Tải bản đầy đủ

Tiểu không tự chủ và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân cao tuổi khám và điều trị tại bệnh viện lão khoa trung ương

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Già hóa dân số là một trong những vấn đề toàn cầu và ảnh hưởng lớn
đến tất cả các khía cạnh của xã hội. Tại Việt Nam, tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở
lên đang ở nhóm cao nhất thế giới và chạm ngưỡng 10% tổng dân số. Đến
năm 2037, tỷ trọng người từ 60 tuổi trở lên ở nước ta sẽ tiếp tục tăng nhanh,
dự báo lớn hơn hoặc bằng 20% tổng dân số . Như vậy vấn đề già hóa dân số
đã đặt ra một thách thức lớn đối với ngành y tế trong việc chăm sóc, phòng
ngừa và điều trị cho người cao tuổi.
Do đặc điểm sinh lý, quá trình lão hoá làm gia tăng nhiều bệnh đồng
thời mô hình bệnh tật của người cao tuổi không hoàn toàn giống người trẻ,
cùng một lúc có thể mắc nhiều bệnh, nhất là các bệnh mạn tính ở nhiều cơ
quan khác nhau. Trong đó, việc tiểu tiện không tự chủ thường được ghi nhận
có ảnh hưởng đến hoạt động hằng ngày và chất lượng cuộc sống của bệnh
nhân .
Tiểu không tự chủ là tình trạng thoát nước tiểu không chủ ý qua đường
niệu đạo . Tiểu không tự chủ được phân loại: Tiểu không tự chủ gắng sức, tiểu
không tự chủ cấp bách, tiểu không tự chủ tràn đầy và tiểu không tự chủ hỗn
hợp [4]. Tiểu không tự chủ được Tổ chức Y tế Thế giới nhận định là một bệnh

lý phổ biến có tính chất toàn cầu nhưng là một trong những lĩnh vực còn ít
được ngành y tế ở nhiều quốc gia quan tâm đến. Ước tính có tới hơn 200 triệu
người trên toàn thế giới phải chung sống với triệu chứng tiểu tiện không tự
chủ và tỷ lệ tăng theo độ tuổi. Khoảng 20 triệu phụ nữ Mỹ và 6 triệu đàn ông
Mỹ trải qua tiểu không tự chủ trong thời gian sống của họ [5], [6]. Tiểu tiện
không tự chủ có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến hơn ở người già và
phụ nữ, tại cộng đồng tỷ lệ mắc chứng tiểu không tự chủ vào khoảng 35% phụ
nữ lớn tuổi và 22% nam giới lớn tuổi, tỷ lệ bệnh tăng cao ở các nhà dưỡng lão


2

có thể lên đến 60% [7]. Gánh nặng kinh tế do tiểu tiện không tự chủ rất đáng
kể, chi phí trực tiếp hàng năm của tiểu không tự chủ ở Hoa kỳ ước tính 13,6
tỷ đôla Mỹ, chi phí cá nhân để quản lý và chăm sóc định kỳ của tiểu tiện
không tự chủ chiếm 50-1.000 đôla Mỹ /người mỗi năm và tăng theo mức độ
nghiêm trọng của tiểu không tự chủ [8], [9].
Tiểu không tự chủ là một triệu chứng gây ra nhiều khó chịu cho bệnh
nhân, bên cạnh đó tình trạng tiểu không tự chủ kéo dài còn gây ra nhiều biến
chứng cho người bệnh: làm giảm chất lượng cuộc sống do gây ra những rắc
rối trong sinh hoạt, mất tự tin, kỳ thị, cô lập, trầm cảm đồng thời gây ra các
biến chứng như viêm da, nhiễm khuẩn tiết niệu [10]. TKTC liên quan với các
yếu tố nguy cơ như thừa cân béo phì, hút thuốc lá và các bệnh lý liên quan
như đái tháo đường, bệnh thận, tai biến mạch máu não [11]. Hiện nay có các
phương pháp chính để điều trị tiểu không tự chủ: nội khoa, tập phục hồi chức
năng và phẫu thuật [12].
Tiểu không tự chủ ở người cao tuổi là một vấn đề còn khá mới tại Việt
Nam, cho đến nay chưa có nghiên cứu về tiểu không tự chủ được công bố trên
đối tượng người cao tuổi.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “Tiểu không tự chủ và một số yếu tố liên quan trên bệnh
nhân cao tuổi khám và điều trị tại Bệnh Viện Lão Khoa Trung Ương”.
Nghiên cứu này nhằm xác định thực trạng tiểu không tự chủ, bên cạnh đó
giúp hiểu biết sâu sắc thêm các yếu tố liên quan từ đó có các biện pháp phòng
ngừa cho người cao tuổi nhằm mục tiêu:
1. Khảo sát tỷ lệ tiểu không tự chủ trên bệnh nhân cao tuổi khám và điều
trị tại Bệnh viện Lão khoa Trung Ương.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến tiểu không tự chủ ở nhóm đối
tượng trên.


3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TIỂU TIỆN KHÔNG TỰ CHỦ

1.1.1. Khái niệm
Theo Hiệp hội quốc tế tự chủ (International Continence Society - ICS):
Tiểu không tự chủ là tình trạng thoát nước tiểu không chủ ý qua đường niệu
đạo [13], [14].
- Tiểu không tự chủ cấp bách là sự thoát nước tiểu không tự chủ kết hợp
với tình trạng tiểu gấp.
- Tiểu không tự chủ do gắng sức là sự thoát nước tiểu không tự chủ khi
gắng sức (ho, hắt hơi, khiêng nặng, rặn) mà không có sự co bóp bàng quang.
- Tiểu không tự chủ tràn đầy là sự thoát nước tiểu không tự chủ do ứ
đọng nước tiểu mạn tính.
- Tiểu không tự chủ hỗn hợp: Nếu có những triệu chứng nhiều hơn một
loại tiểu không tự chủ, ví dụ như tiểu không tự chủ gắng sức và tiểu không tự
chủ cấp bách, gọi là tiểu không tự chủ hỗn hợp [15].
Tiểu không tự chủ (TKTC) thường không được ghi nhận do sự lúng túng e
ngại của các bệnh nhân vì không có điều kiện được tư vấn. Yếu tố nguy cơ hàng
đầu của TKTC ở người cao tuổi bao gồm sự tăng lên của tuổi, giới tính nữ, vấn
đề nhận thức, phẫu thuật sinh dục, béo phì, tình trạng đa bệnh lý [16].
1.1.2. Dịch tễ học và tần suất
Theo nghiên cứu tác giả George A. DeMaagd khoảng 10 triệu bệnh nhân
tại Hoa Kỳ có tiểu không tự chủ, có mối liên quan với bệnh tật và giảm chất
lượng cuộc sống. Năm 2007, ước tính hơn 25 triệu người ở Hoa Kỳ có triệu
chứng của tiểu không tự chủ. Trong nghiên cứu, tỷ lệ tiểu không tự chủ mắc
cao nhất ở người da trắng (7,3/100 người-năm), người châu Á (5,7/100 ngườinăm) và người Mỹ gốc Phi (4,8/100 người-năm) [17].


