Tải bản đầy đủ

Bài tiểu luận môn quan hệ lao động quản lý nhà nước về quan hệ lao động trong thương mại tự do thế hệ mới (FTA)

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI

1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, thế giới đang chứng kiến sự phát triển và sự gia tăng
nhanh chóng của nền kinh tế. Phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của thế
giới và khu vực, tiến trình đàm phán và kí kết các FTA thế hệ mới của Việt Nam đã
được khởi động và triển khai cùng với tiến trình gia nhập các tổ chức quốc tế và khu
vực. Đây chính là cơ hội để Việt Nam nâng cao vị thế của nền kinh tế nước ta trên
trường quốc tế. Điều đó cũng có nghĩa rằng nước ta đang đứng trước những thách thức
vô cùng lớn. Và vấn đề cấp thiết đặt ra là làm thế nào để có bước đi hội nhập mang
tính vững chắc giúp cho nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh hơn? Một đất nước
phát triển mạnh được thể hiện thông qua nền kinh tế của nước đó mạnh và ngược lại,
và nền kinh tế có mạnh hay không lại phụ thuộc vào cách thức quản lý quan hệ lao
động của quốc gia đó. Bởi vì, quan hệ lao động tốt thì mới duy trì được hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ổn định, từ đó mới làm cho nền kinh tế của
quốc gia phát triển. Chính vì vậy, em chọn đề tài: “QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI” làm đề
tài nghiên cứu. Em hi vọng rằng bài nghiên cứu của mình sẽ phần nào đó giúp người
đọc hiểu rõ hơn về quản lý nhà nước về quan hệ lao động ở nước ta hiện nay trong
thương mại tự do thế hệ mới.

2. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về quan hệ lao động trong thương mại tự
do thế hệ mới
Quản lý nhà nước là gì?
Quản lý nhà nước là một dạng của quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực
nhà nước và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trên
tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện,
nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.


Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động hành chính của cơ quan thực thi
quyền lực nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời
sống xã hội theo quy định của pháp luật.
Quan hệ lao động là gì?
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra định nghĩa về quan hệ lao động (Industrial
Relations) là: “Những mối quan hệ cá nhân và tập thể giữa người lao động và người sử
dụng lao động tại nơi làm việc, cũng như các mối quan hệ giữa các đại diện của họ với
nhà nước. Những mối quan hệ như thế xoay quanh các khía cạnh luật pháp, kinh tế, xã
hội học và tâm lý học và bao gồm cả những vấn đề như tuyển mộ, thuê mướn, sắp xếp
công việc, đào tạo, kỷ luật, thăng chức, buộc thôi việc, kết thúc hợp đồng, làm ngoài
giờ, tiền thưởng, phân chia lợi nhuận, giáo dục, y tế, vệ sinh, giải trí, chỗ ở, giờ làm
việc, nghỉ ngơi, nghỉ phép, các vấn đề phúc lợi cho người thất nghiệp, ốm đau, tại nạn,
tuổi cao và tàn tật”1
Các chủ thể trong quan hệ lao động?
- Trong phạm vi doanh nghiệp: chủ thể trong quan hệ lao động bao gồm: người lao
động và người sử dụng lao động hoặc đại diện người lao động (công đoàn) với người
sử dụng lao động trong việc thực hiện các quy định của pháp luật lao động và các cam
kết của doanh nghiệp về hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, tiền lương, tiền
thưởng, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, điều kiện làm việc,... nhằm đảm bảo
quyền lợi và lợi ích của các bên.
- Trong phạm vi quốc gia: chủ thể trong quan hệ lao động bao gồm: đại diện người
lao động, đại diện người sử dụng lao động và Nhà nước trong việc hoạch định và tổ
chức thực hiện chính sách, pháp luật lao động, hỗ trợ thúc đẩy hai bên tại doanh
nghiệp, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.
Thế nào là quản lý nhà nước về quan hệ lao động?
Quản lý nhà nước về quan hệ lao động là một trong những lĩnh vực quản lý của
Nhà nước thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, căn cứ vào nội dung quản
lý, sử dụng các biện pháp quản lý nhằm tác động vào đối tượng quản lý, đảm bảo và

1 David

Macdonald and Caroline Vardenabeele, 1996, Bảng thuật ngữ quan hệ công nghiệp và giới hạn
liên quan.


thúc đẩy quan hệ lao động, thị trường lao động phát triển theo những định hướng mà
Nhà nước đặt ra.
Nội dung của quản lý nhà nước về quan hệ lao động?
Quản lý nhà nước về quan hệ lao động bao gồm các nội dung sau:
- Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về lao động;
- Theo dõi, thống kê, cung cấp thông tin về cung cầu và sự biến động cung cầu lao
động; quyết định chính sách, quy hoạch, kế hoạch về nguồn nhân lực, dạy nghề, phát
triển kỹ năng nghề, xây dựng khung trình độ nghề quốc gia, phân bố và sử dụng lao
động toàn xã hội. Quy định danh mục những nghề chỉ được sử dụng lao động đã qua
đào tạo nghề hoặc có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia;
- Tổ chức và tiến hành nghiên cứu khoa học về lao động, thống kê, thông tin về lao
động và thị trường lao động, về mức sống, thu nhập của người lao động;
- Xây dựng các cơ chế, thiết chế hỗ trợ phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định
và tiến bộ;
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về
lao động, giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật;
- Hợp tác quốc tế về lao động.
Thương mại tự do thế hệ mới (FTA) là gì?
Theo quan điểm truyền thống, FTA là hiệp định hợp tác kinh tế được ký kết giữa ít
nhất hai nước, nhằm cắt giảm các hàng rào thương mại, cụ thể là thuế quan, quota
nhập khẩu và các hàng rào phi thuế quan khác, đồng thời thúc đẩy thương mại hàng
hóa và dịch vụ giữa các nước này với nhau. Một trong các đặc điểm quan trọng của
FTA “truyền thống” là các thành viên của FTA không có biểu thuế quan chung trong
quan hệ thương mại với các nước bên ngoài FTA. Các FTA điển hình theo khái niệm
này là: FTA ASEAN (AFTA); FTA Trung Âu (CEFTA),...
“FTA thế hệ mới” là cụm từ để chỉ sự khác biệt với các FTA truyền thống mà Việt
Nam đã tham gia, với phạm vi rộng hơn, nội dung vượt ra ngoài cam kết về thương
mại, dịch vụ và đầu tư, nó bao gồm cả các thể chế, pháp lý trong các lĩnh vực môi
trường, lao động, doanh nghiệp nhà nước, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ,... Các


