Tải bản đầy đủ

XÂY DỰNG CHỈ số BOLTON CHO NGƯỜI VIỆT

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

LƯU PHƯỚC HẢI

XÂY DỰNG CHỈ SỐ BOLTON
CHO NGƯỜI VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

HÀ NỘI – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI


LƯU PHƯỚC HẢI

XÂY DỰNG CHỈ SỐ BOLTON
CHO NGƯỜI VIỆT
Chuyên ngành: Răng Hàm Mặt
Mã số: 60720601

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Tống Minh Sơn
2.TS. Nguyễn Đình Phúc

HÀ NỘI – 2017


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân
thành và sâu sắc tới:
PGS.TS Tống Minh Sơn và TS Nguyễn Đình Phúc – những người thầy
đã luôn tận tình dành nhiều thời gian hướng dẫn chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
PGS.TS Võ Trương Như Ngọc – người thầy đã cùng chúng tôi đồng
hành trên khắp các nẻo đường làm đề tài. Sự tận tâm, nhiệt huyết, gần gũi và
quan tâm của thầy đã động viên chúng tôi rất nhiều.
Ban giám hiệu, Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Y Hà Nội; Ban lãnh
đạo, Phòng Đào tạo và QLKH, Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt đã giúp đỡ và
tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để tôi có thể hoàn
thành luận văn này.
Các cô chú, anh chị em ở Bộ môn khoa Răng miệng – Bệnh viện quân y
103 đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi được học tập và nghiên cứu.
Các bạn lớp Cao học Răng hàm mặt khóa 24 và 25, các anh chị Nghiên
cứu sinh Răng hàm mặt khóa 35 và các anh chị chuyên khoa 2 Răng hàm mặt
khóa 30 đã giúp đỡ tôi rất nhiều khi làm đề tài.
Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến bố mẹ kính yêu,
vợ và các con cũng như người thân đã luôn động viên, ủng hộ và dõi theo
từng bước trên con đường sự nghiệp của tôi.
Hà Nội, ngày 8 tháng 10 năm 2017

Lưu Phước Hải


LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Lưu Phước Hải, học viên lớp Cao học khoá 24, chuyên ngành
Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Hà Nội, xin cam đoan:
1.

Đây là công trình nghiên cứu do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới

2.

sự hướng dẫn của PGS.TS Tống Minh Sơn và TS Nguyễn Đình Phúc.
Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã

3.

được công bố tại Việt Nam.
Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác,
trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở
nơi nghiên cứu.

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Hà Nội, ngày 8 tháng 10 năm 2017
Người viết cam đoan

Lưu Phước Hải


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AR (Anterior ratio)

: Chỉ số nhóm các răng trước

OR (Overall ratio)

: Chỉ số toàn bộ cung răng

HT

: Hàm trên

HD

: Hàm dưới

KTGX

: Kích thước gần xa

R

: Răng

Min

: Giá trị nhỏ nhất

Max

: Giá trị lớn nhất

M

: Trung bình

SD (Standard deviation) : Độ lệch chuẩn


MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục chữ viết tắt
Mục lục
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
Danh mục hình và đồ thị

PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG


DANH MỤC BIỂU ĐỒ


DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC ĐỒ THỊ


10

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, tình trạng lệch lạc khớp cắn là vấn đề thường gặp trong cộng
đồng. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, một trong số những
nguyên nhân đó là do sự bất cân xứng kích thước gần-xa của các răng giữa hai
hàm, gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới chức năng, thẩm mỹ bộ răng và khuôn
mặt của con người [1],[2]. Chính vì thế, trên thế giới đã có rất nhiều tác giả
nghiên cứu về mối tương quan kích thước gần-xa của các răng giữa hai hàm.
Điển hình có phân tích của Bolton năm 1958 [3], ông đã phân tích mẫu hàm của
55 người có khớp cắn lý tưởng, từ đó đưa ra 2 chỉ số: chỉ số nhóm các răng trước
và chỉ số toàn bộ cung răng. Trong đó chỉ số nhóm các răng trước dựa trên tỷ lệ
tổng kích thước gần-xa của 6 răng trước hàm dưới (R3-R3) so với tổng kích
thước gần-xa của 6 răng trước hàm trên (R3-R3). Còn chỉ số toàn bộ cung răng
dựa trên tỷ lệ tổng kích thước gần-xa của 12 răng hàm dưới (R6-R6) so với tổng
kích thước gần-xa của 12 răng hàm trên (R6-R6). Đây được coi là phương pháp
dễ làm, phổ biến nhất được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới áp dụng trong
việc xác định bất thường kích thước răng giữa hai hàm [4],[5],[6],[7].
Tuy nhiên, một số các nghiên cứu chỉ ra rằng phân tích của Bolton áp
dụng cho những dân số, chủng tộc khác nhau cho kết quả không giống với giá
trị trung bình của Bolton [8],[9],[10],[11]. Từ đó làm dấy lên những nghi ngờ
về việc áp dụng chung các giá trị được đề nghị bởi Bolton cho bộ răng hài hòa
vì các nhóm dân tộc khác nhau có thể có chỉ số Bolton khác nhau.
Ở Việt Nam, việc điều trị chỉnh hình vẫn dựa trên giá trị của người nước
ngoài để phát hiện bất thường kích thước gần-xa răng giữa hai hàm và cũng
đã có một số tác giả Nguyễn Thị Phòng [12], Hoàng Minh Huy [13] và
Nguyễn Thị Hải Yến [14] nghiên cứu về chỉ số Bolton. Mặc dù vậy, những
nghiên cứu về chỉ số này ở Việt Nam vẫn còn ít. Vậy câu hỏi được đặt ra là:


11

chỉ số Bolton cho người Việt thực ra là bao nhiêu? Có sự khác biệt chỉ số này
giữa nam và nữ hay không? Giá trị của Bolton có áp dụng được cho người
Việt hay không?
Hiện tại, ở Viện đào tạo Răng Hàm Mặt, Trường Đại Học Y Hà Nội đang
triển khai đề tài cấp Nhà nước về “Nghiên cứu đặc điểm nhân trắc đầu mặt ở
người Việt Nam để ứng dụng trong y học”, trong đó có chỉ số Bolton. Vì thế với
mong muốn góp phần tìm hiểu việc sử dụng phân tích Bolton và xây dựng các
giá trị phù hợp với người Việt nói chung cũng như các dân tộc sinh sống trên
lãnh thổ Việt Nam nói riêng, chúng tôi tiến hành đề tài: “Xây dựng chỉ số
Bolton cho người Việt” nhằm 2 mục tiêu:
1.

Xây dựng chỉ số Bolton cho nhóm răng trước của người Việt trưởng

2.

thành độ tuổi 18-25 năm 2016-2017.
Xây dựng chỉ số Bolton toàn bộ ở nhóm đối tượng nghiên cứu trên.


12

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Khớp cắn bình thường
1.1.1. Khớp cắn bình thường theo Angle
Phân loại khớp cắn của Edward H. Angle năm 1899 là một mốc quan
trọng trong sự phát triển của chỉnh nha nói riêng và răng hàm mặt nói chung.
Đây là cách phân loại có tính hữu dụng đầu tiên và ngày nay vẫn được
ứng dụng nhiều.
Nó không chỉ phân loại sai khớp cắn quan trọng, mà còn định nghĩa đơn
giản và rõ ràng về khớp cắn bình thường của hàm răng thật [15],[16].
Theo Angle, răng 6 hàm trên là “chìa khóa khớp cắn”, bởi vì:
- Là răng vĩnh viễn mọc sớm nhất
- Là răng vĩnh viễn to nhất của cung hàm trên
- Có vị trí tương đối ổn định so với nền sọ
- Khi mọc không bị chân răng sữa cản trở
- Được hướng dẫn mọc bởi hệ răng sữa.
Phân loại khớp cắn theo Angle dựa trên cơ sở: đánh giá tương quan
trước-sau của của răng 6 hàm trên và răng 6 hàm dưới khi hai hàm cắn khít và
sự sắp xếp của các răng liên quan tới đường cắn khớp.
Trong đó, đường cắn khớp hàm trên là đường cong liên tục đi qua hố
trung tâm của mỗi răng hàm và ngang qua gót răng của răng nanh, răng cửa.
Còn đường cắn khớp hàm dưới là đường cong liên tục đi qua các núm ngoài
răng hàm và rìa cắn răng cửa.