4

Tiểu không tự chủ liên quan đến lão hóa, ảnh hưởng tới 30% người cao
tuổi. Chi phí trực tiếp và gián tiếp thường niên của quản lý tiểu không tự chủ
ở Mỹ ước tính khoảng 25 triệu đôla Mỹ cho bệnh nhân trên 65 tuổi. Các chi
phí trực tiếp của tiểu không tự chủ bao gồm các bước chẩn đoán và lựa chọn
điều trị, các biến chứng như mất ngủ, nguy cơ té ngã, trầm cảm, chăm sóc,
điều dưỡng. Chi phí gián tiếp của tiểu không tự chủ có liên quan với giảm
đáng kể chất lượng cuộc sống, đặc biệt là ở phụ nữ [8], [9], [18].
1.2. GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ CỦA TIỂU TIỆN

1.2.1. Các yếu tố tham gia duy trì sự tự chủ trong tiểu tiện
Sự tự chủ tiểu tiện được quyết định bởi một phức hợp bao gồm nhiều
yếu tố: hệ thống thần kinh, bàng quang, niệu đạo, cơ đáy chậu và các tổ
chức liên kết bao quanh. Thay đổi của một trong các yếu tố kể trên sẽ dẫn đến
sự thoát nước tiểu không theo ý muốn. Sự tự chủ bình thường được duy trì khi
áp lực của cổ bàng quang và niệu đạo cao hơn áp lực trong lòng bàng quang.
Áp lực ở cổ bàng quang và niệu đạo được duy trì và điều khiển bởi sự phối
hợp phức tạp của hệ thống bàng quang, niệu đạo, cân, dây chằng, cơ đáy chậu
và thần kinh. Quá trình chứa và lưu giữ nước tiểu được kiểm soát một cách có
ý thức và được điều chỉnh thông qua trung tâm tiểu tiện [19].

Hình 1.1. Thiết đồ đứng dọc qua bàng quang nữ giới
1. Tử cung

2. Bàng quang 3. Âm đạo


5

1.2.1.1. Giải phẫu bàng quang
Bàng quang có thể giãn ra theo lượng nước tiểu chứa trong lòng (thể tích
lấp đầy sinh lý là khoảng 500 - 600ml) và thay đổi để tăng thể tích mà không
tăng áp lực trong lòng bàng quang. Cơ chế giãn này không gặp ở bất cứ cơ
quan nào khác nhờ chức năng đặc biệt của cơ trơn thành bàng quang và điều
chỉnh thần kinh [26].
•Hình dạng và vị tri
- Bàng quang là nơi chứa nước tiểu từ hai niệu quản đổ xuống. Khi rỗng,
bàng quang nằm trong phần trước hố chậu, sau xương mu, trước các tạng sinh
dục, trực tràng, trên hoành chậu. Khi căng bàng quang có hình cầu nằm trong
ổ bụng.
- Bàng quang có hình tháp: có 3 mặt một đáy và một đỉnh. Trong lòng
bàng quang có lỗ niệu đạo trong chỗ gặp nhau bởi đáy và mặt dưới bên. Phần
bàng quang xung quanh lỗ niệu đạo trong là cổ bàng quang.
•Phương tiện cố định bàng quang
- Bàng quang được cố định vững chắc nhất ở đáy và cổ bàng quang. Cổ
bàng quang được gắn chặt vào hoành chậu, tiếp nối với bàng quang là tuyến
tiền liệt và niệu đạo gắn chặt vào hoành niệu dục.
- Ðỉnh bàng quang có dây chằng rốn giữa do ống niệu rốn hóa xơ và bít
tắc lại treo đỉnh bàng quang vào mặt sau rốn.
- Hai mặt dưới bên có dây chằng rốn trong do động mạch rốn hóa xơ tạo
thành, có nhiệm cố định 2 mặt dưới bên của bàng quang.


6

•Hình thể trong

Hình 1.2. Mặt trong bàng quang
1. Lưỡi bàng quang 2. Lỗ niệu quản 3. Tam giác bàng quang 4. Lồi tinh
- Niêm mạc bàng quang màu hồng nhạt. Khi rỗng tạo các nếp niêm mạc.
Khi căng các nếp niêm mạc này mất đi.
- Trong lòng bàng quang có một vùng được giới hạn bởi 2 lỗ niệu quản
và lỗ niệu đạo trong gọi là tam giác bàng quang. Vùng tam giác bàng quang
có niêm mạc không bị xếp nếp. Có một gờ nối 2 lỗ niệu quản gọi là nếp gian
niệu quản. Ở mặt sau, có một gờ khác từ chính giữa tam giác chạy xuống lỗ
niệu đạo trong gọi là lưỡi bàng quang.
- Cấu tạo: Thành bàng quang được cấu tạo 4 lớp từ trong ra ngoài.
1.2.1.2. Niệu đạo và các yếu tố tham gia tạo áp lực đóng cổ bàng quang niệu đạo
- Chiều dài niệu đạo: Niệu đạo phụ nữ bình thường dài 3 - 4 cm, nam
giới 12 -15 cm, giữ áp lực đủ để chống thoát nước tiểu khi áp lực bàng quang
tăng lên (ho, hoạt động thể lực).
- Lớp niêm mạc gồm các liên bào phủ giúp duy trì hoạt động chức năng
của niệu đạo.
- Lớp tổ chức liên kết chun giãn: tập trung nhiều ở vùng cổ bàng quang,
niệu đạo giữ trương lực niệu đạo khi nghỉ.


7

- Lớp cơ trơn: nằm trong lòng bàng quang, vùng tam giác trigone và niệu
đạo duy trì lực giữ thụ động. Cơ dọc ngoài khi co làm đóng cổ bàng quang.
Cơ dọc trong khi co làm mở cổ bàng quang. Các cơ này chịu ảnh hưởng của
nội tiết nên bị thay đổi trong quá trình kinh nguyệt hay mãn kinh.
- Lớp mạch máu: chiếm 30% vai trò giữ trương lực thụ động của niệu
đạo khi nghỉ.
- Lớp cơ vân gồm có 2 phần: phần bao quanh lòng niệu đạo giữ trương
lực niệu đạo thụ động khi nghỉ và phần ngoại vi, chống són tiểu khi gắng sức
(cơ thắt ngoài).
- Lớp cơ đáy chậu đóng vai trò quan trong trong cơ chế tự chủ. Cơ nâng
hậu môn khi co sẽ ép âm đạo về phía xương mu, tạo nên sức cản phía sau của
dòng tiểu. Sự cản phía sau này chèn vào hai thành niệu đạo, chống lại són tiểu
khi gắng sức.
1.2.1.3. Vị tri giải phẫu của đoạn bàng quang - niệu đạo
Vị trí của cổ bàng quang và phần niệu đạo trên được duy trì bởi hệ thống
nâng đỡ giống như một chiếc võng nằm ở phía sau cổ bàng quang - niệu đạo. Hệ
thống này do nhiều cân, cơ, tổ chức liên kết hợp thành, có vai trò ngăn cản sự sa
niệu đạo khi gắng sức. Rối loạn nâng đỡ của cổ bàng quang và niệu đạo trên là
nguyên nhân hay gặp nhất của tiểu không tự chủ gắng sức [20].
1.2.2. Hệ thần kinh tham gia điều khiển quá trình đi tiểu
1.2.2.1 Hệ thần kinh trung ương
- Não trung tâm hệ thần kinh của hệ tiết niệu, trung tâm kiểm soát đi tiểu
ở vùng thái dương, gửi tín hiệu đến ức chế cơ chóp bàng quang detrusor để
không cho cơ detrusor co bóp trừ khi đến thời điểm thích hợp về không gianthời gian để đi tiểu; tín hiệu của não đến bàng quang qua hai trạm trung gian
là thân não và tủy sống.