FTA này khi có hiệu lực sẽ tác động rất mạnh đến thể chế của các bên liên quan. [2] Một
số FTA thế hệ mới: FTA Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình
Dương (TPP), Hiệp định đối tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (T-TIP),
các hiệp định thành lập EU, FTA Bắc Mỹ (NAFTA),...
Các FTA thế hệ mới với những cam kết sâu rộng, toàn diện hơn so với các FTA
truyền thống sẽ tác động đáng kể đến thị trường của các doanh nghiệp, môi trường
kinh doanh và hệ thống chính sách, pháp luật liên quan của Việt Nam, sẽ là đòn bẩy
giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng kinh tế quốc tế.
Nội dung chính của FTA thế hệ mới?
Nội dung chính của FTA thế hệ mới bao gồm:
- Quy định về việc cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan.
- Quy định danh mục mặt hàng đưa vào cắt giảm thuế quan (Thông lệ áp dụng
chung là 90% thương mại).
- Quy định lộ trình cắt giảm thuế quan, khoảng thời gian cắt giảm thuế thường
được kéo dài không quá 10 năm.
- Đề cập đến các vấn đề về tự do hóa trong lĩnh vực đầu tư và dịch vụ, các biện
pháp hạn chế định lượng, các rào cản kỹ thuật, quyền sỡ hữu trí tuệ, cạnh tranh, mua
sắm chính phủ, lao động, bảo hiểm và môi trường.
3. Thực trạng quản lý nhà nước về quan hệ lao động trong thương mại tự do thế
hệ mới
Trước đây, nền kinh tế ở nước ta là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp; mà
ở đó các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, quan hệ lao động được điều chỉnh bằng
phương pháp mệnh lệnh - phục tùng. Do đó, các vấn đề về việc làm, tiền lương, phúc
lợi,... đều được Nhà nước bao cấp toàn bộ. Chính vì vậy, đa số mọi người thường quan
niệm coi lao động là một giá trị xã hội, phi thị trường, mang giá trị tinh thần lớn nhất.
Tuy nhiên đến năm 1986, nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới, nền kinh tế được chuyển
đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là nền kinh tế phát
triển dựa trên nền móng là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp. Trong nền kinh
tế thị trường, quan hệ lao động là những mối quan hệ cá nhân và tập thể giữa người lao
động và người sử dụng lao động tại nơi làm việc cũng như các mối quan hệ giữa các


đại diện của họ với nhà nước. Khác với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bản chất
của nền kinh tế thị trường là mối quan hệ giữa người mua và người bán sức lao động,
hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận tự nguyện giữa các bên. Nhưng vì sức lao động là
hàng hóa đặc biệt, không tách ra khỏi người sở hữu nó, vậy nên mối quan hệ lao động
có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình lao động sản xuất ra hầu hết của cái vật chất
trong xã hội. Ngoài ra, quan hệ lao động luôn diễn ra trong một khoảng không gian
nhất định với những điều kiện nhất định, mà ở đó luôn tồn tại mâu thuẫn giữa môi
trường sống của con người với điều kiện sản xuất, nên người lao động cần được bảo vệ
và tôn trọng như bất kì một thành viên nào khác trong xã hội loài người. Chính vì thế,
quan hệ lao động vừa có tính kinh tế vừa có tính xã hội (tính nhân văn sâu sắc). Ngoài
ra, quan hệ lao động là quan hệ vừa mang tính chất cá nhân vừa mang tính tập thể và
vừa là quan hệ dân sự vừa là quan hệ mang tính chất hành chính, chịu sự quản lý của
Nhà nước, pháp luật. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã
tạo nên những thuộc tính, những nét đặc trưng trong quan hệ lao động. Đây chính là
một cơ sở quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý, giúp Nhà
nước quản lý tốt các mối quan hệ lao động trong nền kinh tế hiện nay.
Sau hơn 12 năm gia nhập WTO, chúng ta có thể coi đây là mốc đánh dấu sự khởi
đầu của việc hội nhập lần thứ nhất của Việt Nam. Trong vài năm gần đây, việc đàm
phán và kí kết các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới được kì vọng sẽ tạo ra làn
sóng hội nhập mạnh mẽ hơn đối với Việt Nam. Có những kì vọng về các lợi ích vô
cùng hấp dẫn của các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Và đó là điều lý giải cho
thái độ lạc quan của đa số doanh nghiệp nước ta về tương lai của các FTA thế hệ mới
này.
Nhà nước, công đoàn và tổ chức đại diện người sử dụng lao động ra thông cáo
chung thể hiện cam kết với Tuyên bố của ILO về các nguyên tắc và quyền cơ bản
trong Lao động. Những cam kết đó nhằm góp phần cải thiện thiết chế, pháp luật và
thực trạng quan hệ lao động hiện nay ở nước ta để đáp ứng với các yêu cầu liên quan
đến lao động trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, bao gồm: Hiệp định đối
tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) Việt Nam EU. Thực tế, thông cáo chung do Bộ Lao động - Thương binh và Xã Hội, Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
đưa ra tại diễn đàn Quan hệ lao động Việt Nam lần thứ nhất, đồng tổ chức với Tổ chức


