Tải bản đầy đủ

NGHIÊN cứu mức độ SUY GIẢM THÍNH lực và PHỔ âm ở TRẺ có VIÊM TAI GIỮA ứ DỊCH

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

ĐINH TUẤN ANH

NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ SUY GIẢM THÍNH LỰC
VÀ PHỔ ÂM Ở TRẺ CÓ VIÊM TAI GIỮA Ứ DỊCH

Chuyên ngành : Tai - Mũi - Họng
Mã số

: 60720155

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Phạm Thị Bích Đào


HÀ NỘI - 2018


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn : Ban giám
hiệu, phòng đào tạo sau đại học, bộ môn Tai Mũi Họng - Trường Đại học Y
Hà Nội và Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt, với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành
cảm ơn PGS.TS. Phạm Thị Bích Đào giảng viên tại bộ môn Tai Mũi Họng
trường Đại học Y Hà Nội, người thầy đã hết lòng chỉ bảo, hỗ trợ, dìu dắt tôi
trong quá trình học tập, nghiên cứu và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành
luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Hội đồng chấm Luận văn Tốt
nghiệp Thạc sĩ đã có những ý kiến đóng góp, xây dựng quý báu giúp tôi hoàn
thiện hơn trong cách trình bày, cách hiểu đối với các vấn đề trong luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới GS. Nguyễn Văn Lợi – Viện
Ngôn ngữ học đã cho tôi những chỉ dẫn và ý kiến đóng góp quý báu trong
quá trình nghiên cứu 1 năm qua.
Cuối cùng tôi xin được gửi tình thương, lòng biết ơn sâu sắc tới gia
đình, bạn bè và những người thân yêu đã hết lòng động viên, giúp đỡ, là chỗ
dựa tinh thần vững chắc cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
luận văn này.
Hà Nội, ngày 10 tháng 09 năm 2018
Đinh Tuấn Anh


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân
tôi. Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực. Các tài liệu viện dẫn
trong luận văn đều đã được công bố và được trích dẫn theo đúng nguyên tắc.
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung của luận văn.
Hà Nội, ngày 10 tháng 09 năm 2018
Tác giả

Đinh Tuấn Anh


MỤC LỤC

PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
OME

: Otitis media with effusion.

VTGƯD : Viêm tai giữa ứ dịch.
VTGC

: Viêm tai giữa cấp.

TPP

: Áp lực đỉnh nhĩ đồ (Tympanometric Peak Pressure).

ECV

: Dung tích ống tai ngoài (Equivalent Ear Canal Volume) .

SA

: Độ thông thuận (Static Acoustic Admittance).

TW

: Chiều rộng đồ thị (Tympanometric width).


DANH MỤC HÌNH


DANH MỤC BIỂU ĐỒ


DANH MỤC HÌNH


9

ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm tai giữa ứ dịch (otitis media with effusion - OME) là tình trạng
viêm niêm mạc tai giữa kèm theo sự tồn tại dịch trong hòm tai mà không
có bất cứ triệu chứng của tình trạng nhiễm trùng cấp tính, th ể m ạn tính
khi bệnh kéo dài trên 3 tháng[1]. Bệnh thường xuất hiện ở trẻ 1- 3 tuổi,
tiến triển âm thầm, ít triệu chứng nên thường không được phát hi ện và
điều trị kịp thời, về lâu dài để lại hậu quả xấu về sức nghe, t ừ đó ảnh
hưởng tới sự phát triển ngôn ngữ cũng như khả năng học tập và phát
triển trí tuệ của trẻ[2].
Theo thống kê của tổ chức Nhi khoa Hoa Kỳ, có khoảng 2,2 triệu
lượt chẩn đoán viêm tai giữa ứ dịch hàng năm, khoảng 90% trẻ em mắc
trước tuổi học đường, 50% trẻ em mắc ngay trong năm đầu đời, tăng lên
60% trong năm thứ 2, thường gặp nhất ở độ tuổi từ 6 tháng tới 4 năm
tuổi. Nhiều trẻ được điều trị khỏi trong vòng 3 tháng, nh ưng có đến
30% đến 40% trong số đó bị tái phát, 5% đến 10% trẻ b ị kéo dài t ới 1
năm hoặc lâu hơn[1].
Trong khi đó, quá trình hình thành ngôn ngữ lời ở trẻ đặc biệt từ
18- 36 tháng sau khi sinh[3] và sự phát triển hoàn thiện kéo dài trong
suốt thời kì học đường sau này . Sự hình thành ngôn ngữ ở trẻ em liên


