Tải bản đầy đủ

Đánh giá thực trạng bệnh răng miệng của công nhân khai thác than hầm lò tại công ty than thống nhất, tỉnh quảng ninh

1

Đặt vấn đề
Trong các bệnh về răng miệng, sâu răng (SR) và viêm
quanh răng (VQR) là hai bệnh phổ biến trên thế giới. Bệnh có
thể mắc từ rất sớm và có tỷ lệ mắc bệnh khá cao ở nớc ta
cũng nh trên thế giới. Bệnh SR, VQR là nguyên nhân chính
gây mất răng làm ảnh hởng nặng nề đến chức năng ăn
nhai, phát âm, thẩm mỹ của con ngời, ngoài ra bệnh còn có
thể là nguyên nhân của những bệnh nhiễm trùng khác nh:
viêm cầu thận, viêm nội tâm mạc, viêm khớp, khi điều tri gây
tốn kém về thời gian, kinh phí và nhân lực [4]. Chính vì
thế sức khoẻ răng miệng đã đợc tổ chức y tế thế giới (WHO)
và các nớc đặc biệt quan tâm và đã có những chơng trình
phòng bệnh. Nhiều biện pháp dự phòng bệnh sâu răng, viêm
quanh răng đã đợc áp dụng nh giáo dục vệ sinh răng miệng,
hớng dẫn chế độ ăn dự phòng sâu răng, trám bít hố rãnh,
fluor hoá nớc uống, sử dụng kem đánh răng fluor, nớc súc
miệng flour Trong hơn hai thập kỷ qua việc dự phòng sâu
răng ở các nớc công nghiệp hoá đã thu đợc kết quả mỹ mãn:
sâu răng ở trẻ 12 tuổi ở các nớc Bắc Âu, Canada, Mỹ, từ mức

cao (SMT > 6,5) đã giảm xuống mức thấp (SMT < 3), ở
Australia, Phần Lan: năm 1969 SMT <1, (năm 1993), ở Mỹ
SMT: 1,3 (năm 2004) ở Anh SMT còn 0,7 (năm 2005) [5].
ở nớc ta, trong những năm gần đây xã hội ngày càng
phát triển, tỷ lệ bệnh răng miệng cũng ra tăng rõ rệt. Theo
điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc lần thứ nhất năm


2

1991, tỷ lệ SR ở lứa tuổi 35-44 là 79%, viêm lợi là 90-95%.
[5], [6]. Theo điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc lần thứ
hai năm 2000 thì tỷ lệ bệnh SR là 83,2% và 97,7% viêm lợi
[26].
Để làm giảm tỷ lệ bệnh SR và VQR, ở VN trong những
năm qua đã có nhiều chơng trình đợc triển khai, bớc đầu đã
hạ thấp đợc tỷ lệ mắc bệnh.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá tình trạng
sức khỏe răng miệng của công nhân, tuy nhiên mỗi đối tợng
công nhân làm việc trong môi trờng, điều kiện khác nhau có
những ảnh hởng khác nhau đến tình trạng sức khỏe răng
miệng. Đặc biệt đối với công nhân khai thác than hầm lò,
làm việc trong môi trờng bụi, nóng và ẩm.
Công ty than Thống Nhất nằm trên địa bàn thị xã Cẩm
Phả tỉnh Quảng Ninh, là một tỉnh ở miền đông bắc, với
đặc thù vừa có núi vừa có biển, ngành công nghiệp khai thác
than là chủ yếu. Thị xã Cẩm Phả có gần 170000 dân, với gần
10000 công nhân mỏ, đến từ nhiều vùng khác nhau trong cả
nớc.
Công ty Than Thống Nhất có gần 1000 công nhân khai
thác than hầm lò, trong những năm qua công tác chăm sóc
sức khỏe cho cán bộ công nhân đã đợc công ty quan tâm.
Tuy nhiên cha có một nghiên cứu nào đánh giá về ảnh hởng
của môi trờng hầm lò và các yếu tố liên quan đến bệnh răng
miệng của công nhân khai thác than. Do đó chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá thực trạng bệnh răng


3

miệng của công nhân khai thác than hầm lòtại công ty
Than Thống Nhất, Tỉnh Quảng Ninh", nhằm mục tiêu:
1. Thực trạng bệnh sâu răng và bệnh quanh răng
của công nhân hầm lò công ty Than Thống Nhất
tỉnh Quảng Ninh.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến bệnh
răng miệng và đề xuất biện pháp can thiệp.

Chơng 1
Tổng quan tài liệu
1.1. Giải phẫu và tổ chức học răng và vùng quanh răng.
1.1.1. Giải phẫu tổ chức học răng [3], [10].
1.1.1.1. Các phần của răng.
- Mỗi răng gồm ba phần là thân răng, chân răng. Giữa
thân và chân răng là cổ răng. Cổ răng giải phẫu là đờng
nối men - xơng răng. Thân răng đợc bao bọc bởi men răng,
chân răng đợc bao bọc bởi xơng răng. Vùng quanh răng bao
gồm lợi, dây chằng quanh răng, xơng răng và xơng ổ răng.