Lao động Quốc tế (ILO) vào ngày 09/04/2016 chỉ rõ: “Chúng tôi cam kết hợp tác với
các đối tác trong việc tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện các nguyên tắc trong Tuyên bố
1998 của ILO về Các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lĩnh vực lao động, bao gồm
nỗ lực nghiên cứu khả năng phê chuẩn các công ước cơ bản còn lại của ILO.” Ở tầm
quốc gia, Việt Nam sẽ phải điều chỉnh, bổ sung luật pháp quốc gia cho tương thích với
những cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Trong tiến trình hội nhập sâu rộng, kinh tế Việt Nam sẽ chịu tác động nhiều mặt
bởi tình hình thế giới ngày càng phức tạp. Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp
phải tăng cường đầu tư công nghệ và sản xuất bền vững. Mặt khác, các doanh nghiệp
cũng phải đối mặt với những áp lực ngày càng tăng về cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong nước cũng như nước ngoài, với thách thức trước hết đó là làm thế nào có
thể duy trì được mối quan hệ lao động hài hòa giữa người sử dụng lao động và người
lao động để giảm thiếu tối đa những bất bình, tranh chấp lao động, đình công, bế
xưởng; từ đó giúp nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí giá thành sản phẩm, cải
thiện môi trường làm việc cũng như đời sống cho người lao động, thúc đẩy sự phát
triển của doanh nghiệp đồng thời của nền kinh tế.
Đối với người lao động, tiền lương, tiền thưởng hay phúc lợi chính là thứ họ quan
tâm nhất. Tuy nhiên trong quan hệ lao động, sự khác biệt về lợi ích giữa những người
lao động luôn xảy ra. Chính vì vậy, sự bất bình, sự xung đột, tranh chấp tại nơi làm
việc là điều khó tránh khỏi tại các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Nếu không giải quyết vấn đề này một cách tốt nhất sẽ ảnh hưởng đến trật tự xã hội và
lợi ích của quốc gia. Có thể thấy việc cải cách quan hệ lao động là biện pháp hữu hiệu
nhất để giải quyết vấn đề đó trong thương mại tự do thế hệ mới.
Quan hệ lao động ở nước ta có những đặc trưng chính sau đây:
- Một là, các yếu tố tạo lập quan hệ lao động chưa đồng bộ, phân tán và mang tính
tự phát
- Hai là, quan hệ lao động ở nước ta được thiết lập và thực hiện trong tình trạng
mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu lao động
- Ba là, quan hệ lao động đang trong quá trình phân hóa, biến đổi:


- Bốn là, quan hệ lao động nước ta mang đặc điểm chung của các quan hệ kinh tế
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều hình thức sở hữu,
nhiều thành phần kinh tế:
Tình hình quản lý Nhà nước về quan hệ lao động trong thương mại tự do thế
hệ mới
Về ban hành chính sách và pháp luật
Cho đến nay, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật nhằm điều chỉnh
và quản lý các quan hệ xã hội trong lĩnh vực lao động. Trong đó, đáng chú ý là hệ
thống pháp luật lao động ở nước ta đã có nhiều thay đổi và từng bước được hoàn thiện
phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế. Cùng với Bộ luật Lao động, các văn bản
hướng dẫn thi hành thường xuyên được xem xét, sửa đổi, bổ sung đáp ứng nhu cầu đòi
hỏi của thực tiễn đời sống, đặc biệt là những nội dung trực tiếp liên quan đến quan hệ
lao động. Tuy nhiên, so với yêu cầu thực tiễn, trong bối cảnh các quan hệ lao động có
sự thay đổi về chất, hệ thống pháp luật lao động không thể tránh khỏi những hạn chế
cần khắc phục. Nhìn một cách tổng quát, về hình thức hệ thống pháp luật lao động tuy
đã có những văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhưng không đủ cụ thể, chi tiết để có
thể áp dụng chúng một cách trực tiếp, độc lập. Hệ thống văn bản hướng dẫn Bộ luật
Lao động còn khá cồng kềnh, do nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau ban hành nên
không tránh khỏi sự mâu thuẫn, chồng chéo, dẫn đến hệ thống pháp luật này khó tra
cứu và được thực hiện một cách đồng bộ.
Về cơ quan quản lý Nhà nước
Trên thực tế, công tác quản lý Nhà nước về lao động không chỉ được thực hiện bởi
các cơ quan quản lý chuyên môn thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội mà
còn được thực hiện bởi các bộ, ban, ngành khác nhau như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính.
Về việc đáp ứng nhu cầu liên kết và tổ chức đại diện người lao động
Liên kết là một nhu cầu tất yếu của người lao động trong nền kinh tế thị trường.
Thị trường lao động càng phát triển thì sự liên kết của người lao động càng được mở
rộng. Sự liên kết này diễn ra theo chiều hướng tăng dần từ cấp độ vi mô đến vĩ mô.
Ban đầu là sự liên kết của người lao động trong một doanh nghiệp, cao hơn nữa là liên