quan tới nhiều yếu tố và cơ chế phức tạp như tiếp nhận thông qua hình
ảnh - âm thanh - cử chỉ, phân tích ngôn ngữ lời ở vỏ não. Việc tiếp nhận
âm thanh đóng vai trò quan trọng, qua cơ quan thính giác, tr ẻ ghi nh ận
âm thanh, mẫu âm thanh, các quy tắc và cách thức phát âm[ 4]. Viêm tai
giữa ứ dịch gây nghe kém, giảm độ tập trung của trẻ. Mặc dù trẻ mắc


10

viêm tai giữa ứ dịch vẫn phát triển được ngôn ngữ nhưng sự phát tri ển
đó có thể không hoàn thiện, biểu hiện ở khả năng nói của trẻ[ 3]. Có tới
62 % trẻ mắc viêm tai giữa ứ dịch được cha mẹ chúng ghi nh ận có
những vấn đề về nghe và phát âm[5]. Do đó việc đánh giá sự ảnh hưởng
của viêm tai giữa ứ dịch đối với khả năng nói của trẻ sẽ giúp nh ững
người chăm sóc trẻ có thể chú ý nhận biết sớm và các bác sĩ tư vấn, h ỗ
trợ điều trị.
Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu này với 2 mục tiêu:
1.

Nhận xét mức độ suy giảm thính lực ở trẻ 3-6 tuổi m ắc viêm

2.

tai giữa ứ dịch dựa trên nhĩ lượng đồ.
Đánh giá mức độ suy giảm phổ âm ở trẻ 3-6 tuổi có viêm tai
giữa ứ dịch kéo dài.


11

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Lịch sử nghiên cứu.
1.1.1.

Thế giới.

1959, Terkildsen, Thomsen đã trình bày kỹ thuật đánh giá áp suất và
kháng trở âm của tai giữa, thông qua đó giới thiệu về ứng dụng của nhĩ lượng.
Các máy đo nhĩ lượng bắt đầu được phát triển vào đầu thập niên 70 và ứng
dụng rộng rãi trong các bệnh lý viêm tai giữa.[6]
2001, Heikki Puhakka đã đánh giá hình thái nhĩ lượng ở trẻ viêm tai giữa
dưới 2 tuổi.[6]
2016, Khurshid Anwar và cộng sự đánh giá độ chính xác của nhĩ lượng
đồ ở trẻ viêm tai giữa ứ dịch.[7]
1987, Paden đã có nghiên cứu về các âm không phát ngôn được của
những trẻ mắc viêm tai giữa ứ dịch dưới 3 tuổi[8].
1999, Petinou và cộng sự nghiên cứu đối chứng về sự phát triển ngôn
ngữ ở trẻ từ 3 tuổi đến 6 tuổi nhận thấy sự phát âm phụ âm của nhóm trẻ viêm
tai giữa ứ dịch kém hơn so với nhóm không mắc bệnh[9] .
2000, Shriberg và cộng sự đánh giá sự suy giảm thính lực ở trẻ dưới 3
tuổi bị viêm tai giữa thanh dịch và sự phát triển ngôn ngữ của chúng[10].
2000, Paradise nghiên cứu hồi cứu ở những trẻ chậm phát triển ngôn ngữ
phát hiện thấy 48,7% trong số này bị viêm tai giữa ứ dịch [3].
2007, Howden tìm hiểu không thấy sự ảnh hưởng của tiền sử viêm tai
giữa tái diễn trước 3 tuổi với phát âm ở trẻ trước tuổi học đường.[11]


12

1.1.2.

Trong nước

1999, Nguyễn Tấn Phong đã đưa ra quan điểm về quy luật vận động của
nhĩ đồ theo không gian và thời gian trong các bệnh viêm tai giữa[12].
2009, Lương Hồng Châu, Nguyễn Thị Minh Tâm đã nghiên cứu đánh
giá những biến động về hình thái của nhĩ lượng đồ trong các bệnh viêm tai
giữa màng nhĩ đóng kín.[13]
2016, Trần Anh Văn có nghiên cứu trong đó tìm hiểu về đặc điểm nhĩ
lượng ở trẻ viêm tai giữa ứ dịch dưới 6 tuổi.[14]
2016, Phạm Thị Bích Đào, Phạm Trần Anh nghiên cứu về sự phát triển
ngôn ngữ ở trẻ mắc viêm tai giữa ứ dịch chỉ ra mối liên quan giữa thời gian và
tần suất mắc viêm tai giữa ứ dịch với sự phát âm của trẻ [15].
1.2. Sơ lược giải phẫu, sinh lý và chức năng tai giữa
Tai giữa là hệ thống các khoang rỗng chứa khí bao gồm: hòm nhĩ,
vòi nhĩ và các tế bào xương chũm. Các phần này có liên quan mật thiết
với nhau và với mũi họng cả về giải phẫu cũng như chức năng sinh lý bao gồm cả chức năng nghe [16].
1.2.1.

