Tải bản đầy đủ

Đánh giá giá trị của sinh thiết tức thì vùng rìa trong phẫu thuật bảo tồn ung thư biểu mô vảy thanh quản”

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư thanh quản (UTTQ) là bệnh lý ác tính của thanh quản, chiếm
khoảng 1,36% và xếp thứ 20 trong tổng số các loại ung thư theo thống kê
trên thế giới năm 2015 [1] . Ở Mỹ, UTTQ đứng hàng thứ 3 trong các khối u ác
tính đường hô hấp và tiêu hóa trên với hơn 13000 ca mới mắc năm 2017 [2]. Ở
Việt Nam, UTTQ chiếm hàng thứ 2 trong các ung thư đầu - mặt - cổ (chỉ sau ung
thư vòm) và đứng hàng thứ 9 trong các ung thư toàn thân [3]. Tại bệnh viện Tai
Mũi Họng Trung Ương, mỗi năm có khoảng 150 trường hợp mới mắc.
Có nhiều loại tổn thương ác tính có thể gặp ở thanh quản nhưng ung thư
biểu mô vảy xâm nhập chiếm trên 90% [4],[5],[6],[7]. Đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu cho thấy rượu và thuốc lá là 2 yếu tố nguy cơ gây bệnh hàng
đầu trong UTTQ [4],[8],[7]. Bệnh chủ yếu gặp ở nam giới với tỉ lệ nam/nữ
dao động từ 4/1 [2] đến 12,7/1 [9] và trên 90% UTTQ xuất hiện ở những
người trên 40 tuổi [10].
Tùy thuộc vào giai đoạn bệnh, bản chất khối u, vị trí khối u, tình trạng
toàn thân và nguyện vọng của người bệnh để lựa chọn các phương pháp điều
trị phù hợp với từng cá thể: phẫu thuật, tia xạ, hóa chất. Có thể dùng đơn liệu
pháp hoặc kết hợp nhiều liệu pháp trong điều trị. Xu hướng hiện nay trong
điều trị UTTQ trên thế giới cũng như ở Việt Nam chủ yếu là phẫu thuật bảo

tồn đối với các khối u ở giai đoạn sớm (T1, T2) nhằm giữ lại tối đa chức năng
của thanh quản, quan trọng nhất là nói và nuốt [11]. Vì vậy, một khó khăn đặt
ra cho các phẫu thuật viên trong quá trình phẫu thuật là phải bảo tồn tối đa tổ
chức lành của thanh quản trong khi vẫn phải đảm bảo lấy hết bệnh tích. Phẫu
thuật viên chỉ có thể đánh giá lấy hết bệnh tích qua đại thể còn những xâm lấn
ở mức độ vi thể thì không thể xác định được. Mà những tổn thương vi thể đó
sẽ là nguồn gốc của các tái phát về sau này. Trên cơ sở đó, sinh thiết tức thì


2
(STTT) đã được áp dụng trong phẫu thuật bảo tồn nhằm xác định tình trạng
vùng rìa sau khi đã cắt bỏ bệnh tích ngay trong phẫu thuật, từ đó giúp phẫu
thuật viên có những quyết định đúng đắn.
Như vậy, vấn đề đặt ra là giá trị của STTT trong điều kiện hiện tại ra sao
đối với ung thư biểu mô vảy của thanh quản để phẫu thuật viên có thể sử dụng
nó như là “kim chỉ nam” cho quyết định trong và sau phẫu thuật. Trên thế giới
hiện nay có nhiều nghiên cứu về sinh thiết tức thì trong phẫu thuật khối u nói
chung [12],[13],[14] nhưng mới chỉ có một vài nghiên cứu được tiến hành
trong sinh thiết vùng rìa UTTQ [15],[16]. Ở Việt Nam hiện nay cũng có nhiều
nghiên cứu về STTT trong phẫu thuật khối u ví dụ như ung thư tuyến giáp,
ung thư vú, ung thư buồng trứng tuy nhiên chưa thấy nghiên cứu nào nói
riêng về STTT đối với ung thư biểu mô vảy của thanh quản.
Vì vậy, để góp phần xác định giá trị của STTT trong phẫu thuật UTTQ,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá giá trị của sinh thiết tức thì
vùng rìa trong phẫu thuật bảo tồn ung thư biểu mô vảy thanh quản”.
Với 2 mục tiêu sau:
1.

Mô tả đặc điểm tổn thương ung thư biểu mô vảy thanh quản có chỉ

2.

định phẫu thuật bảo tồn.
Đánh giá giá trị của sinh thiết tức thì vùng rìa trong phẫu thuật bảo
tồn ung thư biểu mô vảy thanh quản.


3

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Ung thư thanh quản
Ung thư đầu cổ là một trong những nguyên nhân quan trọng gây tử
vong trên toàn thế giới, trong đó có UTTQ [17]. Từ những năm 1990, phẫu
thuật điều trị UTTQ đã được hướng đến và không ngừng phát triển. Hiện nay,
các phương pháp điều trị UTTQ đã có nhiều tiến bộ, tuy nhiên phẫu thuật vẫn
là chủ yếu.
1.1.1. Giải phẫu thanh quản
1.1.1.1.

Giải phẫu mô tả thanh quản
Thanh quản là phần đường dẫn khí nằm giữa hầu và khí quản và là cơ

quan phát âm chính (hình 1.1).

Hình 1.1: Thiết đồ đứng dọc qua thanh quản [18]
Thanh quản nằm lộ ở phần trước giữa của vùng cổ, ngang mức từ đốt
sống cổ 3 đến đốt sống cổ 6, dài trung bình từ 36mm đến 44mm. Thanh quản


4
được cấu tạo bởi các mảnh sụn khớp với nhau, được liên kết với nhau nhờ hệ
thống dây chằng và cân cơ.
Cấu trúc khung sụn của thanh quản

Hình 1.2: Các sụn thanh quản [19]
Khung sụn thanh quản được tạo thành từ các sụn đơn và các sụn đôi.
Chúng được liên kết với nhau bởi các màng, các dây chằng và các khớp của
thanh quản.
-

 Các sụn đơn:
Sụn giáp: là sụn đơn lớn nhất của thanh quản. Sụn giáp gồm 2 cánh hình tứ
giác nối với nhau ở bờ trước lồi lên ở đường giữa gọi là lồi thanh quản. Phía
trên nơi 2 cánh sụn giáp dính không hoàn toàn với nhau tạo nên một khuyết
hình chữ V gọi là khuyết giáp trên. Sừng trên khớp với đỉnh của sừng lớn
xương móng. Sừng dưới khớp với sụn nhẫn. Góc nhị diện của lồi thanh quản
càng lớn thì khả năng bộc lộ mép trước dưới ống soi treo vi phẫu thanh quản
càng tốt.


