Tải bản đầy đủ

SKKN văn học TRANG 2016

BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu:
Bác Hồ kính yêu của chúng ta khi còn sống Bác rất quan tâm đến mọi
người, nhất là các cháu thiếu niên nhi đồng. Bác chú trọng từ bữa ăn, giấc ngủ và
sự tiến bộ của các cháu.
Bác Hồ nói:
“Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”
Đúng như vậy, trẻ ở tuổi mầm non thật là đáng yêu, tâm hồn trẻ thơ ngây,
hồn nhiên như tờ giấy trắng. Mọi hoạt động học tập và vui chơi trong quá trình
nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non nhằm tạo điều kiện đều đem
lại cho trẻ những điều kì lạ, thần tiên, văn học đem đến điều đó cho trẻ.
Văn học là loại hình nghệ thuật đặc sắc không thể thiếu trong đời sống con
người. Đặc biệt, nó rất gần gũi với trẻ thơ, từ buổi đầu thơ ấu, trẻ đã sống chan
hòa trong không khí lời ru “ầu ơ” đầy yêu thương tận tình của bà, của mẹ... và đó
cũng là cánh cửa mở ra chân trời nhận thức cho trẻ.
Làm quen tác phẩm văn học đem lại hiệu quả giáo dục cao, nó tác động
mạnh mẽ lên tình cảm của trẻ. Những bài học đến với trẻ một cách tự nhiên,
không gò bó không mang tính giáo huấn bắt buộc.
Cho trẻ làm quen tác phẩm văn học là tạo cơ hội cho trẻ được tiếp xúc với

các thể loại văn học khác nhau như thơ ca, đồng dao, truyện kể… đến những bài
thơ với các chủ đề, chủ điểm phong phú, đa dạng. Tiếp xúc với thơ, truyện, ca
dao, đồng dao, trẻ không chỉ thấy được bức tranh về cuộc sống xung quanh với
những hình ảnh sinh động, mà trẻ còn học tập cách giao tiếp, cách ứng xử, yêu
quê hương, đất nước, tình yêu mến bạn bè, với những người thân, biết được việc
làm tốt, biết yêu cái đẹp, cái thiện, phê phán những việc xấu, kính yêu Bác Hồ,
thật thà, ngoan ngoãn... và còn là phương tiện hình thành các phẩm chất đạo đức
trong sáng, mà đặc biệt ở trẻ mẫu giáo thì vốn từ và ngôn ngữ của trẻ được phát
triển mạnh mẽ, trẻ nói mạch lạc, nói diễn cảm, nói đúng câu, đúng từ và đúng ngữ
pháp.
Bản thân tôi đã từng được phân công phụ trách và dạy lớp 5 tuổi, tôi đã
hiểu được tầm quan trọng của môn làm quen với tác phẩm văn học. Vì thế, tôi
luôn tìm ra những phương pháp, biện pháp, cách thức tổ chức hoạt động làm quen
với văn học phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Tôi luôn suy nghĩ mình cần
làm gì để dạy trẻ làm quen với văn học có hiệu quả nhất. Với những trăn trở đó
tôi mạnh dạn chọn đề tài:
1


“Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo lớn làm quen với tác phẩm văn học
có hiệu quả ở trường mầm non Văn Tiến - huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc”
2. Tên sáng kiến:
“Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo lớn làm quen với tác phẩm văn học có
hiệu quả ở trường mầm non Văn Tiến - huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc”
3. Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Cao Thị Trang.
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường Mầm non Văn Tiến - huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc.
- Số điện thoại: 033 569 1990.
- Email: thutrang30591@gmail.com
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Mầm non Văn Tiến
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
- Phát triển ngôn ngữ.
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
- Từ tháng 08 năm 2018 đến tháng 05 năm 2019.
7. Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1. Về nội dung của sáng kiến:
7.1.1. Cơ sở lý luận:
Như chúng ta đã biết, tác phẩm văn học thể hiện hiện thực cuộc sống bằng
hình tượng nghệ thuật. Bằng sức mạnh của tính hình tượng, sự biểu cảm của ngôn
ngữ, những hình tượng con người, con vật, bức tranh thiên nhiên được vẽ nên
bằng ngôn ngữ đã tác động mạnh mẽ đến trẻ em. Ấn tượng trẻ thu nhận được từ
tác phẩm văn học khi nghe đọc, kể tác phẩm phụ thuộc vào trình độ phát triển
nhận thức thẩm mĩ của trẻ, vào khả năng cảm nhận văn học trong sự thống nhất
giữa nội dung và hình thức nghệ thuật tác phẩm. Chúng ta đều nhận thấy rằng, trẻ
mẫu giáo lớn có khả năng cảm nhận văn học trong sự thống nhất giữa nội dung và
hình thức nghệ thuật của tác phẩm bằng cách nghe người lớn đọc, kể tác phẩm.
Qua việc cho trẻ làm quen văn học chính là hình thành ở trẻ những tình
cảm đạo đức tốt đẹp, những cảm xúc thẩm mĩ, phát triển trí tưởng tượng như:
Lòng yêu thiên nhiên quả, cây hoa lá, lòng kính trọng yêu thương gần gũi và giúp
đỡ những người thân xung quanh trẻ như ông bà, bố mẹ, cô giáo, anh chị em.
Thông qua hoạt động này trẻ làm tái tạo và sáng tạo thêm những tình tiết của tác
phẩm một cách hồn nhiên phù hợp nội dung của tác phẩm. Thông qua sự hiểu
biết, trí tưởng tượng của trẻ. Đồng thời trẻ đọc thuộc thơ, kể lại chuyện được.
Chính vì thế, để đạt được mục đích của môn học “Làm quen với tác phẩm văn
2


