợp là
8.3, cho tất cả các trẻ có rối loạn phổ tự kỷ, 3.5 cho chứng tự kỷ ở trẻ em cổ
điển và 4,8 cho các rối loạn phổ tự kỷ khác.
+ Cuộc khảo sát do Chakrabarti và Fombonne (2001) ở Vương quốc Anh
bao gồm 15.500 trẻ em từ 2,5 đến 6,5 năm. Trẻ em có triệu chứng gợi ý của
một PDD đã được đánh giá bởi một đội ngũ đa ngành, trong đó tiến hành
phỏng vấn chẩn đoán tiêu chuẩn hóa và kiểm tra tâm lý. Sự phổ biến của AS
là 8,4 trên 10.000 (13 trường hợp).
- Các cuộc điều tra cho thấy tỷ lệ của AS có thể là khoảng hai trên
10.000. Trong các nghiên cứu, độ tuổi trung bình của các mẫu là 5-8 năm. Trẻ
em với AS được xác định và chẩn đoán muộn hơn nhiều so với trẻ em với tự
kỷ điển hình. Nếu như trẻ bị mắc chứng tự kỷ điển hình thì biểu hiện bất


5
thường xuất hiện trước 3 tuổi như: chậm nói, không biết chơi với bạn, có
nhiều hành vi đặc biệt mang tính rập khuôn cứng nhắc. Còn trẻ bị hội chứng
AS lại có bất thường muộn sau 3 tuổi. Do vậy việc phát hiện ra trẻ bị hội
chứng AS thường là khi cho đi học mẫu giáo hoặc trong những năm đầu của
tiểu học. Có khoảng 50 % trẻ được định bệnh khi 4-8 tuổi và 20 % khi 10-12
tuổi.
- Tất cả những cuộc khảo cứu đều đồng ý là các trẻ em trai mắc hội
chứng AS nhiều hơn các trẻ em gái ( từ 8-10 lần). Người ta không hiểu tại sao
lại có sự khác biệt này. Hôi chứng AS thường đi kèm theo với những chứng
bệnh khác như rối loạn máy, rối loạn Tourette, rối loạn giảm chú ý và rối loạn
tâm trạng như bệnh trầm cảm và lo âu. Những bé bị hội chứng này không bị
chậm về trí tuệ thậm chí một số lại có năng khiếu đặc biệt về tính toán, tri
nhớ, hội họa, âm nhạc… Do đó gia đình lúc đầu tưởng trẻ thông minh. Nhiều
trẻ có thể đi học được nhưng cũng gặp khó khăn trong giao tiếp và học các
môn không đồng đều cùng với sự vụng về trong viết chữ.
4. Nguyên nhân
Trong một vài trường hợp, hội chứng AS có thể một phần là do di truyền
(cha hoặc mẹ, thường là cha bị hội chứng AS hay ít ra là đặc tính tương tự
như AS). Hans Asperger mô tả triệu chứng phổ biến của các thành viên gia
đình bệnh nhân đặc biệt là cha và nghiên cứu hỗ trợ quan sát này cho thấy
một sự đóng góp di truyền trong hội chứng Asperger. Hầu hết các nghiên
cứu cho thấy rằng tất cả các rối loạn tự kỷ có cơ chế di truyền , nhưng AS có
tính di truyền mạnh hơn chứng tự kỷ. Có lẽ ở các gen đặc biệt là các alen là
cho một cá nhân dễ bị tổn thương để phát triển thành hội chứng AS. Sự kết
hợp đặc biệt của alen sẽ xác định mức độ nghiêm trọng và triệu chứng cho
mỗi cá nhân với AS.


6
Các đặc điểm về tính khí như sở thích mạnh và hạn hẹp, phong cách
cưỡng chế và cứng nhắc, thái độ vụng về trong hoàn cảnh xã hội, hoặc tính
nhút nhát cũng phổ biến nơi các trẻ bị AS. Ðôi khi trong gia đình hoặc họ hàng
đã có người bị chứng tự kỷ, điều này càng xác nhận rằng hội chứng AS và bệnh
tự kỷ là những chứng bệnh liên hệ. Những cuộc khảo cứu khác cho thấy con
của những người bị hội chứng AS có tỉ lệ bị bệnh trầm cảm hay rối loạn tâm
trạng hai chiều khá cao và trong vài trường hợp có chứng cớ di truyền.
Cũng như với bệnh tự kỷ, hội chứng AS có nhiều nguyên nhân kể cả di
truyền và không thể nào gán hội chứng cho một nguyên nhân độc nhất nào cả.
Một vài trường hợp AS có liên quan đến tiếp xúc với các tác nhân gây ra quái
thai (các tác nhân gây dị tật bẩm sinh) trong tám tuần đầu tiên của thai. Mặc
dù điều này không loại trừ khả năng rằng AS có thể được bắt đầu hoặc bị ảnh
hưởng sau đó, nó là bằng chứng mạnh mẽ rằng nó xuất hiện rất
sớm. Nhiều yếu tố môi trường đã được đưa ra là giả thuyết của hội chứng sau
khi sinh, nhưng không có bằng chứng.
Các kỹ thuật chụp não cũng nhận thấy có những khác biệt về cấu trúc
chức năng ở một số vùng chuyên biệt của não bộ.
Thực tế ở phòng khám BV Nhi Trung ương cho thấy có một số trẻ bị hội
chứng AS khi bố mẹ sinh con ở tuổi đã cao, gia đình có người thân chậm nói,
có người ruột thịt tính tình khép kín ít quan hệ với bạn bè…
5. Phân loại
Mức độ chồng chéo giữa AS và bệnh tự kỷ chức năng cao ( HFA) là
không rõ ràng. Việc phân loại ASD là một mức độ nào đó của tự kỷ và có thể
không phản ánh bản chất thật của rối loạn. Các nghiên cứu đã chứng minh hội
chứng Asperger là một chẩn đoán có giá trị ngay từ đầu. Trong phiên bản thứ
năm của Diagnostic and Statistical Manual (DSM -5), xuất bản tháng 5 năm