5
-

Sụn nhẫn: giống hình một chiếc nhẫn khép kín mà phần rộng phía sau gọi
là mảnh sụn nhẫn, phần hẹp phía trước là cung sụn nhẫn. Đây là sụn duy
nhất của đường thở có cấu trúc vòng kín, có chức năng duy trì khẩu kính
của thanh quản vì vậy cần bảo tồn sụn này trong các phẫu thuật bảo tồn

thanh quản.
- Sụn thanh thiệt: có hình chiếc lá mà cuống lá dính vào góc giữa 2 mảnh sụn
giáp bằng dây chằng giáp thanh thiệt. Cấu trúc sụn thanh thiệt có những lỗ
nhỏ còn gọi là lỗ sàng khiến cho ung thư từ mặt thanh quản của thanh thiệt có
thể chui ra vùng hạ họng.
 Các sụn đôi:
- Sụn phễu: nằm ở bờ trên mảnh sụn nhẫn, ở hai bên đường giữa. Mỗi sụn có
hình tháp 3 mặt, một đỉnh và một đáy. Đỉnh khớp với sụn sừng, đáy khớp với
bờ trên mảnh sụn nhẫn. Đáy hình tam giác mà góc trước gọi là mỏm thanh âm
cho dây chằng thanh âm bám, góc ngoài là mỏm cơ cho một số cơ của thanh
quản bám.
- Ngoài ra còn có các sun đội khác như: sụn sừng, sụn chêm, sụn thóc.
Các khớp của thanh quản
 Khớp nhẫn giáp: cho phép quay sụn giáp quanh một trục ngang đi qua 2 khớp
làm sụn giáp trượt ra trước, làm căng dây thanh âm.
 Khớp nhẫn phễu: cho phép xoay sụn phễu quanh trục thẳng đứng và tham gia
vào đóng mở thanh môn.
Các màng và dây chằng của thanh quản
 Màng giáp móng: căng từ bờ trên sụn giáp tới bờ trên thân và sừng lớn
xương móng, có bó mạch thần kinh thanh quản trên chui qua.
 Màng nhẫn giáp: căng từ bờ trên sụn nhẫn tới bờ dưới sụn giáp.
Màng nhẫn giáp khá mảnh mai lại có sự thông thương bạch huyết với
hạch trước thanh quản nên khi khối u lan xuống hạ thanh môn hay xuất phát
từ chính hạ thanh môn dễ di căn hạch ra phía trước.


6
 Màng tứ giác gồm có 4 bờ. Bờ trên là nếp phễu thanh thiệt. Bờ dưới là băng
thanh thất. Bờ trước bám vào góc sụn giáp và 2 cạnh của sụn thanh thiệt. Bờ
sau bám vào sụn sừng và sụn chêm.
 Nón đàn hồi: căng từ bờ trên sụn nhẫn tới dây thanh, phần trước màng rất
chắc tạo nên dây chằng nhẫn giáp, bờ tự do ở trên dày tạo nên dây chằng
thanh âm.
Màng tứ giác ở phía thượng thanh môn và nón đàn hồi ở tầng hạ thanh
môn có cấu trúc vững chắc tương đối, giúp cho việc ngăn cản sự lan tràn của
ung thư. Buồng thanh thất Morgagni nằm giữa màng tứ giác và nón đàn hồi là
một điểm yếu của thanh quản khiến ung thư dễ xâm lấn ra ngoài thanh quản.
 Các dây chằng của thanh quản: dây chằng giáp thanh thiệt, dây chằng móng
thanh thiệt, dây chằng nhẫn giáp, dây chằng nhẫn phễu, dây chằng nhẫn khí
quản, dây chằng nhẫn hầu.
Các cơ của thanh quản
Chia thành 2 nhóm: các cơ ngoại lai và các cơ nội tại:
 Các cơ ngoại lai: gồm các cơ đi từ các cấu trúc quanh thanh quản như nền sọ,
xương móng, xương ức và hầu đến bám vào thanh quản. Có 2 nhóm:
- Các cơ nâng thanh quản: cơ giáp móng, cơ trâm móng, cơ hàm móng, cơ hai
bụng, cơ trâm hầu, cơ khẩu cái hầu.
- Các cơ hạ thanh quản: cơ vai móng, cơ ức móng, cơ ức giáp.
 Các cơ nội tại: là các cơ mà cả 2 đầu đều bám vào thanh quản. Có 3 nhóm cơ:
- Cơ khép thanh môn: cơ nhẫn phễu bên, cơ giáp phễu, cơ liên phễu.
- Cơ mở thanh môn: cơ nhẫn phễu sau.
- Cơ căng dây thanh: cơ nhẫn giáp đóng vai trò chủ yếu, ngoài ra cơ giáp phễu
cũng góp phần làm căng dây thanh.


7
Các khoang của thanh quản
 Khoang giáp móng thanh thiệt:
Giới hạn phía trên là dây chằng móng thanh thiệt, phía trước là màng
giáp móng và sụn giáp, phía sau là sụn nắp thanh thiệt và dây chằng giáp nắp
thanh thiệt. Khoang này được lấp đầy bởi tổ chức mỡ, mô liên kết lỏng lẻo và
các đường dẫn bạch huyết. Ung thư mặt thanh quản của sụn nắp thanh thiệt và
ung thư mép trước thường hay lan vào khoang này.
 Khoang cạnh thanh môn:
Khoang cạnh thanh môn liên tiếp với vùng dưới niêm mạc băng thanh
thất. Được giới hạn bởi nón đàn hồi ở phía dưới, sụn giáp ở phía ngoài, phía
trên là tiền đình thanh quản. Khoang cạnh thanh môn được phân chia với
khoang thượng thanh môn bởi màng tứ giác. Giới hạn sau của khoang là niêm
mạc xoang lê. Phía dưới ngoài liên tiếp với khoang nhẫn giáp.
Mạch máu của thanh quản
 Động mạch: thanh quản được cấp máu từ 2 nguồn chính:
- Động mạch thanh quản trên: xuất phát từ động mạch giáp trên, chui qua màng
giáp móng cùng nhánh trên của thần kinh thanh quản trong.
- Động mạch thanh quản dưới: là một nhánh của động mạch giáp dưới