kết theo ngành, theo nghề. Trong những năm gần đây, liên kết này càng trở nên phổ
biến và đóng vai trò quan trọng trong quan hệ lao động. Ở nước ta, tính đến tháng
6/2016 theo Vụ Tổ chức phi chính phủ - Bộ Nội vụ, có 498 hội hoạt động trong phạm
vi cả nước, ví dụ liên kết theo ngành nghề có Hiệp hội dệt may Việt Nam, hiệp hội
doanh nghiệp điện tử Việt Nam, hiệp hội cao su Việt Nam,…
Tổ chức đại diện người lao động (Công đoàn) được thành lập để phục vụ nhu cầu
liên kết đó. Công đoàn đại diện cho tập thể người lao động, bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp chính đáng cho họ. Hiện nay ở nước ta, tính đến hết năm 2017 có khoảng
126.516 Công đoàn cơ sở, trong đó khu vực nhà nước có 80.641 Công đoàn cơ sở, khu
vực ngoài nhà nước có 45.875 Công đoàn cơ sở. Các công tác phát triển đoàn viên
theo phương pháp mới đã được các cấp công đoàn đẩy mạnh thực hiện, theo hướng
giúp đỡ người lao động tự liên kết thành lập công đoàn cơ sở và thu được kết quả ngày
càng tăng. Kết quả trên cho thấy được nỗ lực của các cấp Công đoàn trong việc triển
khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XI Công đoàn Việt Nam trong công tác
tuyên truyền, vận động đoàn viên tin tưởng, gia nhập tổ chức Công đoàn, góp phần
nâng cao vị thế, vai trò và uy tín của tổ chức Công đoàn Việt Nam.
Về đối thoại xã hội trong quan hệ lao động
Nhà nước đã ban hành các quy định về đối thoại tại nơi làm việc, Theo điều 63, 64,
65 của Bộ luật Lao động (2012) và Chính phủ ban hành Nghị định 60 quy định chi tiết
nội dung và các hình thức đối thoại. Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định còn là một
thách thức rất lớn đối với hầu hết các doanh nghiệp. Theo đúng bản chất và quy luật
khách quan của quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường thì nhà nước chỉ nên
hướng dẫn, hỗ trợ chứ không nên quy định cứng về các nội dung và hình thức đối
thoại. Đối thoại tại nơi làm việc cần tiến hành thường xuyên, linh hoạt theo yêu cầu
chứ không thể gò ép theo một khuôn mẫu nào
Về thương lượng tập thể
Hiện nay, khoảng 40% các bản thỏa ước lao động tập thể trong các loại hình doanh
nghiệp có những khoản thoả thuận có lợi cho người lao động so với quy định của pháp
luật lao động; hầu hết các thỏa ước lao động tập thể ở các doanh nghiệp còn mang tính
hình thức, sao chép các tiêu chuẩn lao động tối thiểu trong luật. Thương lượng tập thể
cấp đa doanh nghiệp còn ở mức thí điểm, chưa phổ biến và chưa mang lại nhiều lợi ích


cho cả NLĐ và NSDLĐ. Nhiều khi, công đoàn cấp trên chỉ vận động NSDLĐ tham
gia chứ không phải gây sức ép để thương lượng. NSDLĐ tham gia thỏa ước lao động
tập thể nếu các tiêu chuẩn lao động tại doanh nghiệp hiện đã cao hơn hoặc bằng với
tiêu chuẩn trong dự thảo thỏa ước. Khi đó, tham gia thỏa ước lao động tập thể nhóm
doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa như một sự chứng nhận về điều kiện lao động hơn là kết
quả thương lượng giữa các bên.
Về thanh tra lao động
Các quy định về thanh tra và xử phạt hành vi vi phạm pháp luật lao động chủ yếu
được quy định tại Chương XVI Bộ luật lao động (2012). Nói chung hầu hết các hành
vi vi phạm về quan hệ lao động theo quy định của pháp luật lao động đều có thể bị xử
phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, thực trạng thực hiện pháp luật lao động cho thấy
việc vi phạm là tương đối phổ biến, trong đó chủ yếu là các vi phạm về việc ký kết,
chấm dứt hợp đồng lao động, thời giờ làm việc, tiền lương, bảo hiểm xã hội… Trong
khi đó, lực lượng thanh tra còn nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Lực lượng
này đã mỏng lại phải đảm đương nhiều công việc như: Thanh tra lao động, thực hiện
chính sách pháp luật về lao động, thực hiện chính sách đối với người có công, trẻ em,
triển khai phòng chống tham nhũng, áp dụng cơ chế một cửa trong tiếp công dân, giải
quyết đơn thư khiếu nại. Có lẽ cũng chính từ đây, khiến tình hình tai nạn lao động,
đình công liên tục gia tăng. Tính đến 31/12/2017 cả nước ta có hơn 500.000 doanh
nghiệp trong khi chỉ có khoảng hơn 500 thanh tra viên nên công tác thanh tra gặp rất
nhiều khó khăn, bởi số lượng doanh nghiệp quá lớn so với số lượng thanh tra viên.
Về giải quyết tranh chấp lao động
Hầu hết các vụ tranh chấp lao động xảy ra đều liên quan đến tiền lnươg, thưởng,
điều kiện làm việc,... Do công tác giải quyết tranh chấp lao động chưa tốt nên trong
năm 2017 vừa qua, cả nước xảy ra 314 vụ đình công tập thể 2, tăng 28 cuộc so với năm
2016. Đội ngũ hòa giải viên lao động không được đào tạo bài bản, không có sự kết nối,
điều phối và quản lý hiệu quả nên hầu như không phát huy được vai trò trong thực tiễn
giải quyết tranh chấp lao động tập thể. Hòa giải và trọng tài là hai chức năng khác
nhau trong giải quyết tranh chấp lao động, nhưng hai chức năng này không nhất thiết