7
2013, AS như là một chẩn đoán riêng biệt đã bị loại và xếp vào rối loạn tự
kỷ. Nhưng AS không được loại bỏ theo đĩnh nghĩa của WHO ICD-10.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa hội chứng Asperger (AS) là
một trong những rối loạn phổ tự kỷ (ASD) hoặc rối loạn phát triển lan
tỏa (PDD), đó là một dạng của các điều kiện tâm lý được đặc trưng bởi sự bất
thường của tương tác xã hội và truyền thông ảnh hưởng đến hoạt động của cá
nhân và bằng cách hạn chế và lặp đi lặp lại lợi ích và hành vi. Giống như rối
loạn phát triển tâm lý khác, tự kỷ bắt đầu trong giai đoạn trứng hoặc thời thơ
ấu, có một giai đoạn ổn định mà không thuyên giảm hoặc tái phát và là kết
quả của những thay đổi liên quan đến sự trưởng thành trong các hệ thống
khác nhau của não bộ. ASD, lần lượt là một tập hợp con của bệnh tự kỷ rộng
hơn kiểu hình trong đó mô tả những cá nhân có thể không có ASD nhưng
không có mắc chứng tự kỷ, chẳng hạn như yếu trong xã hội. Trong số bốn
hình thức ASD khác, tự kỷ là giống nhất với AS trong các dấu hiệu và nguyên
nhân, nhưng chẩn đoán của nó đòi hỏi phải có thông tin liên lạc bị suy yếu và
cho phép chậm trễ trong việc phát triển nhận thức, hội chứng Rett và rối loạn
nhận thức thời thơ ấu chia sẻ một số dấu hiệu mắc bệnh tự kỷ nhưng có thể có
nguyên nhân liên quan; và rối loạn phát triển lan tỏa không có quy định khác
(PDD-NOS) được chẩn đoán khi các tiêu chuẩn cho một rối loạn cụ thể hơn
chưa được đáp ứng.
Hội chứng Asperger hoặc rối loạn tự kỷ ở trẻ?
Các tiêu chí của AS trong DSM-IV (APA 1994) cũng tương tự như
những bệnh tự kỷ với ba trường hợp ngoại lệ. Đầu tiên, thông tin liên lạc và
trí tưởng tượng của các tiêu chí cho chứng tự kỷ không được liệt kê cho AS.
Thứ hai, các cá nhân với AS không bị "chậm trễ trong ngôn ngữ" (APA 1994).
Thứ ba, trẻ với AS không có "chậm trễ đáng kể về mặt lâm sàng trong phát


8
triển nhận thức hoặc trong việc phát triển các kỹ năng tự giúp đỡ phù hợp lứa
tuổi, hành vi thích nghi (khác hơn trong tương tác xã hội) và tò mò về môi
trường trong thời thơ ấu" (Eisenmajer 1996 , Eisenmajer et al.1996, Volkmar
et al. 1998). Những tiêu chí này phù hợp với suy nghĩ của Asperger (1944),
người ta tin rằng chính là người tàn tật có tính chất xã hội không phải do sự
chậm trễ trí tuệ hoặc ngôn ngữ. Sự mâu thuẫn trong các định nghĩa của AS và
tự kỷ có liên quan trong các lĩnh vực: nhận thức, ngôn ngữ và phát triển động
cơ (Szatmari et al. 1995, Eisenmajer et al. 1996, Klin và Volkmar năm 1997,
Volkmar và Klin 2000, Klin và Volkmar 2003).
AS và tự kỷ chức năng cao (HFA)
Ở trẻ em và thanh thiếu niên được chẩn đoán mắc AS thường có các
triệu chứng và các rối loạn khác mà không đơn thuần chỉ AS. Việc phân loại
AS và HFA đã được đặt ra nhưng có rất ít nghiên cứu về vấn đề này. Hiện nay
không có hướng dẫn chẩn đoán HFA một cách rõ ràng. Theo Klin và đồng
nghiệp (2000), AS khác với HFA bởi khởi phát muộn và nhiều kết quả thuận
lợi. Ngoài ra, thâm hụt ngân sách xã hội và giao tiếp là ít nghiêm trọng, động
cơ phong cách thường không có trong khi lợi ích là dễ thấy hơn và hành động
vụng về thường xuyên được nhìn thấy trong AS hơn (Klin et al. 2000). Ngoài
ra còn có tiền sử gia đình về các vấn đề tương tự cũng được thấy thường
xuyên hơn trong AS hơn trong HFA.
(Gillberg năm 1989, Gillberg năm 1998, Klin et al. 2000).
Tâm thần phân liệt với AS
Tâm thần phân liệt là phổ biến hơn ở những người bị AS (Tantam 2000).
Volkmar và Cohen (1991) đã kết luận rằng tần số của tâm thần phân liệt ở
người có bệnh tự kỷ là khoảng 0.6%. Tỷ lệ tâm thần phân liệt xuất hiện tương