học” bản thân tôi đã nghiên cứu suy nghĩ, tìm ra một số biện pháp để giúp trẻ mẫu
giáo lớn làm quen với tác phẩm văn học đạt hiệu quả cao.
Vì thế, giáo viên cần nắm vững những nội dung chương trình giáo dục
mầm non, nắm vững mục đích, nội dung, yêu cầu, phương pháp dạy trẻ làm quen
chữ viết. Biết lựa chọn hình thức tổ chức, nội dung phù hợp với trẻ linh hoạt, sáng
tạo kết hợp đồ dùng học liệu để đạt kết quả cao. Ngoài việc cung cấp cho trẻ
những kiến thức, kỹ năng mới mà còn phải thường xuyên tổ chức cho trẻ luyện
tập bằng các biện pháp phù hợp nhằm ôn luyện, củng cố và nâng cao nhận thức
cho trẻ.
7. 1.2. Thực trạng vấn đề:
* Thuận lợi:
- Được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu trong việc đổi
mới hình thức chăm sóc giáo dục trẻ và xây dựng phương pháp đổi mới bằng
công nghệ thông tin, tổ chức dự giờ, hội giảng các lớp bồi dưỡng chuyên môn
nghiệp vụ.
- Nhà trường tạo điều kiện đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
như: 1 máy tính, có các phần mềm, băng đĩa, nối mạng Internet... đảm bảo tốt cho
việc tổ chức hoạt động làm quen với văn học cho trẻ.
- Lớp học rộng rãi, khang trang sạch đẹp, đầy đủ đồ dùng đồ chơi.
- Bản thân là một giáo viên trẻ, nhiệt tình, yêu nghề, có tâm huyết và
được theo học các lớp tập huấn nghiệp vụ sư phạm, được học tập bồi dưỡng
nhiều về lĩnh vực phát triển ngôn ngữ.
- Học sinh ngoan, nhanh nhẹn thích tìm tòi khám phá, tham gia tích cực
các hoạt động.
* Khó khăn:
- Đa số phụ huynh làm nghề nông, kinh tế gia đình còn khó khăn, trình độ
hiểu biết của họ còn hạn chế nên họ chỉ chú trọng đến việc làm kinh tế chứ không
mấy quan tâm đến việc giáo dục, dạy dỗ trẻ. Họ không có thời gian để trò chuyện
hay đọc kể cho trẻ nghe về tác phẩm văn học.
- Do đặc thù của địa phương ngọng âm “l, n” nên việc phát âm của trẻ còn
rất ngọng.
- Một số trẻ còn nhút nhát, không tích cực vào hoạt động và một số trẻ khác
lại quá hiếu động.
* Khảo sát đầu năm:
Từ thực trạng trên, ngay từ đầu năm học, tôi đã tiến hành khảo sát 30 trẻ
trong lớp mẫu giáo 5 tuổi A2 về việc làm quen với tác phẩm văn học và thu được
kết quả sau:
3


Biểu 1: Kết quả khảo sát đầu năm
STT


Nội dung khảo sát

Đạt

Chưa đạt

Số trẻ

Tỷ lệ %

Số trẻ

Tỷ lệ %

1

Khả năng hứng thú, tích cực
tham gia hoạt động

20

67

10

33

2

Khả năng nhớ tên truyện, bài
thơ

20

67

10

33

3

Khả năng phát âm chuẩn

18

60

12

40

4

Khả năng hiểu và nắm được
nội dung bài thơ, câu chuyện

19

63

11

37

5

Khả năng diễn đạt câu rõ ràng,
mạch lạc

19

63

11

37

Qua khảo sát ban đầu cho thấy kết quả đạt được chưa cao. Tỉ lệ trẻ hứng
thú, tích cực tham gia hoạt động đạt 67%. Khả năng nhớ tên truyện, bài thơ đạt
67%. Khả năng phát âm chuẩn đạt 60%. Trẻ hiểu và nắm được nội dung bài thơ,
câu chuyện đạt 63%. Khả năng diễn đạt câu rõ ràng, mạch lạc đạt 63%. Xuất
phát từ thực trạng trên, bản thân tôi đã trăn trở, tìm tòi ra những biện pháp để tổ
chức hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học đạt hiệu quả cao như sau:
7.1.3. Biện pháp thực hiện:
Biện pháp 1: Tạo môi trường học tập cho trẻ:
Đối với trẻ mẫu giáo, môi trường là một vấn đề hết sức quan trọng vì môi
trường có gần gũi thân thiện, có hấp dẫn mới kích thích cho trẻ hứng thú hoạt
động. Môi trường hoạt động là nơi cung cấp nguồn thông tin phong phú, khuyến
khích tính độc lập và hoạt động tích cực của trẻ. Môi trường giúp trẻ tìm tòi,
khám phá và phát hiện những điều mới lạ, hấp dẫn trong cuộc sống, các kiến thức
và kĩ năng của trẻ cũng được củng cố và bổ sung. Một môi trường đẹp, phong phú
và phù hợp sẽ gây hứng thú cho trẻ, trẻ sẽ chú ý và ghi nhớ có chủ định. Vì thế,
tôi luôn chú trọng đến cách trang trí trong lớp, sắp xếp đồ dùng gọn gàng, đẹp
mắt và luôn thay đổi phù hợp với từng chủ đề.
Ở lớp tôi, tôi đã xây dựng môi trường trong lớp ngay tại các góc chơi như:
“Bé yêu văn học”; “Thư viện của bé”.... Ở mỗi góc tôi đều trang trí những hình
ảnh gần gũi, quen thuộc với trẻ, có tính sáng tạo, phù hợp với từng nội dung chủ
đề.
VD: Góc “Bé yêu văn học” ở chủ đề “Thế giới thực vật” tôi đã trang trí vào góc
bài thơ “Hồ sen” với hình ảnh rất tươi sáng giúp trẻ khắc sâu kiến thức bài thơ.
4


