Tải bản đầy đủ

Đặc điểm lâm sàng vàcận lâm sàng, dịch tễ học và kiến thức của bệnh nhân người lớn mắc sởi tại khoa truyền nhiễm – bệnh viện bạch mai năm 2014

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sởi vẫn đang được coi là một trong những bệnh truyền nhiễm gây dịch nguy
hiểm trên thế giới. Tuy đã có văc-xin phòng bệnh nhưng bệnh vẫn phổ biến với tỷ lệ biến
chứng và tử vong cao, đặc biệt đối tượng trẻ nhỏ ở các nước đang phát triển [13].
Ở Việt Nam, trong những năm qua, sởi đã được đưa vào chương trình tiêm
chủng mở rộng (TCMR) tại Việt Nam từ tháng 10 năm 1985 [5]. Liên tục từ năm
1989 đến nay, tỷ lệ tiêm vac-xin luôn được duy trì trên 90% và tỷ lệ mắc bệnh sởi
cũng giảm một cách rõ rệt. Để tiến tới loại trừ bệnh sởi vào năm 2010 được sự đầu
tư của Nhà nước và sự hỗ trợ của Quốc tế, Việt Nam đã tiến hành tiêm vac-xin sởi
mũi hai trên phạm vi rộng vào các năm 2002- 2003 cho đối tượng trẻ em từ 9 tháng
đến 10 tuổi và duy trì tỷ lệ tiêm vac-xin sởi cho trẻ từ 9- 12 tháng tuổi trong chương
trình TCMR. Theo đó, trẻ được phòng bệnh chủ động bằng việc tiêm vac-xin sởi
sống giảm độc lực mũi 1 khi trẻ 9-12 tháng tuổi và mũi hai khi trẻ 18 tháng tuổi [6].
Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng hệ thống giám sát sởi có hiệu quả và sản xuất
vac-xin sởi trong nước.
Trước đây, bệnh sởi chủ yếu hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, rất ít khi gặp ở
người lớn. Nhưng hiện nay bệnh sởi đã gây bệnh cho cả những người lớn tại các
tỉnh miền Bắc, tập trung nhiều tại các vùng lân cận Hà Nội. Đầu năm 2009, cùng
với việc xuất hiện một lượng lớn người lớn trưởng thành mắc sởi, các chuyên gia y
tế đã khẳng định dịch sởi ở người lớn đã bùng phát trở lại [4]. Ngoài nguyên nhân
khách quan như tỷ lệ bao phủ của tiêm vac-xin, ý thức về phòng bệnh và hiểu biết

về bệnh sởi của người dân vẫn còn hạn chế [19].
Ở Việt Nam, từ đầu năm 2014 đã bùng lên dịch sởi với quy mô toàn quốc, chủ yếu
gặp trẻ em. Tại Viện Nhi Trung ương, theo báo cáo đến tháng 4/2014, có 1280 trẻ
mắc, tử vong trên 100 trường hợp, đây được coi là vụ dịch sởi lớn nghiêm trọng với
số mắc và tử vong cao nhất từ năm 1985 đến nay [18]. Cũng kể từ đầu năm 2014, số
bệnh nhân người lớn mắc sởi vào nhập viện tại khoa Truyền Nhiễm - Bệnh viện
1


Bạch Mai đã tăng lên đột biến. Đặc điểm lâm sàng sởi người lớn đa dạng, phức tạp
dễ nhầm với các bệnh khác như sốt xuất huyết, phát ban dị ứng,... làm khó khăn
trong công tác chẩn đoán, phát hiện sớm để điều trị kịp thời. Hơn nữa, có rất ít tài
liệu và nghiên cứu về sởi trên đối tượng người lớn ở Việt Nam. Chính vì vậy, chúng
tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng, dịch tễ
học và kiến thức của bệnh nhân người lớn mắc sởi tại khoa Truyền nhiễm –
bệnh viện Bạch Mai năm 2014”, với các mục tiêu:
1. Nhận xét đặc điểm dịch tễ học của bệnh nhân sởi người lớn được điều trị
tại khoa Truyền Nhiễm – Bệnh viện Bạch Mai năm 2014.
2. Mô tả kiến thức về bệnh sởi của bệnh nhân sởi người lớn được điều trị
tại khoa Truyền Nhiễm – Bệnh viện Bạch Mai
3. Đánh giá các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh sởi người lớn

2


CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đại cương về bệnh sởi
Bệnh sởi là một bệnh nhiễm virut cấp tính đường hô hấp, có thể diễn biến
thành dịch ở một số nơi. Virut sởi xuất hiện trong máu, đờm dãi, trong họng và mũi
trong suốt thời kỳ nung bệnh và thời kỳ phát ban [8].
1.1.1. Tình hình dịch Sởi trên thế giới và ở Việt Nam:
1.1.1.1. Trên thế giới:
Năm 2013, dịch sởi đã xảy ra ở tất cả 188 quốc gia với gần 175.000 trường
hợp mắc. Theo WHO, 95% các trường hợp tử vong do sởi xảy ra ở các nước đang
phát triển và kém phát triển. Tỷ lệ tử vong ở các nước phát triển chưa đến 0.1% [11]
Theo báo cáo của WHO, chỉ tính riêng 3 tháng đầu năm 2014 đã ghi nhận gần
56.000 trường hợp mắc sởi tại 75 quốc gia trên thế giới. Các quốc gia có số mắc
bệnh cao trong năm 2014 là: Philippines với hơn 17.699 ca mắc và 69 ca tử vong,
Trung Quốc với 26.000 ca mắc. Theo đó, cứ mỗi giờ trôi qua, trên toàn cầu có 14
trẻ tử vong do sởi [12]
Bảng 1.1.Ca nhiễm bệnh sởi theo số liệu thóng kê của WHO [12],
Vùng lãnh thổ
Vùng Châu Phi

