Tải bản đầy đủ

Nhận xét mối tương quan kích thước hầu họng với kích thước xương, mô mềm trên phim sọ nghiêng từ xa ở nhóm trẻ 12 tuổi

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chức năng hô hấp có mối liên quan với chẩn đoán và kế hoạch điều trị
chỉnh nha. Hoạt động bình thường của hệ hô hấp ảnh hưởng tới sự tăng trưởng
của cấu trúc hàm mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển
một cách hài hòa. Ngoài ra, vùng họng hầu có vị trí và chức năng quan trọng
do nó là cấu trúc mà cả chức năng hô hấp và tiêu hóa được thực hiện [1].
Trẻ em 12 tuổi là lứa tuổi có nhiều thay đổi lớn về tâm sinh lý cũng như
thể chất, đặc biệt đây là thời kỳ chuyển tiếp từ hàm răng hỗn hợp sang hàm
răng vĩnh viễn đồng thời trẻ vẫn nằm trong độ tuổi tăng trưởng. Vào thời điểm
này, chúng ta có thể đánh giá mối tương quan của xương, răng, phần mềm
theo ba chiều không gian. Phát hiện sớm những bất cân xứng ở tuổi này giúp
chúng ta tiến hành can thiệp và theo dõi sự phát triển chặt chẽ của trẻ.
Nhiều nhà khoa học đã báo cáo về mối quan hệ giữa cấu trúc hầu họng
với cả cấu trúc răng mặt và sọ mặt ở trẻ lứa tuổi này. Nghiên cứu của Min GU
trên trẻ 12 tuổi Trung Quốc và trẻ da trắng [2], Dipti Shastri trên trẻ 8-16 tuổi
Ấn Độ[3], Chang Min trên trẻ 11-15 tuổi Đài Loan [4]. Hơn nữa, nhiều
nghiên cứu đã kết luận về sự tác động qua lại giữa kích thước họng và kiểu
tăng trưởng mặt theo chiều đứng và chiều trước sau ở các mức độ khác nhau
[5],[6]. Các kiểu xương như sự lùi sau của xương hàm trên và xương hàm

dưới và sự phát triển mặt quá mức theo chiều đứng ở những người có kiểu
mặt dài có thể dẫn tới sự thu hẹp kích thước đường thở theo chiều trước sau.
Blancas và cộng sự nghiên cứu trên đối tượng có khớp cắn loại I xương đã kết
luận góc mặt phẳng hàm dưới càng lớn càng tăng độ hẹp của đường hô hấp
trên [7]. Lopatien và cộng sự đưa ra kết luận về mối tương quan nghịch biến
giữa độ rộng đường hô hấp trên và góc ANB [8]. Do đó kiến thức về kích
thước vùng hầu họng ở các kiểu mặt khác nhau là rất quan trọng và có thể


2

giúp các bác sĩ chỉnh nha theo nhiều cách, đặc biệt trong quá trình chẩn đoán
và lập kế hoạch điều trị.
Nhiều phương pháp khác nhau đã được sử dụng để đánh giá cấu trúc sọ
mặt và đường thở như CT, phim sọ nghiêng từ xa, MRI, polysomnography.
Tầm quan trọng của phim sọ nghiêng từ xa trong việc đánh giá hình thái
xương, mô mềm vùng hàm mặt và chẩn đoán bệnh học đường thở là không
thể chối cãi. Đây là phương tiện rẻ tiền, thuận tiện, cung cấp đầy đủ thông tin,
đáng tin cậy trong chẩn đoán [9].
Những năm gần đây được đánh dấu bằng các nghiên cứu về mối quan hệ
giữa chức năng hô hấp và nguy cơ sai lệch khớp cắn, từ đó phát triển các
phương pháp chẩn đoán và điều trị sớm. Thay đổi sự phát triển của xương hàm
trong điều trị chỉnh nha có tác động tới kích thước hầu họng đồng thời việc
điều trị để đảm bảo cấu trúc bình thường của vùng hầu họng có vai trò quan
trọng trong sự phát triển bình thường của mô cứng và mô mềm vùng hàm mặt.
Tại Việt Nam có một số nghiên cứu về kích thước vùng họng trên phim sọ
nghiêng từ xa nhưng chưa thực hiện trên đối tượng có khớp cắn bình thường và
chưa đề cập đến mối tương quan giữa kích thước của họng với xương, mô mềm
vùng hàm mặt.
Xuất phát từ các vấn đề nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nhận xét
mối tương quan kích thước hầu họng với kích thước xương, mô mềm
trên phim sọ nghiêng từ xa ở nhóm trẻ 12 tuổi” với hai mục tiêu:
1.