9
đối thấp trong các nghiên cứu của các cá nhân mắc AS. Trong một nghiên cứu
của các cá nhân với AS, Wing (1981) mô tả một với một chẩn đoán chưa được
xác nhận của tâm thần phân liệt. Tantam (1991) chẩn đoán ba trường hợp tâm
thần phân liệt trong 83 cá nhân với AS nhưng lưu ý rằng con số này có thể sẽ
cao hơn trong một dân số không được lựa chọn, bởi vì các cá nhân trong
nghiên cứu được giới thiệu tất cả tâm thần. Konstantareas và Hewitt (2001) đã
nghiên cứu 14 nam giới mắc chứng rối loạn tự kỷ (AD) (độ tuổi 17-33; có
nghĩa là 25,3, SD 4,48) và 14 với tâm thần phân liệt (từ 23-39 tuổi, có nghĩa
là 29,5; SD 5.14).
Tăng động giảm chú ý (ADHD)
Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) được đặc trưng bởi sự suy giảm
chú ý, quá nhiều vận động và bốc đồng. Tất cả đều cản trở sự tương tác xã hội
(Ernst et al. 1999). Vài nghiên cứu đã đưa ra các bằng chứng liên quan chứng
tự kỷ và ADHD và chỉ có một nghiên cứu đã tập trung vào yếu tố đồng gây
bệnh của AS và ADHD.
6. Đặc điểm
Là một rối loạn phát triển lan tỏa , hội chứng Asperger được phân biệt
bởi một mô hình của các triệu chứng chứ không phải là một triệu chứng duy
nhất. Nó được đặc trưng bởi suy giảm chất lượng trong tương tác xã hội, bằng
cách rập khuôn và mô hình của hành vi, hoạt động và lợi ích hạn chế, và
không sự chậm trễ trong phát triển nhận thức hoặc chậm trễ trong ngôn ngữ
nói chung. Mối bận tâm với một chủ đề hẹp, một chiều rườm rà, hạn chế ngôn
điệu và vụng về là điển hình của tình trạng này, nhưng không cần thiết cho
chẩn đoán.


10
Tương tác xã hội
Thiếu sự đồng cảm có thể tác động đáng kể đến khía cạnh xã hội của
những người bị hội chứng Asperger. Cá nhân bị AS gặp khó khăn trong tương
tác xã hội trong đó có thể bao gồm sự thất bại để phát triển tình bạn hoặc tìm
kiếm thú vui chia sẻ với những người xung quanh, sự chia sẻ tình cảm và
giảm sút hành vi phi ngôn ngữ trong các lĩnh vực như giao tiếp bằng mắt, nét
mặt, tư thế và cử chỉ. Những người mắc Aspergers có sự suy giảm tâm thần
gây khó khăn trong việc hiểu được những suy nghĩ, cảm xúc và ý định của
người khác và làm thế nào để liên hệ đến bản thân.
Những người bị AS có thể không được như những người khác xung
quanh, hình thức suy nhược hơn bệnh tự kỷ ; họ tiếp cận những người khác
ngay cả khi lúng túng. Ví dụ, một người có AS có thể tham gia vào bài phát
biểu một chiều và dài dòng về một chủ đề yêu thích trong khi không nhận ra
cảm xúc hoặc phản ứng của người nghe chẳng hạn như một mong muốn thay
đổi chủ đề của cuộc nói chuyện hoặc kết thúc sự tương tác. Lúng túng xã hội
này đã được gọi là "hoạt động nhưng kỳ lạ". Tuy nhiên, không phải tất cả cá
nhân AS sẽ tiếp cận với những người khác, một số có thể hiển thị câm chọn
lọc, nói không phải với tất cả mọi người nhưng lại quá mức cho những người
nghe cụ thể. Một số có thể chỉ chọn để nói chuyện với những người họ thích.
Khả năng nhận thức của trẻ em với AS thường cho phép họ trình bày
rõ các chuẩn mực xã hội trong bối cảnh phòng thí nghiệm, nơi họ có thể thể
hiện sự hiểu biết những cảm xúc của người khác; Tuy nhiên, họ thường gặp
khó khăn trong hoạt động trên trong thực tế. Những người bị AS có thể phân
tích và chắt lọc những quan sát của họ về tương tác xã hội vào hướng dẫn
hành vi cứng nhắc và áp dụng những quy tắc một cách vụng về.