1980
1.240.99

Vùng Châu Mỹ
Đông Địa Trung Hải
Vùng Châu Âu
Đông Nam Á
Tây Thái Bình Dương

3
257.790
341.624
851.849
199.535
1.319.64

Toàn cầu

0
4.211.431

1990
481.204

2000
520.10

2005
316.22

2014
12.125

218.579
59.058
234.827
224.925
155.490

2
1.755
38.592
37.421
61.975
176.49

4
19
15.069
37.332
83.627
128.01

3.100
2.214
2.430
1.540
34.310

1.374.08

3
836.33

6
580.28

55.719

3

8

7

3


1.1.1.2. Tại Việt Nam.
Trước khi vắc xin sởi được đưa vào sử dụng năm 1980, ở Việt Nam có 100.000
ca mắc sởi được ghi nhận mỗi năm.
Từ năm 1985, chương trình Tiêm chủng mở rộng vắc xin sởi cho trẻ em được
triển khai. Tỷ lệ tiêm vắc xin sở cho trẻ em dưới 1 tuổi ngày càng tăng và từ năm
1993 liên tục đạt trên 90%. Điều này đã làm cho tỷ lệ mắc sởi trên 100.000 dân
giảm từ 13.709 trong năm 1985 xuống còn 678 năm 1996. Tuy nhiên, từ năm 1997,
số ca mắc sởi lại tăng trở lại mặc dù tỷ lệ tiêm chủng vẫn đạt trên 90%: năm 1997
có 6057 ca; năm 1998 có 10.284 ca; năm 1999 có 13.511 ca và năm 2000 có 16.512
ca mắc sởi [4].
Năm 2012 có khoảng 122.000 người chết vì bệnh sởi- chủ yếu là trẻ dưới 5
tuổi [16]. Trong dịch sởi đầu năm 2014, đến ngày 19 tháng 4 đã có 9.008 số ca mắc
và có ít nhất 116 ca tử vong [13].
Hoạt động tiêm chủng được đẩy mạnh đã có tác động lớn trong việc làm giảm tỷ
lệ tử vong do sởi. Từ năm 2000, có hơn 1 tỷ trẻ em ở các nước có nguy cơ cao được
tiêm phòng sởi thông qua chiến dịch tiêm chủng hàng loạt – năm 2012 có khoảng
145 triệu trẻ em được tiêm phòng. Tỷ lệ tử vong do sởi trên toàn cầu đã giảm 78%,
từ 562.000 trường hợp xuống còn 122.000 trường hợp [16].
1.1.2. Đặc điểm của vi rút sởi
1.1.2.1. Mầm bệnh
- Đặc điểm sinh học của virut sởi:
Virut sởi có cấu trúc giống các Paramyxovirus khác và có nhiều đặc điểm
gần giống chủng Rindepes gây bệnh cho bò.

4


Hình 1.1: Hình dạng và cấu tạo virut sởi (nguồn Wikipedia)
+ Hình thể:
Virut sởi hình cầu đường kính 120nm tới 250nm, chứa ARN sợi đơn, capsid đối
xứng xoắn, có bao ngoài.
Cấu trúc bao ngoài của virut sởi chứa enzym hemaglutinin làm tan hồng cầu
khỉ và giúp sự bám của virut vào thụ thể của tế bào cảm thụ, sau đó giúp sự hòa
màng tạo điều kiện cho ARN của virut xâm nhập vào tế bào [7].
+ Sức đề kháng:
Virut dễ bị diệt bởi nhiệt độ và hóa chất thông thường: 56 0C trong 30 phút
bất hoạt hoàn toàn virut sởi. Virut sởi có thể sống sót ít nhất 2 giờ trong các giọt
aerosol, điều này cho phép chúng tiếp tục lơ lửng trong không khí, phát tán và gây
bệnh khi những giọt nhỏ đủ số lượng [10]. Ánh sáng trời cũng diệt virut nhanh
chóng: đây chính là lý do vac-xin sởi sống giảm độc muốn giữ được hiệu quả bảo
5


vệ khi tiêm phòng cho trẻ phải giữ trong dây truyền lạnh và tối trước khi sử dụng.
Trong quá trình tiêm chủng khoảng cách giữa các trẻ đến tiêm vac-xin sởi cũng cần
bảo quản trong lạnh và tối.
Virut sởi có 2 kháng nguyên:


Kháng nguyên ngưng kết hồng cầu (Hemaglutinin).