Xác định kích thước vùng hầu họng và một số kích thước xương, mô
mềm trên phim sọ nghiêng từ xa của nhóm trẻ12 tuổi có khớp cắn bình

2.

thường tại Hà Nội.
Nhận xét mối tương quan giữa kích thước vùng hầu họng với một số
kích thước xương, mô mềm trên phim sọ nghiêng từ xa của nhóm đối
tượng nghiên cứu nói trên.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giải phẫu vùng hầu họng
Họng là một ống cơ và màng ở trước cột sống cổ, đi từ mỏm nền đến
ngang tầm cột sống cổ VI, là ngã tư của đường ăn và đường thở, nối liền với
mũi ở phía trên, với miệng ở phía trước, với thanh quản và thực quản ở phía
dưới [1].
1.1.1. Phân đoạn của họng
Họng được chia làm ba phần:
- Họng mũi (hay vòm mũi họng) : ở cao nhất, lấp sau màn hầu, ở sau
dưới của hai lỗ mũi sau. Thành sau họng mũi hợp với thành trên và hai thành
bên hợp thành hình vòm, trên nóc vòm có tổ chức sùi gọi là V.A. Hai thành
bên có loa vòi Eustachi thông lên thùng tai và hố Rosenmuler. Phía dưới của
họng mũi được mở thông với họng miệng.
- Họng miệng: phía trên thông với họng mũi, phía dưới thông với họng
– thanh quản, phía trước thông với họng miệng và được màn hầu phân cách.
Thành sau họng miệng liên tiếp với thành sau họng mũi và bao gồm các lớp
niêm mạc, cân và các cơ khít họng. Hai thành bên có amiđan họng hay
amiđan khẩu cái nằm trong hốc amiđan.
- Họng thanh quản (hay hạ họng): đi từ ngang tầm xương móng xuống
đến miệng thực quản, có hình như cái phễu, miệng to mở thông với họng
miệng, đáy phễu là miệng thực quản. Thành sau liên tiếp với thành sau họng
miệng. Thành trước phía trên là đáy lưỡi, dưới là sụn thanh thiệt và hai sụn
phễu của thanh quản. Thành bên như một máng hẹp dần từ trên xuống dưới.
Nếp phễu – thanh thiệt của thanh quản hợp với thành bên họng tạo nên máng
họng – thanh quản hay xoang lê [1].


4

Hình 1.1. Thiết đồ đứng dọc của hầu [10]
1.1.2. Vòng Waldayer
Họng có các tổ chức lympho tạo thành một vòng bao quanh gọi là vòng
Waldayer. Vòng này bao gồm:
- Amiđan khẩu cái: là tổ chức lympho lớn nhất gồm hai khối ở hai thành
bên họng và được nằm trong hốc amiđan. Hốc này có vỏ bọc phân cách với tổ
chức bên họng, phía trước có trụ trước, phía sau có trụ sau che phủ, chỉ có
mặt phía trong và dưới thấy được trực tiếp, gọi là mặt tự do của amđan. Mặt
tự do này có các khe ăn lõm sâu vào tổ chức amiđan và thường có khoảng từ
12 – 15 khe hốc. Lớp biểu bì che phủ mặt tự do và cả các khe hốc. Chính các
khe hốc là nơi diễn ra hoạt động miễn dịch của amiđan.
- V.A: là tổ chức lympho nằm ở nóc vòm mũi – họng ngay cửa mũi
sau, không có vỏ bọc như amiđan khẩu cái, mặt tự do thường có 5 khía sùi
dọc. Do vị trí của amiđan vòm nên nó thường là nguyên nhân gây viêm
nhiễm tai - mũi - họng.
- Amiđan lưỡi: là những tổ chức lympho nằm ở 1/3 sau của đáy lưỡi,
thường có từ 5 – 9 đám mô lympho. Amiđan lưỡi liên quan chặt chẽ với
amiđan họng.


5

- Amiđan vòi: là những đám mô lympho nằm ở hố Rosenmuler quanh lỗ
vòi Eustachi [1].

Hình 1.2. Vòng Waldayer [10]
1.2. Sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em 12 tuổi
1.2.1. Sự tăng trưởng và phát triển của hệ thống sọ mặt
Các xương nền sọ được tạo thành ban đầu dưới hình thức sụn, sau đó
được biến đổi thành xương bởi sự hình thành xương từ sụn. Những vùng phát
triển quan trọng ở nền sọ là các đường khớp sụn giữa xương bướm và xương
chẩm, giữa hai phần của xương bướm, giữa xương bướm và xương sàng [11].

Hình 1.3. Các đường khớp ở nền sọ [13]
Sự tăng trưởng của xương hàm trên diễn ra theo hai cách: bồi đắp
xương ở đường khớp nối xương hàm trên với xương sọ và nền sọ, tái tạo lại
nhờ sự bồi đắp xương/tiêu xương ở bề mặt. Kết quả là xương hàm trên di
chuyển xuống dưới, ra trước so với sọ và nền sọ. Sự tăng trưởng của xương


6

hàm trên ảnh hưởng lớn đến tầng giữa mặt [11].

Hình 1.4. Xương hàm trên di chuyển xuống dưới và ra trước [13]
Sự phát triển của xương hàm dưới diễn ra bởi sự tái thiết lập lại vị trí và sự
tiêu xương theo hướng ra sau và lên trên. Như vậy sự tăng trưởng của lồi cầu
hướng về phía lòng khớp làm cho hàm dưới phát triển xuống dưới ra trước.
Xương hàm dưới phát triển theo ba chiều trong không gian và ảnh hưởng đến tầng
dưới của mặt [11]. Khi xương hàm dưới xoay về phía trước quá mức trong kiểu
mặt ngắn, các răng cửa có xu hướng cắn sâu, chiều cao tầng mặt dưới và góc mặt
phẳng hàm dưới giảm. Trái lại trong kiểu mặt dài, xương hàm dưới xoay theo
hướng ngược lại, xuống dưới và ra sau (hướng mở). Kiểu xoay này kết hợp với
cắn hở phía trước (nếu độ trồi răng cửa không đủ bù trừ) làm lùi xương hàm dưới,
chiều cao tầng mặt dưới và góc mặt phẳng hàm dưới sẽ tăng [12].