8

- Thân não: tại cầu não có vùng trung tâm tiểu tiện điều phối vận động
bàng quang và cơ thắt sao cho khi cơ chóp bàng quang co thắt thì cơ thắt niệu
đạo giãn ra để đi tiểu. Trung tâm tiểu tiện bị ảnh hưởng bởi cảm giác. Khi
bàng quang đầy, thụ thể nhận cảm sức căng bề mặt cơ detrusor sẽ truyền tín
hiệu qua cầu não lên vỏ não, giúp nhận biết bàng quang đầy và có nhu cầu đi
tiểu, não sẽ gửi tín hiệu ức chế xuống cầu não để ức chế bàng quang co thắt
cho đến khi đến nơi đi tiểu. Khi thích hợp về không gian và thời gian để đi
tiểu, não sẽ gửi tín hiệu kích thích xuống cầu não cho phép mở cơ thắt niệu
đạo và co bóp cơ chóp bàng quang để đi tiểu.
- Tủy sống: trung gian giữa thân não và tủy sống cùng. Tủy sống cùng: ở
vùng thắt lưng thấp, là trung tâm phản xạ cùng, chịu trách nhiệm co bóp cơ
chóp bàng quang.
1.2.2.2. Hệ thần kinh ngoại biên
- Hệ giao cảm khi hoạt động (thông qua các sợi thần kinh alphaadrenergic từ dây thần kinh hạ vị) làm co cơ thắt trong niệu đạo để giữ nước
tiểu và làm thư giãn bàng quang để chứa nước tiểu (pha đổ đầy) mà không
làm tăng áp lực lên thụ thể cảm nhận áp suất trên cơ detrusor, đồng thời ức
chế hệ phó giao cảm.
- Hệ thần kinh phó giao cảm: khi hoạt động (thông qua các sợi thần kinh
cholinergic từ dây thần kinh chậu) kích thích cơ detrusor co bóp, ngay trước
khi có kích thích của hệ phó giao cảm thì hệ giao cảm bị ức chế để cơ thắt
trong niệu đạo mở ra, kèm theo đó là ức chế thần kinh bản thể để mở cơ thắt
vân niệu đạo.
- Thần kinh bản thể: khi hoạt động (thông qua các sợi thần kinh
cholinergic từ dây thần kinh thẹn) điều khiển theo ý muốn hoạt động của co
cơ thắt vân niệu đạo ngoài và các cơ vùng hoành chậu.


9

1.2.3. Sinh lý quá trình tiểu tiện [21]
Quy trình hoạt động tiểu tiện bao gồm hai pha đổ đầy và tống xuất nước
tiểu. Trong pha đổ đầy, áp lực bàng quang luôn duy trì ở mức thấp (<15 cm
H2O) đồng thời cổ bàng quang luôn luôn đóng kín. Khi dung tích bàng quang
tăng lên từ 150 đến 350ml áp lực trong bàng quang bắt đầu tăng cao, bắt đầu
có cảm giác buồn tiểu. Trong pha tống xuất, cơ detrusor co thắt và áp suất
trong bàng quang tăng lên (60-120cm H2O) cho đến khi nó vượt quá sức đề
kháng niệu đạo (đã được làm giảm ngay trước khi co thắt cơ detrusor bàng
quang) lúc này dòng nước tiểu chảy ra và bàng quang tống xuất hết nước tiểu.
Quá trình tiểu tiện đòi hỏi phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa tăng hay giảm
trương lực cơ bàng quang và việc giãn hay co 2 cơ thắt trong và cơ thắt ngoài.
Sức đề kháng của niệu đạo bao gồm các yếu tố: Cơ thắt trong (cơ trơntạo ra kiểm soát liên tục), trương lực cơ trơn niệu đạo, các sợi cơ vân trong thành
niệu đạo và vùng quanh niệu đạo, sự áp kín của niêm mạc niệu đạo, các cân- cơ
vùng hoành chậu (cơ thắt vân ngoài- tạo ra cơ chế kiểm soát phụ); ngoài ra ở
nam giới có sự tham gia của tuyến tiền liệt, ở nữ giới là sự bình thường cấu trúc
của âm đạo- cổ tử cung-tử cung cũng tham gia vào sự kiểm soát.
Đáy chậu được tạo nên bởi một nhóm các cơ và dây chằng có vai trò
nâng đỡ các cơ quan như bàng quang, tử cung, trực tràng, giữ các cơ quan này
ở đúng vị trí. Các cơ sàn chậu cũng kiểm soát sự đóng, mở của niệu đạo
(đường dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài) và hậu môn, giúp duy trì
khả năng kiểm soát tiểu tiện và trung, đại tiện. Tiểu không tự chủ là do rối
loạn chức năng của bàng quang hoặc niệu đạo.
1.2.4. Sinh lý tiểu tiện không tự chủ
Các bệnh lý về giải phẫu và sinh lý của đường tiểu dưới, cũng như các
yếu tố thần kinh, tâm thần, sự lão hóa và môi trường, góp phần vào sinh lý
bệnh học của tiểu không tự chủ ở người cao tuổi [22].
1.2.4.1. Tiểu không tự chủ gắng sức


10

Xảy ra khi áp lực trong lòng bàng quang vượt quá áp lực niệu đạo.
Nguyên nhân do thay đổi giải phẫu (mất sự nâng đỡ phía sau cổ bàng quang,
sa bàng quang) hoặc tổn thương thần kinh - cơ của bản thân các cơ thắt. Mất
sự nâng đỡ biểu hiện bằng tăng di động quá mức cổ bàng quang - niệu đạo.
Điều trị chủ yếu là cố định cổ bàng quang và tái lập lại sự nâng đỡ này bằng
tập phục hồi chức năng hay phẫu thuật.
1.2.4.2. Tiểu không tự chủ cấp bách
Nguyên nhân do bàng quang cường hoạt động hay bàng quang không ổn
định. Xuất phát điểm là do 1 cơn co thắt bàng quang tự phát, không bị ức chế,
làm tăng đột ngột áp lực trong lòng bàng quang. Cơn co này dẫn đến tiểu
không tự chủ nếu hệ thống đóng của cổ bàng quang – niệu đạo thay đổi về
giải phẫu hoặc suy yếu. Suy yếu hệ thần kinh trung ương trong kiểm soát quá
trình trữ nước tiểu cũng gây tiểu không tự chủ cấp bách. Nhiều bệnh lý như
tổn thương tuỷ sống, sang chấn hộp sọ hay vùng tuỷ, đột quỵ cũng gây triệu
chứng này.
1.2.4.3. Tiểu không tự chủ hỗn hợp
Nhiều nguyên nhân phối hợp. Giảm lượng Estrogen khi mãn kinh ảnh
hưởng đến chức năng của cả bàng quang và niệu đạo gây tiểu không tự chủ
hỗn hợp do nhiều nguyên nhân phối hợp ở người cao tuổi.
1.3. PHÂN LOẠI, NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