Kháng nguyên tan hồng cầu (Hemolysin).
Khi virut vào trong cơ thể bệnh nhân sẽ kích thích sinh kháng thể. Bằng kỹ

thuật kết hợp bổ thể và kỹ thuật ức chế ngưng kết hồng cầu...giúp cho chẩn đoán
bệnh.[1].
Kháng thể xuất hiện từ ngày thứ 2-3 sau khi mọc ban và tồn tại lâu dài. Miễn
dịch trong sởi là miễn dịch bền vững.
1.1.2.2.Nguồn bệnh:
Là bệnh nhân, bệnh có thể lây từ 2-4 ngày trước khi phát bệnh cho đến ngày thứ
5-6 từ khi mọc ban.
1.1.2.3. Đường truyền nhiễm:

Hình 1.2: Đường lây truyền của virut sởi
- Lây qua đường hô hấp:
+ Lây trực tiếp khi bệnh nhân ho, hắt hơi, nói chuyện...
+ Lây gián tiếp ít gặp vì virut sởi dễ bị diệt ở ngoại cảnh [1]

6


Bệnh sởi lây bằng những giọt nhỏ chất nhầy bắn từ mũi họng người bệnh vào
không khí, trong khi ho và hắt hơi. Bệnh rất dễ lây, đến nỗi trẻ em cảm thụ chỉ vào
qua buồng bệnh một chốc lát cũng mắc bệnh [8].
1.1.2.4. Tính cảm thụ và miễn dịch:
- Tỷ lệ thụ bệnh 100% ở người chưa có miễn dịch. Lây truyền mạnh trong
những tập thể chưa có miễn dịch như nhà trẻ, mẫu giáo...
- Hay gặp ở trẻ nhở từ 1-4 tuổi, trẻ dưới 6 tháng ít mắc vì có miễn dịch của mẹ.
Người lớn ít mắc vì đã bị mắc từ bé. Nếu người lớn mắc bệnh thường là những
người ở nơi hẻo lánh, đảo xa...vì từ nhở chưa tiếp xúc với virut sởi.
• Bệnh thường gặp vào mùa đông xuân, thời tiết ẩm.
• Sởi là bệnh gây suy giảm miễn dịch nên bệnh nhân dễ mắc các bệnh khác [1]
1.1.2.5. Cơ chế bệnh sinh: [16]
Virut sởi xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp. Tại đây, virut nhân lên ở tế
bào biểu mô của đường hô hấp và ở các hạch bạch huyết lân cận. Sau đó, virut vào
máu (nhiễm virut máu lần thứ nhất). Thời kỳ này tương ứng với thời kỳ nung bệnh.
Thời kỳ xâm nhập máu lần thứ hai tương đương với giai đoạn vi rút gây tổn
thương viêm long đường hô hấp trên. Nhiễm khuẩn khởi đầu ở đường hô hấp có
biểu hiện ho, chảy nước mũi, ít khi có viêm thanh quản, viêm phế quản hay viêm
phổi. Tại miệng, hiện tượng tăng sinh tế bào nội mạch và xuất tiết tạo nên tổn
thương hạt Koplick. Sự tăng sinh các tế bào bạch cầu đơn nhân quanh các mao
mạch gây nên bệnh cảnh phát ban sởi.
Sau khi gây tổn thương đường hô hấp cùng với suy giảm miễn dịch dẫn đến
nguy cơ nhiễm khuẩn xảy ra ở da, đường hô hấp và các cơ quan khác. Nguy cơ biến
chứng thường gặp ở đường hô hấp như viêm phổi, viêm tai giữa do hậu quả mất
lông mao gây ra bội nhiễm vi khuẩn. Những thay đổi giải phẫu bệnh trong tổ chức
não do vi rút sởi gồm sung huyết và mất myelin. Kháng thể đặc hiệu không tìm thấy
ở giai đoạn trước khi mọc ban. Những cá thể thiếu hụt miễn dịch sẽ bị sởi nặng mặc
dù không có dấu hiệu phát ban sởi. Kháng nguyên sởi đã được tìm thấy trong các
tổn thương da, ở thời kỳ khởi phát của bệnh.
7


1.2. Lâm sàng bệnh sởi
1.2.1. Thể thông thường điển hình:
Như ở tất cả các bệnh phát ban, bệnh sởi cũng diễn biến qua 4 thời kỳ:
● Thời kỳ nung bệnh.
● Thời kỳ khởi phát.
● Thời kỳ phát ban.
● Thời kỳ sởi bay [8]
1.2.1.1 Thời kỳ nung bệnh:
Thời kỳ này chừng 11-12 ngày, có khi rút ngắn còn 7 ngày hoặc kéo dài tới 20
ngày. Ở trẻ sơ sinh người ta thấy tự nhiên trẻ xuống cân đều tuy ăn uống và tiêu hóa
vẫn bình thường. Thời gian nung bệnh, có thể hình thành các kháng thể và người ta
có thể chứng tở sự xuất hiện các kháng thể đó trong máu.
1.2.1.2. Thời kỳ khởi phát:
Chừng 4-5 ngày từ lúc bắt đầu sốt đến lúc bắt đầu mọc sởi, bệnh sởi có thời kỳ
xâm nhiễm lâu nhất. Hai triệu chứng đặc biệt của thời kỳ này là sốt và viêm long.
- Sốt: có thể sốt đột ngột 39-3905, đổ mồ hôi, phần nhiều sốt 37.5-38 0… trẻ
sơ sinh có thể bị co giật.
- Viêm long: là triệu chứng đặc biệt, ít khi thiếu và xuất hiện ở giờ phút đầu ở
niêm mạc mắt, mũi, họng: chảy nước mắt nước mũi, ho, viêm màng tiếp
hợp mắt có gỉ kèm nhèm, sưng nề mi mắt, ho do viêm thanh quản, ho
khan,hắt hơi, ngứa, nhức trán...
- Nội ban xuất hiện (ngày thứ 2): khám miệng họng ta có thể thấy một dấu
hiệu đặc biệt của bệnh sởi là hạt Koplick, đó là các hạt trắng, nhỏ như đầu
đinh ghim, từ vài nốt đến vài chục, vài trăm nốt mọc ở niêm mạc má. Các
hạt Koplick chỉ tồn tại 24-48 giờ [1].