13

Hình 1.1. Đường cắn khớp [16]
Từ đó, Angle chỉ ra:


Khớp cắn bình thường:
Là khớp cắn có núm ngoài gần của răng 6 hàm trên khớp với rãnh ngoài

gần của răng 6 hàm dưới và các răng trên cung hàm sắp xếp theo một đường
cắn khớp đều đặn, là một đường cong đối xứng, đều đặn và liên tục. Khi hai
hàm cắn khít với nhau, đường cắn khớp hàm trên và hàm dưới trùng khớp
nhau.

Hình 1.2. Khớp cắn bình thường [16]


14

1.1.2. Khớp cắn bình thường theo Andrews
Năm 1972, Andrews [17] đưa ra sáu đặc trưng quan trọng của khớp cắn
bình thường, là bước ngoặt của chỉnh nha hiện đại. Nghiên cứu của Andrews
quan sát 120 mẫu hàm có khớp cắn bình thường, lựa chọn theo tiêu chuẩn:
- Chưa qua điều trị chỉnh hình.
- Các răng mọc đều đặn và thẩm mỹ.
- Khớp cắn có vẻ đúng.
- Có thể không cần đến điều trị chỉnh hình sau này.
Nghiên cứu cho thấy các mẫu hàm có chung sáu đặc trưng khớp cắn.
 Đặc tính I: Tương quan ở vùng răng hàm.
Gờ bên xa của múi ngoài xa của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm
trên tiếp xúc với gờ bên gần của múi ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn
thứ hai hàm dưới.
Múi ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp với
rãnh ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới.
Múi trong gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp với trũng
giữa của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới.
 Đặc tính II: Độ nghiêng gần-xa của thân răng.
Độ nghiêng gần-xa của thân răng là góc tạo bởi đường thẳng vuông góc
với mặt phẳng nhai và trục thân răng. Góc độ (+) khi phần lợi của trục răng ở
về phía xa so với phần bờ cắn hay mặt nhai. Ngược lại là góc độ (-).
Bình thường, các răng có góc độ (+) và độ nghiêng này thay đổi theo từng răng.
 Đặc tính III: Độ nghiêng trong-ngoài của thân răng.
Độ nghiêng trong-ngoài của thân răng là góc tạo bởi đường thẳng vuông
góc với mặt phẳng nhai và đường tiếp tuyến với điểm giữa mặt ngoài thân
răng. Góc độ (+) khi phần phía lợi của đường tiếp tuyến ở về phía trong so với
phần bờ cắn hay mặt nhai. Ngược lại là góc độ (-).


15

Độ nghiêng ngoài-trong của thân răng cửa trên và dưới tương quan nhau và
ảnh hưởng đáng kể đến độ cắn phủ và khớp cắn của các răng sau.
Các răng sau hàm trên (từ răng nanh đến răng hàm lớn thứ hai) có phần bờ
cắn hay mặt nhai ở về phía trong so với phần lợi của thân răng.
Ở hàm trên, góc độ (-) không thay đổi từ răng nanh đến răng hàm nhỏ thứ
hai và tăng nhẹ ở răng hàm lớn thứ nhất và thứ hai. Đối với răng hàm dưới, góc
độ (-) tăng dần từ răng nanh đến răng hàm lớn thứ hai.
 Đặc tính IV: Không có răng xoay.
Không có răng xoay hiện diện trên cung răng. Vì nếu có, chúng sẽ
chiếm chỗ nhiều hoặc ít hơn răng bình thường.
 Đặc tính V: Không có khe hở giữa các răng.
Các răng phải tiếp xúc chặt chẽ với nhau ở phía gần và xa của mỗi răng
trừ các răng hàm lớn thứ ba chỉ tiếp xúc ở phía gần.
Có khe hở trên cung răng thường do bất hài hòa kích thước răng-hàm.
 Đặc tính VI: Đường cong Spee phẳng hay cong ít.
Đường cong Spee là đường cong lõm lên trên, đi từ đỉnh múi răng nanh
qua các đỉnh múi ngoài răng sau hàm dưới.
Khớp cắn bình thường có đường cong Spee không sâu quá 1,5mm.
Đường cong Spee sâu quá sẽ gây thiếu chỗ cho răng hàm trên.
Đường cong Spee lý tưởng theo Andrews là phẳng hoặc gần phẳng.
1.1.3. Tương quan giữa các răng trong một khớp cắn bình thường
 Tương quan giữa các răng trong một hàm [18]
Chiều trước-sau: tất cả các răng đều tiếp xúc nhau ở cả mặt gần và xa,
ngoại trừ răng khôn chỉ có một điểm tiếp xúc phía gần
Độ nghiêng ngoài-trong của răng:
- Trục ngoài-trong của răng (nhìn từ phía trước, theo mặt phẳng trán):
• Hàm trên: các răng sau hơi nghiêng về phía ngoài (phía má).
• Hàm dưới: các răng sau hơi nghiêng về phía trong (phía lưỡi).