Ảnh: Thơ “Hồ sen”

Tôi luôn tận dụng diện tích phòng học, chú ý bố trí sắp xếp các góc để tạo
môi trường học tập tốt nhất và thoải mái cho trẻ.
Để giúp trẻ nâng cao khả năng cảm thụ văn học thì việc tạo cơ hội cho trẻ
làm quen với tác phẩm văn học phải thường xuyên. Ngay từ đầu năm học, Ban
giám hiệu nhà trường đã tranh bị cho lớp nhiều quyển truyện tranh. Ngoài ra, tôi
còn sưu tầm các sách văn học, tạp trí, lịch cũ, nguyên liệu cho trẻ tự làm sách để
xây dựng một “Góc thư viện” mang nội dung văn học. Tại “Góc thư viện” trẻ
được xem các tranh truyện, tạp trí. Sau đó, cô kể cho trẻ nghe về nội dung những
câu truyện như “Tích chu”, “Bác gấu đen và hai chú thỏ”... hướng dẫn trẻ cách tri
giác các tranh truyện đó dần dần trẻ có thể tự kể lại theo ý hiểu của trẻ.
VD: Góc thư viện: Cô đưa ra truyện “Tích chu” và những bức tranh thể
hiện nội dung câu truyện, sau đó sắp xếp không theo trình tự rồi để trẻ sắp xếp lại
cho đúng trình tự, diễn biến câu chuyện rồi kể lại câu chuyện.

5


Các loại tranh ảnh, sách truyện do cô và trẻ tự làm không chỉ được sử dụng
trong giờ học văn học mà còn được tôi sử dụng để trang trí lớp, làm đồ dùng đồ
chơi trong góc thư viện. Như vậy trẻ sẽ được ôn luyện, củng cố kiến thức về các
câu chuyện, bài thơ ở mọi lúc, mọi nơi trong các thời điểm khác nhau.
Không những tôi tạo môi trường học tập trong lớp mà tôi còn tạo cho trẻ
môi trường hoạt động ngay ngoài lớp học như: trang trí ngoài hành lang, lối lên
cầu thang, hình ảnh những câu chuyện, bài thơ hoặc ở góc thiên nhiên tôi làm
bảng bằng bìa cứng có gắn tên cây và bài thơ nói về loài cây đó. Qua đó, trẻ được
làm quen với tác phẩm văn học ở mọi lúc, mọi nơi.
Ảnh: Ở cầu thang trường tôi trang trí truyện
“Nàng bạch tuyết và bảy chú lùn”

6


Ảnh: Ở cầu thang trường tôi trang trí con vật, hình ảnh ngộ nghĩnh, đáng yêu

Kết quả cho thấy trẻ thực sự thích thú khi tham gia vào các hoạt động, kiến
thức, cảm nhận và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ được nâng dần lên.
Biện pháp 2: Sử dụng một số hình thức gây hứng thú dẫn dắt trẻ làm quen
với tác phẩm văn học:
Để thu hút, lôi cuốn trẻ tập trung vào tìm hiểu tác phẩm văn học tôi đã tổ
chức giờ học như một sân chơi, hội thi như chương trình “Bé yêu thơ”; “Bé yêu
văn học”.... Đến với tác phẩm văn học, trẻ như bước vào một thế giới kì ảo với
những niềm sung sướng, say mê và tìm kiếm không biết mệt mỏi.
Tôi đã sử dụng một số hình thức gây hứng thú hướng trẻ tập trung vào bài
học như: câu đố, hò vè, trò chơi dân gian, tiếng kêu, bài hát... có liên quan đến
chủ đề, nội dung bài thơ, câu chuyện.
VD: Cho trẻ quan sát hình ảnh vòng đời của cây, sau đó dẫn dắt trẻ đến với
câu chuyện “Chú đỗ con”.