đi

kèm với thần kinh thanh quản quặt ngược.
 Tĩnh mạch: mỗi tĩnh mạch thường đi kèm với một động mạch tương ứng.
Thanh quản được dẫn lưu bởi tĩnh mạch thanh quản trên và dưới.
Dẫn lưu bạch huyết của thanh quản
Phân nhóm hạch cổ theo Memorial Sloan-Kettery Center gồm 6 nhóm:
- Nhóm I: Nhóm dưới cằm và dưới hàm
- Nhóm II: Nhóm hạch cảnh trên
- Nhóm III: Nhóm hạch cảnh giữa
- Nhóm IV: Nhóm hạch cảnh thấp


8
- Nhóm V: Nhóm hạch của tam giác sau
-

Nhóm VI: nhóm hạch Delphilan, gồm hạch trước khí quản, trước sụn nhẫn,
quanh khí quản.
Thần kinh chi phối thanh quản
Chi phối vận động và cảm giác thanh quản đều xuất phát từ dây thần
kinh phế vị qua 2 nhánh: thần kinh thanh quản trên và thần kinh thanh quản
quặt ngược.
Cảm giác: phần thanh quản ở trên dây thanh âm do thần kinh thanh quản trên chi
phối. Nếu bị liệt sẽ có biểu hiện nuốt sặc nhất là với chất lỏng. Phần thanh quản
ở dưới nếp thanh âm do thần kinh thanh quản quặt ngược chi phối.
Vận động: tất cả các cơ nội tại của thanh quản, ngoại trừ cơ nhẫn giáp đều do
thần kinh thanh quản quặt ngược chi phối. Vì vậy, nếu liệt dây thần kinh này
sẽ gây khàn hoặc mất tiếng. Nếu liệt cả 2 bên sẽ gây khó thở thanh quản.
Riêng cơ nhẫn giáp do nhánh ngoài của thần kinh thanh quản trên chi phối.
1.1.1.2.

Giải phẫu ứng dụng thanh quản
Phân tầng thanh quản theo bệnh học [10],[5],[20]. Cơ sở để phân vùng

thanh quản dựa vào nguồn gốc cấu trúc bào thai học khác nhau của các thành
phần thanh quản.

Hình 1.3: Lát cắt dọc phân tầng thanh quản [10].


9
Tầng thượng thanh môn có nguồn gốc phôi thai học từ mầm họng miệng
(buccopharyngeal primordium) được hình thành từ cung mang III và IV.
Tầng thanh môn và tầng hạ thanh môn có nguồn gốc phôi thai học từ mầm khí
quản (tracheobronchial primordium) được hình thành từ cung mang VI.
Như vậy tầng thượng thanh môn mang nhiều đặc tính cấu trúc cũng như
bệnh sinh của vùng hạ họng, đó là đặc điểm của biểu mô đường tiêu hóa.
Ngược lại, vùng thanh môn và vùng hạ thanh môn mang dấu ấn bệnh tích của
biểu mô đường hô hấp.
Tầng thượng thanh môn: được tính từ bờ trên của sụn thanh thiệt tới
mặt phẳng ngang đi qua đỉnh buồng thanh thất. Tầng thượng thanh môn được
phân thành ba vùng cơ bản:
 Vùng rìa thanh quản được giới hạn bởi: phía trước là phần thanh thiệt trên xương
móng, phía sau là bờ trên sụn phễu, hai bên là nếp phễu thanh thiệt.
 Vùng tiền đình thanh quản giới hạn bởi: phía trước là phần sụn thanh thiệt
dưới xương móng, hai bên là băng thanh thất, phía sau là vùng liên phễu.
 Buồng thanh thất giới hạn bởi: phía trên là băng thanh thất, phía dưới là dây
thanh, hai bên là màng bên trong của sụn giáp.
Tầng thanh môn: liên tiếp với vùng tiền đình xuống tới mặt phẳng
ngang qua 1cm dưới đỉnh buồng thanh thất [10], bao gồm: dây thanh, khe
thanh môn, mấu thanh âm sụn phễu và mép trước.
 Dây thanh
- Cấu trúc đại thể: gồm 2 dây thanh ở 2 bên, căng từ góc trước sụn giáp ở phía
trước tới mấu thanh âm sụn phễu ở phía sau.


10
- Cấu trúc vi thể: từ nông đến sâu bao
gồm:
+ Lớp niêm mạc: dây thanh được phủ bởi
biểu mô lát tầng không sừng hóa ở vùng
tự do của dây thanh và chuyển sang biểu
mô trụ có lông chuyển ở mặt trên và mặt
dưới dây thanh.
+ Tổ chức dưới niêm mạc gồm 3 lớp. Lớp
nông hay khoảng Reinke chứa
Hình 1.4: Cấu trúc vi thể dây
thanh âm [21]
ít tế bào xơ, sợi đàn hồi và sợi collagen, hầu như không có mạch máu và mạch
bạch huyết nên có vai trò ngăn cản sự lan tràn trong ung thư giai đoạn sớm.
Lớp giữa cấu tạo bởi sợi đàn hồi và nguyên bào sợi. Lớp sâu cấu tạo chủ yếu
bằng sợi collagen.
 Khe thanh môn: là khe hẹp ở giữa 2 dây thanh và 2 sụn phễu, 3/5 trước là phần
gian màng nằm giữa 2 dây thanh âm, 2/5 sau là phần gian phễu nằm giữa 2 sụn
phễu. Ở người trưởng thành, khe này dài trung bình từ 17mm đến 23mm.
 Mấu thanh âm sụn phễu: là nơi dây chằng thanh âm và cơ thanh âm bám vào
sụn phễu ở phía sau.
 Mép trước: là nơi gặp nhau của dây chằng thanh âm, nón đàn hồi, dây chằng
giáp thanh thiệt và màng trong sụn giáp tạo nên dây chằng Broyle.
Tầng hạ thanh môn: tiếp theo giới hạn dưới của tầng thanh môn cho tới
bờ dưới của sụn nhẫn, tầng hạ thanh môn thông thương trực tiếp với khí quản
ở phía dưới.
1.1.2. Sinh lý thanh quản
Thanh quản có 3 chức năng chính là: hô hấp, phát âm và bảo vệ [3],
[21],[22].