4

Hình 1.1. Giải phẫu răng và vùng quanh răng [10].
1.1.1.2. Cấu tạo của răng.
Bao gồm: men răng, ngà răng và tuỷ răng:
* Men răng
Men răng là mô cứng nhất trong cơ thể, có nguồn gốc từ
ngoại bì. Men răng phủ toàn bộ thân răng, dày mỏng tuỳ
từng vị trí khác nhau, men răng dày nhất ở núm răng là
khoảng 1,5 mm và mỏng nhất ở cổ răng.Men răng không có
sự bồi đắp mà chỉ mòn dần theo tuổi, tuy nhiên có sự trao
đổi về vật lý, hoá học với môi trờng trong miệng.
Về mặt hoá học, chất vô cơ chiếm 96% chủ yếu là
Hydroxy Apatit {3[(PO4)2Ca] Ca (OH)2}, còn lại là muối


5

cacbonat Magiê và một lợng nhỏ hữu cơ chiếm khoảng 1%
trong đó chủ yếu là Protid.
Về mặt lý học, men răng cứng, giòn, trong và cản tia X
với tỷ trọng 2,3-3 so với ngà răng.
Cấu trúc vi thể của men răng quan sát qua kính hiển vi
thấy hai loại đờng vân.
Đờng Retzius: Trên tiêu bản cắt ngang là các đờng chạy
song song nhau và song song với đờng viền ngoài của lớp
men cũng nh với đờng ranh giới men - ngà ở phía trong. Trên
trên bản cắt dọc thân răng, đờng Retzius hợp với đờng ranh
giới men - ngà cũng nh với mặt ngoài của men thành 1 góc
nhọn.
Đờng trụ men: chạy suốt chiều dày men R và hớng thẳng
góc với đờng ngoài, trong của men răng, đôi khi có sự gấp
khúc và thay đổi hớng đi của trụ men. Trụ men có đờng
kính từ 3-6 àm. Khi cắt ngang qua trụ men ta thấy tiết diện
có các loại hình thể: vẩy cá 57%, lăng trụ 30%, không rõ ràng
10%. Hớng đi của trụ men tạo ra các dải sáng tối xen kẽ là dải
Hunter - Schrenge [3] [10].
1.1.1.3. Ngà răng.
- Ngà răng đợc phủ bởi men răng và xơng răng
- Ngà răng có nguồn gốc từ trung bì, kém cứng hơn men
răng.
- Ngà răng có tỷ lệ chất vô cơ là 70%, chủ yếu là 3
[(PO4)2Ca3)2H2O].
- Về tổ chức học: Ngà răng đợc chia làm 2 loại:


6

Ngà tiên phát: Chiếm khối lợng chủ yếu và đợc tạo nên
trong quá trình hình thành răng, nó bao gồm: ống ngà, chất
giữa ống ngà, dây tôme.
Ngà thứ phát: đợc sinh ra khi răng đã hình thành rồi,
gồm ngà thứ phát sinh lý, ngà phản ứng và ngà trong suốt [3].
1.1.1.4. Tuỷ răng.
Là mô liên kết nằm trong hốc tuỷ chân và tuỷ thân.
Tuỷ răng trong buồng tuỷ gọi là tuỷ thân hay tuỷ buồng, tuỷ
răng trong ống tuỷ gọi là tuỷ chân. Các nguyên bào ngà nằm
sát vách hốc tủy.
Tủy răng có nhiệm vụ duy trì sự sống của răng, cụ thể
là sự sống của nguyên bào ngà và tạo ngà thứ cấp, nhận cảm
giác của răng. Trong tủy răng có chứa nhiều mạch máu, mạch
bạch huyết và đầu tận cùng của thần kinh.
Về tổ chức học, tủy răng gồm hai vùng: vùng cạnh tủy
gồm các lớp tế bào tạo ngà (2-3 lớp) và lớp không có tế bào
gồm những tổ chức sợi tạo keo. Vùng giữa tủy là tổ chức liên
kết có nhiều tế bào, ít tổ chức sợi [3].
1.1.2. Giải phẫu sinh lý và tổ chức học vùng quanh
răng:
Vùng quanh răng là vùng nâng đỡ răng. Vùng này bao gồm:
xơng ổ răng, xơng răng, dây chằng và lợi.
1.1.2.1. Xơng ổ răng.
Xơng ổ răng là một bộ phận của xơng hàm gồm lá xơng thành trong huyệt ổ răng và tổ chức đỡ xung quanh