7


VD: Với bài thơ “Hoa cúc vàng” sáng tác: “Nguyễn Văn Chương”
Tôi sẽ đọc câu đố để thu hút trẻ vào bài:
“Hoa gì tươi thắm sắc vàng
Cánh dài thường nở muộng màng vào thu”
Biện pháp 3: Tự tạo và sử dụng đồ dùng, đồ chơi trực quan hấp dẫn:
Đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi là tư duy trực quan hình
tượng, nếu như trong quá trình cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học cô chỉ kể
cho trẻ nghe nhiều lần bằng lời thì trẻ sẽ nhanh chán và tiết học không tạo cho trẻ
có được tính linh hoạt, nhanh nhẹn, thông minh, hoạt bát, sáng tạo mà còn không
thu lại được kết quả cao nên tôi đã sử dụng đồ dùng, đồ chơi trực quan hấp dẫn,
kết hợp giữa vật thật, tranh ảnh, mô hình với nhau.
Ngoài việc sử dụng đồ dùng đồ chơi mua sẵn trên thị trường tôi đã tận
dụng nguyên vật liệu phế thải sẵn có ở địa phương để tự tạo ra những đồ dùng đồ
chơi hấp dẫn trẻ, phù hợp khi đưa vào dạy trẻ làm quen với tác phẩm nào đó.
VD: Từ những nguyên vật liệu như bìa cứng, giấy vẽ, màu nước, bút chì...
tôi đã làm các nhân vật trong câu truyện “Củ cải trắng” bằng rối dẹt. Tôi còn tận
dụng vải vụn, bông cũ... rồi khâu thành các nhân vật có đủ các bộ phận như mồm,
mắt, mũi, tai... và trang trí quần áo theo nội dung truyện. Với sân khấu tôi trang
trí sân khấu với nội dung câu chuyện, phù hợp với hoàn cảnh nhân vật trong
truyện. Và chuẩn bị sân khấu rối cho trẻ trực tiếp được tham gia vào các hoạt
động.
Một số hình ảnh làm bằng nguyên vật liệu phế thải như: vải vụn, bìa
catton, lọ nhựa ...

8


9


Tôi luôn chọn đồ dùng trực quan đủ, đẹp, hấp dẫn, phù hợp với từng tiết
học, đúng chủ đề, phù hợp với từng bài thơ, câu chuyện. Có mục đích rõ ràng, có
thể gây hứng thú hoặc củng cố biểu tượng, khắc sâu biểu tượng.
VD: Khi dạy trẻ bài thơ “Em yêu nhà em” sáng tác của Đoàn Thị Lam
Luyến, bài thơ đã nói lên một vẻ đẹp thật sinh động, ngộ nghĩnh, đáng yêu vây
quanh ngôi nhà em bé, làm cho người nghe bài thơ cảm thấy như mình được xích
gần đến với những gì viết trong thơ. Và để trẻ hiểu được nội dung bài thơ, tôi đã
đọc thơ diễn cảm kết hợp cho trẻ xem hình ảnh minh họa nội dung bài thơ. Từ đó,
trẻ sẽ hiểu sâu sắc nội dung bài thơ, hứng thú khi nghe cô đọc và sẽ nhớ bài thơ
nhanh hơn.
Thơ “Em yêu nhà em”

10


VD: Trong tiết kể chuyện “Cô bé quàng khăn đỏ” tôi sử dụng rối tay kể
chuyện sẽ đem lại hiệu quả cao cho trẻ, bởi các nhân vật, sự di chuyển bởi các
con rối thu hút sự chú ý của trẻ.
Ảnh: Rối tay truyện “Cô bé quàng khăn đỏ”

Biện pháp 4: Xây dựng hệ thống câu hỏi đàm thoại:
Trong khi tiến hành kể truyện cho trẻ nghe, tôi đưa ra hệ thống câu hỏi đàm
thoại về tác phẩm. Việc trao đổi có thể bắt đầu khi mở đầu hoạt động để gây tò
mò, hứng thú, có khi diễn ra sau những lần kể để trẻ hiểu sâu sắc giá trị nội dung,
hình thức tác phẩm, tâm trạng của nhân vật, giúp cho tư duy và ngôn ngữ của trẻ
phát triển. Đây là sự hợp tác cần thiết giữa cô và trẻ để trẻ tiếp thu được những
câu văn hay với những từ ngữ nghệ thuật giàu hình ảnh, giàu âm thanh màu sắc,
biểu cảm và những hành động bộc lộ phẩm chất nhân vật... Trong quá trình trao
đổi, đàm thoại rèn tu duy, hướng dẫn trẻ so sánh, phân tích tổng hợp khái quát.
Đặc biệt khả năng suy luận đơn giản sẽ là cơ sở nảy nở dạng ban đầu của tư duy
logic ở trẻ mẫu giáo lớn.
Hệ thống câu hỏi gợi mở có một ưu thế đặc biệt trong việc giúp trẻ hiểu nội
dung tác phẩm, tích cực hóa ngôn ngữ và phát huy tính sáng tạo của trẻ.
VD: Với truyện “Giọng hót chim Sơn Ca”. Ngoài những câu hỏi về tên tác
phẩm, tác giả, nhân vật, về những câu văn hội thoại, cô giáo có thể dần dần đặt
nhũng câu hỏi như:
+ Trong truyện cô vừa đọc, Sơn Ca là loài chim như thế nào?
(Sống trong rừng, rất chăm chỉ lao động, hót rất hay...)
+ Tác giả đã tả như thế nào mỗi khi Sơn Ca hót?
11


