Tải bản đầy đủ

Đánh giá tác dụng điều trị mất ngủ của bài thuốc hậu thiên lục vị phương ở phụ nữ mãn kinh

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Mất ngủ là tình trạng khó đi vào giấc ngủ, khó duy trì giấc ngủ hoặc
thức dậy quá sớm và không quay trở lại được giấc ngủ hoặc ngủ dậy có cảm
giác không ngon giấc và mệt mỏi [1], [2]. Mất ngủ có liên quan nhiều đến tuổi
và gặp ở nữ nhiều hơn nam giới. Nguyên nhân của mất ngủ rất đa dạng và phức
tạp, trong đó thời kì mãn kinh là một trong những yếu tố gây ra và làm nặng
thêm tình trạng mất ngủ ở phụ nữ [3]. Ở vào thời kì này, do sự sụt giảm nhanh
chóng của các hormone sinh dục nữ dẫn tới một loạt các triệu chứng: bốc hỏa, vã
mồ hôi, mệt mỏi, đau xương khớp, rối loạn tâm thần kinh, rối loạn cảm xúc, suy
giảm khả năng tình dục…[4]. Các triệu chứng của mãn kinh xảy ra với mỗi cá
thể là khác nhau, tuy nhiên, sự kéo dài của giai đoạn này gây ra sự khó chịu cho
trên 50% phụ nữ trên toàn thế giới ngay từ lúc bắt đầu sự giảm tiết hormone [1]
và đều gây ảnh hưởng tới thời lượng và chất lượng giấc ngủ. Có tới 40 – 60%
phụ nữ trong độ tuổi mãn kinh có rối loạn về giấc ngủ [5].
Các thầy thuốc Y học hiện đại điều trị mất ngủ chủ yếu là điều trị triệu
chứng nhằm cải thiện các biểu hiện mệt mỏi ban ngày bằng các phương pháp điều
trị như dùng thuốc, can thiệp hành vi và thay đổi lối sống [1]. Các nhóm thuốc gây
ngủ được sử dụng như benzodiazepin, barbiturat, nonbenzodiazepine tuy nhiên
đều có nhiều tác dụng không mong muốn [6], [7], [8]. Các biện pháp can

thiệp hành vi và thay đổi lối sống được khuyến cáo là lựa chọn đầu tiên tuy
nhiên rất khó áp dụng. Ở thời kì quanh thời điểm mãn kinh các biện pháp cải
thiện các triệu chứng mãn kinh cho người phụ nữ có tác dụng tích cực lên
giấc ngủ. Trong những thập niên vừa qua, liệu pháp hormone thay thế đã
mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng có không ít tranh cãi liên quan đến nguy cơ
mà phương pháp này mang lại đặc biệt là nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch,
ung thư [9], [10], [11]. Do đó xu hướng điều chỉnh các rối loạn do sự thay đổi
hormone bằng những vị thuốc có nguồn gốc tự nhiên, bằng những bài thuốc Y
học cổ truyền đang là một vấn đề được nhiều người quan tâm.


2

Mất ngủ theo Y học cổ truyền thuộc phạm trù chứng “thất miên”, “bất
mị”, hay “bất đắc miên”. Nguyên nhân là do suy giảm chức năng của ngũ tạng
(tâm, can, tỳ, phế, thận), do tinh huyết không đủ hoặc cũng có thể do tà khí bên
ngoài nhiễu động dẫn đến thần không được yên ổn mà không ngủ được. Mãn
kinh trong Y học cổ truyền có bệnh danh là “kinh đoạn” hay “kinh tuyệt”. Phụ
nữ lấy huyết làm chủ nhưng huyết thường bất túc, khí thường hữu dư. Khi mãn
kinh, chức năng của ngũ tạng suy giảm (đặc biệt là phần thận âm), thiên quý
kiệt, phần huyết trong cơ thể giảm sút dẫn đến tình trạng khí huyết hư suy, âm
dương mất cân bằng, gây ra một loạt các chứng bệnh như Hỏa vượng, Đầu
thống, Thất miên, Kinh quý, Huyễn vựng, Cốt trưng lao nhiệt,…[12]
Cơ thể phụ nữ mãn kinh trải qua rất nhiều các biến hóa bệnh lý mà chủ
yếu là tình trạng tinh hao huyết kiệt: tinh tiên thiên suy kiệt, thiên quý kiệt,
huyết hư dẫn tới tắt kinh, tinh huyết hư không nuôi dưỡng được tâm thần sinh
mất ngủ. Khi tinh tiên thiên đã suy kiệt thì không thể bổ trực tiếp vào phần
tinh mà phải thông qua bổ huyết để sinh tinh, tức là bổ vào phần hậu thiên.
Bài thuốc Hậu thiên lục vị phương được đề cập trong Hải thượng y tông tâm
lĩnh, có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết để bổ huyết, lại thêm tác dụng bổ khí
kiện tỳ, bổ thận âm, dưỡng tâm an thần [13] nên rất phù hợp để điều trị tình
trạng mất ngủ ở phụ nữ mãn kinh. Đây là một bài thuốc cổ phương, được Hải
Thượng Lãn Ông sử dụng và được ghi chép trong phần Hiệu phỏng tân
phương của Hải thượng y tông tâm lĩnh, tuy nhiên bài thuốc được sử dụng
chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và chưa được đánh giá tác dụng đầy đủ qua bất
cứ nghiên cứu nào trước đây.
Đề tài “Đánh giá tác dụng điều trị mất ngủ của bài thuốc Hậu thiên
lục vị phương ở phụ nữ mãn kinh” được tiến hành với hai mục tiêu:

1.

Đánh giá tác dụng điều trị mất ngủ của bài thuốc Hậu thiên lục vị
phương ở phụ nữ mãn kinh thể âm hư huyết thiếu.

2.

Theo dõi những tác dụng không mong muốn của bài thuốc trong
thời gian điều trị.


3

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. MÃN KINH VÀ MẤT NGỦ THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
1.1.1. Giai đoạn mãn kinh
Năm 2011, Hội thảo về phân chia giai đoạn tuổi sinh sản (Stages of
Reproductive Aging Workshop + 10 - STRAW + 10) được tổ
chức tại Utah, Mỹ đã thống nhất phân chia đời sống sinh sản của người phụ
nữ thành 3 giai đoạn: giai đoạn hoạt động sinh sản, giai đoạn chuyển tiếp
mãn kinh và giai đoạn sau mãn kinh (Hình 1.1). Thời kì tiền mãn kinh
(perimenopause) được đánh dấu từ thời điểm vòng kinh của người phụ nữ
bị rối loạn (thay đổi ≥ 7 ngày so với bình thường) và kéo dài cho tới 1 năm
sau kì kinh cuối cùng (Final mentrual period – FMP) (giai đoạn +1a); tiếp
theo đó là thời kì mãn kinh (giai đoạn +1b, +1c và 2) [14]. Thời kì mãn
kinh bao gồm 2 giai đoạn: giai đoạn sớm kéo dài từ 5 – 8 năm và giai đoạn
muộn kéo dài cho tới cuối đời [14].
Kì kinh đầu