Hòm nhĩ

Hòm nhĩ là một hốc xương nằm trong xương đá, phía tr ước thông
với vòm mũi họng qua vòi nhĩ, phía sau thông với hệ th ống thông bào
xương chũm bởi 1 cống nhỏ gọi là sào đạo, bên trong có hệ th ống x ương
con[16].
Hòm nhĩ giống như 1 hình hộp chữ nhật gồm 6 thành:
− Thành ngoài của hòm nhĩ gồm 2 phần:
+ Phần trên: phần xương gọi là tường thượng nhĩ.


13

+ Phần dưới: màng nhĩ – một màng dai, mỏng và cứng, màu h ơi
xám, trong, sáng bóng; lắp vào rãnh nhĩ bởi vòng sụn s ợi. Qua
màng nhĩ có thể đánh giá gián tiếp tình trạng tai giữa[ 12].

Hình 1.1: Giải phẫu tai giữa (cắt dọc ngang)[ 17].


Thành trong: Phía trên là thành trong của thượng nhĩ có gờ c ủa ống bán
khuyên ngoài nằm ngay trên đoạn II dây VII. Bên d ưới là thành trong c ủa
trung nhĩ có 2 cửa sổ: cửa sổ bầu dục ở phía sau trên ngay d ưới ống
Fallope có đế xương bàn đạp lắp vào, cửa sổ tròn ở phía sau d ưới có 1
màng mỏng bịt kín gọi là màng nhĩ phụ. Ở giữa lồi lên là ụ nhô, do ốc tai



lồi vào.
Thành trước: Còn gọi là thành động mạch cảnh trong, cách đ ộng m ạch
bởi vách xương mỏng, hẹp ở phần trên và mở rộng ở phần dưới n ơi mà



vòi nhĩ bắt đầu. Ngay trên lỗ vòi nhĩ có lỗ cơ búa.
Thành sau: Ph ần trên c ủa thành sau là sào đ ạo n ối li ền hòm nhĩ v ới
sào bào. Ph ần d ướ i c ủa thành sau có t ường dây VII ngăn cách hòm nhĩ



với sào bào.
Thành dưới: thấp hơn bờ dưới ống tai ngoài độ 1 mm. Thành này liên hệ
với nóc vịnh cảnh, dưới nó là tĩnh mạch cảnh trong.


14



Thành trên: hay trần nhĩ là một lớp xương mỏng do xương trai và xương
đá tạo thành, ngăn cách tai giữa với hố não giữa. Ở đó có 1 khớp là kh ớp
trai đá.

Hình 1.2: Hòm nhĩ nhìn từ ngoài (bỏ màng nhĩ) [17]

∗ Hệ thống xương con : Gồm 3 xương là xương búa, xương đe và
xương bàn đạp khớp với nhau theo thứ tự trên. Chức năng chính c ủa
chuỗi xương con là dẫn truyền rung động âm thanh, khuếch đ ại c ường
độ của rung động lên 1,3 lần [12].
1.2.2.

Xương chũm

Xương chũm là một khối xương hình núm vú ở phía sau ống tai
ngoài, sau hòm nhĩ và mê nhĩ, trong có nhiều hốc khí gọi là các tế bào
chũm, ít vai trò trong chức năng nghe của tai giữa. [12].
1.2.3.

Vòi nhĩ

Vòi nhĩ (vòi Eustachian) là một ống xương sụn, nối thành trước hòm
nhĩ với thành bên vòm mũi họng, nằm hướng chếch vào trong, ra tr ước
và xuống dưới. Lỗ vòi mở ra ở thành bên vòm mũi họng, bình th ường
đóng kín, mở khi ngáp hay nuốt,...