7

huyệt răng. Xơng ổ răng tạo thành huyệt có hình dáng và
kích thớc phù hợp với chân răng. Bề mặt ổ răng, nơi đối diện
với chân răng là mô xơng đặc biệt có nhiều lỗ thủng để
cho mạch máu, thần kinh từ xơng xuyên qua để nuôi dây
chằng quanh răng gọi là xơng ổ chính lá sàng.
Xuơng ổ răng liên quan đến sự chắc chắn của răng trên
cung hàm. Trong bệnh viêm quanh răng thì xơng ổ răng sẽ
bị tổn thơng.
1.1.2.2. Xơng răng.
- Là tổ chức bao phủ ngà chân răng, trên bề mặt có
những sợi của dây chằng quanh răng bám vào.
1.1.2.3. Dây chằng.
Dây chằng quanh răng nằm ỏ khe giữa xơng ổ răng và
xơng răng, bình thờng khe này rộng khoảng 0,15 - 0,25
micromet. Dây chằng có chức năng gắn cho răng vào xơng
ổ răng và có chức năng làm lớp đệm, tránh tác dụng có hại
của lực nhai đối với răng và vùng quanh răng.
1.1.2.4. Lợi: Bao gồm lợi bám dính và lợi tự do.
- Lợi bám dính: là vùng lợi bám dính một phần vào chân
răng và một phần vào mặt ngoài xơng ổ răng. Mặt ngoài lợi
là lớp biểu mô sừng hoá.
- Lợi tự do: có bờ lợi tự do (đờng viền lợi) và nhú lợi (núm lợi)
bình thờng lợi tự do có hình lợn sóng ôm sát vào vùng xung
quanh của một phần thân răng và cổ răng và cùng với cổ


8

răng tạo thành một rãnh gọi là rãnh lợi. Chiều sâu của rãnh lợi
bình thờng là 1-2 mm [2], [10].
1.2. Sinh bệnh học bệnh sâu răng và viêm quanh răng.
1.2.1. Sinh bệnh học bệnh sâu răng [11].
Trớc năm 1970 bằng sơ đồ Key để giải thích bệnh căn
sâu răng, ngời ta chú ý nhiều đến chất đờng và vi khuẩn
Streptococcus. Vi khuẩn ở trong miệng lên men chất tinh bột
và đờng còn dính lại trên bề mặt răng tạo thành acid và acid
này phá huỷ tổ chức cứng của răng tạo thành lỗ sâu, qua lỗ
sâu vi khuẩn xâm nhập vào tuỷ răng gây viêm tuỷ và viêm
quanh cuống răng.

Vi khuẩn

Đờng
SR

Răng

Hình 1.2 Sơ đồ Key.


9

Ngày nay White giải thích sinh bệnh học sâu răng bằng
cách thay vòng tròn chất đờng trong sơ đồ Key bằng vòng
tròn chất nền và nhấn mạnh vai trò bảo vệ và trung hoà
của nớc bọt và PH của dòng chảy nớc bọt quanh răng. Theo
cơ chế hoá học và vật lý sinh học thì sâu răng là sự huỷ
khoáng lớn hơn tái khoáng. Nếu quá trình huỷ khoáng lớn
hơn tái khoáng thì sẽ gây sâu răng [5].


10

Các yếu tố gấy mất ổn
định
- Chế độ ăn đờng nhiều lần
-Thiếu nớc bọt hay nớc bọt
axit
- Axit từ dịch dạ dày tràn lên
miệng
- PH môi trờng miệng < 5
- Mảng bám vi khuẩn
- VSRM kém
Các yếu tố bảo vệ
- Nớc bọt
- Khả năng kháng acid của men
- Fluor có ở bề mặt men răng
- Trám bít hố rãnh
- Độ Ca++, NPO4 quanh răng
- pH > 5,5
- VSRM tốt
Hình 1.4. Sơ đồ tóm tắt cơ chế sâu răng [11].
Sâu răng = huỷ khoáng > tái khoáng.
- Các yếu tố bảo vệ
+ Nớc bọt
+ Khả năng kháng acid của men
+ Fluor có ở bề mặt men răng
+ Trám bít hố rãnh
+ Nồng độ ca

++

; NPO

4

quanh răng


11

+ PH > 5,4
- Các yếu tố gây mất ổn định làm sâu răng:
+ Mảng bám vi khuẩn
+ Chế độ ăn nhiều đờng
+ Thiếu nớc bọt hay không có độ PH thấp (< 5,5)
+ Trào ngợc định vị dạ dày
+ PH < 5.
- Sự huỷ khoáng là sự chuyển muối khoáng quá nhiều từ
men ra dịch miệng. ở giai đoạnh này khi các Matric protein
cha bị huỷ thì thơng tổn có khả năng hồi phục nếu muối
khoảng từ dịch miệng và cơ thể lắng đọng trở lại.
- Sự tái khoáng: Nớc bọt là nguồn cung cấp chất khoáng
cho sự tái khoáng. Nếu sự tái khoáng mạnh mẽ tạo thành lớp
rắn sâu vài micromet, có khả năng ngăn chặn các yếu tố
gây sâu răng.
Nh vậy vai trò bảo vệ của nớc bọt rất quan trọng. ở những
bệnh nhân khô miệng, Hội chứng trào ngợc dịch vị sẽ rất dễ
mắc sâu răng.


12

pH và dòng chảy
nước bọt
Chất nền
SR

Vi khuÈn

Răng
Nước bọt

H×nh 1.3. S¬ ®å White [11].