Giai
đoạn

-5

Kì kinh cuối

-4

-3b

-3a

Hoạt động sinh sản
Thuật
ngữ

Sớ
m

Đỉnh

Muộn

-2

-1

+1a

+1b

Chuyển tiếp mãn kinh
Sớm

Muộn

Thay đổi

Thay đổi

1–3
năm

+2

Sau mãn kinh
Sớm

Tiền mãn kinh
Thời
gian

+1c

Muộn

Mãn kinh
2 năm
(1+1)

3–6
năm

Hình 1.1. Các giai đoạn hoạt động sinh sản của phụ nữ [14]

Tới cuối
đời


4

Phụ nữ vào khoảng 40 – 50 tuổi thì quá trình rụng trứng bị rối loạn và
chu kì kinh nguyệt sẽ không đều. Giai đoạn này kéo dài từ vài tháng tới vài
năm tới khi hormone sinh dục (đặc biệt là estrogen) giảm tới mức gần như
không có, kinh nguyệt chấm dứt hoàn toàn, gọi là mãn kinh (Hình 1.2).
Progesterone là một hormone sinh dục nữ được sản xuất chủ yếu tại hoàng thể
của buồng trứng ở nửa sau chu kì kinh nguyệt. Sau khi mãn kinh, buồng trứng
ngừng sản xuất progesterone, do đó lượng hormone này cũng giảm thấp.

Hình 1.2. Lượng Estrogen trong nước tiểu phụ nữ [4]
Khi nồng độ estrogen giảm xuống dưới một giá trị tới hạn thì lượng
estrogen này không đủ để tạo một feedback âm tính ức chế tuyến yên sản xuất
FSH và LH. Do vậy, lượng hormone hướng sinh dục ở phụ nữ tăng cao sau
giai đoạn mãn kinh (đặc biệt là FSH) (Hình 1.3) nhưng số nang trứng còn lại
không còn khả năng đáp ứng để sản xuất estrogen.

Hình 1.3. Tổng lượng hormone hướng sinh dục (FSH và LH) trong nước
tiểu ở nam và nữ theo tuổi [4]


5

Trong thời kì mãn kinh, cơ thể người phụ nữ phải thích nghi với việc
thiếu hụt nhiều loại hormone đặc biệt là estrogen và progesterone. Điều này
gây ra các biến đổi thể chất và làm rối loạn một số chức năng của cơ thể bao
gồm: bốc hỏa, mất ngủ, rối loạn cảm xúc, hay cáu gắt, mệt mỏi, căng thẳng, lo
lắng và giảm tạo xương… Những triệu chứng này gây ảnh hưởng khác nhau
đối với từng người tùy thuộc vào nhiều yếu tố như gia đình, xã hội, kinh tế,
tâm lý,… tuy nhiên có khoảng 15% phụ nữ trên thế giới bị tác động mạnh
trong thời kì này và cần thiết phải điều trị [1], [4].
1.1.1.1. Triệu chứng lâm sàng của thời kì mãn kinh.
- Tắt kinh: Mất kinh liên tục trong 12 tháng [14];
- Rối loạn vận mạch: bốc hỏa, vã mồ hôi;
- Triệu chứng tâm thần kinh: hồi hộp, mệt mỏi, khó chịu, mất ngủ, đau
đầu, giảm ham muốn khi quan hệ tình dục, hay lo lắng, cáu gắt, trầm cảm.
Triệu chứng mất ngủ gặp ở 39 – 47% phụ nữ trong thời kì tiền mãn kinh, và tỉ
lệ này là 35 – 60% ở thời kì mãn kinh [5];
- Triệu chứng sinh dục tiết niệu: âm đạo khô teo, đau khi giao hợp, dễ
viêm; hệ thống nâng giữ tử cung mất tính đàn hồi, sức căng nên dễ sa sinh
dục; tử cung teo nhỏ, nội mạc mỏng; niêm mạc đường tiết niệu mỏng, dễ
nhiễm khuẩn, tiểu buốt, tiểu rắt; thường són tiểu, tiểu không tự chủ khi ho, hắt
hơi hay thậm chí thở mạnh;
- Triệu chứng cơ xương khớp: thoái hóa khớp, loãng xương, biểu hiện
đau các khớp không có viêm [5], [14], [15].
1.1.1.2. Chẩn đoán
 Chẩn đoán xác định: chủ yếu dựa trên lâm sàng:
- Mãn kinh: Phụ nữ từ 40 tuổi trở lên đang hành kinh xuất hiện mất kinh
tự nhiên liên tục trong 12 tháng. Đối với phụ nữ dưới 40 tuổi tắt kinh, cần làm


6

thêm xét nghiệm để chẩn đoán: nồng độ FSH > 40 mIU/ml và/hoặc estradiol
< 50 pg/l [14], [15].
- Hội chứng mãn kinh: phụ nữ mãn kinh có một trong số 11 triệu chứng
theo thang điểm BLATT – KUPPERMAN (bao gồm: bốc hỏa, tâm tính bất
thường, mất ngủ, dễ bị kích động, lo âu, chóng mặt, hồi hộp, tính tình yếu
đuối, đau cơ xương khớp, cảm giác kiến bò ở da) [16].
 Chẩn đoán phân biệt: Vô kinh thứ phát với nguyên nhân thường do
bất thường tại vùng dưới đồi (78%), tuyến yên (2%), buồng trứng (8%), tử
cung (7%) [17].
1.1.1.3. Điều trị
Điều trị chủ yếu tập trung vào làm giảm các triệu chứng của quá trình
mãn kinh. Việc quyết định có điều trị hay không, điều trị theo phương pháp nào
và phác đồ điều trị ra sao vẫn còn rất nhiều bàn cãi, đặc biệt trong vấn đề sử
dụng hormone thay thế. Do đó trong việc quyết định phương án điều trị cho đối
tượng phụ nữ mãn kinh, người thầy thuốc cần phải cân nhắc giữa lợi ích và nguy
cơ đối với từng cá thể và có chiến lược chăm sóc, theo dõi phù hợp.
- Liệu pháp hormone thay thế (HRT): Đơn trị liệu estrogen hoặc kết hợp
giữa estrogen và progestin (progesteron) [15], [18], estrogen và bazedoxifene
[19]; hormone androgen khác như testosterone [20]
- Điều trị khác: bổ sung phytoestrogens (là các hợp chất không phải steroid
có tính chất estrogen có trong tự nhiên, gồm 3 loại chính là isoflavones,
coumestans, and lignans, có nhiều trong đậu nành, đậu lăng, hạt lanh, các loại
ngũ cốc, bí đao, nhân sâm), vitamine E, thay đổi lối sống, hành vi,… [21].
1.1.2. Mất ngủ theo y học hiện đại
Mất ngủ được định nghĩa là khó đi vào giấc ngủ, khó duy trì giấc ngủ
hoặc thức dậy quá sớm và không quay trở lại được giấc ngủ hoặc ngủ dậy có
cảm giác không ngon giấc [2], [22].