11
Các giả thuyết cho rằng các cá nhân với AS có nguy cơ mắc hành vi bạo
lực hoặc hình sự đã được điều tra nhưng không được hỗ trợ bởi dữ liệu. Nhiều
bằng chứng cho thấy trẻ em bị AS là nạn nhân chứ không phải là người lừa
đảo. Một đánh giá năm 2008 cho thấy rằng một số lượng áp đảo của các báo
cáo tội phạm bạo lực bị AS đã cùng tồn tại với rối loạn tâm thần như rối loạn
phân liệt cảm xúc.
Hạn chế lợi ích và hành vi lặp đi lặp lại
Những người bị hội chứng Asperger hiển thị hành vi, sở thích và các
hoạt động bị hạn chế và lặp đi lặp lại và đôi khi căng thẳng hay tập trung bất
thường. Họ không linh hoạt, di chuyển một cách rập khuôn và lặp đi lặp lại
hoặc bận tâm đến các bộ phận của chính mình.
Theo đuổi và quan tâm đến các lĩnh vực cụ thể và hẹp là một trong
những tính năng nổi bật nhất của AS. Trẻ mắc hội chứng AS có thể thu thập
thông tin chi tiết về một chủ đề tương đối hẹp như dữ liệu thời tiết hoặc tên
sao mà không nhất thiết phải có một sự hiểu biết nào về chúng. Ví dụ: một
đứa trẻ có thể nhớ số mô hình máy ảnh trong khi có ít hiểu biết về nhiếp ảnh.
Hành vi này thường gặp ở trẻ 5, 6 tuổi. Bởi vì chủ đề hẹp thường xuyên nắm
bắt sự quan tâm của trẻ em, các triệu chứng này có thể không được công
nhận.
Hành vi rập khuân và lặp đi lặp lại là một phần quan trọng trong chẩn
đoán AS và rối loạn tự kỷ khác. Chúng bao gồm các chuyển động của tay như
vỗ hoặc xoắn và các hoạt động toàn thân phức tạp. Chúng thường được lặp đi
lặp lại. Nó khác với co giật ở chỗ: thường là nhanh hơn, ít nhịp điệu và ít
thường xuyên hơn đối xứng.


12
Nói và ngôn ngữ
Mặc dù trẻ bị hội chứng AS không chậm nói nhưng lời nói của họ
thường có những bất thường đáng kể, tiếp thu ngôn ngữ và sử dụng thường
không điển hình. Bất thường bao gồm nói rườm rà, quá trình chuyển đổi đột
ngột, diễn giải theo nghĩa đen và không biểu cảm, thâm hụt nhận thức thính
giác, mô phạm bất thường, ý kiến mang phong cách riêng, ngữ điệu, thi pháp,
và nhịp điệu khác thường. Nhại lời cũng đã được quan sát thấy ở những người
có AS.
Mặc dù lời nói và ngữ điệu có thể ít cứng nhắc hay đơn điệu hơn so với
tự kỷ cổ điển nhưng những người bị AS thường có nhiều hạn chế về ngữ điệu:
bài phát biểu có thể được thực hiện nhanh chóng một cách bất thường. Lời
nói có thể rời rạc, cuộc đàm thoại thường bao gồm những đoạn độc thoại về
chủ đề mà người nghe không rõ, không cung cấp bối cảnh cho ý kiến, hoặc
không ngăn chặn những suy nghĩ bên trong. Trẻ bị AS có thể không phát hiện
được liệu người nghe có quan tâm hay tham gia vào cuộc trò chuyện hay
không. Kết luận hay quan điểm của người nói có thể không bao giờ được thực
hiện và nỗ lực của người nghe giải thích về nội dung của bài phát biểu hoặc
chuyển sang chủ đề liên quan, thường không thành công.
Trẻ em bị AS có thể có một vốn từ vựng phức tạp bất thường so với tuổi(
được gọi là "giáo sư nhỏ"), nhưng gặp khó khăn trong việc hiểu ngôn ngữ
tượng trưng và có xu hướng sử dụng ngôn ngữ theo nghĩa đen. Trẻ em bị AS
dường như có những điểm yếu đặc biệt trong các lĩnh vực ngôn ngữ bao gồm
hài hước, châm biếm, trêu chọc, và mỉa mai. Mặc dù cá nhân với AS thường
hiểu được cơ sở nhận thức của sự hài hước, họ dường như thiếu hiểu biết về
mục đích của sự hài hước để chia sẻ với những người khác.


13
Vận động và nhận thức giác quan
Người có hội chứng Asperger có thể có dấu hiệu hoặc triệu chứng mà
không phụ thuộc vào chẩn đoán, nhưng có thể ảnh hưởng đến cá nhân hay gia
đình. Chúng bao gồm sự khác biệt trong nhận thức về các vấn đề với kỹ năng
vận động, giấc ngủ, và cảm xúc.
Trẻ với AS thường có cảm nhận thính giác và thị giác rất tốt. Trẻ em bị
ASD thường chứng tỏ nhận thức nâng cao của những thay đổi nhỏ trong các
mô hình như sắp xếp của các đối tượng hoặc hình ảnh nổi tiếng; thường đây
là tên cụ thể và liên quan đến việc xử lý các tính năng hạt mịn. Ngược lại, so
với những người có bệnh tự kỷ chức năng cao, các cá nhân với AS có sự giảm
sút trong một số nhiệm vụ liên quan đến nhận thức thị giác không gian, nhận
thức thính giác, hay trí nhớ thị giác. Nhiều tài khoản của cá nhân với AS và
ASD báo cáo khác thường cảm giác kỹ năng và nhận thức và kinh
nghiệm. Họ có thể nhạy cảm bất thường hay nhạy cảm với âm thanh, ánh
sáng, và kích thích khác; những phản ứng cảm giác được tìm thấy trong rối
loạn phát triển khác và không đặc hiệu với AS hoặc ASD. Có rất ít sự hỗ trợ
cho tăng phản ứng chiến hay bay hay thất bại của thói quen trong bệnh tự
kỷ; có bằng chứng về phản ứng giảm xuống còn kích thích cảm giác, mặc dù
một số nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt.
Tài liệu ban đầu của Hans Asperger và các chương trình chẩn đoán khác
bao gồm mô tả về hoat động vụng về. Trẻ em bị AS có thể bị trì hoãn trong kỹ
năng vận động, chẳng hạn như đi xe đạp hoặc mở một cái lọ và có vẻ như di
chuyển vụng về hoặc cảm thấy "không thoải mái trong làn da của
mình". Chúng có thể phối hợp kém hoặc có một dáng đi riêng lẻ hoặc tư thế,
chữ viết tay kém hoặc các vấn đề hội nhập thị giác vận động. Họ có thể cho
thấy vấn đề với cảm giác vị trí cơ thể, các biện pháp phối hợp phát triển rối