2

Theo số liệu Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam


phải do hai cơ quan khác nhau thực hiện. Trên thực tế, Hội đồng trọng tài lao động hầu
như không hoạt động mặc dù vẫn được tồn tại trong Luật lao động
Về vai trò của Nhà nước
Mặc dù đã có nhiều tác động vào thị trường lao động thông qua pháp luật, chính
sách kinh tế – xã hội… theo chiều hướng tích cực, tuy nhiên công tác quản lý Nhà
nước còn hạn chế, yếu kém trong lĩnh vực ban hành và giám sát việc thực thi chính
sách, pháp luật về lao động. Hệ thống chính sách, pháp luật của nước ta còn thiếu đồng
bộ làm nảy sinh mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội nhanh với tình
trạng lạc hậu của cơ chế, chính sách; mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với tình trạng
đời sống của người lao động còn nhiều khó khăn. Cụ thể, trong Bộ luật lao động năm
2012, các quy định của pháp luật lao động nói chung, về giải quyết tranh chấp lao
động và đình công nói riêng mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện
song vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu thực tiễn. Và hiện nay, Việt Nam chưa có một cơ
quan chuyên môn nào thống nhất và đủ mạnh để vừa thực hiện chức năng quản lí Nhà
nước, vừa hỗ trợ quan hệ lao động ở các cấp.
Một số điểm nhấn trong xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, thiết chế quan hệ lao
động ở Việt Nam: Thành lập Uỷ ban Quan hệ lao động, Trung tâm Hỗ trợ phát triển
quan hệ lao động, Hội đồng tiền lương Quốc gia; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy
định pháp luật về lao động và quan hệ lao động theo hướng phù hợp hơn với cơ chế thị
trường và tiếp cận gần hơn các tiêu chuẩn lao động quốc tế; giao nhiệm vụ quản lý
quan hệ lao động tại cơ sở cho Phòng Lao động Thương binh và Xã hội, Ban quản lý
các khu công nghiệp
Về tham vấn và hỗ trợ quan hệ lao động
Hiện nay, nước ta có khoảng hơn 20 triệu lao động3 tham gia quan hệ lao động.
Tuy nhiên, trình độ phát triển của quan hệ lao động còn nhiều bất cập, nhất là năng lực
của chủ thể trong quan hệ lao động tập thể. Thực tế ở nước ta hiện nay, vẫn thiếu nhiều
lao động ở phân khúc trình độ cao, phần lớn người lao động là lao động phổ thông,
hạn chế về kiến thức, kĩ năng và trình độ hiểu biết về quan hệ lao động, nhiều cán bộ
lao động ở cấp địa phương do chưa thích ứng nhanh với sự thay đổi của nền kinh tế thị
trường nên nhận thức còn hạn chế. Vậy nên, nhiều cơ chế về quan hệ lao động không
3

Theo số liệu Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam


được thực thi trong thực tế. Quy định pháp lý về vấn đề này hiện còn thể hiện về hình
thức. Tổ chức đại diện của người sử dụng lao động mới được thành lập ở cấp trung
ương gồm: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Liên minh Hợp
tác xã Việt Nam. Ở cấp tỉnh đều có Liên minh Hợp tác xã, nhưng vẫn còn nhiều tỉnh,
thành phố chưa có Chi nhánh Phòng Thương mại và Công nghiệp cấp tỉnh. Hiệp hội
các doanh nghiệp chưa hoàn toàn gắn kết với VCCI, hoạt động mang tính chất xúc tiến
thương mại và đầu tư là chủ yếu, chưa thực hiện vai trò đại diện người sử dụng lao
động trong đối thoại, thương lượng với đại diện người lao động để tham vấn, ký kết
thoả ước lao động tập thể, hoà giải, giải quyết tranh chấp lao động và đình công và
chưa có đầu mối để tập trung hoạt động của các hiệp hội trong hỗ trợ phát triển quan
hệ lao động. Các hiệp hội hoạt động chưa thường xuyên, thiếu kinh phí, thiếu nhân sự,
thiếu chuyên gia tư vấn hiểu biết sâu về quan hệ lao động. Chính vì vậy, chưa hỗ trợ
được nhiều cho người lao động, khiến họ gặp nhiều bất lợi trong tham gia quan hệ lao
động, nhất là khi xảy ra tranh chấp lao động.
Những ưu điểm trong quản lý nhà nước vể quan hệ xã hội trong thương mại
tự do thể hệ mới
Về ban hành chính sách và pháp luật
Việt Nam đã ban hành nhiểu chính sách, pháp luật nhằm điều chỉnh và quản lý các
quan hệ xã hội trong lao động. Hệ thống pháp luật lao động ở nước ta đã có nhiều thay
đổi và từng bước được hoàn thiện phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế. Các văn
bản hướng dẫn thi hành thường xuyên được xem xét, sửa đổi, bổ sung đáp ứng nhu cầu
đòi hỏi của thực tiễn đời sống, đặc biệt là những nội dung trực tiếp liên quan đến quan
hệ lao động.
Về việc đáp ứng nhu cầu liên kết và tổ chức đại diện người lao động
Hiện nay, quy mô liên kết của người lao động ngày càng mở rộng từ cấp vi mô đến
vĩ mô. Tại nước ta, có nhiều hiệp hội được thành lập như: hiệp hội cao su Việt Nam,
hiệp hội dệt may Việt Nam,... thể hiện sự liên kết của người lao động. Tổ chức đại diện
người lao động (Công đoàn) được thành lập để phục vụ các nhu cầu liên kết đó. Các
công tác phát triển đoàn viên theo phương pháp mới đã được các cấp công đoàn đẩy
mạnh thực hiện, theo hướng giúp đỡ người lao động tự liên kết thành lập công đoàn cơ
sở và thu được kết quả ngày càng tăng. Các cấp Công đoàn đã triển khai thực hiện có