8


Hình 1.3: Hạt Koplick ở niêm mạc miệng


Hạch bạch huyết sưng.



Xét nghiệm ở giai đoạn này có bạch cầu tăng vừa, bạch cầu trung tính tăng cao.

9


1.2.1.3. Thời kỳ phát ban (mọc sởi)
Ban mọc ngày 4-6, ban dát sẩn, ban nhỏ hơi nổi gờ trên mặt da, giữa các ban
là khoảng da lành. Ban mọc rải rác hay dính liền với nhau thành từng đám tròn 36mm. ngày đầu: ban mọc ở sau tai lan ra mặt, hôm sau mọc xuống mình, hai cánh
tay, đến ngày thứ 3 thì sởi mọc khắp người, lan đến lưng, chân và dày nhất ở những
nơi hay cọ sát hoặc phơi nắng.
Ban kéo dài 6 ngày rồi lặn dần theo thứ tự trên. Trong khi mọc sởi thì sốt lui
dần đến khi mọc hết thì hết sốt, vẫn còn triệu chứng viêm long làm đau mắt , sổ mũi
ra mủ, viêm thanh quản và khí quản làm xuất hiện các ran trong phổi khi nghe.


Ban mọc ở bên trong niêm mạc (nội ban): ở đường tiêu hóa gây rối loạn tiêu
hóa, đi lỏng, ở phổi gây viêm phế quản, ho.



Xét nghiệm ở giai đoạn này có bạch cầu giảm, bạch cầu trung tính giảm,
lympho tăng...

1.2.1.4. Thời kỳ ban lặn
Xuất hiện ngay sau khi sởi đã mọc khắp người. Ban bay theo thứ tự từ mặt đến
thân mình và chi, để lại các nốt thâm có tróc da mỏng, mịn, thấy trắng trông như rắc
phấn. Những chỗ da thâm của ban bay và chỗ da bình thường tạo nên màu da loang
lổ gọa là dấu hiệu “vằn da hổ”. Toàn thân bệnh nhân hồi phục dần nếu không có
biến chứng.
1.2.2.Các thể lâm sàng khác:
1.2.2.1. Sởi ác tính:
Hay gặp khi dịch sắp kết thúc ở trong một tập thể. Các dấu hiệu ác tính thường
xuất hiện nhanh chóng trong vài giờ trên những thể địa quá mẫn vào cuối giai đoạn
khởi phát, trước lúc mọc ban, có các thể:
-Sởi ác tính thể xuất huyết: xuất huyết dưới da hoặc nội tạng,
-Sởi ác tính thể phế quản – phổi: biểu hiện chủ yếu là suy hô hấp.
-Sởi ác tính thể nhiễm độc nặng: sốt cao, vật vã, hôn mê, mạch nhanh nhỏ,
huyết áp tụt.

10


-Sởi ác tính thể ỉa chảy: rối loạn tiêu hóa nổi bật.
-Sởi ác tính thể bụng cấp: giống viêm ruột thừa thường gặp ở trẻ từ 6 tháng
đến 2 tuổi, trẻ suy dinh dưỡng hoặc còi xương...
1.2.2.2. Tùy theo cơ địa:
- Sởi ở trẻ suy dinh dưỡng- còi xương: sởi thường không điển hình và nặng.
- Sởi ở trẻ đã được gây miễn dịch bằng Gamma globulin hoặc vac-xin: thường
nhẹ.
- Sởi ở phụ nữ có thai: gây sảy thai, dị dạng, đẻ non..
- Sởi kết hợp các bệnh nhiễm trùng khác như: ho gà, lao, bạch hầu ...làm bệnh
nặng lên.[1]
1.3. Biến chứng của bệnh sởi:
1.3.1. Biến chứng về hô hấp:
Thường gặp nhất, hay do bội nhiễm xuất hiện đồng thời hoặc một tuần khi sởi
mọc và làm tăng bạch cầu, chủ yếu là đa nhân trung tính. Do tụ cầu hoặc chính virut
sởi gây nên.


Viêm mũi và họng



Viêm tai giữa.



Viêm thanh quản.



Viêm phế quản và viêm phổi nhẹ.



Phế quản phế viêm



Nhiễm tụ cầu khuẩn ở phổi.



Rối loạn thông khí do virut.

1.3.2. Biến chứng thần kinh:
- Viêm não- viêm não và màng não – viêm màng não - não và tủy: là một hiện
tượng viêm não trắng quanh tĩnh mạch do cơ chế miễn dịch dị ứng do sự tác động
trực tiếp của virut.