16

- Đường cong Wilson: là đường cong lõm hướng lên trên, đi qua đỉnh
múi ngoài và trong của các răng sau hàm dưới.
Độ nghiêng gần-xa của răng:
- Trục gần xa của răng (nhìn từ phía bên, theo chiều trước sau):
• Hàm trên: các răng trước nghiêng gần, các răng sau nghiêng xa.
• Hàm dưới: các răng trước và răng sau đều nghiêng về phía gần.
Các răng hàm lớn thứ hai và thứ ba nghiêng về phía gần nhiều
hơn các răng hàm nhỏ.
- Đường cong Spee: là đường cong lõm hướng lên trên, đi qua đỉnh múi

răng nanh và đỉnh múi ngoài của các răng hàm nhỏ và răng hàm lớn hàm dưới.
Độ sâu trung bình của đường cong Spee ở người Việt Nam được ghi nhận là:
nam: 2,019 (mm), nữ: 1,792 (mm), chung cả hai giới: 1,912 (mm).
 Tương quan các răng giữa hàm trên và hàm dưới [18]
Chiều trước-sau:
- Tương quan răng nanh: Đỉnh của răng nanh hàm trên trùng với đường
giữa răng nanh và răng hàm nhỏ hàm dưới.
- Tương quan răng hàm lớn thứ nhất: Đỉnh núm ngoài gần của răng
hàm lớn thứ nhất hàm trên khớp với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất
hàm dưới.
- Độ cắn chìa: là khoảng cách giữa bờ cắn răng cửa trên và dưới theo
chiều trước sau. Độ cắn chìa trung bình ở người Việt Nam là 2,79 ± 1,45 mm.
Chiều đứng:
- Độ cắn phủ: là khoảng cách giữa bờ cắn răng cửa trên và dưới theo
chiều đứng khi hai hàm cắn khớp. Trung bình ở người Việt Nam là 2,89 ±
1,45 mm.
- Răng trên tiếp xúc với răng dưới vừa khít ở vùng răng hàm nhỏ và
răng hàm lớn.
Chiều ngang:


17

- Cung răng trên trùm ra ngoài cung răng dưới sao cho núm ngoài răng
trên trùm ra núm ngoài răng dưới.
- Đường giữa hai hàm trùng nhau và trùng với đường giữa mặt.
Đường cắn khớp: là một đường cong đối xứng, liên tục và đều đặn. Khi
hai hàm cắn khớp với nhau, đường cắn khớp của hàm trên và hàm dưới chồng
khít nhau. Khi hai hàm cắn khớp, mỗi răng hai hàm sẽ khớp với hai răng ở
hàm đối diện. Ngoại trừ răng cửa giữa hàm dưới và răng khôn hàm trên chỉ
khớp với một răng của hàm đối diện.
1.2. Mối tương quan kích thước gần-xa các răng giữa hai hàm
Muốn đạt được khớp cắn bình thường thì mức độ hài hòa kích thước
gần- xa các răng giữa hàm trên và hàm dưới giữ một vai trò rất quan trọng,
cho nên đòi hỏi kích thước gần-xa các răng trên và dưới phải có một tỷ lệ cân
đối, không được có răng hay một nhóm các răng có kích thước to hay bé hơn
so với kích thước bình thường.
1.2.1. Khái niệm kích thước gần-xa răng
Kích thước gần-xa răng là khoảng cách lớn nhất giữa hai điểm tiếp xúc
gần và xa với mặt răng kế cận [19]. Kích thước gần-xa của hai răng đối diện
trong cùng một hàm thì tương đương nhau.
Mỗi cung hàm được chia thành các nhóm răng khác nhau đó là: nhóm
răng cửa, nhóm răng nanh, nhóm răng hàm nhỏ và nhóm răng hàm lớn.
Bảng 1.1. Kích thước gần-xa theo Hoàng Tử Hùng [20]
Răng
KTG
X