1.3.1. Phân loại tiểu tiện không tự chủ
1.3.1.1. Tiểu không tự chủ do gắng sức: Là sự thoát nước tiểu không tự chủ
khi gắng sức (ho, hắt hơi, khiêng nặng, rặn) mà không có sự co bóp bàng
quang. Yếu tố nguy cơ cho tiểu không tự chủ do gắng sức bao gồm thay đổi
giải phẫu liên quan đến lão hóa, phẫu thuật vùng chậu và phụ khoa, sinh đẻ
nhiều lần, thuốc, béo phì và các thiếu sót thần kinh [23]. Các mức độ của tiểu
không tự chủ gắng sức như sau:
+ TKTC gắng sức độ 1: suy yếu sàn chậu để nâng đỡ cổ bàng quang


11

+ TKTC gắng sức độ 2: suy yếu sàn chậu để nâng đỡ cổ bàng quang và
niệu đạo
+ TKTC gắng sức độ 3: suy cơ thắt nội tại của niệu đạo
1.3.1.2. Tiểu không tự chủ cấp bách: Là sự thoát nước tiểu không tự chủ kết
hợp với tình trạng tiểu gấp.
Tiểu không tự chủ cấp bách là một triệu chứng phổ biến của tiểu không
tự chủ ở người cao tuổi. Với tiểu không tự chủ cấp bách bệnh nhân phải đi
tiểu thường xuyên, bao gồm tiểu đêm nhiều lần [24]. Các nguyên nhân chính
của tiểu không tự chủ cấp bách là nhiễm trùng đường tiểu, các chất kích thích
bàng quang, các vấn đề đường ruột, bệnh Parkinson, bệnh Alzheimer, đột quỵ,
chấn thương hoặc tổn thương hệ thống thần kinh liên quan với bệnh xơ cứng
rải rác [25], [26].
1.3.1.3. Tiểu không tự chủ tràn đầy: Là sự thoát nước tiểu không tự chủ do ứ
đọng nước tiểu mạn tính.
Cơ chế của tiểu không tự chủ do tràn đầy do giảm sự co bóp của bàng
quang gây suy yếu khả năng làm rỗng bàng quang [27].
Nguyên nhân thường gặp của suy giảm co bóp bàng quang bao gồm các
thuốc làm giảm trương lực cơ hoặc thần kinh, biến chứng bệnh đái tháo
đường, tổn thương tủy sống, tắc nghẽn đường tiểu kéo dài, tác dụng có hại
của thuốc [28].
Mặc dù tiểu không tự chủ do tràn đầy ít phổ biến ở phụ nữ hơn ở nam
giới, các nguyên nhân như bàng quang sa, biến chứng bệnh đái tháo đường,
các loại thuốc có tác dụng phụ kháng cholinergic có thể dẫn đến tiểu không tự
chủ và tiểu không tự chủ tràn đầy ở nữ giới [29].
1.3.1.4. Tiểu không tự chủ hỗn hợp: Nếu có những triệu chứng nhiều hơn
một loại tiểu không tự chủ, ví dụ như tiểu không tự chủ gắng sức và tiểu
không tự chủ cấp bách, gọi là tiểu không tự chủ hỗn hợp [30].
1.3.2. Nguyên nhân tiểu không tự chủ
1.3.2.1. Nguyên nhân của tiểu không tự chủ tạm thời


12

Một số thực phẩm, đồ uống và thuốc có thể gây ra tiểu không tự chủ tạm
thời [31].
- Rượu, caffeine: có tác dụng như chất lợi tiểu và kích thích bàng quang
có thể gây ra nhu cầu cấp thiết để đi tiểu [31].
- Uống quá nhiều, mất nước làm tăng lượng nước tiểu hoặc cô đặc nước
tiểu gây kích thích bàng quang và làm xấu đi tiểu không tự chủ [32].
- Thức uống ga, trà và cà phê có hoặc không có caffeine, chất làm ngọt
nhân tạo, xi-rô bắp, và các loại thực phẩm và đồ uống có nhiều chất đường,
gia vị và axit, chẳng hạn như cam quýt và cà chua, có thể làm nặng thêm tiểu
không tự chủ [33].
- Thuốc: Thuốc tim mạch, thuốc huyết áp, thuốc an thần, thuốc giãn cơ
và các thuốc khác có thể gây nên tiểu không tự chủ [34].
- Nhiễm trùng đường tiết niệu: Nhiễm trùng có thể gây kích thích bàng
quang, gây nên triệu chứng tiểu gấp, tiểu không tự chủ [35].
- Táo bón: Trực tràng nằm gần bàng quang, nhiều các dây thần kinh
cùng. Phân cứng trong trực tràng kích thích các dây thần kinh hoạt động quá
mức và gia tăng tần số tiết niệu.
1.3.2.2. Nguyên nhân của tiểu không tự chủ kéo dài
- Lão hóa: Lão hóa cơ bàng quang sẽ làm giảm khả năng lưu trữ nước
tiểu và gia tăng các triệu chứng tiểu không tự chủ cấp bách [36].
- Mãn kinh: Giảm nội tiết estrogen sau mãn kinh gây teo tổ chức mỡ, da,
cơ, có thể làm nặng thêm tiểu không tự chủ [36].
- Cắt bỏ tử cung: Ở phụ nữ, bàng quang và tử cung nằm sát nhau và
được hỗ trợ bởi cùng một cơ và dây chằng. Phẫu thuật có liên quan đến hệ
thống sinh sản của nữ giới có nguy cơ gây tổn hại cơ hỗ trợ vùng chậu, có thể
dẫn đến tiểu không tự chủ [4], [37].
- Phì đại tuyến tiền liệt: Ở nam giới lớn tuổi, tiểu không tự chủ thường
bắt nguồn từ phì đại tuyến tiền liệt. Tuyến tiền liệt bắt đầu phì đại ở nam giới
> 40 tuổi [38], [39].


13

- Ung thư tuyến tiền liệt: Ở nam giới, tiểu không tự chủ gắng sức hoặc
tiểu không tự chủ cấp bách có thể kết hợp với ung thư tuyến tiền liệt không
được điều trị [39].
- Ung thư bàng quang hoặc sỏi bàng quang: tiểu không tự chủ cấp bách
và tiểu khó có thể là dấu hiệu và triệu chứng của ung thư bàng quang hoặc sỏi
bàng quang [40].
- Rối loạn thần kinh, xơ cứng rải rác, bệnh Parkinson, đột quỵ, khối u
não hoặc chấn thương cột sống có thể cản trở tín hiệu thần kinh liên quan đến
việc tự chủ bàng quang, gây tiểu không tự chủ [41].
- Tắc nghẽn: Một khối u bất cứ nơi nào dọc theo đường tiết niệu có thể
cản trở dòng chảy bình thường của nước tiểu và gây ra tiểu không tự chủ tràn
đầy [42].
1.3.3. Yếu tố nguy cơ của TKTC
1.3.3.1. Giới tinh
Phụ nữ mắc tiểu không tự chủ gắng sức nhiều hơn nam giới. Mang thai,
sinh con, mãn kinh và giải phẫu học nữ là nguyên nhân sự khác biệt này. Tuy
nhiên, nam giới có vấn đề về tuyến tiền liệt có nguy cơ cao tiểu không tự chủ
cấp bách, tiểu không tự chủ tràn đầy [43].
1.3.3.2. Lão hóa
Các nghiên cứu đều thống nhất tỷ lệ tiểu không tự chủ tăng lên theo tuổi
[44]. Chính vì phổ biến ở người cao tuổi, tiểu không tự chủ được coi là sự tiến
triển bình thường không thể tránh được của tuổi tác [44].
1.3.3.3. Thừa cân, béo phì
Thừa cân làm gia tăng áp lực lên bàng quang và các cơ xung quanh gây
nước tiểu rỉ ra ngoài khi ho hoặc hắt hơi [45]. Theo Peyrat, mỗi cân nặng thừa