7

Mất ngủ là một trong những vấn đề sức khỏe chính tại Mĩ với khoảng 6
– 10% người trưởng thành mắc phải và gặp ở nữ nhiều hơn nam giới. Tình
trạng mất ngủ thường dẫn tới rối loạn về sức khỏe thể chất và tâm thần của
người bệnh: mệt mỏi, giảm khả năng làm việc, rối loạn tính tình, rối loạn lo
âu. Ước tính mỗi năm tại Mĩ, chi phí phải trả cho tình trạng mất ngủ khoảng
30 – 107 tỉ USD, và cho việc giảm năng suất lao động là 63,2 tỉ USD (vào
năm 2009) [23].
1.1.2.1. Triệu chứng lâm sàng
- Các triệu chứng ban đêm: Thời lượng giấc ngủ giảm, khó đi vào giấc
ngủ, hay tỉnh giấc vào ban đêm, thức dậy sớm vào buổi sáng.
- Các triệu chứng ban ngày: Mệt mỏi, đau đầu vào buổi sáng, kém tập
trung trong công việc, giảm trí nhớ
1.1.2.2. Chẩn đoán
Tiêu chuẩn chẩn đoán mất ngủ theo Bách khoa thư bệnh học [2]:
- Khó khăn khi vào giấc ngủ, khó duy trì giấc ngủ hoặc chất lượng
giấc ngủ kém;
- Rối loạn giấc ngủ xảy ra ít nhất là 3 lần 1 tuần và kéo dài ít nhất 1 tháng;
- Mất ngủ gây lo lắng và hậu quả của việc mất ngủ xảy ra cả đêm lẫn ngày;
- Mất ngủ kèm theo những khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày.
1.1.2.3. Điều trị
Mục tiêu của việc điều trị mất ngủ là nhằm cải thiện giấc ngủ và làm
giảm nhẹ các rối loạn thể chất, tâm thần gây ra do mất ngủ. Việc điều trị mất
ngủ chủ yếu là điều trị triệu chứng bao gồm: liệu pháp tâm lý, liệu pháp hóa
dược và phương pháp kết hợp.
Điều trị mất ngủ cần bao gồm: thiết lập một chế độ giấc ngủ hợp lý,
điều trị các bệnh có liên quan, sử dụng liệu pháp thay đổi hành vi nhận thức,


8

sử dụng các thuốc gây ngủ. Liệu pháp hành vi nên là lựa chọn đầu tiên, nếu
không có hiệu quả có thể kết hợp sử dụng thuốc gây ngủ trong khoảng 6 – 8
tuần, giảm liều từ từ và ngừng thuốc trong khi vẫn tiếp tục các phương pháp
không dùng thuốc [1].
a. Biện pháp không dùng thuốc
- Vệ sinh giấc ngủ: duy trì thời gian ngủ đều đặn (7 – 8 giờ/ngày) và
không cố nằm lâu trên giường; không đi ngủ quá sớm; không cưỡng ép việc
ngủ; không sử dụng cà phê, rượu hay thuốc lá gần thời gian ngủ; giải tỏa căng
thẳng trước khi ngủ; thay đổi môi trường phòng ngủ để dễ vào giấc; tập thể
dục thể thao đều đặn 20 – 30 phút/ngày; không ngủ ngày quá 30 phút, đặc biệt
sau 3 giờ chiều.
- Liệu pháp hành vi nhận thức: trao đổi với bệnh nhân xác định rõ yếu tố
nào là thuận lợi, khởi phát của mất ngủ, để từ đó giải quyết các suy nghĩ thích
nghi kém hoặc sự tin tưởng không đúng về mất ngủ.
- Liệu pháp kiểm soát kích thích: không đi ngủ cho đến khi đã buồn ngủ;
tránh các hoạt động kích thích và làm tăng tỉnh táo trước khi đi ngủ (xem
phim, đọc sách, ăn uống hay lo lắng); nếu không ngủ được trong vòng 20 phút
thì nên rời khỏi giường cố gắng thư giãn bằng việc nghe nhạc nhẹ, đọc sách
giải trí,… và ngủ lại khi đã buồn ngủ, và nếu vẫn không ngủ được trong vòng
20 phút thì lặp lại quá trình trên cho đến khi ngủ được.
- Rèn luyện thư giãn: Bệnh nhân nên thực hiện thư giãn cơ bắp hàng
ngày, tập các bài thư giãn vào buổi tối, không nên làm việc căng thẳng trong
khoảng 60 phút trước khi đi ngủ [22], [23].
b. Điều trị bằng thuốc
 Hệ thống thức – ngủ và cơ chế tác động của các thuốc gây ngủ
Chu kì thức – ngủ của con người được duy trì nhờ hai hệ thộng hoạt
động song song là hệ thống hoạt hóa thức và hệ thống ức chế thức. Hệ thống


9

hoạt hóa thức trong não bao gồm monoaminergic (norepinephrin, dopamine,
serotonin và histamin), glutamatergic và cholinergic sẽ hoạt hóa các tế bào
thần kinh vùng đồi thị (thalamus), vùng dưới đồi thị (hypothalamus) và vỏ
não. Tế bào orexin ở vùng dưới đồi (loại tế bào bị mất đi trong chứng ngủ rũ)
sẽ thúc đẩy và làm bền vững quá trình thức bằng cách hoạt hóa các phức hợp
khác của hệ thống thức. Hệ thống kích thích ngủ bao gồm các tế bào thần
kinh thuộc hệ GABAergic nằm ở vùng não giữa, hành não và bên cạnh vùng
dưới đồi có tác dụng ức chế các phức hợp của hệ thống thức nhờ đó gây ra
giấc ngủ. Các thuốc điều trị mất ngủ thường tác động thông qua hai cơ chế:
ngăn chặn các đường dẫn truyền của hệ thống thức hoặc làm tăng hiệu quả
của GABA được sản xuất trong hệ thống ngủ (Hình 1.4) [1].

Hình 1.4. Cơ chế tác động của thuốc gây ngủ lên hệ thống thức – ngủ [1]


10

 Hiện nay có các thuốc gây ngủ được sử dụng bao gồm:
- Nhóm Benzodiazepin (BZD): diazepam (Valium, Seduxen) 5 – 10mg/
ngày, dùng từ 1 – 12 tuần, triazolam 125 – 250 mg/ngày (điều trị mất ngủ đầu
giấc, trong thời gian ngắn), estazolam, temazepam, flurazepam, và quazepam
[24], [25].
- Nonbenzodiazepin (nonBZD) là nhóm thuốc gây ngủ thế hệ mới với cơ
chế chưa rõ ràng nhưng có thể tác động chọn lọc lên receptor GABA, bao
gồm zaleplon, zolpidem, eszopiclone là những thuốc có tác dụng nhanh, thời
gian bán thải ngắn [26].
- Các thuốc khác: chất chủ vận Melatonin đại diện là ramelteon, chất đối
vận receptor orexin (suvorexant), thuốc chống trầm cảm liều thấp
(amitriptyline, doxepine, nefazodone, sinequan, trazodone), thuốc chống loạn
thần, thuốc kháng histamin [23], [24], thuốc ngủ nhóm barbiturat (hiện không
còn được sử dụng với mục đích điều trị mất ngủ ở người lớn) [25].
 Một số phác đồ điều trị mất ngủ theo Bùi Quang Huy [22]:
- Phác đồ 1: amitriptylin 25 mg x 2 viên/tối
- Phác đồ 2: clomipramin 25 mg x 2 viên/tối
- Phác đồ 3: olanzapin 5 mg x 1 viên/tối
- Phác đồ 4: mirtazapin 30 mg x 0,5 viên/tối
- Phác đồ 5: amitriptylin 25 mg x 2 viên/ tối
kết hợp với olanzapin 5 mg x 1 viên/tối
- Phác đồ 6: sertralin 50 mg x 1 viên/tối
kết hợp với olanzapin 5 mg x 1 viên/tối.
Các phác đồ trên sử dụng tối thiểu 18 tháng đối với các bệnh nhân mất
ngủ mạn tính, đồng thời sử dụng kết hợp với các thuốc ngủ nhóm
benzodiazepine trong giai đoạn đầu với liều điều chỉnh theo đáp ứng.
 Một số tác dụng không mong muốn của thuốc gây ngủ: Nhiều
nghiên cứu đã chỉ ra các tác dụng không mong muốn của các thuốc gây ngủ
thuộc nhóm BZD và nonBZD, phổ biến nhất bao gồm: buồn ngủ ban ngày,
ngủ gật, chóng mặt, cảm giác lâng lâng, suy giảm nhận thức, rối loạn đồng