Hình 1.5. Các vị trí bồi xương, tiêu xương và hướng tăng trưởng của
xương hàm dưới [13]
1.2.2. Một số bệnh lý liên quan tới đường hô hấp và sự phát triển sọ mặt


7

1.2.2.1. Một số bệnh lý ảnh hưởng đến kích thước đường hô hấp
Sự phát triển bất thường của xương hàm dưới có thể dẫn đến lùi gốc lưỡi
và làm tắc nghẽn đường thở.


Hội chứng Pierre Robin

Trong hội chứng Pierre Robin, xương hàm dưới kém phát triển đều cả
hai bên (bất thường chiều cao xương hàm dưới, chiều dài thân xương và sự
định hướng lồi cầu), kèm theo khe hở vòm miệng và lưỡi tụt sau là nguyên
nhân gây tắc nghẽn đường thở bẩm sinh nặng [14].

Hình 1.6. Hội chứng Pierre Robin [14]


Lồi cầu nhỏ:

- Hội chứng xơ cứng bì.
- Hội chứng thoái hóa khớp thái dương hàm.
1.2.2.2. Bệnh lý đường hô hấp ảnh hưởng tới sự phát triển sọ mặt
• Thở miệng
- Ở tư thế nghỉ, cơ thể có khuynh hướng thở bằng mũi hơn bằng miệng.
Nếu mũi bị tắc nghẽn, cơ thể sẽ chuyển sang thở miệng một phần. Tắc nghẽn
đường thở mạn tính xảy ra trên những bệnh nhân viêm niêm mạc mũi kéo dài
liên quan đến dị ứng và nhiễm trùng mạn tính. Ngoài ra, nguyên nhân của thở
miệng có thể do hình thái khuôn măt, do thói quen hay do giải phẫu.
- Nhu cầu thở là yếu tố đầu tiên quyết định tư thế xương hàm dưới và


8

lưỡi và cả tư thế đầu. Vì vậy, khi thở miệng sẽ dẫn đến thay đổi tư thế đầu,
hàm và lưỡi, làm thay đổi thăng bằng của răng và hàm, ảnh hưởng tới sự tăng
trưởng xương hàm và vị trí răng.
- Để thở miệng được, cần thiết phải hạ hàm dưới và lưỡi xuống đồng
thời nghiêng đầu ra sau. Nếu sự thay đổi tư thế này tiếp tục duy trì, chiều cao
mặt sẽ tăng và răng sau mọc quá mức, hàm dưới xoay xuống dưới và ra sau,
cắn hở răng trước và tăng cắn chìa và việc tăng áp lực má có thể làm cung
răng trên hẹp lại [15],[16].

Hình 1.7. Hội chứng thở miệng [16]
1.3. Khớp cắn và phân loại lệch lạc khớp cắn
1.3.1. Khớp cắn
1.3.1.1. Định nghĩa
Khớp cắn là để chỉ đồng thời động tác khép hàm và trạng thái khi hai
hàm khép lại.
- Động tác khép hàm trong nha khoa là nói đến giai đoạn cuối cùng của
chuyển động nâng hàm dưới lên để dẫn đến sự tiếp xúc mật thiết giữa hai hàm
đối diện.
- Trạng thái khi hai hàm khép lại là nói đến liên quan của các mặt nhai
các răng đối diện khi cắn khít nhau.
Như vậy khớp cắn có nghĩa là những quan hệ chức năng và rối loạn


9

chức năng giữa hệ thống răng, cấu trúc giữ răng, khớp thái dương hàm và yếu
tố thần kinh cơ [17].
1.3.1.2. Khớp cắn trung tâm
Ở khớp cắn trung tâm, hàm trên và hàm dưới ở vị trí chạm múi tối đa,
lồi cầu ở vị trí giữa nhất và cao nhất.
Khi hai cung răng ở vị trí khớp cắn trung tâm, có những quan hệ các
răng theo ba hướng:
-

Trước – sau (gần – xa)
• Núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên ở giữa hai núm
ngoài gần và giữa của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới.
• Sườn gần răng nanh trên tiếp xúc với sườn xa răng nanh dưới.
• Rìa cắn răng cửa trên tiếp xúc với rìa cắn răng cửa dưới hoặc ở phía

-

trước 1-2 mm.
Ngang
• Cung răng trên chùm ngoài cung răng dưới sao cho núm ngoài răng
trên chùm ra ngoài núm ngoài răng dưới.
• Đỉnh núm ngoài răng dưới tiếp xúc với rãnh giữa hai núm của răng
hàm nhỏ và răng hàm lớn trên.
• Hai phanh môi trên và dưới tạo nên một đường thẳng và ở giữa mặt

-

trước của khớp cắn.
Đứng
• Răng trên tiếp xúc với răng dưới vừa khít ở vùng răng hàm nhỏ và lớn.
• Rìa cắn răng cửa trên vừa chạm rìa cắn răng cửa dưới hoặc chùm
sâu 1-2 mm.
Trong những điều kiện này, mỗi răng của một cung răng sẽ tiếp xúc với

mặt nhai của hai răng đối diện trừ răng cửa giữa hàm dưới và răng số 8 hàm
trên. Đó là yếu tố cho sự ổn định các răng của hai hàm [17].
1.3.1.3. Đường khớp cắn
- Đối với hàm trên: là đường nối múi ngoài của các răng sau và rìa cắn
của các răng trước.
- Đối với hàm dưới: là đường nối các rãnh răng phía sau và rìa cắn của