14

sẽ tạo thêm áp lực lên bàng quang, giảm cân nhiều cũng làm giảm rõ rệt tiểu
không tự chủ ở phụ nữ béo phì [13], [45].
1.3.3.4. Hút thuốc lá
Hút thuốc lá có thể gây ho, làm thay đổi sự dẫn truyền áp lực vượt quá
khả năng co thắt của các van niệu đạo, tác động đến tổ chức liên kết và ảnh
hưởng đến chức năng bàng quang, niệu đạo. Những người hút thuốc lá cũng
có nguy cơ phát triển bàng quang hoạt động quá mức [46],[47].
1.3.3.5. Tình trạng đa bệnh lý
Tình trạng đa bệnh lý là sự hiện diện đồng thời của hai bệnh trở lên trên
cùng một cá nhân, với chẩn đoán của từng bệnh theo tiêu chuẩn được công
nhận rộng rãi. Quá trình lão hóa làm gia tăng tình trạng đa bệnh lý, một phần
vì tỷ lệ các bệnh mạn tính gia tăng theo tuổi. Tại Hoa Kỳ có 35,3% đối tượng
từ 65 đến 79 tuổi có tình trạng đa bệnh lý. Dữ liệu từ Medicare cho thấy hai
phần ba đối tượng từ 65 tuổi trở lên có từ hai bệnh mạn tính kết hợp, một
phần ba trong số đó có từ bốn bệnh trở lên. Đa bệnh lý làm gia tăng chi phí
chăm sóc sức khỏe, tăng nguy cơ khuyết tật và tử vong. Mối liên quan mật
thiết giữa TKTC và tình trạng đa bệnh lý cũng đã được chứng minh trong
nhiều nghiên cứu .
1.3.3.6. Bệnh mạn tinh
Trên các cuộc điều tra cho thấy có mối liên quan giữa TKTC và các bệnh
mạn tính bao gồm: Tăng huyết áp, bệnh thận mạn tính, tình trạng suy giảm nhận
thức, đái tháo đường. Bên cạnh đó, việc điều trị các bệnh mạn tính bằng sử dụng
nhiều thuốc (polypharmacy) cũng góp phần dẫn đến TKTC.
- Bệnh đái tháo đường
Không dung nạp glucose, kháng insulin và bệnh đái tháo đường có liên
quan đến TKTC. Tình trạng tăng đường huyết có mối liên quan với tỷ lệ lớn


15

hơn người cao tuổi mắc TKTC . Bên cạnh đó, bệnh đái tháo đường với biến
chứng mạn tính như biến chứng vi mạch, biến chứng thần kinh cũng có liên
quan chặt chẽ với TKTC. Bệnh nhân đái tháo đường kèm tiểu không tự chủ
được chứng minh là tăng 1,6 lần nguy cơ ngã và 1,7 lần nguy cơ gãy xương
sau ngã.
- Tăng huyết áp
Tăng huyết áp là bệnh mạn tính thường gặp nhất liên quan đến TKTC ở
người lớn tuổi. Điều trị hạ áp bằng thuốc lợi tiểu tăng tỷ lệ mắc hội chứng này
trong một số nghiên cứu .
- Bệnh thận mạn tinh
Bệnh thận có mối tương quan với TKTC và ngược lại. Nghiên cứu về
hội chứng này và bệnh thận mạn tính cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa
với tất cả các giai đoạn của bệnh thận mạn tính và đặc biệt là với bệnh thận
giai đoạn trung bình đến bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối (ước tính mức lọc
cầu thận dưới 45ml/phút/1,73 m2) .
1.3.3.7. Suy giảm nhận thức
TKTC có liên quan với bệnh nhân bị suy giảm nhận thức và gia tăng
tốc độ suy giảm nhận thức ở người cao tuổi , [51]. Tỷ lệ TKTC là hơn 50%
trong các bệnh nhân có suy giảm nhận thức trong một nghiên cứu, các nghiên
cứu khác đã chỉ ra tỷ lệ này khoảng 20% và gia tăng gấp năm lần nguy cơ
khuyết tật, 1,9 lần thời gian nằm viện kéo dài, 1,9 lần nguy cơ tử vong và năm
lần nguy cơ sa sút trí tuệ trong tương lai.
Một số nghiên cứu cho thấy rằng các chất chống viêm như omega-3 và chất
chống oxy-hóa (carotenoid) có thể phòng ngừa tình trạng suy giảm nhận thức.
1.3.3.8. Tình trạng sử dụng nhiều thuốc (Polypharmacy)
Người cao tuổi sử dụng thuốc với số lượng nhiều hơn những đối tượng
khác. Trong khi đó, quá trình lão hóa cùng với quá trình suy giảm trong độ


16

thanh thải ở thận, chức năng gan, tổng lượng nước trong cơ thể, tỷ lệ chất béo,
quá trình hấp thu và tiêu hóa và chức năng chuyển hóa thuốc của hệ thống
enzym dẫn đến những thay đổi trong dược động học và dược lực học của
thuốc. Những thay đổi này cũng làm tăng tương tác thuốc và gây ra những tác
dụng phụ bất lợi trên người cao tuổi.
Một nghiên cứu tại Canada phát hiện ra rằng số thuốc trung bình bệnh
nhân cao tuổi có TKTC dùng trong một ngày nằm viện là 15 thuốc (từ 6 đến
28 thuốc) và 8 đến 9 vấn đề liên quan đến thuốc được xác định (không uống
thuốc, uống thuốc quá liều, uống thuốc thiếu liều lượng, các tác dụng phụ khi
dùng thuốc, tương tác thuốc...) [52].
Tình trạng sử dụng nhiều thuốc trong nhiều nghiên cứu được định nghĩa
là dùng đồng thời từ năm loại thuốc trở lên, có thể cho thấy các tác dụng phụ
liên quan đến thuốc đối với hội chứng dễ bị tổn thương, khuyết tật, tiểu không
tự chủ và ngã [53].
1.4. CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TIỂU KHÔNG TỰ CHỦ