hiệu quả Nghị quyết Đại hội XI Công đoàn Việt Nam trong công tác tuyên truyền, vận
động đoàn viên tin tưởng, gia nhập tổ chức Công đoàn, góp phần nâng cao vị thế, vai
trò và uy tín của tổ chức Công đoàn Việt Nam, từ đó có thể bảo vệ quyền lợi, lợi ích
hợp pháp cho người lao động.
Về đối thoại xã hội trong quan hệ lao động
Nhà nước đã ban hành đầy đủ các quy định về đối thoại xã hội và Chính phủ đã
ban hành các nghị định quy định chi tiết nội dung và các hình thức đối thoại.
Về thương lượng tập thể
Các bản thỏa ước lao động tập thể ở các doanh nghiệp đã đã thực hiện đầy đủ theo
pháp luật quy định, và có khoảng 40% bản thỏa ước lao động tập thể trong các loại
hình doanh nghiệp có những thỏa thuận có lợi cho người lao động so với quy định của
pháp luật lao động.
Về thanh tra lao động
Hoạt động thanh tra, kiểm tra trong thời gian qua đã chỉ ra những sai sót, vi phạm
của người sử dụng lao động, người lao động trong việc thực hiện những qui định của
pháp luật lao động. Thông qua công tác thanh, kiểm tra, các cơ quan quản lý Nhà nước
về lao động còn phát hiện những vấn đề vướng mắc trong quá trình triển khai thực
hiện pháp luật lao động, những vấn đề bất hợp lý, chồng chéo, mâu thuẫn trong những
qui định của pháp luật để từ đó đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho phù
hợp với nhu cầu thực tế của ở nước ta trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới.
Về vai trò của Nhà nước
Nhà nước đã thành công trong xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, thiết chế quan
hệ lao động ở Việt Nam, đã tạo nên được một số điểm nhấn như: Thành lập Uỷ ban
Quan hệ lao động, Trung tâm Hỗ trợ phát triển quan hệ lao động, Hội đồng tiền lương
Quốc gia; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về lao động và quan hệ
lao động theo hướng phù hợp hơn với cơ chế thị trường và tiếp cận gần hơn các tiêu
chuẩn lao động quốc tế; giao nhiệm vụ quản lý quan hệ lao động tại cơ sở cho Phòng
Lao động Thương binh và Xã hội, Ban quản lý các khu công nghiệp,...
Về tham vấn và hỗ trợ quan hệ lao động


Tổ chức đại diện của người sử dụng lao động được thành lập ở cấp trung ương
gồm: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Liên minh Hợp tác xã
Việt Nam.
Những hạn chế trong quản lý nhà nước vể quan hệ xã hội trong thương mại
tự do thể hệ mới
Về ban hành chính sách và pháp luật
Các văn bản pháp luật không đủ tính cụ thể, chi tiết để có thể áp dụng chúng một
cách trực tiếp, độc lập. Hệ thống văn bản hướng dẫn Bộ luật Lao động còn khá cồng
kềnh, do nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau ban hành nên không tránh khỏi sự mâu
thuẫn, chồng chéo, dẫn đến hệ thống pháp luật này khó tra cứu và thực hiện một cách
đồng bộ.
Về cơ quan quản lý Nhà nước
Hiện nay vẫn chưa có văn bản chính thức nào qui định bộ, ngành nào đảm nhiệm
chức năng quản lý Nhà nước về quan hệ lao động. Mặc dù, khi qui định về chức năng
và nhiệm vụ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã qui định một số điểm song
không cụ thể nên chức năng quản lý Nhà nước về QHLĐ hiện nay còn thiếu khá nhiều,
nội dung quản lý không thành hệ thống, thậm chí bị nhầm lẫn giữa quản lý pháp luật
về lao động và QHLĐ. Trong khi lại có những chức năng được giao không đúng với
vai trò của Nhà nước trong quan hệ lao động của kinh tế thị trường, nhất là những vấn
đề liên quan đến tiền lương.
Mặc dù mặc dù Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm chính về
quản lý Nhà nước trong lĩnh vực lao động và là một trong ba bên của QHLĐ nhưng
trên thực tế mối quan hệ này lại được điều chỉnh bởi nhiều ngành luật như: Dân sự,
Doanh nghiệp, Đầu tư, Hành chính... thuộc chức năng quản lý của nhiều bộ, ngành, cơ
quan khác. Do đó, để thực hiện quản lý Nhà nước có hiệu quả, đòi hỏi phải có sự phối
hợp liên ngành, đồng bộ và thống nhất.
Về đối thoại xã hội trong quan hệ lao động
Việc thực hiện các quy định về đối thoại xã hội còn là một thách thức rất lớn đối
với hầu hết các doanh nghiệp. Theo đúng bản chất và quy luật khách quan của quan hệ
lao động trong nền kinh tế thị trường thì nhà nước chỉ nên hướng dẫn, hỗ trợ chứ


không nên quy định cứng về các nội dung và hình thức đối thoại. Đối thoại tại nơi làm
việc cần tiến hành thường xuyên, linh hoạt theo yêu cầu chứ không thể gò ép theo một
khuôn mẫu nào.