14
loạn (rối loạn vận động lập kế hoạch), sự cân bằng, song song dáng đi và
ngón tay cái ghép lại. Không có bằng chứng rằng những vấn đề kỹ năng vận
động phân biệt AS từ tự kỷ chức năng cao khác.
Trẻ em bị AS có thể gặp khó khăn về giấc ngủ, trong đó có khó khăn
trong việc đi vào giấc ngủ, thường xuyên thức giấc vào ban đêm và thức giấc
vào buổi sáng sớm. AS cũng có liên quan với mức độ cao của alexithymia, đó
là khó khăn trong việc xác định và mô tả cảm xúc của một người. Mặc dù AS
có chất lượng giấc ngủ thấp hơn và alexithymia có liên quan, mối quan hệ qua
lại giữa chúng là không rõ ràng.
Hoạt động điều hành
Vấn đề điều hành hoạt động khá phổ biến ở các cá nhân bị
Aspergers. Đây là khả năng lập kế hoạch, quản lý và thực hiện các nhiệm vụ
phức tạp. Vấn đề điều hành hoạt động có thể biểu hiện theo nhiều cách khác
nhau như: trở ngại xoay người trong bài tập ở nhà, không theo dõi các tài sản
hoặc thời gian, hoặc không tìm sự giúp đỡ nếu không đi đúng hướng. Những
người có chức năng điều hành thấp thường được coi là lười biếng hoặc không
có động lực. Kể từ khi sống độc lập đòi hỏi kỹ năng hoạt động điều hành,
nhiều bệnh nhân có một thời gian khó sống riêng.
7. Chẩn đoán
Tiêu chuẩn chẩn đoán AS bao gồm: sự suy giảm trong tương tác xã hội
và các mẫu lặp đi lặp lại và rập khuôn của hành vi, hoạt động và lợi ích,
không chậm trễ đáng kể trong ngôn ngữ hoặc phát triển nhận thức. có nhiều
bộ tiêu chẩn chuẩn đoán AS: theo ICD 10, các DSM-IV-TR tiêu chí cũng yêu
cầu suy giảm đáng kể trong hoạt động từ ngáy này qua ngày khác; với DSM5 thì coi AS như là một chẩn đoán riêng biệt vào năm 2013, và lồng nó vào


15
bệnh tự kỷ rối loạn. Tiêu chuẩn chẩn đoán khác đã được đề xuất bởi
Szatmari et al. và Gillberg và Gillberg.
Chẩn đoán thường được thực hiện ở độ tuổi từ bốn đến mười một. Một
đánh giá toàn diện được thực hiện bởi một nhóm nhiều thành phần nghề
nghiệp mà quan sát trên nhiều mặt bao gồm: thần kinh và đánh giá di truyền
cũng như kiểm tra cho nhận thức, chức năng tâm lý, điểm mạnh và điểm yếu
của ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, phong cách học tập và kỹ năng sống độc lập.
Các "tiêu chuẩn vàng" trong chẩn đoán hội chứng tự kỷ kết hợp đánh giá lâm
sàng với chẩn đoán bệnh tự kỷ Phỏng vấn sửa đổi (ADI-R) và các chẩn đoán
quan sát biểu tự kỷ (ADOS) trò chuyện và phỏng vấn chơi dựa trên với đứa
trẻ. Trì hoãn hoặc chẩn đoán nhầm lẫn có thể gây nên chấn thương cho trẻ và
gia đình. Ví dụ: chẩn đoán sai có thể dẫn đến điều trị sai làm trầm trọng thêm
hành vi. Nhiều trẻ em bị AS ban đầu được chẩn đoán nhầm với rối loạn tăng
động giảm chú ý (ADHD). Chẩn đoán người lớn là khó khăn hơn và giống
tiêu chuẩn chẩn đoán được thiết kế cho trẻ em. Biểu hiện của AS thay đổi theo
tuổi tác; chẩn đoán người lớn yêu cầu khám lâm sàng, hỏi tiền sử tỉ mỉ và kỹ
lưỡng. Thông tin được thu thập từ cá nhân và những người xung quanh, tập
trung vào hành vi thời thơ ấu. Cần phải chẩn đoán phân biệt với các hội chứng
tự kỷ khác, bệnh tâm thần phân liệt, ADHD, rối loạn ám ảnh cưỡng chế, rối
loạn trầm cảm, rối loạn thực dụng ngữ nghĩa, rối loạn học tập không lời, hội
chứng Tourette, rối loạn vận động rập khuôn, rối loạn lưỡng cực, và giảm
nhận thức xã hội nhận do tổn thương não từ tình trạng lạm dụng rượu.
Không chẩn đoán kịp thời hoặc chẩn đoán quá mức là những vấn đề cần
được chú ý. Các chi phí và khó khăn trong việc kiểm tra và đánh giá có thể
làm chậm chẩn đoán. Ngược lại, sự phổ biến ngày càng tăng của các lựa chọn
điều trị bằng thuốc và mở rộng lợi ích đã dẫn đến tình trạng chẩn đoán quá
mức ASD. AS được chẩn đoán thường xuyên hơn trong những năm gần đây.