Hàm trên

Hàm dưới

R1

R2

R3

R4

R5

R6

R1

R2

R3

R4

R5

R6

8,5

6,5

7,5

7,5

7,2

10,
0

5,0

5,5

7,0

7,8

7,8 11,0


18

1.2.2. Ảnh hưởng của chủng tộc, giới tính và yếu tố khác tới kích thước
gần- xa răng
Sự khác biệt về kích thước răng, trong đó bao gồm kích thước gần-xa
giữa các răng là do chịu ảnh hưởng bới các yếu tố di truyền, giới tính và môi
trường, trong đó yếu tố di truyền đóng vai trò then chốt nhất.
 Ảnh hưởng của chủng tộc
Trước đây, nhiều nghiên cứu đã báo cáo về sự khác biệt này giữa các
nhóm chủng tộc khác nhau. Trong nghiên cứu của mình, Smith SS (2000) [11]
đã so sánh kích thước gần-xa và kích thước trong-ngoài của các răng vĩnh
viễn ở 3 nhóm dân cư khác nhau: da đen, da trắng và nhóm người nói tiếng
Latin. Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về
kích thước gần-xa của các răng giữa 3 nhóm dân cư này.
Saeed Hossain Khan (2011) [21] cũng quan sát thấy có sự khác biệt
đáng chú ý về kích thước răng theo chiều gần-xa ở người Banglades và người
Mỹ da trắng. Ông kết luận rằng kích thước răng của Mỹ da trắng nhỏ hơn
người Banglades trung bình là 0,42 mm.
Trong một nghiên cứu khác liên quan về vấn đề này, Fernandes T.M
(2013) [22] đã so sánh kích thước gần-xa của các răng hàm trên và hàm dưới
ở 3 nhóm người gồm người da trắng, người da đen và người Nhật. Tổng cộng
có 100 mẫu hàm với khớp cắn lý tưởng được thu thập. Sau khi nghiên cứu,
ông đưa ra kết luận: kích thước gần-xa của răng người da đen là lớn nhất, rồi
đến người Nhật và nhỏ nhất là người da trắng.
Cơ sở để giải thích tốt nhất cho sự khác biệt này trên nền tảng di truyền
chính là các mẫu gen được thừa hưởng. Lundstrom [23] đã so sánh 97 cặp sinh
đôi cùng trứng và sinh đôi khác trứng, ông nhận thấy có mối liên quan mạnh
mẽ về kích thước răng theo chiều gần xa giữa các trẻ sinh đôi cùng trứng. Ông
kết luận rằng kích thước răng được quyết định bởi yếu tố di truyền.


19

 Ảnh hưởng của giới tính
Ngoài sự khác biệt về chủng tộc, giới tính cũng có liên quan đến sự khác
biệt kích thước răng. Santoro và cộng sự (2000) [8] khi nghiên cứu về vấn đề
này trên 54 người Mỹ gốc Dominican đã nhận thấy kích thước răng của nam
lớn hơn của nữ trên cùng 1 loại răng ở cả 2 cung hàm. Điều này cũng được
đồng tình trong nhiều nghiên cứu khác [24],[25],[26].
Ở Việt Nam, các tác giả Nguyễn Thị Phòng (2009) [12], Hoàng Minh
Huy (2015) [13], Trần Văn Võ (2013) [27], Nguyễn Thị Hải Yến (2013) [14]
đều nhận thấy kích thước răng của nam lớn hớn của nữ.
 Ảnh hưởng của yếu tố khác
Trong số những yếu tố khác, dinh dưỡng cũng được xem có vai trò quan
trọng trong sự khác biệt kích thước răng. Cơ chế hình thành răng liên quan
chặt chẽ với vị trí răng và thiếu hụt dinh dưỡng cho răng cũng có tầm quan
trọng rất lớn [28].
1.2.3. Ảnh hưởng của bất hài hòa kích thước gần-xa giữa hai hàm lên
khớp cắn
Để có khớp cắn đúng, răng hàm trên và hàm dưới phải cân xứng về
kích thước. Nếu mối tương quan về kích thước răng thay đổi thì sẽ gây ra sai
khớp cắn [2],[25],[29]. Cụ thể, khi kích thước răng trên lớn quá mức bình
thường có thể làm tăng độ cắn phủ, tăng độ cắn chìa, chen chúc các răng trên
và có khe hở các răng dưới, đồng thời làm các răng cửa trên nghiêng trong,
các răng cửa dưới nghiêng ngoài. Ngược lại, khi kích thước răng dưới lớn quá
mức có thể làm giảm độ cắn phủ, giảm độ cắn chìa, chen chúc các răng dưới
và có khe hở các răng trên, các răng cửa dưới nghiêng trong và các răng cửa
trên nghiêng ngoài.