13

1.2.2. Sinh bệnh học bệnh viêm quanh răng [6] [23].
Trong những năm 1960 đa số các giả thuyết cho rằng
VQR là do nguyên nhân toàn thân và các yếu tố tại chỗ (vi
khuẩn và sang chấn khớp cắn) Green (1960) Ramfjord (1961)
và Loe (1965) đã chứng minh ảnh hởng của mảng bám răng tới
viêm lợi [39]. Rosling (1976) kết luận nếu kiểm soát đợc mảng
bám răng và vệ sinh răng tốt bệnh sẽ ổn định [23].
Ngày nay ngời ta nhấn mạnh vai trò của vi khuẩn trong
mảng bám răng và sự đáp ứng miễn dịch của từng cá thể,
đây là hai yếu tố chính khởi phát bệnh viêm lợi và VQR [3].
Mảng bám răng là một sản phẩm có thành phần cấu tạo hết
sức phức tạp và đợc hình thành dần trong suốt quá trình
thay đổi môi trờng ở vùng răng miệng. Về bản chất mảng
bám răng là mảng vi khuẩn, trung bình 1mm 3 có 108 vi
khuẩn, gồm trên 200 loại khác nhau.
Trong mảng bám còn gồm chất gian khuẩn là acid hữu
cơ, đờng và các protein, là chất tựa để vi khuẩn sống và
phát triển.
Mảng bám răng đợc hình thành sau 2-4 giờ (nếu răng
không đợc chải kỹ) do các vi khuẩn trong nớc bọt với các men
cabohyaza và neuraminidaza tác động lên acid sialic trong
muxin của nớc bọt. Sản phẩm của quá trình này lắng đọng
trên bề mặt răng tạo nên một màng tựa hữu cơ đầu tiên. Hai
ngày đầu tiên các màng tựa đã xuất hiện các vi khuẩn Gram
(+) và Gram (-). Từ ngày thứ 2 đến thứ 4 trên mảng bám thấy
xuất hiện các thoi trùng và các vi khuẩn có dạng hình sợi. Từ
ngày thứ 4 đến ngày thứ 9 thấy có sự xuất hiện của các


14

xoắn khuẩn, nh vậy bề mặt vi khuẩn không hoàn toàn giống
nhau trên các mảng bám răng già và non. Trong môi trờng
điều kiện sinh lý và nhiệt độ thích hợp các vi khuẩn sống và
chết (chủ yếu là các vi khuẩn giàu polysacharit và
glycoprotein) cùng với những sản phẩm mà chúng phân giải
tạo nên mảng bám răng ngày càng dày với khối lợng 70% là vi
khuẩn và 30% là chất tựa hữu cơ. Các vi khuẩn có mặt trên
mảng bám răng, một mặt sản sinh ra các men chuyển hoá
đạm và đờng tạo thành các sản phẩm có khả năng thay đổi
PH ở các màng bám răng, gây ra hiện tợng lắng đọng canxi
tạo thành cao răng gây kích thích lợi gây ra hiện tuợng viêm
lợi. Mặt khác kháng nguyên của vi khuẩn có thể kết hợp với tổ
chức quanh răng tạo thành những phức hợp kháng nguyên và
với cơ chế bảo vệ thông qua kháng thể làm tổn thơng đến
các tế bào biểu mô lợi đã có gắn các thành phần kháng
nguyên của vi khuẩn. Bên cạnh những cơ chế về miễn dịch
dịch thể, thông qua các phản ứng kháng nguyên, kháng thể
thì cơ chễ miễn dịch tế bào với sự xuất hiện của lysozim,
histamin, heparin, lymphokin, tổ chức lợi cũng bị tổn thơng
dẫn tới thoái hoá và trong một số trờng hợp dẫn tới tiêu XÔR nh
sang chấn khớp cắn, hoặc bệnh toàn thân nh cao huyết áp,
đái tháo đờng, béo phì [14], [23].
1.2.2.1.Mảng bám răng [6], [14], [23].
- Cấu tạo : mảng bám răng (MBR) bản chất là mảng chứa
đầy vi khuẩn trung bình 1 mm3 có 108 vi khuẩn gồm hơn
200 loại khác nhau, mảng bám hoàn chỉnh sau 14-21 ngày có


15

khả năng gây bệnh. Cho đến nay bệnh viêm lợi và VQR đợc
coi nh là những bệnh nhiễm khuẩn.
- Những loại vi khuẩn liên quan tới các bệnh viêm lợi và
VQR:
+ Bacteroides Intermendius
+Actinobacillus Actinomycetemcomitans
+Capnocytophage
+B. gingivallis
- Chất gian khuẩn là chất tựa để vi khuẩn sống và phát
triển bao gồm: axit hữu cơ, đờng và proteine.
- Theo vị trí ngời ta chia mảng bám răng thành hai loại: trên
lợi và dới lợi
+ MBR trên lợi: lúc đầu mới hình thành mảng bám trên lợi
có ít vi khuẩn chỉ có nhiều tế bào bong ra của niêm mạc
miệng, đầu tiên là 90% cầu khuẩn gram (+), 10% là cầu
khuẩn gram (-), dần dần tỷ lệ này thay đổi. Sau 1-3 tuần, tỷ
lệ trực khuẩn và cầu khuẩn gram (-) bằng các loại gram (+),
tỷ lệ vi khuẩn yếm khí và trực khuẩn gram (-) tăng.
+ MBR dới lợi: là mảng bám hình thành ở dới lợi. Theo một
số tác giả: khi lợi phù nề do viêm, nó phủ một phần MBR để
trở thành MBR dới lợi, nó phát triển độc lập với sự tham gia của
dịch rỉ viêm, làm thức ăn cho vi khuẩn phát triển, vi khuẩn
yếm khí ngày càng tăng, đánh răng lúc này không còn kết
quả, trong MBR có nhiều vi khuẩn gram (-) và một số vi
khuẩn đặc biệt gây bệnh.