11

vận và phụ thuộc thuốc. Sử dụng dài ngày các loại thuốc này có thể gây
nghiện và mất ngủ có thể tái phát nếu dừng các thuốc gây ngủ tác dụng ngắn.
Các tác dụng phụ ít gặp hơn bao gồm các hành vi phức tạp liên quan đến giấc
ngủ (ví dụ đi bộ, lái xe, ăn uống, gọi điện, hoạt động tình dục… trong khi
ngủ), mất trí nhớ tạm thời, hành vi hung tính, và các phản ứng dị ứng nghiêm
trọng [6], [7], [8]. Eszopiclone, zolpidem và suvorexant có thể cải thiện các
rối loạn liên quan đến giấc ngủ trong thời gian ngắn nhưng không cho thấy
hiệu quả khi điều trị lâu dài. Liệu pháp hóa dược trong điều trị mất ngủ có thể
gây ra những thay đổi về nhận thức và hành vi có liên quan đến những tác hại
không thường xuyên nhưng nghiêm trọng [27].
Tháng 3 – 2016, Hiệp hội thầy thuốc Mĩ (American College of
Physicians) đã đưa ra khuyến cáo điều trị mất ngủ mạn tính ở người trưởng
thành, theo đó trị liệu hành vi – nhận thức là lựa chọn hàng đầu và có thể bổ
sung điều trị bằng thuốc nếu liệu pháp tâm lý không thành công trên cơ sở cân
nhắc giữa lợi ích, nguy cơ và giá thành điều trị. Các thuốc được Hiệp hội thuốc
và dược phẩm Mĩ (FDA) chấp thuận bao gồm: các BZD (triazolam, estazolam,
temazepam, flurazepam, và quazepam), thuốc ngủ nonBZD (như zolpidem,
eszopiclone, và zaleplon), thuốc đối vận receptor orexin (suvorexant), thuốc
đồng vận receptor melatonin (ramelteon), và doxepin [23].
1.1.3. Mất ngủ và giai đoạn mãn kinh theo y học hiện đại
Có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng phụ nữ bước vào giai đoạn mãn
kinh có tỉ lệ mất ngủ cao hơn ở phụ nữ trẻ tuổi và gặp nhiều vấn đề về giấc
ngủ hơn [28], [29], [30], [31]. Nhìn chung, một số yếu tố ảnh hưởng tới giấc
ngủ của phụ nữ thời kì mãn kinh có thể kể đến là [5], [29], [32]:
- Các triệu chứng rối loạn vận mạch bao gồm bốc hỏa và vã mồ hôi
thường xảy ra vào ban đêm, trong khi ngủ, đánh thức bệnh nhân;
- Nồng độ estrogen sụt giảm đột ngột gây ra một loạt các biến đổi ảnh
hưởng đến trạng thái tâm thần kinh, là yếu tố thuận lợi gây mất ngủ;


12

- Progesteron được chứng minh có tác dụng an thần và giải lo âu, sự sụt giảm
nồng độ hormone này trong giai đoạn mãn kinh cũng góp phần gây mất ngủ;
- Tuổi và tình trạng sức khỏe: các vấn đề sức khỏe phát sinh trong giai đoạn
này bao gồm: béo phì, bệnh tim mạch, các vấn đề về tiêu hóa, tiết niệu, nội tiết;
các vấn đề liên quan đến đau nhức mãn tính, vấn đề sử dụng thuốc kích thích,
rượu, thuốc lá, cafein, thuốc giãn phế quản, thuốc chống động kinh,…
- Lo âu và trầm cảm là những yếu tố liên quan đến các rối loạn giấc ngủ
và thường xuất hiện vào giai đoạn mãn kinh.
 Điều trị mất ngủ ở phụ nữ mãn kinh
Những nguyên nhân gây ra mất ngủ ở phụ nữ mãn kinh được chia thành 4
nhóm với phương pháp điều trị riêng [33]:
- Mất ngủ do mãn kinh: là mất ngủ gây ra bởi quá trình mãn kinh liên
quan đế sự thay đổi nội tiết tố, thường kèm theo các triệu chứng mãn kinh.
Điều trị: Liệu pháp hormone thay thế; các thuốc tái hấp thu chọn lọc
serotonin, các thuốc tái hấp thu chọn lọc serotonin và noradrenalin; clonidine;
gabapentin; chế độ ăn giàu isoflavone, các loại đậu; vệ sinh giấc ngủ; liệu
pháp thư giãn; liệu pháp hành vi nhận thức; liệu pháp kiểm soát kích thích.
- Mất ngủ nguyên phát: là tình trạng mất ngủ có nguyên nhân không rõ
ràng (mất ngủ tâm sinh lý). Điều trị: Vệ sinh giấc ngủ, liệu pháp thư giãn, liệu
pháp kiểm soát kích thích, liệu pháp hành vi nhận thức.
- Mất ngủ thứ phát: là mất ngủ có nguyên nhân là các rối loạn về thể
chất, tâm thần. Các rối loạn ảnh hưởng đến giấc ngủ ở giai đoạn này bao gồm:
hội chứng ngừng thở khi ngủ, hội chứng chân dao động, các bệnh lý
(Alzheimer, Parkinsons, ung thư, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mãn
tính, hội chứng trào ngược dạ dày thực quản, tăng huyết áp, đau thắt ngực,
suy tim, tiểu đêm, béo phì, suy giáp, các bệnh lý cơ xương khớp,…), các rối
loạn tâm thần (trầm cảm, lo âu), do tác dụng phụ của thuốc, do ảnh hưởng của
tuổi. Điều trị: Phát hiện và điều trị các bệnh lý gây ra mất ngủ