10

các răng phía trước.
- Đường khớp cắn là một đường cong đối xứng, đều đặn và liên tục.
Khi hai hàm cắn khít vào nhau thì đường khớp cắn của hàm trên và dưới
chồng khít lên nhau [13]

Hình 1.8. Đường khớp cắn [13]
1.3.2. Phân loại lệch lạc khớp cắn theo Angle
Edward H. Angle (1899) đã coi răng hàm lớn thứ nhất hàm trên là một
mẫu giải phẫu cố định và là chìa khóa của khớp cắn.
Cơ sở của phân loại khớp cắn theo Angle là mối tương quan của răng
hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên và răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm
dưới và sự sắp xếp của các răng liên quan tới đường cắn.
Angle đã phân loại khớp cắn thành loại bình thường và ba loại sai lệch
khớp cắn (loại I, II, III) [18]:
- Khớp cắn bình thường
Núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên khớp với rãnh
ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới, các răng còn lại trên cung
hàm sắp xếp theo một đường cắn khớp đều đặn và liên tục [18].

Hình 1.9. Khớp cắn bình thường [13]


11

- Khớp cắn lệch lạc loại I (CLI)
Khớp cắn có núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên khớp
với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới (quan hệ răng hàm
lớn thứ nhất trung tính), đường cắn khớp không đúng do các răng trước khấp
khểnh, xoay…) [18].

Hình 1.10. Khớp cắn lệch lạc loại I [13]
- Khớp cắn lệch lạc loại II (CLII)
Khớp cắn có núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên ở về
phía gần so với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới.
Khớp cắn lệch lạc loại II có 2 tiểu loại:
Tiểu loại I: răng cửa trên nhô ra trước (tiền đình).
Tiểu loại II: răng cửa trên ngả sau (lưỡi). Có thể gặp răng cửa bên trồi
lên và chìa ra ngoài (khớp cắn nắp hộp) [18].

Hình 1.11. Khớp cắn lệch lạc loại II [13]
- Khớp cắn lệch lạc loại III (CLIII)
Khớp cắn có núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên ở về
phía xa so với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới. Các răng
cửa dưới có thể ở phía ngoài các răng cửa trên (cắn ngược vùng cửa) [18].

Hình 1.12. Khớp cắn lệch lạc loại III [13]


12

1.3.4. Phân loại lệch lạc xương
Phân loại khớp cắn theo chiều trước sau trên xương dựa trên phim sọ
nghiêng từ xa.
Steiner đã sử dụng góc ANB để xác định sự khác biệt theo chiều trước
sau giữa nền xương hàm trên và nền xương hàm dưới [19].
ANB = SNA – SNB
- Giá trị trung bình của góc ANB là 2º ± 2º
- Xương loại I: góc ANB = 0º - 4º
- Xương loại II: góc ANB > 4º
- Xương loại III: góc ANB < 0º

Hình 1.13. Tương quan hai hàm (giá trị góc ANB) [20]
1.4. Sơ lược về phim sọ nghiêng
1.4.1. Sự hình thành và phát triển
Các nhà nhân chủng học và nghiên cứu giải phẫu là những nhà khoa
học đầu tiên quan tâm nghiên cứu đến các yếu tố sọ mặt của con người thông
qua việc ghi chép các kích thước khác nhau về xương sọ người cổ đại. Cách
thức đo sọ khô của người cổ đại dựa vào các điểm mốc trên xương được gọi là
phương pháp đo sọ (craniometry). Phương pháp này sau đó được áp dụng trên
người để tiến hành nghiên cứu theo dõi sự tăng trưởng. Kỹ thuật đo đạc trên
người được thực hiện bằng cách sờ hoặc ấn để tìm các điểm mốc xương dưới
da và mô mềm, các nhà khoa học đặt tên cho phương pháp này là phép đo đầu


13

mặt (cephalometry). Tuy nhiên, độ chính xác không được đảm bảo vì sự che
phủ của da và mô mềm gây ra sai số trong việc xác định điểm mốc xương.
Năm 1895, Roentgen phát minh ra tia X đã tạo nên một cuộc cách
mạng trong ngành Y nói chung và trong nha khoa nói riêng. Các cấu trúc sọ
mặt bắt đầu được tiến hành nghiên cứu dựa trên các phim XQ sọ mặt.
Năm 1931, Broadbent (Mỹ) và Holfrath (Đức) đồng thời giới thiệu kỹ
thuật chuẩn chụp phim sọ nghiêng (sử dụng máy XQ năng lượng cao, tấm định
vị đầu và thước đo), kỹ thuật tạo ra hình ảnh có kích thước 1:1 so với vật chụp.
Năm 1968, Bjork thiết kế một thiết bị nghiên cứu tấm định vị đầu.
Năm 1988, Solow và Kreiborg giới thiệu thước chuẩn hóa cho phim sọ
nghiêng. Thiết bị này đã cải tiến việc kiểm soát vị trí của đầu và thời gian
phơi sáng cũng như một vài kỹ thuật cải tiến vận hành [18],[21].
Sang thế kỷ XXI, những thành tựu của ngành công nghệ điện tử đã góp
phần nâng cao chất lượng của phim sọ nghiêng chuẩn từ xa. Sự ra đời kỹ
thuật số hóa đã giúp ngành chẩn đoán hình ảnh bước một bước tiến lớn. Máy
chụp kỹ thuật số cho chất lượng hình ảnh phim rõ nét hơn, tạo điều kiện thuận
lợi cho các nhà lâm sàng trong quá trình phân tích phim, thu được kết quả
chính xác hơn. Các số liệu được lưu trữ và trao đổi dễ dàng hơn.
1.4.2. Kỹ thuật chụp phim sọ nghiêng
1.4.2.1. Máy chụp phim sọ nghiêng
-