1.4.1. Chẩn đoán
1.4.1.1. Khai thác tiền căn và triệu chứng của bệnh
• Các triệu chứng của bàng quang [35], [54]:
- Tiểu gấp: bệnh nhân than phiền có cảm giác buồn tiểu một cách đột
ngột, cần phải đi tiểu ngay và rất khó có thể nhịn được.
- Tiểu nhiều lần: bệnh nhân than phiền phải đi tiểu nhiều lần (trên 8 lần)
trong ngày tính từ lúc thức dậy cho đến lúc đi ngủ.
- Tiểu đêm: bệnh nhân than phiền về việc phải thức dậy ban đêm từ hai
lần trở lên để đi tiểu.
- Tiểu đau, buốt: Bệnh nhân sau khi đi tiểu có cảm giác đau, buốt vùng
hạ vị, bàng quang và niệu đạo.
- Tiểu khó, tiểu dắt: Đi tiểu nhiều lần, tiểu khó phải rặn nhưng số lượng
nước tiểu mỗi lần chỉ ít một.
•Chẩn đoán và phân loại TKTC qua bộ câu hỏi 3IQ [4], [55]


17

- Trong 3 tháng qua ông (bà) đã bao giờ xảy ra tình trạng đi tiểu không
tự chủ (nước tiểu tự chảy ra ngoài không theo ý muốn của bản thân) chưa?
- Trong 3 tháng qua ông (bà) bị rò rỉ nước tiểu trong hoàn cảnh nào?
+ Khi thực hiện một số hoạt động thể lực gắng sức như ho hắt hơi, cười,
tập thể dục?
+ Khi ông (bà) có cảm giác căng tức bàng quang cần phải đi tiểu gấp
nhưng không kịp?
+ Khi không có hoạt động thể chất, không có nhu cầu cấp bách?
- Trong 3 tháng qua ông (bà) đã bị rò rỉ nước tiểu thường xuyên nhất khi:
+ Khi thực hiện một số hoạt động thể lực gắng sức như ho hắt hơi, cười,
tập thể dục?
+ Khi ông (bà) có cảm giác căng tức bàng quang cần phải đi tiểu gấp
nhưng không kịp?
+ Khi không có hoạt động thể chất, không có nhu cầu cấp bách?
• Đánh giá mức độ TKTC [54], [56]
- Số lần rò rỉ nước tiểu của ông (bà) có thường xuyên không? (Mấy lần
trong 1 tuần; trong 1 tháng; xảy ra hàng ngày; liên tục)
- Số lượng nước tiểu rò rỉ mỗi lần có nhiều không? (Giọt hoặc rất ít;
Đủ để thay đồ lót; Rất nhiều)
- Ông / bà có thường xuyên đi tiểu vào ban ngày hay không? (Khoảng trên 4
giờ một lần; Cứ 3-4 giờ; Cứ 2-3 giờ; Cứ 1-2giờ; Ít nhất cứ mỗi giờ một lần)
- Mỗi đêm Ông / bà đi tiểu mấy lần (tính từ lúc lên giường đi ngủ cho
đến khi thức dậy vào sáng ngày hôm sau)? (1 lần, 2 lần, 3 lần, 4 lần, 5 lần
hoặc hơn)
•Nhật ký đi tiểu có thể được sử dụng để ghi nhận nhiều dữ liệu và đánh
giá cả hai rối loạn tiểu gấp và tiểu không tự chủ. Việc theo dõi nhật ký đi tiểu
trong 3 ngày là một bước đầu tiên quan trọng để bắt đầu một quá trình thay đổi
hành vi điều trị tiểu không tự chủ. Tần số đi tiểu khác nhau giữa các bệnh nhân.
Trong cộng đồng người trưởng thành khỏe mạnh, tần số đi tiểu trung bình là 6
lần/ngày hay khoảng cách giữa các lần đi tiểu là 3 đến 4 giờ [54], [58].
•Phải loại trừ nguyên nhân gây đi tiểu nhiều do thuốc bằng cách hỏi xem
bệnh nhân có đang phải thuốc gì hay không. Một số thuốc có thể gây đi tiểu


18

nhiều như: râu ngô, bông má đề, thuốc lợi niệu, thuốc chống trầm cảm, thuốc
điều trị tăng huyết áp, thuốc ngủ, thuốc an thần và các thuốc giảm đau.
•Hỏi về tiền sử bệnh: Cần khai thác các bệnh phối hợp vì có thể ảnh
hưởng trực tiếp đến chức năng của bàng quang gây nên các triệu chứng đường
tiết niệu dưới. Các bệnh thường phối hợp với tiểu không tự chủ bao gồm:
- Các bệnh về thần kinh như: đột quỵ, bệnh Parkinsons, bệnh xơ cứng rải
rác và tổn thương tủy sống sau chấn thương.
- Các bệnh lý nội khoa mạn tính như: Các nguyên nhân gây hạn chế
vận động do tai biến mạch máu não, bệnh đái tháo đường có biến chứng,
các rối loạn đại tiện, đau khung chậu mạn tính, tiền căn nhiễm khuẩn
đường tiết niệu tái diễn, đái máu đại thể, bệnh tăng nhãn áp góc đóng, bệnh
suy giảm nhận thức... tiền căn phẫu thuật vùng tiểu khung và tia xạ vùng
khung chậu [59].
1.4.1.2. Khám thực thể
•Khám chức năng nhận thức: Khám chức năng nhận thức của bệnh
nhân để phát hiện những thương tổn thần kinh tiềm ẩn. Mức độ suy giảm
nhận thức có liên quan mật thiết đến mức độ nặng của các triệu chứng bàng
quang, khi nghi ngờ có rối loạn nhận thức sẽ chuyển bệnh nhân khám chuyên
khoa tâm thần kinh [51], [60].
•Khám vùng bụng: Khi thăm khám vùng bụng cần chú ý phát hiện ra
các vết sẹo, các khối u vùng tiểu khung, thoát vị và khám cầu bàng quang
trước và sau khi đi tiểu [61].
•Thăm khám vùng tầng sinh môn và trực tràng: Thăm khám vùng tầng
sinh môn và trực tràng để đánh giá trương lực các cơ đáy chậu, khả năng tiến
hành tập thư giãn các cơ vùng đáy chậu, tập co giãn các cơ nâng hậu môn. Ở
nam giới khi khám trực tràng cần chú ý đánh giá tuyến tiền liệt về kích thước
của tuyến, mật độ của tuyến, bề mặt của tuyến. Ở phụ nữ chú ý phát hiện sa
bàng quang và sa trực tràng, trương lực các thành âm đạo, trương lực và phản
xạ của các cơ vùng tầng sinh môn đáy chậu [62].