16

- MBR và vai trò của nó trong bệnh sinh quanh răng:
MBR thực chất là màng vi khuẩn gây hại vùng quanh răng bởi
hai cơ chế tác động
+ Tác động trực tiếp: các sản phẩm chuyển hoá trong
quá trình sống của vi khuẩn là men và nội độc tố. Men làm
mền yếu sợi keo, phân huỷ tế bào, làm bong rách biểu mô
dẫn đến viêm. Nội độc tố kích thích tiết prostaglandin làm tiêu
xơng.
+ Tác động gián tiếp: vi khuẩn và chất gian khuẩn
đóng vai trò kháng nguyên, gây bệnh bằng cơ chế miễn
dịch tại chỗ. Vi khuẩn và chất gian khuẩn kích thích tổ chức
huy động hệ thống miễn dịch. Sản phẩm từ Lymphocyte và
những yếu tố hoạt hoá đại thực bào làm phá huỷ tổ chức
quanh răng [23].
1.2.2.2. Cao răng [23].
Cao răng đợc hình thành từ quá trình vô cơ hoá MBR
hoặc do sự lắng cặn muối canxi trên bề mặt răng, cổ răng.
Là tác nhân gây hại sau MBR, theo vị trí bám có hai loại cao
răng: trên lợi và dới lợi.
- Cao răng trên lợi: có màu vàng hoặc nâu xám, thờng có ở
những răng cạnh lỗ tuyến nớc bọt, mặt ngoài răng 6-7 hàm
trên, mặt trong nhóm răng cửa và răng 6 hàm dới.
- Cao răng dới lợi: nhìn rõ khi lợi bong ra khỏi cổ răng, màu
xám, bám chắc vào cổ răng, có thấy nhìn thấy qua lợi, ánh
sáng đèn và phim sau ổ răng.


17

1.2.2.3. Sự đáp ứng miễn dịch của từng cá thể [24].
Tuy những vi khuẩn tác động tại chỗ nhng theo sự khác
nhau trong từng phản ứng của cá thể, có khi cùng một lợng
mảng bám răng nhng phản ứng của từng cá thể cũng khác
nhau
Hiện nay sức đề kháng của vùng quanh răng chúng ta
hiểu nh là khả năng của tổ chức quanh răng chống lại sự phát
sinh của MBR bao gồm:
- Sự sắp xếp giải phẫu của vùng quanh răng là tối u nhất.
- Phản ứng miễn dịch của vùng quanh răng là có tác dụng
và có ý nghĩa nhất trong sự bảo vệ các phơng tiện quanh
răng chống MBR. Phản ứng miễn dịch bao gồm: Đặc hiệu và
không đặc hiệu.
Miễn dịch đặc hiệu gồm:
- Miễn dịch dịch thể: là điều kiện để tạo thành những
kháng thể của các Globulin miễn dịch, chúng sản xuất
plasma có vai trò quan trọng trong bệnh VQR. Kháng thể kết
hợp với kháng nguyên tạo thành phức hợp kháng nguyên-kháng
thể.
- Miễn dịch tế bào: là đáp ứng miễn dịch chậm, những
lymphocyte nhạy cảm huy động tới kháng nguyên, trung hòa
kháng nguyên giải phóng tế bào lympho gây viêm [23].
Vi khuẩn xâm nhập vào tổ chức liên kết và hoạt hóa các
tế bào biểu mô, IL-8(Interleukin) và các tế bào nội mô của
các mạch máu nhỏ bị viêm thúc đấy các phân tử kết dính,
dẫn đến gia tăng xâm nhập bạch cầu, phù và xâm nhiễm tế
bào viêm, gia tăng đáp ứng miễn dịch dịch thể [38].