11

1.1.2.1.

Chức năng hô hấp

 Thanh quản dẫn không khí từ họng vào khí quản hoặc từ khí quản lên họng.
 Trong động tác hít vào thanh môn mở ra tối đa, động tác này được thực hiện bởi
các cơ mở. Trái lại, khi thở ra thanh môn chỉ mở ở mức độ vừa phải.
 Hai dây thanh mở ra và khép lại theo nhịp thở được điều chỉnh bởi hành não.
1.1.2.2.

Chức năng phát âm
Âm được cấu thành bởi ba thành phần:
Nguồn âm: được tạo thành lúc đầu nhờ khí hít vào, dây thanh khép lại ở
đường giữa, tiếp theo là thì thở ra làm tăng áp lực ở hạ thanh môn và làm
rung dây thanh, tạo ra âm.
 Sóng âm: tạo ra bởi sự rung động của hai dây thanh, hệ thống này cũng
sẽ bị thay đổi trong các can thiệp phẫu thuật vào tầng thanh môn.
 Bộ phận cộng hưởng: cấu thành bởi tiền đình thanh quản, mũi, khoang
miệng, hệ thống các xoang, có nhiệm vụ tạo nên âm sắc cho giọng nói.

1.1.2.3.

Chức năng bảo vệ
Chức năng bảo vệ đường hô hấp được thực hiện bởi phản xạ đóng thanh

môn và ho tống chất lạ, dị vật ra mỗi khi có dị vật hay hơi cay lọt vào thanh quản.
1.1.3. Đặc điểm của ung thư thanh quản
1.1.3.1.

Dịch tễ học
 Tỉ lệ mắc - tỉ lệ tử vong:
Trên thế giới năm 2015 ước tính có khoảng 238000 trường hợp mới

mắc UTTQ được chẩn đoán và 106000 người bị chết do UTTQ [1].
Tại Mỹ, ước tính năm 2017 có khoảng 13360 trường hợp mới mắc
UTTQ được chẩn đoán và 3660 trường hợp chết do UTTQ, tỉ lệ mắc là
7,6/100000/năm, tỉ lệ tử vong là 2,3/100000/năm [2].
Tại Việt Nam, theo ước tính đến năm 2000 tỉ lệ mắc UTTQ là
3/100000/năm [9].


12
 Tuổi: nhìn chung trên thế giới độ tuổi gặp UTTQ nhiều nhất từ 40 - 70 tuổi,
đặc biệt cao ở nhóm 51 - 60 tuổi [7],[9]. Tuổi có thể dao động từ 18 - 95 tuổi
[23].
 Giới:
Trên thế giới tỉ lệ nam/nữ là 7/1 vào năm 2002 [24], là 4/1 vào năm
2015 [1]. Tỷ lệ bệnh nhân nữ ngày càng tăng có thể do tỷ lệ phụ nữ hút thuốc
lá, uống rượu trong những năm gần đây tăng lên [25].
Ở Việt Nam, theo Phạm Văn Hữu, tỷ lệ nam/nữ là 14/1 [7].
1.1.3.2.

Các yếu tố nguy cơ

 Có nhiều yếu tố nguy cơ liên quan đến UTTQ. Hút thuốc và uống rượu là 2
yếu tố nguy cơ chính trong UTTQ. Người ta đã xác định chất hydrocarbon
vòng và hắc ín trong thuốc lá là chất gây ung thư mạnh trong UTTQ [26]. Hút
thuốc liên quan nhiều đến UTTQ tầng thanh môn. Uống rượu liên quan nhiều
đến UTTQ tầng thượng thanh môn [10]. Những người hút thuốc lá có nguy cơ
mắc UTTQ hơn 19 lần so với những người không hút thuốc lá, những người
uống rượu có nguy cơ mắc UTTQ cao gấp khoảng 4 lần những người không
uống rượu [27]. Đặc biệt, người vừa hút thuốc vừa uống rượu thì nguy cơ
UTTQ tăng gấp 25 đến 50 lần [26].
 Các yếu tố nguy cơ khác có thể gặp như: trào ngược dạ dày thực quản, tiếp
xúc bụi gỗ, hóa chất bay hơi dài ngày, tình trạng thiếu hụt các yếu tố miễn
dịch.
 Các bệnh lý tiền ung thư: loạn sản thanh quản (dysplasia), bạch sản thanh
quản (leukoplasia), u nhú thanh quản (papilloma) nhất là thể đảo ngược.
 Người đã điều trị tia xạ hoặc tiếp xúc thường xuyên với tia xạ thì nguy cơ ung
thư cao hơn.
 Tiền sử gia đình có người mắc UTTQ.
1.1.4. Chẩn đoán
1.1.4.1.

Lâm sàng

Triệu chứng toàn thân:


13
UTTQ giai đoạn sớm thường ít ảnh hưởng đến toàn thân.
UTTQ giai đoạn muộn: bệnh nhân gầy sút rõ, ăn uống kém.
Triệu chứng cơ năng:
 Các triệu chứng thường gặp:
- Khàn tiếng: xuất hiện sớm, kéo dài liên tục, điều trị viêm thanh quản nhiều
đợt không đỡ, khàn đặc, tăng dần, mất hết âm sắc, khàn cứng nặng như tiếng
nạo gỗ.
- Khó thở: giai đoạn đầu không khó thở, giai đoạn sau khối u to có thể che lấp
dần thanh môn. Bệnh nhân xuất hiện khó thở tăng dần. Giai đoạn muộn khó
thở trầm trọng phải mở khí quản cấp cứu.
- Ho: lúc đầu thỉnh thoảng ho khan từng cơn ngắn 2-3 tiếng, về sau ho có thể có
đờm hay lẫn máu.
- Nuốt đau, nuốt vướng, nuốt khó: trong UTTQ tầng thượng thanh môn (nhất là
vùng rìa), các dấu hiệu này có sớm còn UTTQ tầng thanh môn thì các dấu
hiệu này xuất hiện muộn hơn. Có thể đau nhói lên tai do phản xạ.
- Hơi thở hôi: thường xuất hiện ở giai đoạn muộn.
 Triệu chứng cơ năng của UTTQ thường phụ thuộc vào vị trí nguyên
phát của khối u:
- UTTQ tầng thượng thanh môn:
Khối u vùng thượng thanh môn có thể gây khàn tiếng, nuốt đau, nuốt
vướng, nuốt khó, nuốt đau lên tai, khó thở, thở rít, ho máu. Hạch to vùng cổ
thường xuất hiện sớm trong khi các triệu chứng thanh quản còn mơ hồ.
- UTTQ tầng thanh môn:
Triệu chứng chính là khàn tiếng. Đây là triệu chứng có sớm do chỉ có
một tổn thương nhỏ cũng làm ảnh hưởng tới rung động bình thường của dây
thanh khi phát âm. Vì vậy, bệnh nhân UTTQ tầng thanh môn thường đến
khám ở giai đoạn sớm. Tuy nhiên khi triệu chứng sớm là khàn tiếng bị bỏ qua
thì các triệu chứng khác như khó thở, thở rít, rối loạn nuốt, hạch cổ có thể
xuất hiện ở giai đoạn muộn.