(Mỗi khi Sơn Ca hót, cỏ, cây, hoa lá rì rào theo. Dòng suối đang chảy róc rách
cũng như muốn dừng lại để thưởng thức giọng hót mê ki ấy...)
+ Bạn Chim Sẻ đã hỏi Sơn Ca như thế nào?
( Có phải ông mặt trời đã cho bạn giọng hót hay ấy không, có phải cô mây hồng
đã cho bạn giọng hót hay không?)
+ Sơn Ca đã trả lời như thế nào?
(Không phải đâu bạn Sẻ ạ! Ông mặt trời chỉ cho tôi những tia nắng vàng rực rỡ,
ấm áp thôi!... Cô mây hồng chỉ cho tôi những tảng bông êm dịu thôi!)
+ Để có giọng hót hay Sơn Ca đã phải làm như thế nào?
(Sau khi trẻ tranh luận, cô đọc trích dẫn đoạn: “Thỉnh thoảng Sơn Ca lại nghiêng
đầu lắng nghe tiếng cây cối xào xạc, tiếng suối chảy róc rách. Nghe rất kí, rất lâu
những âm thanh ấy rồi Sơn Ca mới bắt chước theo...”, sau đó cô gợi ý để trẻ kết
luận: Sơn Ca có giọng hót hay là do chăm chỉ luyện tập).
Hệ thống câu hỏi tôi đưa ra từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, phù
hợp với khả năng của trẻ. Thông qua đó, trẻ lĩnh hội được hình ảnh đẹp, những từ
nghệ thuật như: “Giọng hót mê li, suối chảy róc rách, hoa lá rì rào, cây cối xào
xạc...” và cũng là bài học giúp trẻ có tính kiên trì, chăm chỉ.
Sau đó, tôi có thể cho trẻ nghe băng ghi âm mô tả tiếng chim Sơn Ca hót
vang và cho trẻ bắt chước giọng hót chim Sơn Ca. Đây là yếu tố chơi được kết
hợp làm phong phú nội dung hoạt động làm quen với tác phẩm văn học và phát
triển thính giác âm nhạc.
Biện pháp 5: Giải thích từ khó trong tác phẩm:
Để trẻ lĩnh hội tri thức tốt tôi không thể bỏ qua việc giải thích từ khó, bởi vì
tôi nghĩ điều đó là rất cần thiết để trẻ hiểu được nội dung, ý nghĩa giáo dục của
bài thơ, câu chuyện nên việc cung cấp từ khó, từ mới cho trẻ rất cần thiết. Tùy
theo mỗi nghĩa của từ cô giáo cung cấp bằng nhiều hình thức để trẻ dễ cảm nhận.
Đặc biệt trong những chuyện cổ tích luôn có yếu tố thần linh, mượn yếu tố đó cô
liên hệ giải thích cho được nhằm giáo dục đạo đức cho trẻ làm giàu trí tưởng
tượng và nuôi dưỡng ước mơ của trẻ nhằm hình thành nhân cách ban đầu cho trẻ.
Mỗi câu chuyện, bài thơ đều có ý nghĩa về nhận thức, giáo dục thẩm mĩ
cho trẻ. Qua mỗi bài thơ, câu chuyện, trẻ đều được biết thêm về thế giói xung
quanh, về tự nhiên, xã hội từng bước tích lũy kinh nghiệm sống cho trẻ.
VD: Với bài thơ “Mèo đi câu cá” tôi giải thích cho trẻ hiểu những từ khó
và cung cấp thêm vốn từ cho trẻ như:
Bài thơ: Mèo đi câu cá
Anh em mèo trắng
Vác giỏ đi câu
12


Em ngồi bờ ao
Anh ra song cái
Hiu hiu gió thổi
Buồn ngủ quá chừng
Mèo anh ngả lưng
Ngủ luôn một giấc
Lòng riêng thầm chắc
Đã có em rồi
Mèo em đang ngồi
Thấy bầy thỏ bạn.
Đùa chơi múa lượn
Vui quá là vui
Mèo nghĩ: ồ thôi
Anh câu cũng đủ.
Nghĩ rồi hớn hở
Nhập bọn vui chơi
Lúc ông mặt trời
Xuống núi đi ngủ
Đuôi mèo hối hả.
Quay về lều gianh
Giỏ em, giỏ anh
Không con cá nhỏ
Cả hai nhăn nhó
Cùng khóc meo meo.
+ Hiu hiu: Gió thổi rất nhẹ, lay động khẽ và yếu ớt, làm cho mèo anh cảm thấy
buồn ngủ.
+ Lòng riêng thầm chắc: Mèo anh nghĩ đã có em câu cá rồi nên yên tâm nằm
ngủ ở bờ sông Cái.
+ Hớn hở: Nét mặt tươi tỉnh, vui vẻ.
+ Hối hả: Rất vội vã, muốn chạy đi chơi thật nhanh cho kịp.
+ Lều gianh: Là nơi ở của anh em mèo trắng.
+ Nhăn nhó: mặt nhăn lại, hơi mếu, có vẻ đau khổ.
Biện pháp 6: Sử dụng trò chơi khi tổ chức hoạt động làm quan với tác phẩm
văn học học:
Trò chơi đóng vai theo chủ đề trong mỗi tác phẩm văn học không chỉ giúp
trẻ biến mình thành người lớn mà giúp trẻ “hóa thân” thành các nhân vật trong tác
phẩm có những tính cách khác biệt, với những hành động vừa thực tế, vừa kì ảo...
Để củng cố, khắc sâu kiến thức khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học
tôi tổ chức trò chơi “đóng kịch”, qua đó giúp trẻ hiểu nội dung, hiểu tính cách
13