18

Các thành phần kháng nguyên của vi khuẩn gây bệnh,
đặc biệt là Lipopolysaccharide kích thích tế bào bạch cầu
để sản xuất ra các cytokine và các enzim và Prostaglandin E2
(PGE2), các men phân giải Protein khác và các chất trung
gian gây viêm [31].
Nh vậy, có thể nói mảng bám răng là yếu tố hết sức
quan trọng trong bệnh tổ chức quanh răng. Nó là nguyên
nhân chính, nguyên nhân chủ yếu, mắt xích đầu tiên dẫn
đến sự huỷ hoại vùng quanh răng. Nhiều công trình nghiên
cứu cho thấy mối liên quan giữa sự tồn tại và xuất hiện của
mảng bám răng với vệ sinh răng miệng. Trên thực tế, viêm lợi
xuất hiện ngay nếu ngừng vệ sinh răng miệng và niêm mạc lợi
lại có thể trở lại bình thờng nếu vệ sinh răng miệng tốt.
1.2.2.4. Biểu hiện lâm sàng của bệnh vùng quanh răng
[23].
* Viêm lợi:
. Sự thay đổi màu sắc, hình thể, trơng lực của lợi
. Vị trí biểu hiện dễ thấy là bề mặt lợi chảy máu,
dịch viêm ở khe lợi
. Không có túi lợi bệnh lý (không có sự di chuyển của
biểu mô bám dính, không có tiêu xơng ổ răng)
* Viêm quanh răng:
. Viêm lợi
. Mất bám dính quanh răng và tiêu xơng ổ răng: Hình
thành túi lợi bệnh lý hay túi quanh răng. Chiều sâu túi lợi thay
đổi theo mức độ của bệnh.
. Răng lung lay từ độ 1 đến độ 4


19

X-quang: Có dấu hiệu tiêu xơng, di lệch răng. Trong
đó dấu hiệu tiêu xơng là quang trọng. Nếu có phối hợp sang
chấn khớp cắn thì có biểu hiện mất xơng có góc và vùng
dây chằng quanh răng giãn rộng.
1.2.2.5. Phân loại viêm quanh răng [22], [23], [27].
Dựa vào mức độ tổn thơng bệnh lý vùng quanh răng
theo từng giai đoạn mà các tác giả đã phân ra nhiều thể
bệnh. Từ thực tế lâm sàng cách phân loại theo quan niệm
mới đợc áp dụng ở Việt Nam và nhiều nớc trên thế giới đó là
phân loại của viện hàn lâm bệnh quanh răng Mỹ AAP năm
1986 (American Academy of Periodontology).
Các loại viêm quanh răng:
- Viêm quanh răng ngời lớn.
- Viêm quanh răng sớm.
- Viêm quanh răng với bệnh toàn thân.
Trong các loại VQR thì VQR ngời lớn là quan trọng nhất về tỉ
lệ bệnh và về điều trị, do đó AAP đã phân loại cụ thể VQR
ngời lớn nh sau:
* Các giai đoạn VQR.
- Viêm lợi (AAP I): Lợi biến đổi màu sắc, hình dạng, trơng
lực, chảy máu lợi khi thăm khám.
- VQR sớm (AAP II): Túi lợi bệnh lý >3 mm, mất bám dính >2
mm, răng không lung lay, X quang tiêu xơng ổ răng ít.
- VQR mãn (AAP III): Túi lợi bệnh lý 4-5 mm, mất bám dính
<5 mm, răng lung lay độ 1,2. X quang tiêu xơng ổ răng rõ.
- VQR tiến triển (AAP IV): Túi lợi bệnh lý >5 mm, răng lung
lay độ 2,3. X- quang tiêu xơng ổ răng rất nhiều.


20

Căn cứ vào biểu hiện lâm sàng và cơ chế bệnh sinh
AAP (1986) đã phân loại các thể VQR nh sau.
* Các thể viêm quanh răng:
- Thể viêm: gồm có VQR đơn giản và phức tạp.
- Thể thoái hóa: VQR cấp ở ngời trẻ, VQR ở ngời già.
- Thể tăng sản: VQR có tăng sản trên lợi do nhiều nguyên
nhân.
- Thể sang chấn: VQR do sang chấn [22], [27].
Nh vậy MBR là nguyên nhân chính trong bệnh tổ chức
quanh răng. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy mối liên quan giữa
MBR và bệnh vùng quanh răng. Nếu vệ sinh răng miệng tốt,
kiểm soát đợc MBR có thể dự phòng đợc bệnh vùng quanh
răng.
1.3. Dịch tễ học bệnh sâu răng và viêm quanh răng.
1.3.1. Dịch tễ học bệnh sâu răng.
Trên thế giới: ở các nớc công nghiệp hoá, từ những năm
1940 cho đến năm 1960 tình hình sâu răng ở các nớc này
rất nghiêm trọng. Trung bình mỗi trẻ em 12 tuổi có tới 8-10
răng sâu hoặc đã bị mất do sâu. Chỉ số SMTR ở tuổi 12
của Nauy tới mức 12,0 năm 1940. Chính vì vậy tổ chức y tế
thế giới đã xếp sâu răng là một trong ba tai hoạ bệnh tật của
loài ngời sau bệnh ung th và tim mạch. Tới những năm 1980
chỉ số SMTR ở tuổi 12 tại các nớc này giảm xuống mức từ 2,0
đến 4,0. Tới năm 1993 chỉ số SMTR, tuổi 12 ở hầu hết các nớc công nghiệp hoá đã giảm xuống mức thấp từ 1,2 đến 2,6
riêng Canada chỉ số này vẫn còn ở mức trung bình từ 2,7
đến 4,4. ở thời điểm năm 1997 chỉ số SMTR ở lứa tuổi
trung niên (35-44 tuổi) ở các nớc công nghiệp hoá vẫn còn ở