14
- UTTQ tầng hạ thanh môn:
Triệu chứng thường xuất hiện âm thầm, từ từ, có thể nhầm với các triệu
chứng của hen hoặc các bệnh phổi khác. Bệnh nhân thường đến ở giai đoạn muộn.
Triệu chứng thường gặp là khó thở, thở rít.
Triệu chứng thực thể
- Các phương pháp thăm khám đang được ứng dụng:
+ Soi thanh quản gián tiếp bằng gương soi và đèn Clar: đây là thăm khám cơ
bản, đơn giản có thể tiến hành ở tuyến y tế cơ sở, cho phép quan sát dây thanh
ở tư thế động.
+ Nội soi thanh quản gián tiếp bằng optic 70o: giúp đánh giá tổn thương tốt hơn,
nhưng hạn chế trong đánh giá buồng Morgagni, hạ thanh môn, mép trước.
+ Nội soi thanh quản bằng ống mềm: bệnh nhân đỡ kích thích, giúp tiếp cận tổn
thương tốt hơn, có thể đánh giá được cả 3 tầng thanh quản.
+ Panendoscopy là thuật ngữ được sử dụng để miêu tả đánh giá nội soi toàn bộ
đường hô hấp tiêu hóa trên, gồm: soi thanh quản trực tiếp, soi khí phế quản và
soi thực quản dưới gây mê toàn thân hoặc gây tê tại chỗ. Giúp đánh giá vị trí
xuất phát của khối u, sự lan tràn, đánh giá tốt những vùng mà soi optic 70 o
khó đánh giá, cho phép bấm sinh thiết để giúp chẩn đoán xác định, tìm vị trí
khối u thứ 2 (gặp trong 10-15% bệnh nhân) [28].
- Khám sụn giáp và khoang giáp móng thanh thiệt để đánh giá sự lan tràn của
khối u vào những khoang này. Giai đoạn muộn có thể thâm nhiễm qua sụn
giáp ra vùng trước thanh quản tạo nên hình ảnh mai rùa, da thâm nhiễm cứng,
có thể mất dấu hiệu lọc cọc thanh quản cột sống khi u lan ra khoảng sau nhẫn
phễu.
- Khám hạch cổ: đánh giá số lượng, vị trí, kích thước, mật độ, độ di động.
1.1.4.2.

-

Cận lâm sàng

Siêu âm vùng cổ: giúp đánh giá mật độ, số lượng, vị trí hạch cổ, theo dõi sau
điều trị và giúp định hướng cho chọc hút làm tế bào hạch. Siêu âm phân biệt


15
bản chất một khối u cạnh cổ một cách tương đối, tuy nhiên không cho biết
đầy đủ sự liên hệ với các tổ chức xung quanh.
- Chọc hút hạch bằng kim nhỏ (FNA): giúp chẩn đoán khi nghi ngờ hạch có di
căn không và định hướng cho quyết định kiểu phẫu thuật nạo vét. Tuy nhiên
không phải lúc nào cũng chẩn đoán chính xác được. Vì vậy sinh thiết làm giải
phẫu bệnh là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán hạch di căn. Xét nghiệm này ít
làm vì khi có hạch cổ thì khối u cũng khá rõ ràng.
- Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) vùng cổ: là một xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh
rất có giá trị trong chẩn đoán. Theo hai bình diện Coronal và Axial, nó giúp
đánh giá vị trí, kích thước, mật độ khối u, độ lan rộng sang các cơ quan kế
cận. Nhất là một số vùng mà trên lâm sàng không thể đánh giá được như
khoang giáp móng thanh thiệt, khoang cạnh thanh môn, sụn giáp. Nó còn giúp
đánh giá sự di căn hạch dựa vào: vị trí, số lượng, mật độ và kích thước của
hạch. Một số dấu hiệu gợi ý hạch di căn: hoại tử trung tâm hạch, phá vỡ vỏ
hạch, hạch xếp thành chùm, hình tròn và tăng kích thước [10].
- Sinh thiết khối u chẩn đoán mô bệnh học: là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán.
Các đặc điểm chi tiết trong chẩn đoán mô bệnh học sẽ được trình bày kĩ hơn ở
phần sau.
- Các xét nghiệm đánh giá tình trạng toàn thân và các cơ quan có liên quan
như: X - quang ngực, siêu âm vùng bụng, chụp PET...
1.1.4.3.

Mô bệnh học trong UTTQ

 Về đại thể: có thể gặp các tổn thương sau:
- Hình thái tăng sinh (thể sùi): bề ngoài giống như u nhú, một số trường hợp
giống như polyp có cuống.
- Hình thái thâm nhiễm (thể thâm nhiễm): làm cho mô bị cứng rắn, mất sự mềm
mại, cho dù bề mặt có vẻ nguyên vẹn.
- Hình thái loét (thể loét): có thể gặp loét nông hoặc sâu, bờ gồ ghề không đều,
chạm vào dễ chảy máu.