Máy phát tia X: ống tia X, máy biến áp, bộ lọc, ống chuẩn trực và một hệ
thống làm mát, tất cả được bao bọc trong lớp vỏ máy. Ống tia X là một ống
chân không, là nguồn tạo ra tia X. Ba yếu tố cơ bản để tạo ra tia X là anode,

-

cathode, nguồn năng lượng.
Hệ thống thu nhận hình ảnh: phim ngoài miệng, màn tăng sáng, cassette, một

-

tấm lưới và một tấm chắn mô mềm.
Tấm định vị đầu [18].
1.4.2.2. Vị trí nguồn tia: khoảng cách nguồn tia – phim là 152,4 cm (5 feet) [18].
1.4.2.3. Vị trí phim


14

-

Các yếu tố khuyếch đại bị ảnh hưởng bởi khoảng cách từ tấm giữ phim đến

-

mặt phẳng dọc giữa của đối tượng.
Để giảm thiểu sai số giữa các đối tượng và đạt được số đo cố định trên một đối
tượng qua nhiều lần chụp khác nhau, khoảng cách được đề nghị là 15 cm. Tuy
nhiên, trên thực tế nên đặt tấm giữ phim càng sát đầu đối tượng càng tốt [18].
1.4.2.4. Tư thế bệnh nhân
-

Đầu thẳng.
Có hai định vị ở hai ống tai ngoài để giữ.
Đầu đối tượng được đặt giữa thanh định vị trán và định hướng bởi:
mặt phẳng Frankfort song song với sàn nhà, mặt phẳng dọc giữa song

-

song với cassette và vuông góc với sàn nhà.
Kẹp trán giúp nâng đỡ khuôn mặt ở điểm Nasion để hạn chế sự quay

-

xung quanh của nút cố định lỗ tai.
Môi ở tư thế nghỉ.
Miệng ở tư thế cắn khít trung tâm [18].

Hình 1.14. Sơ đồ chụp phim sọ nghiêng [20]
1.4.3. Tiêu chuẩn phim
-

Chất lượng phim chụp tốt.
Hai lỗ tai trùng nhau.
Thấy được các điểm mốc trên phim và mô mềm [20].

1.4.4. Công dụng của phim sọ nghiêng
-

Quan sát hệ thống sọ – mặt – răng .
Nghiên cứu sự phát triển của hệ thống sọ – mặt – răng.
Xác định các chuẩn bình thường của sọ – mặt theo từng lứa tuổi.
Phân tích, chẩn đoán, lập kế hoạch điều trị và tiên đoán kết quả điều trị.


15

-

Phân tích quá trình điều trị.
Phân tích quá trình tăng trưởng.
Phân tích sự tái phát và những thay đổi sau điều trị [17].

1.5. Các điểm chuẩn và mặt phẳng tham chiều trên phim sọ nghiêng
1.5.1. Các điểm chuẩn trên mô xương
-

N (Nasion): điểm trước nhất trên đường khớp trán – mũi theo mặt phẳng dọc
giữa.
S (Sella Turcica): điểm giữa của hố yên xương bướm.
P (Porion): điểm cao nhất của bờ trên ống tai ngoài.
- O (Orbital): điểm thấp nhất của bờ dưới hốc mắt.
- ANS (Anterior Nasal Spine): điểm gai mũi trước.
- PNS (Posterior Nasal Spine): điểm gai mũi sau.
- A (Subspinale): điểm sau nhất của xương ổ răng hàm trên.
- B (Submental): điểm sau nhất của xương ổ răng hàm dưới.
- Pog (Pogonion): điểm trước nhất của cằm.
- Gn (Gnathion): điểm trước nhất và dưới nhất của cằm.
- Me (Menton): điểm thấp nhất của cằm.
- Go (Gonion): điểm dưới nhất và sau nhất của góc hàm dưới.
- Co (Condylion): điểm lồi cầu, là điểm trên và sau nhất của lồi cầu
-

xương hàm dưới.
RGN (Retrognathion): điểm sau nhất của xương cằm, đối diện với điểm Gn.
H (Hyoidale): điểm trước nhất và trên nhất của thân xương móng.
C3: điểm trước nhất và dưới nhất của đốt sống cổ thứ ba [18],[21].