13

- Mất ngủ do yếu tố môi trường, tâm lý xã hội, nhận thức. Điều trị
cần tìm ra và thay đổi các yếu tố ảnh hưởng đến giấc ngủ [33].
1.2. MÃN KINH VÀ MẤT NGỦ THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
1.2.1. Giai đoạn mãn kinh
Mãn kinh là trạng thái người phụ nữ không còn kinh nguyệt khi bước
vào độ tuổi trung niên, gọi là “kinh tuyệt”. Mãn kinh là một biểu hiện của quá
trình lão suy. Kinh nguyệt vốn là huyết dư trào ra hàng tháng từ huyết hải
(mạch thái xung) do khí huyết dồi dào từ ngũ tạng theo 12 kinh dồn góp lại.
Khi ngũ tạng kém điều hòa, khí hư huyết thiếu, mạch xung, nhâm bị tổn thương
thì kinh nguyệt bị ảnh hưởng. Theo thiên “Thượng cổ thiên chân luận” sách Tố
vấn, phụ nữ từ 42 tuổi thận khí bắt đầu suy, kinh nguyệt rối loạn, ba kinh dương
ở phần trên cơ thể suy, da mặt nhăn, khô, tóc bắt đầu bạc,…và đến tuổi 49 thì
thận khí suy, thiên quý kiệt, nhâm mạch hư, thái xung mạch kém, địa đạo không
thông, mất kinh, thân thể gầy mòn, không thể có con,... [34].
Ở thời kì mãn kinh, tinh tiên thiên của người phụ nữ suy kiệt, thiên quý
hết, lại thêm chức năng của ngũ tạng suy giảm nên tinh huyết hậu thiên cũng
thiếu. Hậu quả của tình trạng trên là mất cân bằng âm dương, khí huyết kém
điều hòa, và rối loạn hai thuộc tính hàn nhiệt dẫn đến một loạt các biến hóa bệnh
lý trên cơ thể người phụ nữ biểu hiện bằng các triệu chứng mãn kinh. Mức độ
nặng nhẹ của những triệu chứng này trên từng cá nhân là khác nhau tùy vào điều
kiện sống, trạng thái tâm lý của từng người. Tình trạng trên có thể được mô tả
trong các chứng Hỏa vượng, Huyễn vựng, Đầu thống, Thất miên, Chứng tý, Hư
lao, Tâm căn suy nhược, Cốt trưng lao nhiệt,… của YHCT.
Phụ thuộc vào triệu chứng chính trên lâm sàng, mức độ, quá trình diến
biến bệnh mà có thể phân chia các rối loạn thời kì mãn kinh thành các thể [12]:
 Âm hư nội nhiệt:


14

- Triệu chứng: phụ nữ quanh thời kì mãn kinh xuất hiện đau lưng mỏi
gối, ù tai, huyễn vựng, đạo hãn, ngũ tâm phiền nhiệt, gò má đỏ, tiểu ngắn đỏ,
đại tiện táo, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
- Pháp điều trị: Dưỡng âm thanh nhiệt
- Phương dược: Lục vị địa hoàng hoàn gia giảm
 Âm hư huyết thiếu :
- Triệu chứng: phụ nữ quanh thời kì mãn kinh xuất hiện thắt lưng và các
khớp đau mỏi, đầu choáng, kiện vong, ù tai, điếc tai, răng lung lay, rụng sớm,
lưỡi nhợt, rêu mỏng, mạch tế nhược.
- Pháp điều trị: Tư thận, điền tinh, dưỡng huyết
- Phương dược: Tả quy hoàn gia giảm
 Âm hư can vượng:
- Triệu chứng: phụ nữ thời kì mãn kinh có đau lưng mỏi gối, đầu thống,
phiền táo, dễ cáu, đạo hãn, mắt khô, lưỡi đỏ, rêu mỏng, mạch huyền tế sác.
- Pháp điều trị: Tư thận dưỡng can, bình can tiềm dương
- Phương dược: Kỉ cúc địa hoàng hoàn gia vị
 Tâm thận bất giao:
- Triệu chứng: phụ nữ quanh thời kì mãn kinh xuất hiện đau lưng, mỏi
gối, chóng mặt, ù tai, đạo hãn, tâm quý, chính xung, tâm phiền không yên,
thất miên, đa mộng, nặng thì tình chí thất thường, đầu lưỡi đỏ, rêu mỏng,
mạch tế sác.
- Pháp điều trị: tư âm giáng hỏa, giao thông tâm thận
- Phương dược: Lục vị địa hoàng hoàn kết hợp Hoàng liên a giao thang
gia giảm
 Thận dương hư:
- Triệu chứng: phụ nữ quanh thời kì mãn kinh xuất hiện đau lạnh thắt
lưng, người lạnh, chân tay lạnh, tinh thần uể oải, tiều trong dài, tiểu đêm, mặt


15

mũi tay chân sưng phù, ăn kém, đại tiện nát, nặng có thể ngũ canh tiết tả, chất
lưỡi nhợt, rêu trắng mỏng, mạch trầm tế nhược.
- Pháp điều trị: Ôn thận phù dương
- Phương dược: Hữu quy hoàn gia giảm
 Thận âm thận dương đều hư:
- Triệu chứng: phụ nữ quanh thời kì mãn kinh xuất hiện chóng mặt, ù tai,
kiện vong, người lúc nóng lúc lạnh, tự hãn, sợ gió, eo lưng lạnh đau, lưỡi
nhợt, rêu mỏng, mạch trầm nhược.
- Pháp điều trị: Âm dương song bổ
- Phương dược: Nhị chí hoàn kết hợp Nhị tiên thang gia giảm.
1.2.2. Mất ngủ theo y học cổ truyền
Mất ngủ trong YHCT gọi là chứng “thất miên”, “bất mị”, “bất đắc miên”.
1.2.2.1. Triệu chứng và điều trị
Khi biện luận về mất ngủ, trước hết cần hiểu được là khó ngủ hoặc ngủ
mà không sâu hoặc khi ngủ dễ tỉnh giấc hoặc sau khi tỉnh dậy thì khó ngủ lại
hoặc suốt đêm không ngủ được, sau đó cần biện rõ hư thực. Chứng hư phần
nhiều thuộc âm huyết không đủ, trách ở tâm, tỳ, can, thận. Chứng thực phần
nhiều vì can uất hóa hỏa, thức ăn đình trệ, đờm trọc, vị phủ không hòa. Khi
chữa lấy bổ hư, tả thực, điều chỉnh âm dương làm nguyên tắc: hư thì nên bổ
vào chỗ suy, ích khí dưỡng huyết, tư bổ can thận; thực thì tả chỗ thừa, tiêu
đạo hòa trung, thanh hỏa hóa đàm. Chứng thực lâu ngày làm cho khí huyết
hao tổn, cũng có thể chuyển thành hư, hình thành hư thực xen lẫn, khi đó cách
chữa vừa bổ vừa tả [35], [36].
Tùy thuộc vào biểu hiện lâm sàng, YHCT phân mất ngủ thành các thể và
áp dụng phương pháp điều trị như sau [37]:
 Thể tâm tỳ lưỡng hư:


16

- Triệu chứng: mất ngủ, ngủ hay mơ nhiều, dễ tỉnh giấc, tâm quý, hay
quên, có thể kèm theo hoa mắt chóng mặt, người mệt mỏi, chân tay rã rời, ăn
uống không ngon miệng hoặc đầy bụng chán ăn; sắc mặt nhợt nhạt; chất lưỡi
nhợt, rêu trắng mỏng hoặc rêu nhờn dày; mạch tế nhược hoặc nhu hoạt.
- Pháp điều trị: Dưỡng tâm, kiện tỳ, an thần
- Phương dược: Quy tỳ thang
 Thể âm hư hỏa vượng:
- Triệu chứng: mất ngủ, tâm phiền, chóng mặt ù tai, hay quên, nhức mỏi
lưng, con trai bị mộng tinh, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng khô, chất lưỡi đỏ, ít
rêu hoặc không rêu, mạch tế sác.
- Pháp điều trị: Tư âm giáng hỏa, dưỡng tâm an thần
- Phương dược: Hoàng liên a giao thang
 Thể tâm đởm khí hư:
- Triệu chứng: Mất ngủ, khi ngủ dễ tỉnh giấc, hay sợ hãi, dễ bị giật mình,
tâm quý, khí đoản, nước tiểu trong dài; hoặc người mệt mỏi nhưng khó ngủ,
người gầy, sắc mặt nhợt; hoặc mất ngủ, tâm quý, hoa mắt chóng mặt, miệng
và họng khô, chất lưỡi nhợt, rêu trắng mỏng, hoặc chất lưỡi đỏ, mạch huyền
tế hoặc huyền nhược.
- Pháp điều trị: Ích khí trấn kinh, an thần định chí
- Phương dược: An thần định chí hoàn.
 Thể can uất hóa hỏa
- Triệu chứng: Mất ngủ, tính tình dễ cáu giận, nếu nặng bệnh nhân cả
đêm không ngủ được, tức ngực, đau tức vùng mạng sườn, miệng khát, thích
uống nước, chán ăn, miệng khô, đắng miệng, mắt đỏ, ù tai, nước tiểu vàng,
hoặc bệnh nhân hoa mắt chóng mặt, đau đầu dữ dội, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ,
rêu lưỡi vàng hoặc rêu vàng khô, mạch huyền sác hoặc huyền hoạt sác.
- Pháp điều trị: Thanh can tả nhiệt, an thần
- Phương dược: Long đởm tả can thang
 Thể đàm nhiệt nội nhiễu:
- Triệu chứng: Mất ngủ, nặng đầu, tức ngực, tâm phiền, có thể kèm buồn
nôn, nôn, ợ hơi, miệng đắng, hoa mắt chóng mặt hoặc đại tiện táo, cả đêm mất
ngủ, chất lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch hoạt sác.


17

- Pháp điều trị: Thanh nhiệt hóa đàm, hòa trung an thần
- Phương dược: Ôn đởm thang
1.2.3. Mất ngủ và giai đoạn mãn kinh theo y học cổ truyền
Giấc ngủ của con người chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố. Sự rối loạn
hoạt động của ngũ tạng đều gây ra mất ngủ: mất ngủ do tâm gọi là chính tà, do
can hư là hư tà, do vị thực là thực tà, nếu do thận hỏa là tặc tà, nếu do phế thực là
vi tà [38]. Các chứng trạng thường gặp trong thời kì mãn kinh bao gồm Hỏa
vượng, Thất miên, Đầu thống, Huyễn Vựng, Cốt trưng, Tý chứng,… có nguồn
gốc sâu xa là do thận suy, khí hư huyết thiếu, công năng của ngũ tạng suy giảm
(đặc biệt thận âm hư và huyết hư).
Chứng mất ngủ có nhiều nguyên nhân gây ra, nhưng chủ yếu là có liên
quan tới tâm, tỳ, can, thận và âm huyết không đủ, và đều là vì âm suy, dương
thinh, âm dương không giao nhau. Huyết được hóa sinh từ tinh vi từ thủy cốc,
lên nuôi dưỡng cho tâm thì tâm được sung túc, đến tàng ở can thì can được
nhu hòa; huyết hóa sinh ra tinh, tinh tàng chứa ở thận, thận tinh liên tiếp với
tâm, tâm hỏa giao xuống ở thận thì thần chí được yên [35]. Bản chất của kinh
tuyệt phần nhiều do thận âm hư, tinh tiên thiên suy kiệt, thiên quý cạn, tinh
huyết hư do đó tất yếu sẽ có ảnh hưởng tới tâm thần, gây mất ngủ, mà chủ yếu
là tình trạng âm hư hỏa vượng, hoặc tâm tỳ hư.
Cơ chế bệnh sinh chính của thời kì mãn kinh là do thận tinh hư tổn, âm
huyết hư dẫn tới một loạt các biến hóa bệnh lý đều ảnh hưởng tới giấc ngủ. Khi
điều trị bệnh lý mất ngủ ở phụ nữ mãn kinh cần phải áp dụng pháp trị cả tiêu lẫn
bản: lấy bổ huyết sinh tinh làm căn bản để điều trị rối loạn thời kì mãn kinh;
đồng thời sử dụng các vị thuốc có tác dụng an thần để điều trị triệu chứng.


18

1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MẤT NGỦ Ở PHỤ NỮ MÃN KINH
1.3.1. Trên thế giới
Về mức độ phổ biến của mất ngủ trong giai đoạn mãn kinh, trên thế
giới đã có nhiều nghiên cứu:
- Năm 2005, một nghiên cứu trên đối tượng phụ nữ trung niên (tuổi từ 43
đến 53, bao gồm phụ nữ trước và trong giai đoạn mãn kinh) chỉ ra rằng nhóm
phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh gặp vấn đề về giấc ngủ nhiều hơn [28];
- Một nghiên cứu khác do Kalleinen và cộng sự tiến hành năm 2008 trên
21 phụ nữ tiền mãn kinh, 29 phụ nữ đã mãn kinh và 11 phụ nữ trẻ cho thấy có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về giấc ngủ chủ quan giữa nhóm phụ nữ trẻ
và nhóm phụ nữ đang trong quá trình mãn kinh [39];
- Năm 2012, Blumel và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên 6079 phụ nữ
trung niên tuổi từ 40 đến 59 ở 11 nước Mỹ Latin cho kết quả 56,6% số phụ nữ
này có bị mất ngủ hoặc giảm chất lượng giấc ngủ, hoặc cả hai. Đặc biệt, mức độ
phổ biến của triệu chứng mất ngủ, cũng như sự giảm chất lượng giấc ngủ tăng
lên theo tuổi và theo giai đoạn mãn kinh; các triệu chứng do rối loạn vận mạch,
trạng thái trầm cảm và lo âu cũng liên quan tới các rối loạn giấc ngủ [30].
Về vấn đề điều trị, nhiều phương pháp đã được nghiên cứu:
- Năm 2006, Anfonso và cộng sự đã báo cáo kết quả của một thử nghiệm
lâm sàng về tác dụng của phương pháp yoga làm giảm tỉ lệ mất ngủ ở phụ nữ
mãn kinh [40];
- Hoặc thử nghiệm lâm sàng trên 410 phụ nữ tuổi từ 40 – 60 của Soares
và cộng sự cho thấy Eszopiclone có tác dụng điều trị mất ngủ ở phụ nữ mãn
kinh, làm tăng thời lượng giấc ngủ cũng như giảm các triệu chứng mãn kinh,
làm tăng chất lượng cuộc sống [41];