19

1.4.1.3. Phân tich nước tiểu
•Tổng phân tích nước tiểu là một xét nghiệm cơ bản để sàng lọc và
phát hiện nhiễm khuẩn tiết niệu. Nhiễm khuẩn đường tiết niệu được xác
định qua xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu, bất thường khi có mặt của
các yếu tố hồng cầu, bạch cầu niệu và protein niệu. Tuy nhiên các phương
pháp này chỉ đủ nhạy để phát hiện nhiễm khuẩn đường tiết niệu với số
lượng vi khuẩn ≥ 10 5 [35].
1.4.1.4. Nuôi cấy nước tiểu
Xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu sẽ không thể phát hiện được vi
khuẩn khi số lượng vi khuẩn < 105 /ml. Cấy nước tiểu cung cấp thông tin là
tiêu chuẩn vàng giúp chẩn đoán xác định nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Lưu ý
là kỹ thuật cấy nước tiểu phải là cấy định lượng và mẫu nước tiểu gửi cấy
phải được lấy, bảo quản và chuyên chở đúng cách để tránh nhiễm bẩn và tránh
vi khuẩn bị tăng sinh hay bị giảm số lượng trước khi được tiến hành nuôi cấy
[35].
1.4.1.5. Những đánh giá chuyên sâu
Nếu khai thác được bất kỳ một bệnh phối hợp hoặc một tình trạng đặc
biệt nào đó, nên gửi bệnh nhân đi khám chuyên khoa để đánh giá sâu hơn.
1.4.2. Điều trị tiểu không tự chủ
Điều trị tiểu không tự chủ phụ thuộc vào phân loại, mức độ và nguyên
nhân cơ bản.
1.4.2.1. Các biện pháp can thiệp hành vi
•Hướng dẫn bệnh nhân các thói quen lành mạnh và điều chỉnh lối sống
[60], [61]
- Tập đi tiểu theo giờ: Nên lập kế hoạch để bệnh nhân dần dần tập đi tiểu
theo giờ, tập kìm nén cảm giác mắc tiểu nếu chưa đến thời gian quy định.
Hướng dẫn bệnh nhân khoảng thời gian thích hợp giữa 2 lần đi tiểu là 3- 4 giờ


20

- Điều chỉnh chế độ ăn uống: Một số thức ăn và đồ uống có tính lợi tiểu
hoặc gây kích thích bàng quang. Các loại nên kiêng dùng là caffeine, bia
rượu, thức uống có đường...
- Điều chỉnh lượng nước uống: Uống nước quá nhiều sinh ra lượng nước
tiểu nhiều dẫn đến tiểu nhiều lần, uống nước quá ít sinh ra tăng nồng độ nước
tiểu dẫn đến kích thích niêm mạc bàng quang gây tiểu gấp và là điều kiện
thuận lợi sinh ra nhiễm trùng niệu. Lượng nước uống cần thiết hàng ngày
trung bình khoảng 1500 ml hay 30ml/kg cân nặng.
- Kiểm soát cân nặng: Béo phì làm tăng áp lực trong bụng, đè ép lên
bàng quang và đáy chậu, làm nặng hơn các triệu chứng của tiểu không tự chủ.
Vì thế, giảm cân là một biện pháp quan trọng nhằm cải thiện tình trạng tiểu
không tự chủ.
- Chống táo bón: Táo bón mạn tính là yếu tố nguy cơ của tiểu không tự
chủ. Tỷ lệ bị táo bón cao hơn ở những người bị tiểu không tự chủ so với
không bị tiểu không tự chủ, cả ở nam và nữ.
- Ngừng hút thuốc lá: Hút thuốc lá có liên quan mật thiết với triệu chứng
đường tiết niệu dưới ở nam giới và với tiểu hông tự chủ cấp bách ở nữ giới.
Sự liên quan trên càng gia tăng ở người hút thuốc lá kinh niên do thường bị
ho nhiều làm tăng áp lực bụng.
•Các kỹ thuật tập luyện
- Tập kìm nén và kiểm soát tiểu [63]
+ Ngồi xuống nếu được, hít thở sâu và thư giãn;
+ Làm xao lãng cảm giác muốn tiểu;
+ Chủ động co thắt cơ đáy chậu (hoặc co thắt mạnh và nhanh 5 – 6 lần,
hoặc co thắt vừa phải và giữ 10 giây).
- Tập luyện bàng quang: Là áp dụng các biện pháp kìm nén đi tiểu nêu
trên kết hợp với theo dõi trên nhật ký đi tiểu, để từ từ kéo dài khoảng thời
gian giữa 2 lần đi tiểu. Có thể lúc đầu bệnh nhân phải đi tiểu mỗi 30 – 60
phút, sau đó tập kéo dài thêm mỗi 15 – 30 phút mỗi 1 -2 tuần, để dần dần đạt
mục tiêu giữ được 3 – 4 giờ [64].


21

- Tập co thắt cơ sàn chậu: Tập cơ sàn chậu là một trong những biện pháp
chính điều trị tiểu không kiểm soát gắng sức do suy yếu sàn chậu. Tập cơ đáy
chậu có ý nghĩa nhằm hỗ trợ việc kìm nén đi tiểu để điều trị tình trạng tiểu
gấp hay tiểu gấp không kiểm soát [65], [66].
Bệnh nhân tự tập, bằng cách hướng dẫn cho họ cách tự co thắt cơ đáy chậu
kiểu như thót hậu môn để tránh xì hơi khi trung tiện hay thót cơ để ngắt cục phân
khi đang đi cầu. Cách thông dụng nhất là tập mỗi ngày 3 đợt, mỗi đợt khoảng 15
lần, mỗi lần thót cơ khoảng 10 giây và nghỉ khoảng 10 giây [67], [68].
Tập theo phương pháp Kegel: Phương pháp tập luyện làm tăng trương
lực và sức co bóp cơ đáy chậu [69].
Dùng máy tập cơ sàn chậu: Các loại máy hiện nay thường kết hợp với
kích thích điện. Tần suất tập là từ mỗi ngày một lần đến mỗi tuần một lần tùy
theo tác giả, mỗi lần khoảng 20 phút kích thích điện và khoảng 20 phút tập co
thắt cơ đáy chậu [69].
1.4.2.2. Các biện pháp dùng thuốc [70]
- Estrogen tại chỗ thường được cung cấp qua đặt âm đạo và kem bôi.
Tuy nhiên, đối với 1 số phụ nữ các thiết bị đặt vòng đã được ngâm tẩm chất
estrogen mà được đặt vào trong âm đạo lên đến 3 tháng có thể hiệu quả hơn
việc điều chỉnh estrogen hàng ngày.
- Chẹn anpha 1-adrenergic: Thực sự vượt trội hơn loại khác Anticholinergic
có tác dụng phụ có thể gây khó khăn cho người cao tuổi, bao gồm khô mắt và
miệng, táo bón, đau đầu, chóng mặt, thay đổi huyết áp tư thế
- Thuốc Tamsulosin và Siloclosin là thuốc chẹn chọn lọc anpha 1a với liều
tối thiểu bắt buộc tới các mô không phải hệ tiết niệu và do đó ít gây hạ huyết áp.
- 5 anpha-reductase inhibitor: Thuốc này ngăn việc chuyển đổi của
testosteron thành chất chuyển hóa hoạt động dihydrotestosteron làm giảm
khối lượng mô của tiền liệt tuyến và do đó làm giảm bí tiểu.
- Các thuốc kháng muscarinics: Hiện nay thuốc nhóm kháng muscarinics
là loại được ưu tiên chọn lựa trong điều trị bàng quang tăng hoạt. Các loại
thuốc kháng muscarinics