16
Trên lâm sàng có thể gặp các thể hỗn hợp vừa sùi vừa loét hoặc vừa
thâm nhiễm vừa loét.
 Về vi thể: các loại tổn thương ác tính có thể xuất phát từ tất cả các loại tế bào
cấu thành nên thanh quản.
Có nhiều cách phân loại khác nhau, tuy nhiên các phân loại tập trung vào
4 loại chính là ung thư biểu mô vảy, ung thư biểu mô vảy tế bào hình thoi,
ung thư biểu mô mụn cóc và ung thư biểu mô vảy dạng đáy [29]. Trong đó,
ung thư biểu mô vảy (Squamous cell carcinoma - SCC) là hay gặp nhất,
chiếm khoảng 90 đến 95%. Các thể khác rất hiếm gặp.
SCC được phân độ mô học thành 4 độ dựa vào: mức độ sừng hóa, số
nhân chia trên 1 vi trường (ở độ phóng đại 400 lần, lấy trung bình từ 20 vi
trường), số tế bào không điển hình và phản ứng viêm của cơ thể với tổ chức
ung thư [28].
Bảng 1.1: Phân độ mô học trong ung thư biểu mô vảy
Tính điểm
0
1
2
3
Mức độ sừng hóa
<25%
25%-50%
50%-75% >75%
Số nhân chia/vi trường
>10
6-9
3-5
0-2
Số tế bào không điển hình
<25%
25%-50%
50%-75% >75%
Tình trạng viêm
Có viêm Không viêm
Độ mô học được đánh giá bằng tổng điểm các thông số như sau:
Độ I : 8 - 10 điểm
Độ III: 3 - 4 điểm
Độ II: 5 - 7 điểm
Độ IV: 0 - 2 điểm
Độ mô học của khối u có liên quan đến tiên lượng, khả năng tái phát và
di căn của ung thư biểu mô tế bào vảy.
1.1.4.4.

Chẩn đoán giai đoạn TNM theo AJCC (2010).

Khối U (T) với ung thư tầng thanh môn
- Tx: không đánh giá được u nguyên phát.
- Tis: ung thư tại chỗ, chưa xâm lấn qua màng đáy.
- T1: khối u giới hạn ở dây thanh (có thể xâm lấn mép trước hoặc mép
sau), dây thanh di động bình thường:


17
+ T1a: khối u giới hạn ở 1 bên dây thanh.
+ T1b: khối u lan tràn ra 2 bên dây thanh.
- T2: khối u giới hạn ở thanh quản với sự phát triển lan lên thượng thanh
môn và/hoặc hạ thanh môn và/hoặc hạn chế di động dây thanh.
- T3: khối u giới hạn ở thanh quản với sự cố định của dây thanh và/hoặc
xâm lấn khoang cạnh thanh môn và/hoặc màng trong sụn giáp.
- T4:
+ T4a: khối u xâm lấn qua sụn giáp và/hoặc mô ngoài thanh quản (khí
quản, mô mềm vùng cổ bao gồm cơ sâu ngoài lưỡi, cơ dưới móng,
tuyến giáp, thực quản).
+ T4b: u xâm lấn tới khoang trước sống, bao cảnh, hoặc các cấu trúc
trong trung thất.
Hạch cổ (N)
-

Nx: không thể đánh giá được hạch vùng cổ.
No: không có dấu hiệu di căn hạch.
N1: di căn 1 hạch cùng bên kích thước dưới 3 cm.
N2: di căn 1 hạch cùng bên kích thước từ 3 - 6 cm hoặc di căn nhiều

hạch cùng bên nhưng chưa vượt quá 6 cm:
+ N2a: di căn 1 hạch cùng bên kích thước từ 3 - 6 cm.
+ N2b: di căn nhiều hạch cùng bên kích thước chưa vượt quá 6 cm.
+ N2c: di căn hạch 2 bên hoặc đối bên, kích thước hạch không vượt quá
6cm
- N3: di căn hạch với kích thước hạch lớn hơn 6cm
Di căn xa (M)
- Mo: không di căn.
- M1: có di căn.
1.1.5. Điều trị
Chỉ định điều trị dựa vào type mô bệnh học, giai đoạn bệnh, tuổi, tình
trạng toàn thân. Điều trị bao gồm điều trị u và điều trị hạch. Hiện nay có 3
phương pháp điều trị là: phẫu thuật, tia xạ và hóa chất. Trong đó điều trị bằng
phẫu thuật là phương pháp cơ bản [30].


18
Phẫu thuật trong UTTQ gồm 2 loại: phẫu thuật cắt thanh quản bảo tồn
và phẫu thuật cắt thanh quản toàn phần. Trong nghiên cứu này chúng tôi đề
cập tới phẫu thuật thanh quản bảo tồn.
Chỉ định điều trị và một số phương pháp phẫu thuật bảo tồn trong ung
thư thanh quản tầng thanh môn:
- Chỉ định: khối u giai đoạn Tis, T1, T2 và một số T3.
- Một số phương pháp phẫu thuật bảo tổn UTTQ tầng thanh môn:
+ Phẫu thuật nội soi: soi treo vi phẫu cắt dây thanh qua đường miệng,
cắt dây thanh bằng laser qua đường miệng.
+ Phẫu thuật mở bảo tồn: cắt thanh quản đứng dọc (mở sụn giáp cắt
dây thanh, cắt thanh quản trán trước/trán bên), cắt thanh quản
ngang trên nhẫn.
1.1.6. Tiên lượng
Tỷ lệ sống sau 5 năm của ung thư biểu mô vảy (SCC) tầng thanh môn
giai đoạn sớm khá tốt: giai đoạn I là 95%, giai đoạn II là 75% [10].
Tiên lượng trong UTTQ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có thể phân loại
thành yếu tố về bệnh và yếu tố về người bệnh [10]:
- Yếu tố về bệnh: đặc điểm lâm sàng, đặc điểm cận lâm sàng, mô bệnh học.
- Yếu tố về người bệnh: thể trạng, tuổi, đáp ứng với điều trị.
1.1.7. Hướng lan tràn của khối u thanh quản tầng thanh môn
 Chúng ta có thể dự đoán tương đối chính xác hướng lan tràn của khối u trong
ung thư thanh quản. Sự lan tràn của khối u phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Hàng rào giải phẫu: sụn, màng sụn dây chằng.
Sự phân bố mạch máu và mạch bạch huyết của vùng [21].
 Hướng lan tràn:
- Các khối u bờ tự do của dây thanh thường khu trú lâu tại chỗ sau đó có thể lan
theo các hướng khác nhau. Ra phía trước có thể thâm nhiễm sâu vào mép
trước để vào sụn giáp (T4), nhưng đa số các trường hợp u chỉ lướt qua mép
trước mà sang bên đối diện (T1b). Ra phía sau để xâm lấn vào mấu thanh. Lan
sang bên vào buồng thanh thất Morgagni. Xuống dưới tới hạ thanh môn.