Về thương lượng tập thể
Hầu hết các thỏa ước lao động tập thể ở các doanh nghiệp còn mang tính hình
thức, sao chép các tiêu chuẩn lao động tối thiểu trong luật. Thương lượng tập thể cấp
đa doanh nghiệp còn ở mức thí điểm, chưa phổ biến và chưa mang lại nhiều lợi ích cho
cả người lao động và người sử dụng lao động. Nhiều khi, công đoàn cấp trên chỉ vận
động NSDLĐ tham gia chứ không phải gây sức ép để thương lượng, tham gia thỏa ước
lao động tập thể nhóm doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa như một sự chứng nhận về điều
kiện lao động hơn là kết quả thương lượng giữa các bên.
Công đoàn cấp trên cơ sở chỉ dừng lại ở việc chỉ đạo, đôn đốc, triển khai, hướng
dẫn chưa có biện pháp giúp đỡ thiết thực, chưa giúp Công đoàn cơ sở trong việc đưa ra
yêu cầu nội dung thương lượng, nhất là hỗ trợ trong quá trình đàm phán thương lượng
tập thể.
Đối với Công đoàn cơ sở, vẫn còn một số cán bộ công đoàn hạn chế về năng lực,
kỹ năng đàm phán thương lượng, chưa chủ động đưa ra nội dung để thương lượng, ký
kết thỏa ước lao động tập thể và đối thoại tại nơi làm việc. Nhiều Công đoàn cơ sở
không báo cáo kịp thời lên Công đoàn cấp trên để được hỗ trợ kịp thời.
Về giải quyết tranh chấp lao động
Công tác giải quyết tranh chấp lao động chưa tốt, đội ngũ hòa giải viên lao động
không được đào tạo bài bản, không có sự kết nối, điều phối và quản lý hiệu quả nên
hầu như không phát huy được vai trò trong thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động tập
thể. Trên thực tế, Hội đồng trọng tài lao động hầu như không hoạt động mặc dù vẫn
được tồn tại trong Luật lao động
Về thanh tra lao động
Tuy đã có nhiều cố gắng, song phải thừa nhận rằng công tác thanh tra, kiểm tra và
kể cả giám sát thực hiện pháp luật lao động còn nhiều hạn chế và tồn tại, như: Năng


lực của bộ máy thanh tra ngành chưa đủ mạnh khi phải đảm đương một lĩnh vực quá
rộng. Nhà nước và các cơ quan Nhà nước tuy đã quan tâm đến công tác thanh tra, kiểm
tra, giám sát song đã bị chi phối nhiều vào việc giải quyết các sự vụ, không có cơ chế
để giải quyết các vấn đề có hệ thống. Các cơ quan chưa thực sự quan tâm sâu về vấn
đề này, mặt khác do hạn chế về cán bộ chuyên môn nên việc giám sát mới chỉ dừng lại
ở các vấn đề chung, không sâu và hiệu quả của giám sát chưa cao.
Về vai trò của Nhà nước
Công tác quản lý Nhà nước còn hạn chế, yếu kém trong lĩnh vực ban hành và giám
sát việc thực thi chính sách, pháp luật về lao động. Hệ thống chính sách, pháp luật của
nước ta còn thiếu đồng bộ làm nảy sinh mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển kinh tế – xã
hội nhanh với tình trạng lạc hậu của cơ chế, chính sách; mâu thuẫn giữa tăng trưởng
kinh tế với tình trạng đời sống của người lao động còn nhiều khó khăn. Trong Bộ luật
lao động năm 2012, các quy định của pháp luật lao động nói chung, về giải quyết tranh
chấp lao động và đình công nói riêng mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung và ngày càng
hoàn thiện song vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu thực tiễn.
Về tham vấn và hỗ trợ quan hệ lao động
Nhiều cán bộ lao động ở cấp địa phương do chưa thích ứng nhanh với sự thay đổi
của nền kinh tế thị trường nên nhận thức còn hạn chế. Vậy nên, nhiều cơ chế về quan
hệ lao động không được thực thi trong thực tế. Quy định pháp lý về vấn đề này hiện
còn thể hiện về hình thức. Ở cấp tỉnh đều có Liên minh Hợp tác xã, nhưng vẫn còn
nhiều tỉnh, thành phố chưa có Chi nhánh Phòng Thương mại và Công nghiệp cấp tỉnh.
Hiệp hội các doanh nghiệp chưa hoàn toàn gắn kết với VCCI, hoạt động mang tính
chất xúc tiến thương mại và đầu tư là chủ yếu, chưa thực hiện vai trò đại diện người sử
dụng lao động trong đối thoại, thương lượng với đại diện người lao động để tham vấn,
ký kết thoả ước lao động tập thể, hoà giải, giải quyết tranh chấp lao động và đình công
và chưa có đầu mối để tập trung hoạt động của các hiệp hội trong hỗ trợ phát triển
quan hệ lao động. Các hiệp hội hoạt động chưa thường xuyên, thiếu kinh phí, thiếu
nhân sự, thiếu chuyên gia tư vấn hiểu biết sâu về quan hệ lao động. Chưa có khuôn
khổ pháp lý cho tổ chức đại diện người sử dụng lao động hoạt động có hiệu quả. Chính
vì vậy, chưa hỗ trợ được nhiều cho người lao động, khiến họ gặp nhiều bất lợi trong
tham gia quan hệ lao động, nhất là khi xảy ra tranh chấp lao động.