các nhân vật của tác phẩm một cách rõ nét hơn. Khi tổ chức trò chơi đóng kịch
tôi cũng lựa chọn những tác phẩm phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ và
mang tính giáo dục cao.
VD: Cho trẻ đóng kịch truyện “Ba cô gái”; truyện “Tích chu”.... Thông
qua đó, giúp trẻ hiểu nội dung câu chuyện một cách sâu sắc và các hành động của
các nhân vật trong truyện.
Ảnh trẻ đóng kịch truyện: “Ba cô gái”; “Tích chu”

Biện pháp 7: Sửa lỗi về phát âm (sửa ngọng) và luyện phát âm cho trẻ:
Ở độ tuổi này, bộ máy phát âm của trẻ chưa hoàn thiện cho nên vẫn còn
một số trẻ thường phát âm chưa đúng một số âm như: “n- l” (làm- nàm); “kh- h”
(không- hông). Vì vậy, luyện phát âm cho trẻ là khâu đầu tiên trong quá trình giáo
dục ngôn ngữ, là cơ sở đầu tiên để hình thành tiếng nói của trẻ.
Để sửa lỗi về phát âm và luyện phát âm cho trẻ, bản thân tôi luôn phải rèn
luyện phát âm chuẩn, luyện giọng kể phù hợp với tính cách nhân vật để thu hút
trẻ vào tác phẩm và giúp trẻ sửa lỗi phát âm của mình.
VD: Sửa phát âm chữ “n” khi cho trẻ đọc bài đồng dao “Nu na nu nống”;
với chữ “d” cô đọc bài đồng dao “Dung dăng dung dẻ”; với chữ “r” cô đọc bài
“Con rùa”...
Ngoài ra, tôi còn sử dụng những trò chơi dân gian kết hợp với lời ca. Cô sử
dụng những bài hát dân gian trong các buổi biểu diễn thơ ca sáng tạo giúp trẻ có
niềm tin ham thích văn học, trẻ vừa được chơi vừa được luyện cách phát âm được
nhiều hình thức khác nhau dần dần trẻ có ý thức về âm điệu, nhịp điệu, khả năng
phát âm được rèn luyện giúp cho trẻ phát âm chuẩn, chính xác các câu quen thuộc
trong đời sống hàng ngày.
14


Biện pháp 8: Sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy:
Phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin trong giáo dục mầm non
tạo ra một môi trường dạy học tương tác cao, sống động, hứng thú và đạt hiệu quả
cao trong quá trình giảng dạy. Hình ảnh những nhân vật ngộ nghĩnh, những bông
hoa biết cử động đủ màu sắc, những hàng chữ biết đi và những con số biết nhảy
theo nhạc hiện ngay ra với hiệu ứng của những âm thanh sống động ngay lập tức
thu hút được sự chú ý và kích thích hứng thú của trẻ vì được hoạt động nhiều hơn
để khám phá nội dung bài giảng. Tôi đã sử dụng phương pháp: ghép hình, lồng
âm thanh và phần mềm kismart, tôi thấy có nhiều ưu việt hơn, giúp cho cô giáo
có thể sử dụng và áp dụng các trò chơi hiện đại vào giảng dạy cho trẻ.
VD: Với tiết truyện “Chú đỗ con”, tôi đã tạo phần mềm về nội dung bài
thơ, các hình ảnh đều động, diễn tả được cử chỉ, hành động của nhân vật, có lồng
tiếng, nhạc nền... Khi tôi kể cho trẻ nghe, tôi kể đến đâu thì nhấn chuột và hình
ảnh slides minh họa cho lời kể hiện ra. Từ đó, trẻ dễ quan sát, nhận xét sự thay
đổi của từng nhân vật và nhớ truyện hơn.
Anh: Truyện “Chú đỗ con”

15


Để trẻ nhớ hơn về nội dung câu chuyện tôi còn tổ chức cho trẻ được chơi
các trò chơi sắp xếp tranh theo trình tự nội dung câu chuyện trên máy tính, từ trò
chơi trẻ hiểu thêm diễn biến của câu chuyện.
VD: Với bài thơ: “Mèo đi câu cá” tác giả Thái Hoàng Linh

Biện pháp 9: Làm tốt công tác tham mưu:
Việc dạy trẻ làm quen với tác phẩm văn học là một vấn đề được thực hiện
thường xuyên trong chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo lớn. Tuy nhiên, để đạt
hiệu quả tốt tôi đã xây dựng kế hoạch giảng dạy, xây dựng các biện pháp dạy trẻ
mẫu giáo lớn làm quen với tác phẩm văn học sau đó trình bày với ban giám hiệu
nhà trường về ý tưởng đó để Ban giám hiệu góp ý, chỉnh sửa cho hoàn thiện hơn.
- Tham mưu với nhà trường hỗ trợ về tài liệu, đồ dùng, phương tiện giảng
dạy như: tranh truyện, tranh thơ, sách, máy chiếu,...
- Tham mưu với nhà trường tạo điều kiện cho giáo viên được tham quan,
học hỏi dự giờ những tiết dạy mẫu, dạy giỏi của trường bạn để nâng cao trình độ.
- Tham mưu với nhà trường tạo điều kiện để tôi được trực tiếp dạy chuyên
đề của trường, của cụm tổ chức, nhất là chuyên đề dạy trẻ làm quen với tác phẩm
văn học.
16