19
- U vùng mép trước thường nhanh chóng xuất ngoại ra ngoài thanh quản qua
màng giáp nhẫn hoặc ra hạch trước thanh quản.
1.2. Sinh thiết tức thì
1.2.1. Định nghĩa
Sinh thiết tức thì (Frozen section) hay còn gọi là cắt lạnh, là phương
pháp xét nghiệm mô bệnh học nhanh, cho kết quả sau 10 - 20 phút. Nó
thường được sử dụng trong phẫu thuật ung thư [31].
1.2.2. Lịch sử
Lịch sử của phương pháp cắt lạnh gắn liền với sự phát triển của bệnh
học lâm sàng. William Halsted, trưởng khoa ngoại của bệnh viện Johns
Hopkins mới lần đầu tiên yêu cầu cắt lạnh trong khi phẫu thuật và điều này
được thực hiện bởi chuyên gia bệnh học William Welch năm 1891 [32].
Welch đã nghiên cứu bệnh học rộng rãi ở châu Âu và đã thành lập được
phòng xét nghiệm bệnh học đầu tiên ở bệnh viện trung tâm Bellevue, New
York, trước khi trở thành thành viên mới của bệnh viện Johns Hopkins.
Ngoài phương pháp của Welch, một vài phương pháp cắt lạnh khác
cũng được mô tả ở châu Âu nhưng mọi người đều thừa nhận rằng phương
pháp cắt lạnh chuẩn ngày nay được Louis Wilson công bố lần đầu tiên trong
tờ JAMA năm 1905 [33]. Wilson đã sử dụng dung dịch Dextrin bao phủ mô
và cắt vi phẫu bằng carbon dioxid lạnh. Bằng việc sử dụng xanh - methylene
và đọc các lát cắt mà không gắn cố định chúng nên kỹ thuật này có thể thực
hiện trong vài phút, ngắn hơn nhiều so với khoảng 1 giờ của phương pháp
Cullen. Phương pháp này rất nhanh chóng trở thành thường quy tại Mayo
clinic và được lựa chọn bởi nhiều trung tâm lâm sàng khác. Hầu hết các trung
tâm ngày nay đều sử dụng cố định nhanh trước khi nhuộm bằng Hematoxylin
và Eosin (nhuộm HE) cho phép cố định lâu dài, nhưng kỹ thuật chủ yếu thì
hầu như không thay đổi [34].


20
Một người đề xướng mạnh mẽ STTT là Joseph Bloodgood, một phẫu
thuật viên của bệnh viện Johns Hopkins. Trước những năm 1920, ông còn
nghi ngờ STTT và cho rằng các phẫu thuật viên có kinh nghiệm có thể phát
hiện trạng thái của khối u chỉ bằng mắt thường. Nhưng từ năm 1927,
Bloodgood bắt đầu chiến dịch vận động cho STTT như là 1 phương pháp
chuẩn của y học [35]. Năm 1929, trong một bài luận, Bloodgood cho rằng sự
phát triển của thời đại đòi hỏi ung thư phải được chẩn đoán dựa trên STTT và
sự cần thiết phải đào tạo các nhà bệnh học đặc biệt cho phương pháp chẩn
đoán nhanh thông qua kính hiển vi này.
1.2.3. Nguyên tắc
Khi mẫu mô được làm lạnh, nước ở trong mô chuyển thành đá và đóng
vai trò như chất trung gian giữ hình dạng (khung) của mô, vì thế mô trở nên
cứng và có thể cắt mỏng được.
1.2.4. Chỉ định
Một số chỉ định chính của STTT [36],[37]:
- Cung cấp chẩn đoán nhanh về bản chất của khối u để phẫu thuật viên
có thể quyết định ngay trong quá trình phẫu thuật.
- Đánh giá vùng rìa khối u để tiến tới diện cắt âm tính. Đây là mục tiêu
chính của đề tài này.
1.2.5. Quy trình kĩ thuật STTT
Bệnh phẩm sau khi lấy khỏi cơ thể được đóng gói tươi nguyên mẫu
không cố định bằng các dung dịch giống giải phẫu bệnh sau mổ như bowin,
formol… Mô bệnh này sẽ được đưa vào máy đông lạnh ở nhiệt độ -30 oC tới
-20oC. Sau đó được cắt thành các lát mỏng từ 5 - 10µm, đưa lên các lam kính và
tiến hành nhuộm (thường là HE). Sau khi nhuộm xong, lam kính chứa các lát cắt
mô bệnh sẽ được quan sát dưới kính hiển vi để đánh giá MBH [38].


21
Thời gian trung bình từ khi nhận được bệnh phẩm cho đến khi có kết
quả thay đổi tùy theo những trung tâm khác nhau, nhưng theo nghiên cứu của
Jaafar khoảng 20 phút [38].
1.2.6. Kết quả
Trả kết quả tùy thuộc vào yêu cầu của phẫu thuật viên. Trong phẫu
thuật UTTQ thường trả về dưới hai dạng kết quả sau:
- Dương tính (DT) hay có tế bào u.
- Âm tính (AT) hay không có tế bào u.
1.2.7. Đánh giá hiệu quả của sinh thiết tức thì
Các mẫu sinh thiết được đọc bằng phương pháp STTT có giá trị thấp
hơn so với xét nghiệm MBH thường quy. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất
cả các mẫu STTT sẽ được làm MBH thường quy để cho kết quả chính xác sau
cùng. Trong nhiều trường hợp, kết quả có thể giống nhau nhưng xét nghiệm
MBH vẫn được tin tưởng hơn vì khả năng chẩn đoán chính xác của nó.
Các nhà bệnh học gọi STTT là quá trình hội chẩn trong mổ. Các nhà
giải phẫu bệnh thường trả kết quả là lành tính hay ác tính và thông báo cho
các bác sĩ phẫu thuật qua mạng điện thoại.
Một số hạn chế của phương pháp STTT:
- Đòi hỏi kỹ thuật cao, các nhà giải phẫu bệnh có kinh nghiệm.
- Mẫu bệnh phẩm tươi phải được vận chuyển nhanh đến trung tâm giải
phẫu bệnh.
- Vì yêu cầu thời gian chẩn đoán nhanh nên việc đọc và phân loại cụ thể
MBH còn nhiều hạn chế.
- Không làm được với các mô xương, mô sụn.
Hiệu quả của STTT đã được đánh giá qua nhiều nghiên cứu. Dinardo
đánh giá trên 80 bệnh nhân ung thư đầu cổ với 420 mẫu STTT. Kết quả độ
nhạy 88,8%, độ đặc hiệu 98,9%, giá trị dự đoán dương tính 95,7%, giá trị dự
đoán âm tính 99,2% và độ chính xác 98,39% [39]. Trong nghiên cứu của Nayla