Hình 1.15. Các điểm mốc trên mô xương [20]
1.5.2. Các điểm chuẩn trên mô mềm


16

-

Pn (Pronasale): điểm trước nhất của đỉnh mũi.
Sn (Subnasal): điểm ngay dưới chân mũi.
Ls (Librale superius): điểm giữa trên bờ viền môi trên.
Li (Librale inferius): điểm giữa trên bờ viền môi dưới.
Pogonion (Pog’): điểm trước nhất của cằm.
Menton (Me’): điểm dưới nhất của cằm.
Tongue Tip (TT): điểm đầu lưỡi, nằm ngay phía sau răng cửa giữa hàm trên.
Base of epiglottis (E): điểm trước nhất và dưới nhất của sụn nắp thanh

-

môn.
Uvula (U): đỉnh của lưỡi gà.
Inferior soft palate (ISP): điểm lồi nhất trên bờ viền phía miệng của

-

khẩu cái mềm.
Superior soft palate (SSP): điểm lồi nhất trên bờ viền phía mũi của
khẩu cái mềm [18],[21].

Hình 1.16. Các điểm mốc trên mô mềm [20]
1.5.3. Các mặt phẳng tham chiếu trên phim sọ nghiêng
-

Mặt phẳng nền sọ SN: đi qua hai điểm S và N.
Mặt phẳng FH: đi qua hai điểm Po và Or.
Mặt phẳng hàm dưới (Mandibular Plane – MP): có bốn mặt phẳng hàm dưới:
• Mặt phẳng đi qua hai điểm Go và Gn.
• Mặt phẳng đi qua hai điểm Go và Me.
• Mặt phẳng song song với trục thân xương hàm dưới và tiếp tuyến
với điểm thấp nhất của hàm dưới.
• Mặt phẳng phía sau tiếp tuyến với góc hàm nơi thấp nhất, phía


17

trước tiếp tuyến với điểm thấp nhất của cằm [18],[21].

Hình 1.17. Các mặt phẳng tham chiếu [20]
1.6. Các chỉ số trên phim sọ nghiêng
1.6.1. Đánh giá vùng hầu họng
1.6.1.1. Kích thước họng
1) Chiều rộng họng mũi (SPAS): Khoảng cách từ điểm PNS tới thành sau họng.
2) Chiều rộng họng miệng (MAS): Khoảng cách từ điểm U tới thành sau họng.
3) Chiều rộng họng thanh quản (IAS): Khoảng cách đo từ điểm E tới thành sau

họng.
4) Chiều rộng họng hẹp nhất (PASmin): Khoảng cách ngắn nhất từ nền lưỡi tới
thành sau họng.
5) Chiều dài họng theo chiều đứng (VAL): Khoảng cách giữa hai điểm PNS và E
[21].


18

Hình 1.18. Các kích thước vùng hầu họng [22]
1.6.1.2. Kích thước lưỡi
6) Chiều dài lưỡi (TGL): Khoảng cách giữa hai điểm TT và E.
7) Chiều cao lưỡi (TGH): Khoảng cách tối đa từ đường lưng lưỡi vuông góc tới

đường nối E-TT [21].
1.6.1.3. Kích thước vòm miệng mềm
8) Chiều dài vòm miệng mềm (PNSP): Khoảng cách giữa hai điểm PNS và U.
9) Độ dày vòm miệng mềm (MPT): Khoảng cách giữa hai điểm ISP và SSP [21].

1.6.1.4. Vị trí xương móng
10) Khoảng cách từ xương móng đến mặt phẳng FH (H-FH): Khoảng cách
từ điểm H tới đường thẳng FH.
11) Khoảng cách từ xương móng đến mặt phẳng hàm dưới (H-MPHD):
Khoảng cách từ điểm H tới đường thẳng GoMe.
12) Khoảng cách từ xương móng tới điểm sau nhất của xương ổ răng hàm
dưới (H-RGN): Khoảng cách giữa hai điểm H và RGN.
13) Khoảng cách từ xương móng đến đốt sống cổ thứ ba (H-C3): Khoảng
cách giữa hai điểm H và C3 [21].
1.6.2. Đánh giá tương quan xương


19

1.6.2.1. Xương hàm trên
-

Giá trị góc SNA sử dụng để đánh giá vị trí của xương hàm trên theo chiều

-

trước sau so với nền sọ trước [19].
Giá trị trung bình: 82º ± 2º.
Nếu SNA > 84º: hàm trên nhô ra trước.
Nếu SNA < 80º: hàm trên lùi sau.
1.6.2.2. Xương hàm dưới
a. Góc SNB

-

Giá trị góc SNB sử dụng để đánh giá vị trí của xương hàm dưới theo chiều
trước sau so với nền sọ trước [19].
Giá trị trung bình: 80º ± 2º.
Nếu SNB > 82º: hàm dưới nhô ra trước.
Nếu SNB < 78º: hàm dưới lùi sau.

Hình 1.19. Tương quan của XHT, XHD với nền sọ và tương quan giữa
hai hàm [20]
b. Góc mặt:
-

Là góc được tạo bởi mặt phẳng FH và mặt phẳng đi qua Na-Pog [23].
Giá trị trung bình: 87,8º±3,6º.
Đánh giá sự nhô ra trước (góc lớn) hay lùi sau (góc nhỏ) của xương
hàm dưới.


20

Hình 1.20. Góc mặt [20]
c. Chiều dài xương hàm dưới
-

Chiều dài xương hàm dưới: Khoảng cách giữa hai điểm Co và Gn .
Chiều dài thân xương hàm dưới: Khoảng cách giữa hai điểm Go và
Gn [24].