15

1.2.3.1.Cấu trúc vòi nhĩ.
− Vòi nhĩ chia làm 2 phần:
+ 1/3 sau trên là phần xương nằm hoàn toàn trong ph ần đá c ủa x ương
thái dương liên tiếp với thành trước của hòm nhĩ.
+ 2/3 trước dưới là phần sụn và màng, chỗ tiếp nối hẹp nhất gọi là eo vòi.
Sụn vòi được tạo thành từ một sụn, nó uốn cong tạo nên thành gi ữa,
thành trên (mái) và một phần thành bên, phần còn lại được che ph ủ b ởi
màng, đó là chỗ gắn vào của những sợi mở vòi của cơ căng màn hầu.

Hình 1.3: Cấu trúc vòi nhĩ[18].


Các cơ bao vòi : gồm 4 cơ là cơ căng màn hầu, cơ nâng màn hầu, cơ loa
vòi và cơ căng màng nhĩ. Tác dụng mở vòi trực tiếp là bó gi ữa của c ơ căng



màn hầu. Vòi đóng lại 1 cách thụ động.
Lớp mỡ Osmann: nằm ở dưới phần màng của vòi nhĩ, nó hỗ tr ợ cho s ự
đóng kín vòi nhĩ.
* Sự khác biệt giữa vòi nhĩ trẻ em và người lớn:
Vòi nhĩ trẻ em rộng hơn, ngắn hơn, thẳng hơn và nằm ngang h ơn so
với người trưởng thành [18]:
+ Chiều dài: Vòi nhĩ ở trẻ em ngắn hơn, khoảng 15mm ở trẻ
dưới 9 tuổi bằng khoảng 1/2 ngưòi trưởng thành (30 – 38
mm).


16

+ Hướng: Nằm ngang hơn, ở trẻ nhỏ góc tạo với mặt phẳng ngang
là 100. Từ trên 7 tuổi góc này là giống với người trưởng thành
(450) [12].
+ Eo: hầu như không có.
+ Sụn vòi: mật độ elastin ít hơn, mềm, hoạt động kém hiệu quả
hơn nên vòi nhĩ thường mở ở trẻ nhỏ.
+ Lớp đệm mỡ: ít hơn ở trẻ em, làm cho việc đóng vòi kém hiệu
quả hơn.

Hình 1.4: Vòi nhĩ trẻ nhỏ và người trưởng thành[ 18].
1.2.3.2.

Chức năng vòi nhĩ

Gồm 3 chức năng chính:


Chức năng thông khí: là chức năng quan trọng nhất- giúp điều hòa và
cân bằng áp lực của hòm nhĩ với môi trường ngoài thông qua ch ức năng



đóng mở loa vòi[2].
Chức năng bảo vệ: Phản xạ đóng loa vòi ngăn không cho áp lực âm



thanh và dịch từ vòm mũi họng xâm nhập tai giữa [2].
Dẫn lưu và làm sạch: nhờ hoạt động của hệ thống niêm dịch – lông
chuyển của niêm mạc hòm nhĩ và vòi nhĩ mà dịch tiết trong tai gi ữa đ ược


17

dẫn lưu thường xuyên xuống vòm họng. Chức năng này được tăng cường
thêm nhờ hoạt động đóng mở của vòi nhĩ[2].

Hình 1.5: Chức năng của vòi nhĩ[2].
Ngoài ra, theo Nguyễn Tấn Phong, vòi nhĩ còn có ch ức năng thu
và phát âm thanh, nhờ đó có thể nghe và định vị âm thanh sinh lý hay
bệnh lý của nội tạng như cơ quan tiêu hóa, tim mạch[ 12].
1.2.4.

Sinh lý dẫn truyền âm của tai giữa.

Rung động âm thanh trong không khí được màng nhĩ biến thành các
rung động cơ học và chuyển các xung động đó cho xương búa. Xung động
đó truyền qua chuỗi xương con qua cửa sổ bầu dục vào tai trong[ 12].
Diện tích rung động của màng nhĩ lớn gấp 17 lần diện tích c ửa sổ
bầu dục, tạo nên tỷ số thủy lực là 17/1. Tỷ lệ đòn bẩy của chuỗi xương
con làm tăng cường độ âm lên 1,3 lần. Nhờ 2 cơ chế này, tai gi ữa giúp cho
tai phục hồi được 28 dB trong số 30 dB bị m ất do năng l ượng âm đi t ừ
không khí vào chất dịch của tai trong[12].
Ngoài ra sự hoạt đ ộng lệch pha gi ữa c ửa s ổ tròn và c ửa s ổ b ầu
dục làm cho năng l ượng sóng âm đ ược d ẫn truy ền trong n ội d ịch và
ngoại dịch của tai trong .