22
Matar, 67 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư đường hô hấp và tiêu hóa trên, có
26,5% bệnh nhân có kết quả STTT dương tính và giá trị dự báo âm tính trong
nghiên cứu là 97% [40].
1.2.8. Tiêu chí lựa chọn vị trí STTT vùng rìa
Vùng rìa (margin) là phần mô còn lại xung quanh diện cắt sau khi lấy
bỏ bệnh tích qua đánh giá đại thể. Trong phẫu thuật ung thư nói chung và
UTTQ nói riêng, mục tiêu cần đạt được là vùng rìa không còn tế bào u ngay
trong một lần phẫu thuật, tức là phải đạt được vùng rìa an toàn (safe margin).
Để làm được điều đó, ngày nay các phẫu thuật viên thường tiến hành sinh
thiết xung quanh vùng này gửi làm STTT.
Kết quả MBH khối u trước mổ là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán và giúp
tiên lượng bệnh. Còn kết quả MBH vùng rìa trong phẫu thuật giúp đánh giá
khả năng kiểm soát bệnh tích của phẫu thuật cũng như khả năng tái phát tại
chỗ, góp phần quyết định các phương án điều trị tiếp sau phẫu thuật.
Vùng rìa khối u vùng đầu cổ theo nghiên cứu của hiệp hội đầu cổ Mỹ
được chia làm 3 loại, đánh giá dưới kính hiển vi:
- Vùng rìa âm tính (negative margin): là vùng rìa không còn tế bào u, được xác
định khi khoảng cách từ rìa khối u tới diện cắt > 5mm.
- Vùng rìa sát (close margin): là vùng rìa mà ranh giới giữa u và mô lành khó
xác định rõ, khoảng cách từ rìa khối u tới diện cắt < 5mm.
- Vùng rìa dương tính (positive margin): là vùng cắt qua ranh giới u, còn chứa
tế bào ung thư.
Do đặc điểm cấu trúc thanh quản có kích thước nhỏ và phức tạp cùng
với xu hướng phẫu thuật bảo tồn ngày càng đóng vai trò quan trọng thì vùng
rìa sát là gần như không thể tránh khỏi trong quá trình phẫu thuật. Đối với
UTTQ tầng thanh môn, nhiều tác giả đã thống nhất khoảng cách từ rìa khối u
tới diện cắt từ 1 mm - 2 mm là đủ để đạt vùng rìa âm tính. Vùng rìa sát khi
khoảng cách đó < 1 mm [41],[42],[43].


23
Vị trí STTT được khuyến cáo lấy mẫu theo 3 chiều không gian (trên dưới, trước - sau, trong - ngoài) để đảm bảo xác định diện cắt an toàn, bỏ qua
yếu tố đánh giá chủ quan về phía phẫu thuật viên [41].


24

NG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân được chẩn đoán UTTQ tại bệnh viện Tai Mũi Họng Trung
ương từ 8/2017 đến 7/2018.
Tất cả bệnh nhân đều được thống nhất về tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu
chuẩn loại trừ như sau:
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định là UTTQ biểu mô vảy xuất phát từ tầng
thanh môn qua lâm sàng, nội soi, chụp CLVT và MBH.
- Bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật thanh quản bảo tồn và có kết quả sinh thiết
tức thì vùng rìa của khối u theo 3 chiều không gian (trên - dưới, trước - sau,
trong - ngoài)
- Có hồ sơ ghi chép đầy đủ.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
Không phải là ung thư thanh quản xuất phát từ tầng thanh môn.
Kết quả MBH ban đầu là u ác tính không phải SCC thanh quản
Bệnh nhân không có chỉ định phẫu thuật thanh quản bảo tồn.
Hồ sơ bệnh án không đầy đủ.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu
Tại khoa Ung bướu (B1) - Bệnh viên Tai Mũi Họng Trung ương
2.2.2. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 8/2017 đến tháng 7/2018.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang theo các bước
tiến hành và các thông số nghiên cứu thống nhất.
2.3.2. Mẫu, cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu


25
Mẫu: mẫu ở trong nghiên cứu này là tập hợp các bệnh nhân thỏa mãn
tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ.
Phương pháp chọn mẫu - cỡ mẫu:
Chọn mẫu theo phương pháp không xác suất - chọn mẫu thuận tiện.
Cỡ mẫu là 70 bệnh nhân.
2.4. Các nội dung nghiên cứu
2.4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Tuổi: tuổi của bệnh nhân, tính theo năm.
- Giới: giới tính của bệnh nhân, nam hoặc nữ.
- Tiền sử: tiền sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ của bệnh nhân: thuốc
lá, rượu...
- Thời gian vào viện: thời điểm chẩn đoán.
- Thời gian phẫu thuật: thời điểm bệnh nhân được phẫu thuật.
2.4.2. Mục tiêu 1: Mô tả đặc điểm tổn thương ung thư
biểu mô vảy thanh quản có chỉ định phẫu thuật bảo tồn.
2.4.2.1.

Đặc điểm lâm sàng
- Triệu chứng cơ năng và lý do vào viện: khàn tiếng, rối loạn nuốt, khó
thở…
- Thời gian tiềm tàng (TGTT): thời gian từ khi bệnh nhân xuất hiện triệu
chứng lâm sàng đầu tiên đến khi được chẩn đoán xác định là ung thư
biểu mô vảy thanh quản.
- Thời gian chờ phẫu thuật (TGCPT): thời gian từ khi được chẩn đoán tới
khi được phẫu thuật.

2.4.2.2.

Soi thanh quản gián tiếp bằng optic 700 và soi trực tiếp tại thời điểm sinh
thiết, soi thanh quản gián tiếp ngay trước phẫu thuật.
- Soi gián tiếp 1: soi thanh quản gián tiếp bằng optic 70 0 tại thời điểm
sinh thiết chẩn đoán.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×