11


- Rối loạn tuần hoàn não: do rối loạn vận mạch và thẩm thấu ở các mạch máu
não gây phù não và xung huyết.
1.3.3. Biến chứng tiêu hóa:
- Viêm miệng: viêm loét môi, miệng kèm theo có sốt và rối loạn tiêu hóa tới
vài tuần. Viêm hoại tử ở miệng (bệnh noma-cam tẩu mã) có thể gặp ở bệnh nhân vệ
sinh kém.
- Ỉa chảy (hay gặp và có thể gây kiệt nước ở trẻ nhỏ).
- Đau bụng.
- Vàng da hoặc tăng các men gan ít gặp. [16]
1.3.4. Biến chứng mắt:

Hình 1.4: Viêm long kết mạc mắt do sởi
- Viêm màng tiếp hợp.
- Viêm giác mạc, loét giác mạc, màng mắt, mù lòa.
1.3.5. Các biến chứng hiếm gặp: [16]
- Viêm màng não nước trong đơn thuần.
- Viêm tiểu não
- Viêm tủy cấp.
- Viêm thị thần kinh
12


- Bội nhiễm vi khuẩn gây viêm màng não mủ, áp xe não rất hiếm gặp
- Viêm cơ tim, viêm đài bể thận, xuất huyết giảm tiểu cầu sau nhiễm khuẩn,
biến chứng mắt gây loét giác mạc.
- Sau sởi có thể làm phát triển bệnh lao có sẵn, hoặc xuất hiện bệnh lao ở
những người suy giảm miễn dịch.
1.4. Điều trị và phòng bệnh sởi
1.4.1. Điều trị.
1.4.1.1. Nguyên tắc điều trị:
- Không có điều trị đặc hiệu, chủ yếu là điều trị hỗ trợ.
- Người bệnh mắc sởi cần được cách ly.
- Phát hiện và điều trị sớm biến chứng.
- Không sử dụng corticoid khi chưa loại trừ sởi.
1.4.1.2. Điều trị hỗ trợ:
- Vệ sinh da, mắt, miệng họng: không sử dụng các chế phẩm có corticoid.
- Tăng cường dinh dưỡng.
- Hạ sốt.
+ Áp dụng các biện pháp hạ nhiệt vật lý như lau người nước ấm, chườm mát.
+ Dùng thuốc paracetamol khi sốt cao.


Bồi phụ nước, điện giải qua đường uống. Chỉ truyền dịch duy tri khi người
bệnh nôn nhiều, có nguy cơ mất nước và rối loạn điện giải



Bổ xung vitamin A: đối với trẻ trên 12 tuổi và người lớn: uống 200.000 đơn
vị/ ngày x 2 ngày liên tiếp. Trường hợp có biểu hiện thiếu vitamin A lặp lại
liều trên sau 4-6 tuần.

1.4.1.3. Điều trị có biến chứng
- Điều trị kháng sinh nếu có bội nhiễm vi khuẩn,
- Hạn chế truyền dịch nếu bệnh nhân có biến chứng viêm phổi, viêm não hoặc
viêm cơ tim.
- Viêm màng não cấp tính: tích cực điều trị hỗ trợ duy trì chức năng sống.
13


+ Chống phù não: các biện pháp hỗ trợ về tư thế, hỗ trợ hô hấp, dùng thuốc hỗ
trợ (Mannitol).
+ Chống suy hô hấp: suy hô hấp do phù phổi cấp, hoặc viêm não, thực hiện
các biện pháp thông thoáng đường thở, hỗ trợ hô hấp như thở oxy, đặt ống nội khí
quản, thở máy...
1.4.2. Dự phòng bệnh sởi
1.4.2.1. Phòng bệnh không đặc hiệu:
Cách ly bệnh nhân ngay từ giai đoạn khởi phát, đến hết phát ban. Xử lý chất
thải đường hô hấp, quần áo bệnh nhân, vệ sinh trong sinh hoạt, đeo khẩu trang khi
tiếp xúc.
1.4.2.2. Phòng bệnh đặc hiệu:
Lịch sử khởi điểm là sự phân lập được virut bệnh sởi do Ender và Pecbles năm
1951 từ máu của một trẻ em bị sởi tên là Edmonston, 24 giờ sau khi sởi mọc. Năm
1958 thì làm được vac-xin lần đầu tiên.
Hiện nay, chúng ta sử dụng là vac-xin sống tối giảm hoạt của Schwarz (1962)
chỉ tiêm một lần, miễn dịch tốt (97,4%).
Tại nước ta hiện nay đã thực hiện tiêm vac-xin sởi sống giảm độc cho trẻ em
9-12 tháng tuổi. Nếu tiêm ở 9 tháng tuổi thì một năm sau tiêm nhắc lại, nếu tiêm ở
12 tháng tuổi thì 5 năm sau nhắc lại một lần.
Cách tiêm vac-xin: tiêm 0.5ml (tiêm dưới da). [2]
Chống chỉ định:


Trẻ đang sốt.



Bị lao tiến triển (nếu đã được điều trị và ổn định thì vẫn tiêm được).



Mới được tiêm gamma globulin hoặc truyền máu (6 tuần).



Bị dị ứng đối với trứng.



Phụ nữ đang có thai.



Người có bệnh về máu.

14




Đang điều trị bằng corticoid, X-quang, điều trị ung thư bằng các chất hóa
học.