16
Thường chẩn đoán ở trẻ em có trí thông minh bình thường không phải là
người mắc chứng tự kỷ nhưng có khó khăn xã hội.
Có những câu hỏi về giá trị của việc chẩn đoán AS. Đó là: vẫn chưa rõ
liệu có ý nghĩa gì trong việc phân biệt AS và HFA, AS và PDD-NOS; tùy vào
công cụ sàng lọc mà đứa trẻ có thể có chẩn đoán khác nhau.
a. Theo thủ bản DSM-IV, các tiêu chuẩn định bệnh của hội chứng AS
bao gồm các triệu chứng sau đây:
Sự suy thoái trong phẩm chất việc giao tiếp xã hội bao gồm một số hay
tất cả những điều sau:
Suy giảm khả năng dùng cử chỉ để điều hoà việc giao tế,
Không có thể làm bạn với trẻ cùng lứa tuổi,
Không thích chia sẻ một cách tự phát những kinh nghiệm với những trẻ
em khác, và thiếu sự hỗ tương qua lại về mặt xã hội và tình cảm.
Có những hành vi, sở thích hay hoạt động hạn hẹp, lập đi lập lại và rập
khuôn bao gồm:
Bận tâm với một hay nhiều sở thích hạn hẹp và rập khuôn, nhất mực
theo một thông lệ hay nghi thức nhất định,
Có những thói quen cầu kỳ, kiểu cách rập khuôn và lập đi lập lại hay rất
bận tâm với những phần nhỏ của các đồ vật,
Những cử chỉ hành vi này gây xáo trộn đáng kể trong sinh hoạt hàng
ngày và giao tế xã hội. Nhưng tình trạng này không phải do việc chậm phát
triển về nhận thức hay những khả năng thích nghi, sở thích trong môi trường
hay việc chậm nói. Ông Christopher Gillberg, một bác sĩ Thụy điển nghiên
cứu rất nhiều về hội chứng AS, đã đề nghị tiêu chuẩn định bệnh hội chứng
AS, giải thích rõ hơn những tiêu chuẩn trong DSM-IV. Sáu tiêu chuẩn này mô
tả những đặc tính duy nhất của các trẻ em bị hội chứng AS như sau :


17
Thiếu sót khả năng xã hội với đặc tính hướng về bản thân mang tính vị
kỷ tối đa có thể bao gồm :
Không thể tương tác với trẻ cùng lứa tuổi;
Không muốn tương tác với trẻ em cùng lứa;
Thiếu khả năng đánh giá những quy ước xã giao
Sở thích hạn hẹp và bận tâm về:
vai trò hơn là ý nghĩa
không màng đến sở thích khác
triệt để tôn trọng, lập đi lập lại một vài cử chỉ
Có những thói quen hay nghi thức có thể : tự đặt ra cho mình, hoặc ép
người khác phải làm theo
Ngôn từ và nói năng đặc thù như:
Mới đầu có thể có vẻ chậm nói
Nói năng có vẻ như bình thường
Giọng hay cách nói có những đặc tính kỳ lạ
Không hiểu được lời người khác hay hiểu nghĩa đen mà thôi
Những khó khăn trong việc dùng cử chỉ để thông đạt, chẳng hạn như:
Ít dùng cử chỉ
Có điệu bộ hay nét mặt vụng dại
Cái nhìn “sừng sững” kỳ lạ
Khó lòng xử thế khi người khác đứng gần bên
Cử chỉ vụng về : không phải trẻ em AS nào cũng có
8. Điều trị
Điều trị hội chứng AS cần phối hợp các liệu pháp nhằm giải quyết các
triệu chứng chính của rối loạn, bao gồm kỹ năng giao tiếp kém và thói quen
ám ảnh hoặc lặp đi lặp lại. Trong khi hầu hết các chuyên gia đồng ý rằng cần
can thiệp sớm, tốt hơn, cần kết hợp nhiều liệu pháp. AS điều trị tương tự như