20

1.2.4. Phân tích của Bolton
Để xác định bất hài hòa kích thước răng, vào năm 1958, Bolton đã đưa
ra tỷ lệ về mối tương quan giữa kích thước gần-xa của các răng hàm trên và
hàm dưới. Bằng cách so sánh tỷ lệ này với giá trị chuẩn, ta xác định được bất
hài hòa nằm ở hàm răng nào. Ông cho rằng có sự cân bằng thích hợp kích
thước gần-xa giữa răng hàm dưới và răng hàm trên để đảm bảo sự lồng múi, độ
cắn chìa, độ cắn phủ thích hợp lúc hoàn tất điều trị chỉnh hình.
Vì thế, sau khi tiến hành đo kích thước gần xa của 12 răng hàm trên và
12 răng hàm dưới (từ răng hàm lớn thứ nhất bên phải đến răng hàm lớn thứ
nhất bên trái) từ 55 mẫu hàm của 55 người Mỹ da trắng tại trường Đại học
Washington có khớp cắn lý tưởng, trong đó có 44 người đã được chỉnh nha
không có nhổ răng và 11 người không cần điều trị, Bolton thiết lập 2 chỉ số:
Chỉ số nhóm răng trước (AR: anterior ratio) và Chỉ số toàn bộ cung răng (OR:
overall ratio) [3].
Trong đó:
AR =

OR =

Tổng kích thước gần-xa 6 răng trước hàm dưới
Tổng kích thước gần-xa 6 răng trước hàm trên

Tổng kích thước gần-xa 12 răng hàm dưới
Tổng kích thước gần-xa 12 răng hàm trên

x 100 = 77,2 ± 1,65

x 100 = 91,3 ± 1,91


21

Hình 1.3. Cách tính chỉ số nhóm răng trước và chỉ số toàn bộ [3]
Tiếp đến năm 1962, để giảm việc tính toán chỉ số nhóm răng trước và chỉ
số toàn bộ, Bolton [29] xây dựng 2 bảng chuẩn. Bảng này được sử dụng để so
sánh tổng kích thước gần-xa 6 răng trước hàm trên so với 6 răng trước hàm dưới
và tổng kích thước gần-xa 12 răng hàm trên so với 12 răng hàm dưới.
Các số liệu được xếp thành 2 cột, cột đầu tiên thể hiện giá trị kích thước
răng hàm trên ghi nhận được và cột thứ hai thể hiện kích thước răng hàm dưới lý
tưởng tương ứng.
Việc so sánh có thể được thực hiện nhanh và bác sĩ chỉnh nha có thể sớm
dự đoán được kết quả khớp cắn một cách chính xác.


22

Bảng 1.2. Liên quan về kích thước gần-xa của 6 răng trước theo Bolton [29]
6 răng HT 6 răng HD 6 răng HT 6 răng HD 6 răng HT 6 răng HD
40,0
30,9
45,5
35,1
50,5
39,0
40,5
31,3
46,0
35,5
51,0
39,4
41,0
31,7
46,5
35,9
51,5
39,8
41,5
32,0
47,0
36,3
52,0
40,1
42,0
32,4
47,5
36,7
52,5
40,5
42,5
32,8
48,0
37,1
53,0
40,9
43,0
33,2
48,5
37,4
53,5
41,3
43,5
33,6
49,0
37,8
54,0
41,7
44,0
34,0
49,5
38,2
54,5
42,1
44,5
34,4
50,0
38,6
55,0
42,5
45,0
34,7
Bảng 1.3. Liên quan về kích thước gần-xa của 12 răng theo Bolton [29]
12 răng HT
85
86
87
88
89
90
91
92
93