Các trường hợp suy giảm miễn dịch bẩm sinh hay mắc phải (AIDS)
Có thể tiêm vắc xin cho những người dương tính với HIV nhưng chưa
chuyển sang giai đoạn AIDS. [17]
Tai biến sau khi tiêm vac-xin: có khoảng 10% trẻ có phát ban kiêu sởi nhẹ ở
mặt và trên ngực vào ngày thứ 10, ban tồn tại chừng 48 giờ. Các tai biến
khác có thể gặp bao gồm: chán ăn, nôn, ỉa chảy, viêm mũi họng rất hiếm ...

1.5. Tình hình các nghiên cứu về bệnh sởi.
1.5.1.Trên thế giới:
Các nghiên cứu về dịch tễ học bệnh sởi được tiến hành định kỳ hoặc sau mỗi
vụ địch nhằm tìm ra các kinh nghiệm trong kiểm soát và phòng ngừa bệnh sởi. Ở
Châu Âu, các nghiên cứu dịch tễ học bệnh sởi được báo cáo trên các tạp chí [7]. Tại
Canada, dịch sởi bùng phát ở người lớn đã được Philipe Duclos và cộng sự nghiên
cứu, phân tích [11]. Tại Mỹ, số lượng người mắc sởi được cập nhật hàng tuần và
công bố trên “ Báo cáo tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong hàng tuần” của Trung tâm
kiểm soát và phòng bệnh Hoa kỳ (CDC) [13].
Theo WHO, hiện chưa phát hiện sự thay đổi về kiểu gen của vi rút sởi trên thế
giới. Một trong những nguyên nhân khiến dịch sởi bùng phát, thậm chí ở cả những
quốc gia đã xóa sổ hoàn toàn căn bệnh này là do các bệnh nhân mắc sởi đã không
được tiêm chủng đầy đủ, trong khi tiêm chủng vẫn là biện pháp phòng bệnh sởi hiệu
quả nhất hiện nay [13].
1.5.2. Tại Việt Nam
Hiện đã có các nghiên cứu tiến hành nhằm mục đích ứng dụng tiến bộ khoa
học vào việc chẩn đoán, điều trị dự phòng bệnh sởi và kiểm soát dịch bùng phát.
Năm 1989, Lê Thị Tiệp [10] đã nghiên cứu về dịch tễ học bệnh sởi và đánh giá
kết quả giảm tỷ lệ mắc bệnh của vac-xin sởi sống đông khô thực hiện tại quận Ba
Đình sau khi vac-xin sởi được đưa vào Chương trình TCMR quốc gia. Qua đây đã
15


khẳng định hiệu quả phòng bệnh của vac-xin sởi, là cở sở để triển khai chương trình
TCMR trên toàn quốc.
Trần Như Dương [3] và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu phân tích đặc điểm
dịch tế học của dịch sởi cuối năm 2008 và đầu năm 2009 nhằm tìm ra các biện pháp
hiệu quả để kiểm soát và phòng dịch . Ngoài ra, nghiên cứu nhằm đánh giá các đặc
điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh sởi tại Bệnh viện Bệnh n1.hiệt đới trung ương
cũng được Phạm Thu Hằng [4] tiến hành năm 2010.
Việc đánh giá các đặc điểm dịch tễ và sự hiểu biết của người bệnh cũng góp
phần trong việc phòng bệnh, tránh biến chứng cũng như phát hiện sớm các dấu hiệu
lâm sàng để có xử trí kịp thời, đúng đắn.

16


CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Bệnh nhân được chẩn đoán sởi, điều trị nội trú tại khoa Truyền nhiễm – Bệnh
viện Bạch Mai từ 23/03/2014 đến 30/06/2014.
2.1.1.Tiêu chuẩn lựa chọn: (theo “Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh sởi”, ban
hành theo quyết định số 1327/QĐ-BYT năm 2014 của Bộ Y tế [1]
- Bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh sởi tại khoa Truyền nhiễm.
+ Tiêu chuẩn lâm sàng: Sốt, ho, viêm long (đường hô hấp, kết mạc mắt, tiêu
hóa), hạt Koplik và phát ban đặc trưng của bệnh sởi.
+ Yếu tố dịch tễ: Có tiếp xúc với BN sởi, có nhiều người mắc bệnh sởi cùng
lúc trong gia đình hoặc trên địa bàn dân cư.
+ Xét nghiệm: Xét nghiệm phát hiện có kháng thể IgM đối với virut sởi.
- Bệnh nhân có độ tuổi từ 15 trở lên.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu.
- Những bệnh nhân không có khả năng nghe nói được, khó khăn trong giao tiếp.
2.2.Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Cỡ mẫu, chọn mẫu nghiên cứu.
Chọn mẫu thuận tiện, tất cả bệnh nhân mắc sởi điều trị tại khoa Truyền nhiễm
bệnh viện Bạch Mai. Với cách chọn mẫu này có tổng số 99 BN được đưa vào
nghiên cứu.
2.2.2.Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang, có tiến cứu.