Hình 1.21. Chiều dài xương hàm dưới [20]
c. Góc mặt phẳng hàm dưới
-

Là góc giữa Go-Gn và SN [19].
Giá trị trung bình: 32º.
Đánh giá dạng phát triển của mặt: góc này tăng gợi ý tầng mặt dưới quá
mức, góc này nhỏ có nghĩa là tầng mặt dưới ngắn. Giá trị này tăng hoặc
giảm cũng có nghĩa là do nhánh đứng xương hàm dưới ngắn hoặc dài hơn


21

bình thường.
1.6.2.3. Tương quan xương hàm trên và xương hàm dưới
Góc ANB
-

ANB = SNA – SNB xác định sự khác biệt theo chiều trước sau giữa nền

-

xương hàm trên và nền xương hàm dưới [19].
Giá trị trung bình: 2º ± 2º.
Nếu ANB > 4º: khuynh hướng hạng II xương.
Nếu ANB < 0º: khuynh hướng hạng III xương.
1.6.3. Đánh giá mô mềm
1.6.3.1. Tỷ lệ tầng mặt giữa và tầng mặt dưới

-

Là tỷ lệ khoảng cách giữa G-Sn và Sn-Me’.
Cho phép đánh giá sự cân đối của khuôn mặt phía trước theo chiều đứng.
Tỷ lệ này thường xấp xỉ 1:1[20].

Hình 1.22. Tỷ lệ các tầng mặt [20]
1.6.3.2. Khoảng cách từ môi đến đường thẩm mỹ E
-

Năm 1953 Ricketts đã cố gắng để mô tả và phân loại mối tương quan của
môi. Để bắt đầu ông vẽ một đường từ mũi đến cằm để mô tả mối tương quan
giữa mũi và cằm với các cấu trúc này. Ông gọi đó là đường thẫm mỹ (Esthetic

-

plane hay đường E).
Khi bắt đầu ông nghiên cứu cả môi trên và môi dưới. Sau đó ông thấy rằng
đường cong môi dưới và vị trí của nó được quyết định bởi cả răng cửa hàm


22

trên và hàm dưới còn môi trên chỉ bị ảnh hưởng bởi răng cửa trên nên việc đo
môi trên là không cần thiết. Môi trên thực chất thể hiện tương quan qua môi
dưới nên môi dưới trở thành đối tượng tham khảo cơ bản. Ricketts nhận thấy
rằng bình thường vị trí của môi dưới của người da trắng ở phía sau đường E
2mm, độ lệch chuẩn 3mm. Độ lệch này ở nam lớn hơn nữ. Và khác nhau ở
các chủng tộc [25].

Hình 1.23. Độ nhô môi [20]
1.6.4. Đánh giá vị trí của răng trên xương hàm
1.6.4.1. Góc răng cửa trên và mặt phẳng SN
-

Là góc được tạo bởi mặt phẳng SN và đường thẳng đi qua rìa cắn và chóp
răng cửa giữa hàm trên [20].
Giá trị trung bình: 104º ± 5,8º.
Góc có giá trị lớn: răng cửa trên ngả trước.
Góc có giá trị nhỏ: răng cửa trên ngả sau.
1.6.4.2. Góc răng cửa dưới và mặt phẳng hàm dưới

-

Là góc được tạo bởi mặt phẳng hàm dưới (theo Down) và đường thẳng đi qua

-

rìa cắn và chóp răng cửa giữa hàm dưới [20].
Giá trị trung bình: 91,5º ± 7,5º.
Góc có giá trị lớn: răng cửa dưới nghiêng ra phía trước so với nền xương

-

hàm dưới.
Góc có giá trị nhỏ: răng cửa dưới nghiêng vào trong.
1.7. Các nghiên cứu trên thế giới


23

Đường hô hấp trên luôn là lĩnh vực được quan tâm bởi cấu trúc vùng
họng hầu đóng vai trò rất quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển của
phức hợp sọ mặt. Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh mối liên quan giữa
chức năng hô hấp và nguy cơ phát triển lệch lạc khớp cắn.
1.7.1. Nghiên cứu đánh giá tương quan giữa kích thước họng với kiểu phát
triển mặt theo chiều đứng
Trong nghiên cứu thuần tập của Ackam và cộng sự [26], kích thước hầu
họng trên và dưới được xác định ở các nhóm có hướng xoay của xương hàm
dưới khác nhau, kết quả là nhóm các đối tượng có kiểu phát triển theo hướng
mở có chiều rộng hầu họng dưới hẹp hơn.
Freitas [27] đã nghiên cứu kích thước đường hô hấp trên trên đối tượng có
khớp cắn loại I và loại II cho thấy đối tượng có kiểu phát triển theo chiều đứng
có kích thước hầu họng trên hẹp hơn có ý nghĩa thống kê so với đối tượng có
kiểu phát triển bình thường. Kapoor [28] có kết luận tương tự. Ông cũng đã
đưa ra kết quả sai lệch khớp cắn theo chiều trước sau không ảnh hưởng tới độ
rộng vùng hầu họng trên và kiểu sai lệch khớp cắn và kiểu phát triển không
ảnh hưởng tới độ rộng vùng hầu họng dưới.
Memon [29] trong nghiên cứu của mình đã kết luận kiểu sai lệch khớp
cắn theo chiều trước sau không ảnh hưởng tới độ rộng đường hô hấp trên. Tuy
nhiên, các đối tượng có kiểu mặt phát triển theo hướng đứng có độ rộng đường
hô hấp trên hẹp hơn có ý nghĩa thống kê khi so sánh với nhóm bình thường và
nhóm có kiểu mặt phát triển theo hướng ngang.
Ucar [30] nghiên cứu trên các đối tượng có khớp cắn loại I đã tìm thấy
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các kiểu phát triển mặt theo chiều đứng
ở độ rộng hầu họng trên, kích thước lưỡi, không gian sau trên của hầu họng
nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa ở độ rộng hầu họng dưới.
Gupta [31] đã đưa ra kết quả đối tượng có kiểu mặt phát triển theo