18

1.3. Viêm tai giữa ứ dịch.
Viêm tai giữa ứ dịch (OME), được định nghĩa là tình trạng tồn tại
dịch trong tai giữa mà không kèm theo các dấu hiệu viêm tiến triển[ 1].
1.3.1.

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh.

Rối loạn chức năng vòi: là yếu tố quan trọng nhất trong cơ chế bệnh
sinh của VTGƯD. Vòi nhĩ có chức năng thông khí là quan trọng nhất[18].
Nếu chức năng này bị rối loạn sẽ dẫn tới biến đổi thành phần khí trong hòm
tai, dẫn đến dị sản niêm mạc: tăng tế bào chế nhầy và tuyến dưới niêm mạc,
dẫn đến tăng tiết dịch trong tai giữa và làm rối loạn hoạt động của hệ thống
lông chuyển. Mặt khác giảm áp lực trong hòm nhĩ là yếu tố cản trở sự dẫn lưu
dịch từ hòm nhĩ vào họng đồng thời hút dịch chứa vi khuẩn từ mũi họng vào
tai giữa. Ngoài ra vòi nhĩ viêm phù nề và bị bít tắc khiến cho quá trình dẫn
lưu dịch bị ngừng trệ, dịch ứ lại trong hòm nhĩ ngày càng nhiều. Đây chính là
nguồn gốc của viêm tai giữa ứ dịch[2] .
Vi khuẩn và virus: nhiều chủng vi khuẩn khác nhau có mối liên quan,
trong đó Haemophilus influenzea là tác nhân đứng đầu, sau đó là Moraxella
catarrhalis, Streptococcus pneumonia và các chủng vi khuẩn khác chiếm tỷ lệ
rất thấp[2]. Những virus tìm thấy gồm có respiratory syncytial virus (RSV),
influenzavirus, adenovirus, parainfluenza virus, và rhinoviruses[2].
Dị ứng: được coi là 1 yếu tố trong cơ chế bệnh sinh dù mối liên quan
giữa chúng chưa được hiểu rõ. Một số giả thiết được nêu ra như: 1) tai giữa là
cơ quan đích, 2) dị ứng có thể gây ra viêm tắc nghẽn mũi, 3) dị ứng gây sưng
viêm niêm mạc vòi nhĩ, 4) vi khuẩn từ dịch tiết mũi họng do dị ứng bị hút vào
tai giữa[2].


19

Trào ngược dạ dày thực quản: Tasker năm 2002 và nhiều nghiên cứu
khác đã báo cáo về việc tìm thấy pepsin / pepsinogen các mẫu dịch tai giữa
thu được khi đặt ống thông khí ở trẻ em cho thấy đây có thể là một yếu tố gây
bệnh và vai trò tiềm năng của điều trị chống trào ngược trong điều trị viêm tai
giữa ứ dịch ở một số trẻ[2].
1.3.2.

Cơ chế suy giảm sức nghe trong viêm tai giữa ứ d ịch.

Viêm tai giữa ứ dịch gây nghe kém dẫn truyền, giảm sức nghe từ 050 dB trong khoảng tần số giao tiếp (500Hz- 4000Hz), trung bình
khoảng 25- 30 dB, trong đó có khoảng 20% mất s ức nghe trên 35 dB ở
tần số thấp[5],[ 19]. Các nghiên cứu chỉ ra, cơ chế chính làm giảm sức
nghe các âm ở tần số thấp là do ứ dịch làm giảm khoảng dẫn truy ền và
thay đổi vị trí của khoảng khí trong tai giữa, giảm s ức nghe các âm ở t ần
số cao là do sự gia tăng khối lượng màng nhĩ bởi dịch mang theo trong tai
giữa[20]. Ngoài ra, dịch cùng với giảm áp suất hòm nhĩ cũng gây hạn chế
vận động của chuỗi xương con. Tất cả các lý do trên gây tăng tr ở kháng
âm của tai giữa, giảm sức nghe của trẻ.[19]
Một số nghiên cứu cho thấy viêm tai giữa ứ dịch tái phát, kéo dài
còn có thể gây nghe kém tiếp nhận ở các tần số cao ( trên 4000 Hz)[ 21].
1.3.3.
1.3.3.1.


Chẩn đoán.
Triệu chứng lâm sàng.