17


2.2.3.Biến số nghiên cứu:
- Các đặc điểm dịch tễ học của đối tượng tham gia nghiên cứu: tuổi, giới, nghề
nghiệp, địa chỉ thường trú, tiền sử tiêm vac-xin...
- Sự hiểu biết của bệnh nhân: như bệnh gặp ở những đối tượng nào, bệnh sởi
do nguyên nhân nào gây nên, đường lây của bệnh, văc xin để tiêm phòng sởi,
phương pháp điều trị sởi.
- Đặc điểm triệu chứng lâm sàng của bệnh tiền sử bệnh tật của người bệnh,
toàn trạng và các xét nghiệm cận lâm sàng khi người bệnh vào viện.
2.2.4. Thu thập số liệu:
Số liệu thu thập được dựa trên 2 nguồn:
2.2.4.1. Từ phỏng vấn bệnh nhân:
- Số liệu trên được thu thập căn cứ vào phiếu điều tra phỏng vấn bệnh nhân sởi
người lớn.
- Các câu hỏi dành cho bệnh nhân như: sự hiểu biết về bệnh sởi (lứa tuổi mắc
sởi, đường lây, vắc xin phòng bệnh, phương pháp điều trị, biến chứng).
2.2.4.2- Thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án: Đặc điểm lâm sàng: Đặc điểm nhân khẩu
học, triệu chứng sốt, phát ban, các dấu hiệu về hô hấp, tuần hoàn..., các xét nghiệm
máu sinh hóa, huyết học, vi sinh và các xét nghiệm khác như siêu âm ổ bụng, Xquang tim phổi.., thuốc điều trị như kháng sinh, giảm ho, dị ứng, hạ sốt, truyền dịch,
thuốc trị tiêu chảy… kết quả điều trị, tình trạng lúc ra viện.
+ Ngoài ra chúng tôi cũng điều tra tổng số ngày điều trị, biến chứng của bệnh sởi.
+ Người thu thập số liệu chính là Nguyễn Thị Thảo và sự giúp đỡ của bạn
đồng nghiệp là Trần Thu Hà và Nguyễn Thu Hiền – điều dưỡng viên tại khoa
Truyền nhiễm bệnh viện Bạch Mai.
2.2.5. Xử lý số liệu:
Các số liệu được xử lý theo các phương pháp thống kê y học thường quy, sử
dụng phần mềm SPSS. Tính tỷ lệ % giá trị trung bình. So sánh giá trị trung bình
18


bằng test T-student, so sánh giữa tỷ lệ các nhóm bằng phương pháp kiểm định thống
kê test χ2, có ý nghĩa khi p<0.05.
2.2.6. Vấn đề đạo đức nghiên cứu:
- Nghiên cứu được thực hiện với sự ủng hộ và chấp nhận của ban lãnh đạo
khoa Truyền nhiễm- bện viện Bạch Mai.
- Các đối tượng tham gia nghiên cứu đều đồng ý chấp nhận sau khi được
thông báo và giải thích mục đích của nghiên cứu.
- Số liệu nghiên cứu mang tính đánh giá chung chứ không nhằm cụ thể vào
bất kỳ ai. Thông tin cá nhân của đối tượng tham gia nghiên cứu được giữ bí mật
hoàn toàn.
2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.
- Thời gian nghiên cứu: trong vòng 03 tháng (tháng 03/2014 đến hết tháng 06/
2014).
- Địa điểm nghiên cứu: tại phòng Nhiễm khuẩn tổng hợp và phòng Cấp cứu
khoa Truyền nhiễm – Bệnh viện Bạch Mai.

19


CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tổng số có 99 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu. Chúng tôi đã thu thập,
thống kê và phân tích để đưa ra một số kết quả như sau:
3.1. Thông tin chung về bệnh nhân:
3.1.1. Đặc điểm về giới:

42.4
Nam
Nữ

57.6

Biểu đồ 3.1. Tỉ lệ giới tính của bệnh nhân sởi.
Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân nam thấp hơn bệnh nhân nữ, 42.4% so với 57.6% sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0.05.
3.1.2. Đặc điểm vể tuổi:
Tuổi trung bình của bệnh nhân là 27.3 ± 0.5 tuổi. Trong đó bệnh nhân nhỏ tuổi nhất
là 15 tuổi, bệnh nhân lớn tuổi nhất là 43 tuổi.
Bảng 3.1. Đặc điểm về tuổi của bệnh nhân sởi
Tuổi

Số BN
Tỉ lệ %
Từ 15-29
71
71.7
Từ 30-43
28
28.3
Tổng
99
100
Nhận xét: Nhóm tuổi từ 15-29 tuổi chiếm 71.7% và nhóm tuổi từ 30-43 tuổi chiếm
tỉ lệ 28.3%.

20


3.1.3. Đặc điểm về nghề nghiệp:
Bảng 3.2. Nghề nghiệp của người bệnh sởi.(N=99)
Nghề nghiệp
Số BN (n)
Tỷ lệ %
Công nhân
Tự do

38
31

38.4
31.3

Học sinh- sinh viên

14

14.1

Làm ruộng

9

9.1

Giáo viên
Nhân viên y tế
Tổng

5
2
99

5.1
2.0
100

Nhận xét: có 38.4% người bệnh có nghề nghiệp là công nhân, 31.3% số BN ở ngành
nghề tự do, nhóm học sinh- sinh viên chiếm 14.1%, giáo viên chiếm 5.1%, và có 2
nhân viên y tế chiếm 2%.
3.1.4. Nơi sinh sống của người bệnh:
Bảng 3.3. Địa chỉ sinh sống của người bệnh tại Hà Nội và các tỉnh lân cận
(N=99)
Tỉnh