4. Giải pháp quản lý Nhà nước về quan hệ lao động trong thương mại tự do thế
hệ mới.
Ngày nay, Việt Nam đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt là tham
gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và chấp hành các nghĩa vụ quốc tế trong
lĩnh vực lao động. Điều đó không chỉ đòi hỏi những thay đổi về các chính sách, pháp
luật mà còn phải thay đổi về cách thức quản lý nhà nước về quan hệ lao động.
Giải pháp 1: Cụ thể hóa các văn bản pháp luật để áp dụng một cách trực tiếp và
độc lập. Thu gọn các văn bản hướng dẫn Bộ luật Lao động để mọi người có thể áp
dụng một cách đồng bộ. Hoàn thiện các quy định pháp luật về pháp luật lao động: giải
quyết tranh chấp, đình công, đối thoại xã hội, thương lượng tập thể.
Giải pháp 2: Xây dựng và điều chỉnh cơ quan quản lý Nhà nước về quan hệ lao
động để đảm bảo thực hiện hiệu quả chức năng quản lý và chức năng hỗ trợ, đồng thời
đảm bảo sự thống nhất và điều hành hiệu quả giữa các cấp trung ương, địa phương.
Giải pháp 3: Tăng cường năng lực và vai trò của cơ quan Nhà nước ở địa phương
trong việc hướng dẫn, hỗ trợ về đối thoại xã hội tại nơi làm việc. Đối thoại tại nơi làm
việc cần tiến hành thường xuyên, linh hoạt theo yêu cầu chứ không thể gò ép theo một
khuôn mẫu nào.
Giải pháp 4: Công đoàn cấp trên cơ sở chủ động trong việc đôn đốc, chỉ đạo Công
đoàn cơ sở thương lượng, kí kết thỏa ước lao động tập thể, tổ chức nhiều lớp tập huấn,
bồi dưỡng kỹ năng triển khai cho Ban chấp hành Công đoàn cơ sở, có biện pháp giúp
đỡ thiết thực trong việc đưa ra yêu cầu nội dung thương lượng, nhất là hỗ trợ trong quá
trình đàm phán, ký kết thỏa ước lao động tập thể, và đối thoại tại nơi làm việc.
Giải pháp 5: Tổ chức lại hệ thống hòa giải, trọng tài theo hướng tinh gọn, chuyên
nghiệp và tập trung vào các vùng trọng điểm. Có thể thành lập các Cơ quan Trung
gian, Hòa giải và Trọng tài lao động. Trong đó, có các Hòa giải viên lao động, Trọng
tài viên lao động và bộ phận văn phòng. Trọng tài viên lao động có thể thực hiện cả 2
chức năng hòa giả, trọng tài trong các phiên khác nhau tủy theo yêu cầu cụ thể của các
bên.
Giải pháp 6: Nâng cao năng lực của bộ máy thanh tra và các cán bộ chuyên môn
để giám sát chuyên sâu, hiệu quả hơn. Cơ quan Nhà nước nên xem xét bổ sung cả về


số lượng lẫn chất lượng thanh tra viên, tuy nhiên với tình trạng chung của nguồn nhân
lực tại khu vực công thì việc bổ sung không phải là vấn đề đơn giản. Trước hết, cần
thay đổi chính sách đãi ngộ, công tác tổ chức và nhân sự chuyên ngành, đặc biệt là
thanh tra an toàn lao động.
Giải pháp 7: Thành lập các chi nhánh Phòng Thương mại và Công nghiệp cấp tỉnh
tại những tỉnh/ thành phố chưa có; gắn kết Hiệp hội các doanh nghiệp với VCCI. Nhà
nước nên chủ động quan tâm đến hoạt động của các Hiệp hội, hỗ trợ một phần chi phí
hoạt động, mở kênh thông tin hỏi đáp trực tuyến với các chuyên gia quan hệ lao động.
5. Kết luận
Quan hệ lao động là một trong những yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy nền
kinh tế phát triển. Khi quan hệ lao động gặp phải những vấn đề không giải quyết kịp
thời hoặc không thể giải quyết, sẽ xảy ra tình trạng tranh chấp lao động, dẫn đến đình
công. Từ đó ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, trật
tự xã hội cũng như là nền kinh tế của quốc gia. Do đó, việc quản lý nhà nước về quan
hệ lao động hiện nay, nhất là khi Việt Nam đang kí kết các Hiệp định thương mại tự do
thế hệ mới là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu. Tuy nhiên, việc quản lý
Nhà nước về quan hệ lao động hiện nay cũng gặp phải nhiều khó khăn, bởi sự thiếu
hụt về nguồn nhân lực, công tác thanh tra, giám sát chưa được chặt chẽ, tuy đã có
những văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhưng không đủ cụ thể, chi tiết để có thể áp
dụng chúng một cách trực tiếp, độc lập, hệ thống văn bản hướng dẫn Bộ luật Lao động
còn khá cồng kềnh, do nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau ban hành nên không tránh
khỏi sự mâu thuẫn, trùng chéo, làm giảm tính hiệu lực của các văn bản luật, dẫn đến hệ
thống pháp luật này khó tra cứu và thực hiện một cách đồng bộ. Chính vì vậy, phải xây
dựng một hành lang pháp luật chặt chẽ quy định về quan hệ lao động giúp cho mối
quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động ngày càng ổn định hơn, góp
phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nâng cao đời sống của nhân dân.

Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Duy Phúc. Các nguyên lý quan hệ lao động, NXB Lao động - Xã hội.


2. Nguyễn Tiệp (2011). Giáo trình quan hệ lao động, NXB Lao động - Xã hội.
3. Nguyễn

Thanh

Tâm

(2017).

Tổng

quan

về

các

FTA thế

hệ

mới,

http://giaoducvaxahoi.vn/tin-phap-luat/t-ng-quan-v-cac-fta-th-h-m-i.html [2/01/2018]
4. Phạm Thị Hồng Đào (2016). Đặc trưng của quan hệ lao động ở Việt Nam,

http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1914 [29/12/2017]
5. David Macdonald and Caroline Vardenabeele (1996), Bảng thuật ngữ quan hệ công
nghiệp và giới hạn liên quan.
6. Quản lý Nhà nước đối với quan hệ lao động đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế,

http://quanhelaodong.gov.vn/quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-quan-he-lao-dong-dap-ungyeu-cau-hoi-nhap-quoc-te/ [09/03/2016]



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×