21

mức cao: ở Canada, Nhật, Australia và các nớc Bắc Âu chỉ số
SMTR cao ở mức trên 13,9 Mỹ từ 9,0 đến 13,9, [5], [21].
Nh vậy, nhìn chung từ cuối những năm của thập kỷ 1970
tới nay tình hình sâu răng ở các nớc công nghiệp hoá có xu hớng giảm dần tới những năm giữa thập kỷ 1990 tỷ lệ sâu răng
vĩnh viễn ở tuổi 12 tại các nớc này đã giảm nhiều. Chỉ số
SMTR tuổi 12 tại hầu hết các nớc này ở mức thấp và rất thấp
[5], [32].
Sâu răng ở nớc nớc đang phát triển: So với các nớc công
nghiệp hoá ở thời điểm những năm của thập kỷ 1960 thì
tình hình sâu răng ở các nớc phát triển ở mức thấp hơn
nhiều. Chỉ số SMTR tuổi 12 ở thời kỳ này nói chung từ 1,0
đến 3,0, thậm chí có một số nớc dới 1,0 nh Thái lan, Uganda
và Zaire. Tới thập kỷ 1970 và 1980 thì chỉ số này lại tăng lên
và ở mức 3,0 đến 5,0 và một số ở mức cao nh Chilê là 6,3;
French Polynesia là 10,7 [5].
Sâu răng ở Việt Nam:
Kết quả điều tra cơ bản bệnh răng miệng toàn quốc lần
thứ nhất so sánh với kết quả điều tra bệnh răng miệng toàn
quốc lần thứ hai, tình hình sâu răng ở Việt Nam có xu hớng
tăng lên.
Năm 1991, theo kết quả điều tra cơ bản bệnh răng
miệng lần thứ nhất, tỷ lệ sâu răng ở lứa tuổi 35-44 là 79%
[20].
Năm 2001, Trần Văn Trờng và Trịnh Đình Hải công bố
tình trạng sâu răng ở Việt Nam sau điều tra sức khoẻ răng
miệng toàn quốc lần thứ 2 năm 2000, có kết quả: tỷ lệ sâu
răng ở lứa tuổi 35-44 là 83,2%, sâu răng gia tăng theo lứa


22

tuổi, từ trung bình có 2,84 răng sâu ở lứa tuổi 18 đến 8,93
răng sâu ở tuổi 45 trở lên. Số trung bình răng mất gia tăng
theo tuổi từ 0.52 răng ở tuổi 18 lên tới 6,64 răng ở lứa tuổi từ
45 trở lên và có rất ít răng đợc hàn ở các nhóm tuổi [26].
1.3.2. Dịch tễ học bệnh viêm quanh răng.
Các nghiên cứu về dịch tễ học trớc đây đã nhấn mạnh
đến tính chất phổ biến của bệnh. Năm 1955, Marshall Day[33] cho thấy có 90% ngời ở dới tuổi 40 có bệnh quanh
răng.
Các nghiên cứu gần dây đã chứng minh đợc rằng bệnh
viêm quanh răng không tới mức phổ biến, lu hành rộng rãi cùng
nh không nặng nh ngời ta nghĩ trớc đây. Năm 1990, tổ chức
y tế thế giới cho biết có trên 50 nớc có từ 5-20% ngời bị viêm
nặng ở tuổi 40 [36], [39].
Sự khởi đầu phá huỷ quanh răng xảy ra phổ biến nhất ở
ngời trẻ tuổi sau đó thì cả tỷ lệ mắc và mức độ nặng đều
tăng lên theo tuổi và có biểu hiện lâm sàng rõ ở tuổi 40-50.
Theo Brown và cộng sự năm 1981 ở Mỹ 65% ngời ở lứa
tuổi từ 19-65 có túi lợi sâu 3mm và 8% có túi lợi sâu >
6mm [35].
Nghiên cứu của Song Pai San Y và Davies G.N ở Thái Lan,
ở nhóm tuổi từ 33-44 là 58% có túi lợi trong đó 11% có túi lợi
sâu [37].
ở Việt nam năm 2000[26] qua nghiên cứu dịch tễ học
viêm lợi và viêm quanh răng trong phạm vi toàn quốc đã cho
thấy tỷ lệ ngời có bệnh quanh răng trong phạm vi toàn quốc ,
tỷ lệ ngời có bệnh quanh răng ở mức rất cao. 90,7%. Trong