Số BN (n)
Tỷ lệ %
Hà Nội
61
61.6
Hưng Yên
6
6.1
Thanh Hóa
5
5.1
Bắc Ninh
4
4.0
Vĩnh Phúc
4
4.0
Phú Thọ
2
2.0
Thái Bình
2
2.0
Bắc Giang
2
2.0
Nam Định
2
2.0
Hải Dương
2
2.0
Thái Nguyên
2
2.0
Hà Nam
2
2.0
Hải Phòng
1
1.0
Hà Tĩnh
1
1.0
Tuyên Quang
1
1.0
Yên Bái
1
1.0
Nghệ An
1
1.0
Tổng số
99
100
Nhận xét: Bệnh nhân chủ yếu là người sống tại Hà Nội, chiếm 61.6% , tiếp theo là
Hưng Yên có tỷ lệ 6.1%, tiếp theo là Thanh Hóa, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc...
21


Bảng 3.4. Nơi sinh sống của người bệnh tại các quận (huyện) của Hà Nội.
Quận
Hoàng Mai
Thanh Xuân
Đống Đa
Cầu Giấy
Hai Bà Trưng
Thường Tín
Từ Liêm
Ba Đình
Chương Mỹ
Gia Lâm
Phú Xuyên
Thanh Trì
Hoàn Kiếm
Long Biên
Hà Đông
Các quận khác
Tổng

Số BN (n)
9
9
7
4
4
3
3
2
2
2
2
2
2
2
2
6
61

Tỷ lệ %
9.1
9.1
7.1
4.0
4.0
3.0
3.0
2.0
2.0
2.0
2.0
2.0
2.0
2.0
2.0
6.0
100

Nhận xét: Bệnh nhân sống rải khắp các quận huyệh của Hà Nội. Tuy nhiên, quận có
người mắc nhiều nhất là Thanh xuân và Hoàng Mai, mỗi quận chiếm 9.1%, sau đó
là đến các quận Đống Đa 7.1%, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng (4%).
3.1.5.Tiền sử tiêm phòng sởi.
13.37%
16.53%

không
không nhớ
70.10%

Biểu đồ 3.2. Tiền sử tiêm phòng bệnh sởi
22


Nhận xét: Chỉ có 13.1% số bệnh nhân điều trị sởi là đã từng tiêm phòng sởi, 16.2%
là không tiêm phòng. Còn lại phần lớn (68.7%) không nhớ tiền sử tiêm phòng sởi.
3.1.6 .Tiền sử tiếp xúc với người mắc bệnh sởi

20.20%

32.30%


không
không nhớ
47.50%

Biểu đồ 3.3 Tiền sử tiếp xúc với người mắc sởi
Nhận xét: Có 47.5% BN không tiếp xúc với người mắc sởi, 32.3% không nhớ mình
đã tiếp xúc với BN chưa.
3.2. Sự hiểu biết của BN về bệnh của người bệnh.
3.2.1. Kiến thức của BN về lứa tuổi mắc bệnh sởi
60
50

48.5

40
33.3
30
20
10.1

10
0

8.1

0

Biểu đồ 3.4. Sự hiểu biết của BN về lứa tuổi mắc bệnh sởi

23


Nhận xét: Có 33.3% số BN cho rằng bệnh sởi gặp ở trẻ em, 10,1% là bệnh gặp ở
người lớn, 48.5% cho rằng sởi xảy ra ở cả trẻ em và người lớn, và 8.1% BN không
biết bệnh sởi xảy ra ở lứa tuổi nào.
3.2.2.Kiến thức của BN về nguyên nhân gây bệnh sởi
8.1

29.3
Virut
Không biết
vi khuẩn
62.6

Biểu đồ 3.5. Kiến thức của BN về nguyên nhân gây bệnh sởi
Nhận xét: Có 62,6% BN trả lời nguyên nhân gây bệnh sởi là do virut, 29,3 % trả lời
không biết nguyên nhân là gì và 8,1% BN trả lời do vi khuẩn.
3.2.3. Kiến thức của BN về đường lây của bệnh sởi.
90

83.8

80
70
60
50
40
30
20
10
0

11.1
5.1
Hô hấp

không biết

ăn uống

Biểu đồ 3.6: Kiến thức về đường lây của BN mắc sởi
Nhận xét: có 82 BN trả lời bệnh sởi lây qua đường hô hấp chiếm tỉ lệ 82.8%, có 8.1%
BN trả lời bệnh sởi lây qua đường ăn uống, 11.1% người không biết rõ đường lây.
24


3.2.4. Kiến thức của BN về vắc xin phòng bệnh.
7.1
2


không
Không biết
90.9

Biểu đồ 3.7. Kiến thức của BN về vắc xin phòng bệnh
Nhận xét: Tỉ lệ BN cho rằng bệnh sởi có vắc xin phòng bệnh chiếm tỷ lệ 90.9%,
3.2.5. Sự hiểu biết của BN về phương pháp điều trị sởi

16.20%
4.00%
3.00%

kháng sinh
đông y
không điều trị
khác

76.80%

Biểu đồ 3.8. Sự hiểu biết về phương pháp điều trị sởi của BN.
Nhận xét: có 76.8% BN trả lời để điều trị sởi cần dùng thuốc kháng sinh, 16.2% BN
cho rằng có các phương pháp khác.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×