- Tham mưu với nhà trường phát động các phong trào thi đua để giáo viên
đăng ký tiết dạy tốt các môn học nhất là dạy trẻ làm quen với tác phẩm văn học;
Phát động phong trào thi viết sáng kiến kinh nghiệm để giáo viên trong trường
học hỏi lẫn nhau.
Biện pháp 10: Tuyên truyền và phối kết hợp với phụ huynh:
Như chúng ta đã thấy, môi trường tiếp xúc của trẻ chủ yếu là gia đình và
nhà trường. Chính vì vậy, việc kết hợp giữa gia đình và nhà trường là một biện
pháp không thể thiếu. Phụ huynh chính là nhân tố quyết định trong việc tạo nguồn
nhiên liệu để chúng tôi làm đồ dùng của các góc, nhất là góc làm quen với văn
học. Ngay từ đầu năm học, tôi đã trao đổi, tuyên truyền với phụ huynh về tầm
quan trọng của việc cho trẻ đến trường để trẻ được làm quen với trường lớp, với
các bạn, với cô giáo. Ngoài ra, tôi còn trao đổi với phụ huynh về vấn đề chăm sóc
và giáo dục trẻ ở trường cũng như ở nhà để cô giáo và phụ huynh cùng kết hợp
dạy trẻ. Đặc biệt, tôi đề cập đến tầm quan trọng của bộ môn “Làm quen với tác
phẩm văn học” vì đây là môn học giúp trẻ phát triển ngôn ngữ một cách mạch lạc,
giúp trẻ phát triển khả năng cảm thụ văn học, qua các tác phẩm để trẻ hiểu biết về
thế giới xung quanh.
Vận động phụ huynh hỗ trợ nguyên vật liệu như: giấy, sách, những lọ nhựa,
vải vụn để làm đồ dùng đồ chơi cho trẻ. Đối với những trẻ tiếp thu chậm tôi trực
tiếp trao đổi với phụ huynh để cùng đưa ra những biện pháp để trẻ tiếp thu kiến
thức một cách tốt nhất.
7.2. Về khả năng áp dụng của sáng kiến:
- Sáng kiến áp dụng cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường tôi đang công tác và các
trường mầm non trong huyện.
8. Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không có thông tin gì.
9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Để áp dụng sáng kiến “Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo lớn làm quen
với tác phẩm văn học có hiệu quả ở trường mầm non Văn Tiến” có hiệu quả cần
các điều kiện sau:
* Điều kiện về cơ sở vật chất:
- Môi trường lớp học.
- Các loại đồ dùng đồ chơi
- Tranh thơ, tranh truyện
- Máy tính, máy chiếu
* Điều kiện về con người:
- Trẻ Mẫu giáo 5 tuổi
- Sự kết hợp của phụ huynh…
17


10. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng
kiến theo ý kiến của tác giả:
* Về phía trẻ:
- Trẻ mạnh dạn khi giao tiếp, thích trò chuyện cùng người lớn và đặc biệt rất thích
tham gia vào tất cả các hoạt động không chỉ làm quen với tác phẩm văn học.
- Trẻ thích đọc thơ, kể chuyện và biết đọc, kể chuyện diễn cảm.
- Trẻ có khả năng sáng tạo và thể hiện tính cách nhập vai một cách linh hoạt.
- Vốn từ của trẻ phát triển, trẻ nói rõ ràng và nói được nhiều câu có nghĩa đủ
thành phần câu.
- Tạo điều kiện cho trẻ làm quen với văn học mọi lúc mọi nơi như: tivi, sách... tạo
cho trẻ niềm say mê, yêu văn học.
- Tạo được môi trường giáo dục ở nhóm lớp tốt cho trẻ hoạt động.
* Về phía giáo viên:
- Tham gia tập huấn đầy đủ, nắm chắc nội dung, phương pháp cho trẻ làm quen
với tác phẩm văn học.
- Giáo viên nắm vững thêm về phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn
học, phong phú trong tư duy về hình thức tổ chức cho trẻ làm quen với tác phẩm
văn học.
- Tận dụng những nguyên liệu sẵn có, dễ tìm để tạo ra nhiều đồ dùng phong phú,
đa dạng, sử dụng có hiệu quả trong việc tổ chức cho trẻ làm quen với tác phẩm
văn học.
- Tích cực sưu tầm, cải biên, sáng tác những bài thơ, câu truyện tranh minh họa,
trò chơi bổ trợ cho bài thơ, câu truyện trong các chủ đề cho trẻ hoạt động.
- Nâng cao được hiệu được hiệu quả công tác tuyên truyền, phối hợp.
* Về phía phụ huynh:
- Phụ huynh đã hiểu được tầm quan trọng của hoạt động cho trẻ làm quen với tác
phẩm văn học. Từ đó, phụ huynh rất nhiệt tình trao đổi với giáo viên về tình hình
hình của trẻ ở nhà và luôn quan tâm đến trẻ như: thường xuyên dành thời gian kể
chuyện, đọc thơ.... cho trẻ nghe.
- Phụ huynh nhiệt tình ủng hộ cho giáo viên những nguyên vật liệu phế thải,
những vật liệu sẵn có ở địa phương để giáo viên làm đồ dùng đồ chơi phục vụ các
hoạt động của trẻ.
10.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
Khi tôi nghiên cứu và đưa sáng kiến kinh nghiệm áp dụng vào thực tiễn, tôi
thấy trẻ trong lớp rất hứng thú trong hoạt động “Làm quen với tác phẩm văn học”
và thu được kết quả như sau:
18