12 răng HD
77,6
78,5
79,4
80,3
81,3
82,1
83,1
84,0
84,9

12 răng HT
94
95
96
97
98
99
100
101
102

Đồng thời, Bolton [29] cũng đã chỉ ra sự bất hài hòa kích thước gần-xa
của răng gây ra biểu hiện trên lâm sàng và cần thiết phải can thiệp lâm sàng để
đạt được một khớp cắn tốt khi giá trị tính được lớn hơn 1 độ lệch chuẩn (SD).
Như vậy, với chỉ số nhóm răng trước: bất tương quan xảy ra khi AR nằm ngoài
khoảng 77,2 – 1,65 (1SD) cho đến 77,2 + 1,65 (1SD). Với chỉ số toàn bộ cung
răng khi OR nằm ngoài khoảng 91,3 – 1,91 (1SD) cho đến 91,3 + 1,91 (1SD)
Từ đó đến nay, phương pháp của Bolton đã trở thành kim chỉ nam cho
các nhà thực hành lâm sàng bởi tính đơn giản, dễ làm, dễ áp dụng. Tuy nhiên,
trong quá trình nghiên cứu, một số tác giả lại thấy rằng chỉ số Bolton phải lớn

12


23

hơn 2 độ lệch chuẩn thì mới cần phải điều trị lâm sàng do sai lệch về kích
thước gần-xa gây nên như J.E.Freeman (1996) [5],[6],[8],[10].
Thậm chí nghiên cứu của M. Heusdens (2000) [30] còn khẳng định chỉ
số Bolton phải lớn hơn 3 độ lệch chuẩn thì mới gây ra tình trạng bất hài hòa
về kích thước răng.
1.2.5. Ứng dụng lâm sàng của chỉ số Bolton [3],[29]
Nghiên cứu của Bolton rất có ý nghĩa trong việc chẩn đoán và đưa ra kế
hoạch điều trị. Cụ thể, thông qua chỉ số Bolton, tác giả có thể phát hiện
khoảng chênh lệch về kích thước gần-xa xảy ra ở hàm trên hay hàm dưới để
điều chỉnh.
 Với chỉ số nhóm răng trước
Nếu tỷ lệ AR > 77,2. Điều đó có nghĩa tổng kích thước gần-xa của
nhóm răng trước hàm dưới quá lớn so với các răng hàm trên. Để xác định kích
thước khoảng chênh lệch cần điều chỉnh, ta làm các bước sau:
- Bước 1: Xác định tổng kích thước gần-xa của 6 răng nhóm trước hàm
trên của bệnh nhân
- Bước 2: Thay tổng kích thước trên vào công thức chỉ số nhóm răng
trước để tìm ra tổng kích thước gần-xa lý tưởng cần có của 6 răng nhóm trước
hàm dưới.
- Bước 3: Xác định khoảng chênh lệch kích thước cần điều chỉnh ở hàm
dưới bằng cách lấy tổng kích thước gần-xa thực tế của 6 răng nhóm trước hàm
dưới trừ đi tổng kích thước gần-xa lý tưởng của 6 răng nhóm trước hàm dưới
mà ta mới tìm ra được.
Ngược lại, nếu tỷ lệ AR < 77,2. Điều đó có nghĩa tổng kích thước gầnxa của nhóm răng trước hàm trên quá lớn so với các răng hàm dưới. Cách xác
định tương tự như trên.