19

- Năm 2009, Teurachi và cộng sự nghiên cứu trên 1451 phụ nữ mãn kinh
và tiền mãn kinh Nhật Bản bị mất ngủ cho thấy liệu pháp hormone thay thế và
thuốc gây ngủ đều có hiệu quả điều trị rõ rệt [42];
- Năm 2011, Kung và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên 45 phụ nữ
Đài Loan mãn kinh và nhận thấy phương pháp nhĩ châm có hiệu quả cải thiện
rõ rệt chất lượng giấc ngủ theo thang điểm PSQI [43];
- Năm 2011, tại Đài Loan, Chia-Hao Yeh cùng cộng sự đã tiến hành
nghiên cứu trên 67 phụ nữ trong thời kì mãn kinh và tiền mãn kinh đánh giá
tác dụng của bài thuốc Toan táo nhân thang điều trị tình trạng mất ngủ ở đối
tượng này và cho thấy thuốc an toàn, có hiệu quả cải thiện thời lượng giấc
ngủ cũng như các rối loạn ban ngày [44].
Để đánh giá lợi ích và nguy cơ của liệu pháp hormone thay thế đối với
phụ nữ mãn kinh có rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành:
- Một thử nghiệm lâm sàng của Tổ chức hành động vì sức khỏe phụ nữ
(WHI - Women's Health Initiative) đã được tiến hành trên 16608 phụ nữ mãn
kinh khỏe mạnh độ tuổi từ 50 – 79 tại 40 trung tâm y tế trên toàn nước Mĩ với
thời gian theo dõi trung bình là 5,2 năm. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng
viên uống kết hợp estrogen và progestin làm tăng nguy cơ các biến cố mạch
vành, đột quỵ, huyết khối tĩnh mạch và đặc biệt là ung thư vú [9]. Kết quả
trên kết hợp với một số bằng chứng khác khuyến cáo rằng liệu pháp hormone
ngắn hạn có thể được sử dụng để điều trị các triệu chứng vận mạch từ trung
bình đến nặng ở phụ nữ khỏe mạnh ngay sau khi mãn kinh, nhưng không phù
hợp để điều trị dài hạn các bệnh lý tim mạch [10];
- Một phân tích gộp trên 23 thử nghiệm lâm sàng trước năm 2012 cho
thấy viêc sử dụng kéo dài liệu pháp estrogen phối hợp làm tăng đáng kể nguy
cơ mắc các biến cố tim mạch, huyết khối tĩnh mạch, đột quỵ, ung thư vú, tử


20

vong do ung thư phổi, sa sút trí tuệ. Trong khi đó liệu pháp estrogen đơn trị
làm tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch, đột quỵ và bệnh túi mật. Lợi ích lâm
sàng rõ ràng nhất của liệu pháp hormone là làm giảm các triệu chứng mãn
kinh và giảm nguy cơ gãy xương [11].
1.3.2. Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, có nhiều nghiên cứu về mất ngủ và phụ nữ tiền mãn
kinh, mãn kinh. Tuy nhiên lại chưa có nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu về
tình trạng mất ngủ ở phụ nữ mãn kinh. Nghiên cứu về các rối loạn trong thời
kì mãn kinh có thể kể đến như:
- Nghiên cứu của Phạm Thị Minh Đức về Thực trạng sức khỏe sinh sản
của phụ nữ Việt Nam tuổi mãn kinh và đề xuất các giải pháp can thiệp nhằm
nâng cao chất lượng cuộc sống của phụ nữ ở lứa tuổi này ở bảy vùng trong cả
nước cho thấy có 11 triệu chứng cơ năng trong thời kì tiền mãn kinh: đau đầu,
hay cáu gắt, cơn bừng nóng, cảm giác buồn bực, hay quên, mất ngủ, hay hồi
hộp, tê buồn chân tay, buồn ngủ ban ngày, cảm giác buồn chán và tê lạnh sống
lưng và bàn tay, bàn chân. Các biểu hiện của thời kì mãn kinh hay gặp nhất là
đau mỏi lưng (80,7%), hay quên (69,6%), thay đổi cân nặng (69,9%), mất ngủ
ban đêm (57,5%), hay hồi hộp (52, 9%), cơn bừng nóng (44,5%). Các biểu hiện
khác có tỉ lệ thấp hơn, thời gian kéo dài triệu chứng là từ 1 – 5 năm [45];
- Một điều tra dịch tễ học của Nguyễn Thị Ngọc Phượng và cộng sự trên
đối tượng phụ nữ mãn kinh vào các năm 1998, 2003, 2006 cho thấy các triệu
chứng cơ xương khớp chiếm tỉ lệ cao nhất (67%), rối loạn vận mạch chiếm
40%, rối loạn về tiết niệu, sinh dục chiếm 30 – 35% [46], [47].
Về vấn đề điều trị, một số nghiên cứu tập trung vào điều trị hội
chứng mãn kinh, và cũng có nghiên cứu đánh giá phương pháp điều trị
mất ngủ:


21

- Từ năm 1994, Trần Đức Thọ đã bước đầu áp dụng điều trị thay thế
bằng Estrogen và Progesteron ở phụ nữ rối loạn tiền mãn kinh và mãn kinh.
Nghiên cứu trên cho kết quả: sau điều trị các triệu chứng như bốc hỏa, chóng
mặt giảm 100%, nhức đầu giảm 78,5%, dấu hiệu chuột rút giảm 82,14%, tê
tay chân giảm 80,76%, đau cột sống giảm 43,75% [48];
- Năm 2002, Lê Thị Hương Giang đánh giá hiệu quả lâm sàng điều trị
mất ngủ không thực tổn (thể tâm tỳ hư) bằng điện châm cho thấy có sự cải
thiện rõ rệt các chỉ số chất lượng, thời lượng giấc ngủ, giảm thời gian vào
giấc, tang hiệu suất giấc ngủ cũng như giảm các rối loạn đi kèm [49];
- Năm 2003, nghiên cứu của Đỗ Văn Bách đánh giá tác dụng điều trị của
viên Tiêu dao đan chi trong điều trị hội chứng mãn kinh trên 37 bệnh nhân
mãn kinh đạt kết quả khá và tốt là 75,6% [50];
- Năm 2005, Nguyễn Hồng Siêm đánh giá tác dụng của viên nang Lục vị
phối hợp với viên nang Tiêu dao đan chi điều trị hội chứng mãn kinh trên 88
bệnh nhân cho thấy 96,71% bệnh nhân có hiệu quả, cụ thể loại tốt đạt
61,51%, loại khá 35,2%, loại trung bình 3,29%, không có loại kém [51].
1.4. BÀI THUỐC HẬU THIÊN LỤC VỊ PHƯƠNG
- Xuất xứ: Hải thượng y tông tâm lĩnh (phần Hiệu phỏng tân phương).
- Tác giả: Hải thượng lãn ông – Lê Hữu Trác