Biểu 2: Kết quả khảo sát
Tỷ lệ (Đạt)
Tỷ lệ (Đạt)

So sánh với
đầu năm
học

STT

Nội dung khảo sát

Đầu năm học

Sau khi áp
dụng sáng
kiến

1

Khả năng hứng thú, tích
cực tham gia hoạt động

20/30 = 67%

28/30 = 93%

Tăng 26%

2

Khả năng nhớ tên truyện,
bài thơ

20/30 = 67%

28/30 = 93%

Tăng 26%

3

Khả năng phát âm chuẩn

18/30 = 60%

27/30 = 90%

Tăng 30%

4

Khả năng hiểu và nắm
được nội dung bài thơ,
câu chuyện

19/30 = 63%

27/30 = 90%

Tăng 27%

5

Khả năng diễn đạt câu rõ
ràng, mạch lạc

19/30 = 63%

28/30 = 93%

Tăng 30%

Nhìn vào kết quả khảo sát trên so với đầu năm sau khi áp dụng sáng kiến
tôi thấy trẻ đã có tiến bộ rõ rệt so với đầu năm. Cụ thể: 93% trẻ hứng thú, tích cực
tham gia vào các hoạt động làm quen với tác phẩm văn học. Đa số trẻ trong lớp
đã nhớ tên truyện, bài thơ (đạt 93%). Khả năng phát âm chuẩn đạt 90%. Khả năng
hiểu và nắm được nội dung bài thơ, câu chuyện đạt 90%. Khả năng diễn đạt câu
rõ ràng, mạch lạc đạt 93%. Ban giám hiệu đã dự giờ đánh giá xếp loại giờ dạy
cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học của tôi đạt loại tốt. Với kết quả này phụ
huynh rất phấn khởi, tin tưởng chúng tôi. Làm quen với tác phẩm văn học cho trẻ
mẫu giáo lớn là một trong những nội dung trọng tâm của chương trình giáo dục
cho trẻ mầm non; là một nhiệm vụ rất quan trọng mà người giáo viên mầm non
cần phải quan tâm đặc biệt. Đó là điều kiện không thể thiếu cho trẻ chuẩn bị tâm
thế sẵn sàng trước khi vào học lớp Một và cũng là mối quan tâm rất lớn của đa số
các bậc phụ huynh.
10.2. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân:
Sau khi áp dụng sáng kiến, Ban giám hiệu dự giờ các tiết dạy đều đánh giá
và xếp loại tốt, lớp tôi được chọn là lớp điểm để giáo viên trong trường học tập.
Lớp tôi được chọn để thực hiện chuyên đề “Phát triển ngôn ngữ” của nhà trường.
Trẻ lớp tôi phụ trách được xếp loại tốt, hứng thú tham gia các hoạt động.
19


Sáng kiến “Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo lớn làm quen với tác phẩm
văn học có hiệu quả ở trường mầm non Văn Tiến” của tôi được hội đồng chấm
sáng kiến kinh nghiệm cấp trường đánh giá xếp loại: Tốt.
11. Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng
sáng kiến lần đầu (nếu có):
STT

Tên tổ chức/cá nhân

Địa chỉ

Phạm vi/Lĩnh vực
áp dụng sáng kiến

I

Tập thể tham gia thử nghiệm.

1

Lớp mẫu giáo 5 tuổi A2

Trường mầm non Văn Phát triển ngôn ngữ
Tiến
cho trẻ mẫu giáo lớn

II Cá nhân tham gia thực hiện thử nghiệm.
1

Cao Thị Trang

Giáo viên Trường mầm Phát triển ngôn ngữ
non Văn Tiến
cho trẻ mẫu giáo lớn

Trên đây là “Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo lớn làm quen với tác
phẩm văn học có hiệu quả ở trường mầm non”. Kính mong được sự tham gia góp
ý của các cấp lãnh đạo, hội đồng sáng kiến kinh nghiệm và đồng nghiệp để tôi có
thêm nhiều kinh nghiệm trong hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học
đạt hiệu quả cao.
Xin chân thành cảm ơn!

Văn Tiến, ngày 20 tháng 05 năm 2019
Thủ trưởng đơn vị

Văn Tiến, ngày 20 tháng 05 năm 2019
Tác giả sáng kiến

Cao Thị Trang

20


ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC SÁNG KIẾN
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….

T/M HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

21


ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….

T/M HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

22


ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI
CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC, SÁNG KIẾN CẤP TRƯỜNG
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….

T/M HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×