22

+ Oxybutynin uống 5-10mg hàng ngày.
+ Tolterodine uống 4mg hàng ngày.
+ Trospium uống 20mg hàng ngày.
+ Solifenacin uống 5-10mg hàng ngày.
+ Darifenacin uống 7,5-15mg hàng ngày.
+ Fesoterodine uống 4-8mg hàng ngày.
•Điều trị khi kháng thuốc
- Tiêm Onabotulinumtoxin A vào bàng quang [71]
Onabotulinumtoxin A (BTx) tác động qua cơ chế cảm giác của bàng
quang bằng cách điều hòa sự phóng thích ATP ở niệu mạc gây ra ức chế thần
kinh hướng tâm.
- Kích thích thần kinh cùng [72]
Đây là phương pháp cấy các dây điện cực vào rễ thần kinh cùng S3, nối
với một máy tạo nhịp đặt dưới da vùng mông, qua đó kích thích thần kinh
cùng để điều hòa các phản xạ thần kinh chi phối cơ chóp bàng quang và cơ
đáy chậu.
- Kích thích thần kinh chày [73]
TK chày là dây TK hỗn hợp cảm giác và vận động từ rễ L4 thông qua
S3, chi phối các dây thần kinh bản thể và tự động của các cơ đáy chậu, cơ
bàng quang và cơ thắt niệu đạo.
1.4.2.3. Điều trị phẫu thuật
Nếu phương pháp điều trị khác không hiệu quả, một số phương pháp
phẫu thuật đã được phát triển để điều trị tiểu không tự chủ.
- Cơ vòng tiểu nhân tạo: Thiết bị nhỏ đặc biệt hữu ích cho những nam
giới đã suy yếu cơ vòng tiết niệu do điều trị ung thư tuyến tiền liệt hoặc phì
đại tuyến tiền liệt tuyến. Thiết bị được cấy quanh cổ bàng quang. Các vòng
chất lỏng chứa đầy nước giữ cho cơ vòng đóng chặt cho đến khi đã sẵn sàng
để đi tiểu. Để đi tiểu, nhấn một van cấy dưới da làm cho vòng mở và cho phép
nước tiểu từ bàng quang chảy ra [74].


23

- Phẫu thuật Sling: Sử dụng các dải mô của cơ thể, vật liệu tổng hợp hoặc
lưới để tạo một vùng chậu hoặc treo võng xung quanh niệu đạo và cổ bàng
quang. Sling giúp giữ niệu đạo đóng, đặc biệt là khi ho hoặc hắt hơi [74].
- Phẫu thuật treo cổ bàng quang: Phẫu thuật cung cấp hỗ trợ cho niệu đạo
và cổ bàng quang, khu vực của cơ bàng quang dày lên, nơi kết nối vào niệu
đạo [74].
1.5. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI

1.5.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam chưa có công bố nghiên cứu về tỷ lệ tiểu không tự chủ ở
người cao tuổi. Tỷ lệ mắc tiểu không tự chủ do bàng quang tăng hoạt ở người
lớn tại Việt Nam là 12,2% [75].
Tỷ lệ tiểu không kiểm soát ở phụ nữ đã từng sinh đẻ là 12,5% [76]. Són tiểu
gặp ở 33,9% phụ nữ trên 50 tuổi và 37,3% ở những người đã mãn kinh [76].
1.5.2. Các nghiên cứu trên thế giới
• Christine Khandelwal: Nghiên cứu tiểu không tự chủ [7].
- Tiểu không tự chủ gắng sức chiếm 24-45% ở phụ nữ trên 30 tuổi.
- Tiểu không tự chủ cấp bách chiếm 9% ở phụ nữ trên 40-44 tuổi, 31% ở
phụ nữ trên 75 tuổi, 42% ở nam giới trên 75 tuổi. Tiểu không tự chủ do tràn
đầy chiếm 5% bệnh nhân không kiểm soát tiểu mạn tính.
• Patrick J. Shenot (2012): Nghiên cứu tiểu không tự chủ ở người lớn
tuổi [9].
- Tiểu không tự chủ có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến hơn ở
người già và phụ nữ, ảnh hưởng đến khoảng 35% phụ nữ lớn tuổi và 22%
nam giới lớn tuổi, tỷ lệ bệnh tăng cao ở các nhà dưỡng lão có thể lên đến
60%. Tiểu không tự chủ làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống bằng cách
gây ra sự bối rối, kỳ thị, cô lập, và trầm cảm.
- Nhiều bệnh nhân cao tuổi tiểu tiện không kiểm soát là một gánh nặng
cho những người chăm sóc. Người cao tuổi với tiểu không tự chủ khẩn cấp có
tăng nguy cơ té ngã và gãy xương.


24

• Aniuliene, R.(2016): Nghiên cứu yếu tố nguy cơ và phân loại tiểu
không tự chủ ở người trung niên và lớn tuổi [77].
- Tiểu không kiểm soát ảnh hưởng đến 20% -30% số người trên toàn thế
giới; 20% -50% phụ nữ và 11-34% nam giới bị ảnh hưởng.
- Hình thức phổ biến của tiểu không tự chủ ở phụ nữ: Tiểu không tự chủ
gắng sức 49%; tiểu không tự chủ cấp bách chiếm 21%.
- Các yếu tố nguy cơ cho phụ nữ với tiểu không tự chủ gắng sức: tuổi, ít
vận động, đứng lâu, tăng huyết áp động mạch, bệnh tiểu đường, mãn kinh…
• Nghiên cứu của ASFU (2001): Được tiến hành ở 11 nước Châu Á [78].
- Tiến hành trên 5.502 phụ nữ ≥18 tuổi, có các triệu chứng tiểu nhiều (≥
8 lần/24 giờ), tiểu gấp, tiểu gấp kèm không kiểm soát.
- Tỉ lệ bị bàng quang tăng hoạt là 53,1%. Chủ yếu là tiểu gấp (65,4%),
tiểu nhiều lần (55,4%), tiểu gấp không kiểm soát (21,4%).
- 21,1% bệnh nhân bị ảnh hưởng nhiều cần phải điều trị. Tần suất bệnh
tăng theo tuổi (tăng gấp 1,3 lần sau 40 tuổi và gấp 2,1 lần sau 70 tuổi).
- Những người có tiền sử gia đình rối loạn đi tiểu làm tăng nguy cơ gấp
1,6 lần. Tỉ lệ dân số ở thành thị mắc bệnh cao hơn, gấp 1,2 lần.
• Ge, J. Yang, P. Zhang (2015): Tỷ lệ và yếu tố nguy cơ của tiểu không
tự chủ ở phụ nữ Trung Quốc: một nghiên cứu dựa vào dân số [79].
- Để ước tính tỷ lệ của tiểu không tự chủ và xác định các yếu tố nguy cơ
ở phụ nữ Trung Quốc dựa trên 3058 phụ nữ ở Bắc Kinh, Trung Quốc vào
năm 2009.
- Tỷ lệ tiểu không tự chủ được ước tính là 22,1% , với tiểu không tự chủ
gắng sức 12,9% , tiểu không tự chủ cấp bách 1,7% và tiểu không tự chủ hỗn
hợp 7,5%.


25

- Các triệu chứng và mức độ tiểu không tự chủ tăng lên cùng với tuổi tác,
với mức cao nhất những người trong độ tuổi ≥ 70. Tuy nhiên, tiểu không tự
chủ gắng sức thường thấy ở những người trong độ tuổi từ 50 đến 69 tuổi.
- Yếu tố nguy cơ đối với tiểu không tự chủ bao gồm lão hóa, nền giáo dục
thấp hơn, mãn kinh, rối loạn kinh nguyệt, tiền sử mang thai, cắt tầng sinh môn,
đau vùng chậu mãn tính, bệnh phụ khoa, các bệnh mãn tính khác, táo bón.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×