18
của hội chứng tự kỷ chức năng cao khác. Một liệu trình điều trị điển hình
thường bao gồm:
Một phân tích hành vi ứng dụng (ABA) gọi là kỹ năng xã hội đào tạo
cho các tương tác hiệu quả hơn giữa các cá nhân;
Liệu pháp hành vi nhận thức để cải thiện sự lo lắng hoặc cảm xúc bùng
nổ và phải cắt giảm sự ám ảnh và thói quen lặp đi lặp lại;
Thuốc, điều kiện cùng tồn tại như rối loạn trầm cảm và rối loạn lo âu;
Nghề nghiệp hoặc vật lý trị liệu để hỗ trợ người nghèo xử lý cảm
giác và phối hợp động cơ;
Xã hội truyền thông can thiệp, đó là chuyên ngành ngôn ngữ trị liệu để
giúp cho sự vận dụng ngôn ngữ trong cuộc trò chuyện bình thường;
Một thủ thuật ABA được biết đến như hỗ trợ hành vi tích cực bao gồm đào
tạo và hỗ trợ của cha mẹ trong chiến lược quản lý hành vi sử dụng trong nhà.
Trong nhiều nghiên cứu về các chương trình can thiệp sớm về hành vi,
nhất là báo cáo trường hợp lên đến năm người tham gia và thường kiểm tra
một vài vấn đề hành vi như tự gây thương tích, gây hấn, không tuân thủ, hoặc
ngôn ngữ tự nhiên; không lường trước được những tác dụng phụ và phần lớn
bị bỏ qua. Mặc dù đào tạo kỹ năng xã hội được phổ biến nhưng hiệu quả của
nó không được thiết lập vững chắc. Một nghiên cứu ngẫu nhiên của một mô
hình đào tạo cha mẹ trong vấn đề hành vi của trẻ bị hội chứng AS cho thấy
các bậc cha mẹ tham dự hội thảo một ngày hoặc sáu bài học cá nhân báo cáo
ít vấn đề hành vi , trong khi cha mẹ nhận được những bài học cá nhân báo cáo
các vấn đề hành vi ít căng thẳng ở trẻ AS. Đào tạo nghề là rất quan trọng để
dạy công việc phỏng vấn nghi thức và hành vi nơi làm việc với trẻ lớn và


19
người lớn bị hội chứng AS và phần mềm tổ chức và trợ lý dữ liệu cá nhân có
thể cải thiện công tác quản lý và đời sống của người bệnh AS.
Trị liệu điều hòa cảm giác thông qua việc tác động vào các giác quan của
trẻ bằng những dụng cụ và tập luyện cho trẻ một cách phù hợp.
Trị liệu ngôn ngữ: dạy giao tiếp xã hội, cách thể hiện tình cảm, kể lại
chuyện, kể chuyện theo tranh/ hình vẽ, cách viết bài…
Chơi trị liệu trong những trò chơi tương tác với bạn.
Thuốc
Không có thuốc đặc hiệu điều trị các triệu chứng của hội chứng AS. Các
nghiên cứu về hiệu quả của thuốc điều trị hội chứng AS không có nhiều. Thuốc
có thể có hiệu quả trong sự kết hợp với các biện pháp can thiệp hành vi và thích
nghi môi trường trong việc điều trị các triệu chứng như rối loạn lo âu, rối loạn
trầm cảm nặng, không chú ý và gây hấn. Các thuốc chống loạn thần không điển
hình thuốc risperidone và olanzapine đã được chứng minh để giảm các triệu
chứng liên quan của AS. Risperidone có thể làm giảm các hành vi lặp đi lặp lại
và tự gây thương tích, sự bùng nổ mạnh mẽ và bốc đồng cải thiện hành vi rập
khuôn và mối quan hệ xã hội. Các chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn
lọc (SSRIs) fluoxetine, fluvoxamine, và sertraline có hiệu quả trong việc điều
trị hành vi bị hạn chế và lặp đi lặp lại.
Khi dùng thuốc phải cẩn thận, theo dõi tác dụng phụ của thuốc. vì tác
dụng phụ của thuốc có thể gây khó khăn trong việc đánh giá các cá nhân AS.
kiểm tra hiệu quả của thuốc điều trị các bệnh kèm theo. các bất thường
trong sự trao đổi chất, dẫn truyền trong tim và tăng nguy cơ bệnh tiểu đường
typ 2 đã được đặt ra

với các loại thuốc này. Bên cạnh đó còn có các tác

dụng phụ kéo dài về thần kinh nghiêm trọng. SSRIs có thể dẫn đến những


20
biểu hiện của hành vi kích hoạt như tăng tính bốc đồng, xâm lược, và rối loạn
giấc ngủ. Tăng cân và mệt mỏi thường được báo cáo do tác dụng phụ của
risperidone, mà cũng có thể dẫn đến nguy cơ gia tăng các triệu chứng ngoại
tháp như bồn chồn, loạn trương lực và tăng huyết thanh prolactin cấp. An thần
và tăng cân là phổ biến hơn với olanzapine. Nó cũng có thể gây bệnh tiểu
đường. Tác dụng phụ của các thuốc gây an thần gây ảnh hưởng đến việc hoc
tập của trẻ. Cá nhân bị hội chứng AS có thể không thể xác định tâm trạng và
cảm xúc nội bộ hoặc chịu đựng được các tác dụng phụ của thuốc.
Hiện nay, tại bệnh viện nhi trung ương chỉ dùng thuốc cho một số trẻ nếu
có kèm những rối loạn khác như tăng động, hung tính, lo âu, trầm cảm…Việc
phát hiện sớm trẻ bị hội chứng AS là quan trọng vì giúp trẻ càng sớm thì trẻ
càng có nhiều cơ hội hòa nhập tốt hơn với mọi người.
9. Tiên lượng
Có một số bằng chứng cho thấy các triệu chứng ở trẻ em bị AS có thể
suy giảm. Khoảng 20% trẻ em có thể không còn đủ các tiêu chuẩn chẩn đoán
AS khi trưởng thành mặc dù khó khăn trong tương tác xã hội và giao tiếp có
thể vẫn tồn tại. Đến năm 2006, chưa có nghiên cứu nào giải quyết các hậu quả
kéo dài ở trẻ bị hội chứng Asperger và không có nghiên cứu nào theo dõi dài
hạn hội chứng AS ở trẻ em. AS không ảnh hưởng đến tuổi thọ của trẻ nhưng
lại làm gia tăng tỷ lệ tâm thần chẳng hạn như rối loạn lo âu và rối loạn trầm
cảm nặng. Tiên lượng của hội chứng AS tốt hơn rối loạn tự kỷ; Mặc dù hầu
hết các sinh viên với AS / HFA có khả năng toán học trung bình và thử
nghiệm trong toán học hơi tồi tệ nhưng một số có được năng khiếu toán học
và AS đã không ngăn cản một số người đạt được những thành tựu lớn
như Vernon L. Smith chiến thắng các giải Nobel.