23

đó có 31,8% ngời túi lợi nông và sâu. Tỷ lệ ngời có sức khoẻ
vùng quanh răng từ trung bình trở lên (tức là có từ 3 vùng lục
phân lành mạnh trở lên) ở mức rất thấp, dới 10% [26].
Các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới [29], [34], [37],
và Việt Nam [1], [7], [12],[14], [20] đã chỉ ra rằng viêm lợi
gặp hầu hết ở mọi ngời trong cộng đồng, có khoảng 15-20%
ngời từ 35 tuổi trở lên bị mắc bệnh và bằng việc tăng cờng
vệ sinh răng miệng có thể làm giảm tỷ lệ mắc bệnh vùng
quanh răng.
1.4. Các yếu liên quan đến sâu răng và bệnh quanh
răng
1.4.1. Các yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng [8],
[32], [36].
1.4.1.1. Sâu răng liên quan với thời gian mọc răng.
Theo nhiều nghiên cứu cho thấy 25 đến 80% trẻ từ 1 - 5
tuổi bị sâu răng. Sâu răng trên răng vĩnh viễn xảy ra rất
sớm ở nơi trũng và rãnh ngay sau khi mọc. Các răng thờng bị
sâu trong vòng từ 2 - 4 năm sau khi mọc.
1.4.1.2. Sâu răng liên quan với các nhóm răng.
Mức độ nhạy cảm với sâu răng xếp thứ tự theo nhóm răng
- Răng hàm lớn thứ nhất và thứ hai hàm dới
- Răng hàm lớn thứ nhất và thứ hai hàm trên
- Răng hàm nhỏ thứ hai hàm dới, răng hàm nhỏ thứ nhất
và thứ hai hàm trên, răng cửa giữa và răng cửa bên hàm trên.
- Răng nanh trên và răng nanh dới
- Răng cửa giữa và răng cửa bên hàm dới, răng nanh dới.


24

Tuy nhiên có một số nghiên cứu cho thấy răng hàm lớn
thứ hai nhạy cảm với sâu răng hơn so với răng hàm lớn thứ
nhất hàm dới.
1.4.1.3. Sâu răng liên quan với tuổi.
Chỉ số SMTR gia tăng đều đặn theo tuổi. Gia tăng
nhanh ở tuổi thanh thiếu niên và những năm đầu của tuổi
trởng thành, sau đó giảm dần. Sâu chân răng cũng là một
vấn đề liên quan đến tuổi. Răng ngời lớn tuổi bị tụt nớu
giúp mảng bám tích tụ quanh vùng chân răng bị lộ tạo điều
kiện cho sâu chân răng phát triển. Sâu chân răng ngày
càng phổ biến cho nên vấn đề bác sỹ nha khoa phải đối
diện hàng ngày do ngày nay số ngời lớn tuổi ngày càng
nhiều và số răng mất theo tuổi già ngày càng ít đi.
1.4.1.4. Sâu răng liên quan với giới.
Nữ có chỉ số SMTR cao hơn nam đợc giải thích do nữ
mọc răng sớm hơn nam. ở mọi lứa tuổi, nữ đều có SMTR cao
hơn nam dù rằng nữ giữ vệ sinh răng miệng sạch hơn và thờng đi khám răng đều hơn nam. Do đó, ngoài lý do nữ mọc
răng sớm hơn nam, ngời ta còn nghĩ SMTR ở nữ cao hơn là
do điều trị gây ra.
1.4.1.5. Sâu răng và chủng tộc
Theo quan niệm ngày xa cho là có vài chủng tộc có sức
đề kháng tốt với sâu răng. Nhng quan niệm này ngày nay
không còn giá trị mà sâu răng tuỳ thuộc nhiều vào môi trờng
sống và vùng địa lý hơn là với chủng tộc. Một số dân thuộc
chủng tộc ít sâu răng trở nên nhạy cảm với sâu răng khi di
trú đến nơi có nền kinh tế phát triển với thói quen dinh dỡng
và nền văn hoá khác nơi họ sống trớc đó.


25

1.4.1.6. Gia đình và di truyền.
Nhiều nha sĩ hay nghiên cứu cho thấy sâu răng có tính
truyền thống trong gia đình hay dòng họ. Tuy nhiên rất khó
nói đặc tính này mang tính chất di truyền hay do lây
nhiễm vi khuẩn gây sâu răng, do có cùng thói quen ăn uống
và cùng nguồn thực phẩm... Cho nên trong khi chờ nghiên cứu
thêm về vấn đề này ngời ta vẫn cho di truyền ảnh hởng rất
ít đến sâu răng.
1.4.1.7. Sâu răng và văn hoá.
Kiến thức về sức khoẻ gia tăng với trình độ văn hoá
Văn hoá càng cao tình trạng sâu răng ngày càng thấp
vì con ngời biết nguyên nhân bệnh cũng nh hiểu các biện
pháp phòng ngừa biết cách tự chăm sóc sức khoẻ răng miệng
và sử dụng các biện pháp dự phòng nh chải răng với kem có
fluoride, sử dụng các dạng fluoride toàn thân hay tại chỗ,
Sealant bít hỗ rãnh, chọn thức ăn tốt cho răng, giữ vệ sinh
răng miệng, đi khám răng định kỳ...vv. Đồng thời khi có
trình độ văn hoá cao, ngời dân càng dễ dàng tham gia vào
các chơng trình sức khoẻ cộng đồng nh chăm sóc răng ban
đầu, nha học đờng...
Xã hội càng phát triển, các phơng tiện vệ sinh răng
miệng càng phổ thông: bàn chải, kem đánh răng có Fluoride,
chỉ nha khoa, chất nhuộm màu mảng bám, kiểm soát chế
độ ăn uống, bỏ hút thuốc, uống bia, uống rợu.... cải thiện
tình trạng răng miệng.
Giáo dục tác động quan trọng


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×