22

1.4.1. Thành phần, tác dụng, ứng dụng điều trị

 Thành phần
Vị thuốc

Vai trò

Thục địa
Đương quy
Nhân sâm

Quân
Thần

(Đảng sâm) *
Đan sâm
Viễn chí
Táo nhân


Sứ

Liều lượng

Liều lượng

(lạng)
1 lạng
5 đồng
3 đồng

(g)
35g
18 g
12

2 đồng
1 đồng
1 đồng

(24g)
08
04
04

Lưu ý

Rửa rượu
Chế với cam thảo
Sao đen

(*) Đảng sâm có tác dụng tương tự như nhân sâm nhưng kém hơn, có
thể dùng thay thế nhân sâm với liều gấp đôi [52].
Cách dùng: Tất cả cộng thêm sinh khương, đại táo làm thang sắc uống
lúc còn hơi ấm.
 Tác dụng: bổ huyết, dưỡng âm tinh, an thần.
 Chủ trị: Âm huyết của hậu thiên suy nhược, hình thể gầy, da khô, sắc
mặt úa vàng, lông tóc khô, tính nóng hay giận, nóng hâm hấp hoặc về chiều
nóng sốt, không ngủ, đổ mồ hôi trộm, vật vã rối loạn, hoặc sau khi bị các
chứng xuất huyết gây ra bệnh. Phàm các chứng khô ráo tiều tụy đều chữa
được cả.
 Phân tích bài thuốc: Thục địa làm Quân, có công năng bổ huyết rất
mạnh. Đương quy làm Thần vừa bổ vừa nhuận, vừa ích tâm sinh huyết. Nhân
sâm (đảng sâm) và đan sâm làm Tá: một vị có tác dụng ích khí nuôi âm, có
tác dụng như thang tứ vật; một vị là huyết dược trong khí, làm cho cái vô hình
sinh ra cái hữu hình. Dùng táo nhân, viễn chí, đại táo làm sứ có thể làm ấm
phần âm, tư nhuận phần huyết và bổ tâm ích tinh [13].


23

1.4.2. Đặc tính các vị thuốc
1.4.2.1. Thục địa

Hình 1.5. Thục địa (Radix Rehmanniae glutinosae praeparata )
- Tên khoa học: Radix Rehmanniae glutinosae praeparata.
- Bộ phận dùng: Rễ củ đã chế biến của cây Địa hoàng (Rehmannia
glutinosa (Gaertn.) Libosch.), họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae).
- Tính vị quy kinh: Cam, vi ôn. Vào các kinh can, thận, tâm.
- Công năng: Tư âm, bổ huyết, ích tinh, tuỷ.
- Chủ trị: Can, thận âm hư, thắt lưng đầu gối mỏi yếu, cốt chưng,
triều nhiệt, mồ hôi trộm, di tinh, âm hư ho suyễn, háo khát. Huyết hư, đánh
trống ngực hồi hộp, kinh nguyệt không đều, rong huyết, chóng mặt ù tai,
mắt mờ, táo bón.
- Tác dụng dược lý: catalpol có tác dụng hạ đường huyết, lợi niệu và
nhuận tràng [53]; hàm lượng catalpol của thục địa thấp hơn sinh địa [54]. Địa
hoàng có tác dụng an thần và lợi tiểu trong thử nghiệm động vật, tác dụng
chống oxy hóa trong ống nghiệm [54]. Nghiên cứu mới cho thấy thục địa có
tác dụng trợ tim, lợi tiểu, tác dụng điều trị bệnh huyết áp thấp và đái tháo
đường [52].
- Liều lượng: 8 – 16g/ngày. Có thể dùng tới 30g [52], [55].


24

1.4.2.2. Đương quy

Hình 1.6. Đương quy (Radix Angelicae sinensis)
- Tên khoa học: Radix Angelicae sinensis.
- Bộ phận dùng: Rễ đã phơi hay sấy khô của cây Đương quy (Angelica
sinensis (Oliv.) Diels.), họ Hoa tán (Apiaceae).
- Tính vị quy kinh: Cam, tân, ôn. Vào các kinh can, tâm, tỳ.
- Công năng: Bổ huyết, hoạt huyết, điều kinh, giảm đau, nhuận tràng;
Toàn Quy: Hoà huyết (vừa bổ huyết vừa hoạt huyết).
- Chủ trị: Huyết hư, chóng mặt. Kinh nguyệt không đều, bế kinh, đau
bụng kinh, táo bón do huyết hư. Phong thấp tê đau, sưng đau do sang chấn.
- Tác dụng dược lý: Thành phần tinh dầu của đương quy gây ức chế,
giảm co bóp tử cung, trong khi dịch chiết (không có tinh dầu) có tác dụng
kích thích tử cung, tăng co bóp cơ tử cung. Dịch chiết nước có tác dụng trên
tim mạch: ức chế tim cô lập, tăng lưu lượng vành, giảm tiêu thụ oxy cơ tim,
giảm huyết áp, chống tạo huyết khối, ngăn chặn xơ vữa mạch, có hoạt tính
chống loạn nhịp; tăng khả năng thực bào, tăng cường miễn dịch không đặc
hiệu, tăng sản sinh kháng thể, hoạt hóa tế bào lympho B và T [52], [54].
Đương quy có tác dụng gây trấn tĩnh, kéo dài thời gian ngủ gây bởi thuốc
ngủ, giảm đau, giảm đông máu, giảm nhiệt, chống viêm [54].
- Liều lượng: 6 – 12g [52],[55], [54].


25

1.4.2.3. Đảng sâm

Hình 1.7. Đảng sâm (Radix Codonopsis pilosulae)
- Tên khoa học: Radix Codonopsis pilosulae.
- Bộ phận dùng: Dược liệu là rễ phơi khô của cây Đảng sâm
(Codonopsis pilosulae (Franch.) Nannf.), họ Hoa chuông Campanulaceae.
- Tính vị quy kinh: Cam bình. Vào kinh tỳ , phế.
- Công năng: Bổ trung ích khí, kiện tỳ ích phế.
- Chủ trị: tỳ phế hư nhược, thở dồn, tim đập mạnh, ăn yếu, phân lỏng,
ho suyễn, hư tính, nội nhiệt, tiêu khát (đái tháo đường).
- Tác dụng dược lý: tác dụng gây phát triển nội mạc tử cung kiểu
progesteron mức độ nhẹ, tăng trương lực cổ tử cung trên động vật thực
nghiệm; tác dụng làm tăng chức năng của tủy xương sản sinh các tế bào miễn
dịch và dưỡng bào do đó điều hòa và làm giảm hội chứng suy giảm miễn dịch
ở chuột thực nghiệm; tác dụng gây tăng hồng cầu, giảm bạch cầu, hạ huyết áp
do giãn mạch ngoại vi đồng thời ức chế tác dụng gây tăng huyết áp của
adrenalin trên động vật thực nghiệm [54]. Ngoài ra đảng sâm có tác dụng làm
tăng khả năng chịu đựng của động vật trước sự thay đổi của nhiệt độ; tác dụng
làm lành vết loét dạ dày, điều hòa hoạt động đường tiêu hóa; tác dụng làm
giãn mạch ngoại biên, tăng cường tuần hoàn máu não, chi dưới và nội tạng,
bảo vệ cơ tim bị viêm. Dịch chiết đảng sâm ức chế rõ rệt và giải ngưng kết
tiểu cầu nên có tác dụng phòng và điều trị bệnh mạch vành, phòng ngừa đông


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×