21
Mặc dù nhiều trẻ bị AS tham dự các lớp giáo dục thường xuyên nhưng
một số trẻ em bị AS có thể phải sử dụng dịch vụ giáo dục đặc biệt vì các khó
khăn xã hội và hành vi của họ. Thanh thiếu niên với AS có thể có khó khăn
trong tự chăm sóc, tổ chức và các rối loạn trong các mối quan hệ xã hội. Mặc
dù tiềm năng nhận thức cao nhưng hầu hết thanh thiếu niên với AS vẫn còn ở
nhà, một số không kết hôn và làm việc độc lập. Lo âu có thể xuất phát từ sự lo
lắng trên hành vi vi phạm có thể có của thói quen và các nghi lễ hoặc từ mối
quan tâm với thất bại trong cuộc gặp gỡ xã hội; sự căng thẳng biểu hiện như
thiếu chú ý, thu hồi, sự phụ thuộc vào ám ảnh, hiếu động thái quá hoặc hành
vi hung hăng hoặc đối lập. Trầm cảm thường là kết quả của sự thất vọng kéo
dài lặp đi lặp lại thất bại trong việc thu hút những người khác về mặt xã hội
và rối loạn tâm trạng cần điều trị có thể phát triển. Kinh nghiệm lâm sàng cho
thấy tỷ lệ tự tử có thể cao hơn ở những người có AS nhưng điều này chưa
được chứng minh qua các nghiên cứu có hệ thống.
Giáo dục của gia đình là rất quan trọng trong việc phát triển các chiến
lược cho sự hiểu biết điểm mạnh và điểm yếu; giúp các gia đình cải thiện hậu
quả ở trẻ em bị AS. Tiên lượng có thể tốt hơn bằng cách chẩn đoán ở độ tuổi
trẻ và cho phép can thiệp sớm trong khi can thiệp ở tuổi trưởng thành có giá
trị nhưng ít lợi ích hơn. Có ý nghĩa pháp lý cho các cá nhân bị AS vì họ có
nguy cơ khai thác bởi những người khác mà không thể hiểu được ý nghĩa xã
hội của hành động của họ. Cha mẹ của trẻ có hội chứng Asperger thường có
thể theo dõi sự khác biệt trong sự phát triển của con em họ đến sớm nhất là 30
tháng tuổi.
10. Kết luận
Hội chứng Asperger là một rối loạn nằm trong nhóm các rối loạn phát
triển lan tỏa, biểu hiện lâm sàng là bất thường về tương tác, giao tiếp và hành


22
vi, chiếm tỷ lệ khoảng 2-3/1000. Nam gặp nhiều hơn nữ. Một số trẻ biểu lộ
mối bận tâm quá mức, hoặc sự thông minh vượt trội trong một số lĩnh vực
nhất định. Tuy nhiên, hội chứng này chưa được nhận thức đúng mức trong
cộng đồng, các biểu hiện ít rõ ràng trước 3 tuổi nên thường được chẩn đoán
muộn, làm giảm cơ hội can thiệp sớm cho trẻ. Trẻ mắc hội chứng Asperger
vẫn có thể học tập, sinh hoạt trong môi trường bình thường nếu có sự trợ giúp
tích cực của người thân và các thầy cô giáo. Vì vậy, nâng cao nhận thức của
cộng đồng về tự kỷ nói chung và hội chứng Asperger nói riêng, phát triển giáo
dục đặc biệt kết hợp với giáo dục hòa nhập là những yếu tố quan trọng, giúp
trẻ vượt qua những khó khăn của mình để có thể hòa nhập và thích nghi xã
hội.


MỤC LỤC

HỘI CHỨNG ASPERGER...............................................................................1
1. Đại cương...................................................................................................1
2. Lịch sử của bệnh........................................................................................2
3. Dịch tễ học.................................................................................................2
4. Nguyên nhân..............................................................................................5
5. Phân loại.....................................................................................................6
6. Đặc điểm....................................................................................................9
7. Chẩn đoán.................................................................................................14
8. Điều trị.....................................................................................................17
9. Tiên lượng................................................................................................20
10. Kết luận..................................................................................................21
TÀI LIỆU THAM KHẢO


TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỘ MÔN NHI


CHUYÊN ĐỀ
HỘI CHỨNG ASPERGER

Người thực hiện : Nguyễn Thị Đông
Lớp cao học
: Nhi – Khóa 22

HÀ NỘI – 2014



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×