24

 Với chỉ số toàn bộ cung răng
Nếu tỷ lệ OR > 91,3. Điều đó có nghĩa tổng kích thước gần-xa của 12
răng hàm dưới quá lớn so với các răng hàm trên. Để xác định kích thước
khoảng chênh lệch cần điều chỉnh, ta làm các bước sau:
- Bước 1: Xác định tổng kích thước gần-xa của 12 răng hàm trên của
bệnh nhân
- Bước 2: Thay tổng kích thước trên vào công thức chỉ số toàn bộ cung
răng để tìm ra tổng kích thước gần-xa lý tưởng cần có của 12 răng hàm dưới.
- Bước 3: Xác định khoảng chênh lệch kích thước cần điều chỉnh ở hàm
dưới bằng cách lấy tổng kích thước gần-xa thực tế của 12 răng hàm dưới trừ đi
tổng kích thước gần-xa lý tưởng của 12 răng hàm dưới mà ta mới tìm ra được.
Ngược lại, nếu tỷ lệ AR < 91,3. Điều đó có nghĩa tổng kích thước gầnxa của 12 răng hàm trên quá lớn so với các răng hàm dưới. Cách xác định
tương tự như trên.
1.2.6. Tình hình nghiên cứu chỉ số Bolton trên thế giới
Năm 1958, Bolton [3] đã đưa ra mối tương quan về kích thước gần-xa
của răng giữa hai hàm, góp phần vào chẩn đoán và lên kế hoạch điều trị trong
các trường hợp sai khớp cắn. Ông thành lập hai chỉ số như đã trình bày ở trên.
Thành tựu của ông thực sự là cuộc cách mạng trong lĩnh vực chỉnh nha. Từ đó
đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về phân tích của ông.
Năm 1996, Freeman và cộng sự [5] đã nghiên cứu 157 mẫu hàm của
các bệnh nhân chỉnh nha, gồm 115 người da trắng, 27 người da đen và 15
người thuộc các nhóm chủng tộc khác. Qua nghiên cứu, ông thấy rằng chỉ số
nhóm răng trước và chỉ số toàn bộ cung răng của mình lần lượt là 77,8 và 91,4
khá tương đồng với chỉ số của Bolton là 77,2 và 91,3. Tuy nhiên, độ lệch
chuẩn tương ứng với mỗi chỉ số lại lớn hơn độ lệch chuẩn của Bolton (3,07 so
với 1,65) và (2,57 so với 1,91). Đồng thời, ông đưa ra kết quả tỉ lệ bất tương


25

quan kích thước gần-xa các răng trước là 30,6%, nguyên nhân do răng hàm
dưới lớn quá mức là 19,7% gần gấp đôi các trường hợp do răng hàm trên lớn
quá mức (10,8%). Trong khi sự bất tương quan kích thước gần-xa toàn bộ
cung răng là 13,5%, nguyên nhân do răng hàm dưới hay răng hàm trên lớn
quá mức là như nhau.
Năm 2000, Santoro [8] khi phân tích 54 mẫu hàm của bệnh nhân chỉnh
nha người Mỹ gốc Dominican đã đưa ra kết luận chỉ số nhóm răng trước là
78,1 lớn hơn chỉ số của Bolton. Trong khi chỉ số toàn bộ cung răng là 91,3
tương đồng với chỉ số của Bolton. Tuy nhiên, độ lệch chuẩn của hai chỉ số này
trong nghiên cứu đều lớn hơn trong nghiên cứu của Bolton. Ông lý giải cho
việc này có thể là do đối tượng nghiên cứu của ông là những bệnh nhân chỉnh
nha có các vấn đề về khớp cắn khác nhau. Trong khi đó, tác giả Bolton nghiên
cứu trên những người có khớp cắn lý tưởng. Ngoài ra, ông phát hiện số người
có bất thường về chỉ số toàn bộ cung răng chiếm 11%, còn bất thường về chỉ
số nhóm răng trước chiếm 28%.
Cũng nghiên cứu trên bệnh nhân chỉnh nha, năm 2003, tác giả Ale
Gaidyte [4] từ trường Đại học y Kaunas, Lithuania đã nghiên cứu trên 108
người gồm 37 nam và 71 nữ. Ông kết luận không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê giữa hai chỉ số của ông so với hai chỉ số của Bolton. Ông cũng đánh
giá 52 bệnh nhân có chỉ số nhóm răng trước bình thường, chiếm 48,1 %.
Trong khi đó, có 22 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 20,4 % có kích thước 6 răng nhóm
trước hàm trên lớn hớn nhiều so với hàm dưới và 34 bệnh nhân chiếm tỷ lệ
31,5 % gặp trường hợp ngược lại. Còn với chỉ số toàn bộ cung răng, ông thấy
có 68 người có chỉ số này bình thường chiếm 62,3 %, 23 bệnh nhân có kích
thước 12 răng hàm trên lớn hơn nhiều so với các răng hàm dưới chiếm 21,3%
và 17 bệnh nhân (15,7%) là các trường ngược lại.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×