24

hướng đứng thì có độ rộng vùng hầu họng trên và độ rộng vùng hầu họng
dưới hẹp hơn. Có mối tương quan giữa độ rộng vùng hầu họng trên và dưới
và kiểu phát triển của mặt.
Shastri [3] xác định chiều rộng vùng hầu họng lớn hơn ở nhóm đối
tượng có góc mặt phẳng hàm dưới nhỏ.
Blancas và cộng sự [7] đã so sánh độ rộng vùng hầu họng ở những bệnh
nhân có kiểu mặt theo chiều đứng khác nhau và đã đưa ra kết quả độ rộng
vùng hầu họng trên ở bệnh nhân có kiểu mặt ngắn rộng hơn so với bệnh nhân
có kiểu mặt trung bình và kiểu mặt dài.
1.7.2. Các nghiên cứu đánh giá tương quan giữa kích thước họng với
tương quan trước sau của xương hàm trên và xương hàm dưới
Nghiên cứu của Kerr [32] cho thấy đối tượng có khớp cắn loại II có
chiều rộng họng mũi hẹp hơn so với những người có khớp cắn bình thường.
Ceylan và cộng sự [33] nghiên cứu trên 90 đối tượng 13-15 tuổi để xác
định sự ảnh hưởng của góc ANB với kích thước họng mũi và họng miệng đã
kết luận kích thước họng miệng giảm với sự tăng của góc ANB.
Lopatiene và cộng sự [8] đã nghiên cứu kích thước vùng hầu họng ở
những người có khớp cắn bình thường và những người có giá trị góc ANB
tăng. Kết quả là ông đã tìm ra mối tương quan giữa độ rộng vùng hầu họng
trên và góc ANB: khi góc ANB tăng, độ rộng vùng hầu họng trên giảm. Silva
[5] nghiên cứu cho thấy kích thước đường hô hấp trên ở nhóm sai lệch khớp cắn
loại II nhỏ hơn khi so sánh với nhóm có sai lệch khớp cắn loại I.
Kết quả này cũng được đưa ra trong nghiên cứu hình thái đường hô hấp
trên ở những người có khớp cắn loại II sử dụng phim CT conbeam của
Alkhayer [34]. Ông đã chỉ ra mối tương quan giữa độ rộng đường hô hấp trên
với góc ANB, chỉ số Wits, khoảng cách AF-BF. Kim Yoon Ji và cộng sự [35]


25

cũng đã so sánh kích thước đường thở vùng họng theo ba chiều không gian sử
dụng CT conbeam. 27 trẻ 9-13 tuổi được chia thành hai nhóm dựa trên góc
ANB. Kết quả thể tích đường thở kéo dài từ khoang mũi, họng mũi đến thanh
quản của nhóm có góc ANB>5º nhỏ hơn đáng kể so với nhóm có tương quan
xương theo chiều trước sau bình thường. Ông đã kết luận trước tuổi thiếu
niên, thể tích đường thở có mối tương quan có ý nghĩa với tương quan xương
theo chiều trước sau và chiều đứng, chủ yếu là góc ANB và chiều cao tầng
mặt trước.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Blancas [7] và Ucar [30] đã kết luận không
có mối tương quan giữa kích thước họng và góc ANB.
Ở Việt Nam, Tống Đức Phương [35] trong nghiên cứu mình trên một
nhóm sinh viên có khớp cắn loại I về kích thước vùng họng theo chiều trước
sau trên phim sọ nghiêng từ xa đã kết luận mối tương quan nghịch biến giữa
chiều rộng họng mũi, họng miệng và họng thanh quản với góc ANB.
1.7.3. Nghiên cứu đánh giá tương quan giữa kích thước họng với kích
thước xương hàm dưới
Muto và cộng sự [36] đã so sánh kích thước đường hô hấp trên ở các
đối tượng có vị trí xương hàm dưới bình thường, nhô ra trước và lùi sau đã
đưa ra kết luận những bất thường sọ mặt, bao gồm xương hàm dưới lùi sau,
xoay xuống dưới và chiều dài thân xương ngắn có thể làm giảm kích thước
đường hô hấp.
Ucar [30] nghiên cứu trên 104 đối tượng có khớp cắn loại I cho rằng sự
giảm chiều dài của xương hàm dưới có thể dẫn đến giảm kích thước đường hô
hấp trên.
Min GU [2] nghiên cứu trên trẻ em Trung Quốc và trẻ em da trắng cũng
đã xác định mối tương quan giữa chiều rộng đường hô hấp trên và chiều dài
xương hàm dưới.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×