Triệu chứng cơ năng: hay gặp nhất là nghe kém, nhưng trẻ em hiếm khi tự
nhận thấy và nói về nó với người chăm sóc [22]. Các dấu hiệu chậm phát triển
ngôn ngữ thường chỉ thấy ở giai đoạn rất muộn và trong những trường hợp bị
cả 2 tai [2]. Các triệu chứng khác như:
+ Cảm giác đầy tai và nghe kém.


20

+ Cảm giác dịch chuyển trong tai hay thay đổi nghe khi thay đổi tư thế
đầu. Bệnh nhân thường nghe rõ hơn khi nằm nghiêng về bên lành.
+ Có thể có chóng mặt, đau tai nhưng rất hiếm.
− Triệu chứng thực thể: Sự xuất hiện dịch trong tai giữa trong khi không
có dấu hiệu viêm cấp tính là cơ sở để chẩn đoán. Dịch có thể là thanh
dịch, dịch nhầy hay mủ; có thể thấy qua soi tai:
+ Màng nhĩ dày đục mất nón sáng, có thể co lõm kém di động khi
làm nghiệm pháp Valsalva hay soi tai có bơm hơi.
+ Hình ảnh mức nước hơi, có bóng khí sau màng nhĩ.

Hình 1.6: dịch trong tai giữa nhìn qua màng nhĩ[ 5].
Ngoài ra thăm khám mũi họng để phát hiện VA quá phát, khối u vòm, dị
tật hở hàm ếch, cơ địa dị ứng… là những nguyên nhân có thể gây rối loạn
chức năng vòi, gây viêm tai giữa ứ dịch.


21

1.3.3.2.

Các phương pháp thăm dò chức năng nghe ở trẻ em.

Hình 1.7: Các phương pháp thăm dò chức năng nghe ở trẻ em[ 23].
 Nhĩ lượng đồ: là phương pháp cận lâm sàng tuyệt vời để đánh giá tình trạng
tai giữa nhất là trong những trường hợp khó đánh giá qua soi tai[24].
− Cơ sở lý thuyết:
Cơ chế: Âm thanh từ tai ngoài qua tai giữa vào tai trong. Hệ thống dẫn
truyền âm thanh của tai giữa tạo lên 1 kháng trở với âm thanh làm một phần
năng lượng âm bị dội lại. Thu nhận là cách năng lượng âm truyền qua tai
giữa, trở kháng càng lớn thì năng lượng âm truyền qua tai giữa càng giảm, độ
thông thuận âm giảm, phần năng lượng âm dội lại càng lớn và phần năng
lượng này ta có thể đo đạc được. Bình thường, áp suất không khí tai giữa xấp
xỉ với áp suất không khí tai ngoài, và tại điểm cân bằng này độ thông thuận
âm là lớn nhất[25].
Các yếu tố cấu trúc của tai giữa như chuỗi xương con, tình trạng áp lực
trong tai giữa,… đều ảnh hưởng đến kháng trở của tai giữa. Thông qua việc
đánh giá kháng trở âm hay độ thông thuận âm, ta có thể đánh giá gián tiếp
tình trạng tai giữa.


22

Nguyên lý hoạt động: Máy đo nhĩ lượng có nút tai nút kín ống tai
ngoài, nút tai này sẽ phát ra 1 đơn âm ( thông thường là 220/226 HZ) đồng
thời làm thay đổi áp lực khí ống tai ngoài. Thông qua âm dội lại máy sẽ tính
được độ thông thuận của tai giữa ( SC: static compliance)[6].
Bơm khí

Đơn âm 226Hz
Microphone, thu âm
Hình 1.8: Nguyên lý hoạt động máy đo nhĩ lượng[ 26] .
Nhĩ lượng đồ là đồ thị biểu thị mối tương quan giữa độ thông thuận âm (thể
hiện ở trục tung) với sự thay đổi áp suất không khí của ống tai ngoài (trục hoành).
− Các thông số cần đánh giá ở nhĩ lượng đồ:
+ Các dạng nhĩ đồ: trong VTGƯD, đỉnh nhĩ đồ thường tù, lệch sang trái (dạng
B, C, As theo Jerger)[2],[ 5].


23

Hình 1.9: Phân loại nhĩ lượng theo Jerger [2].
1999, Nguyễn Tấn Phong nêu quan điểm về trạng thái động của nhĩ đồ
theo không gian và thời gian, trong đó phân loại nhĩ đồ thành 2 dạng: tung đồ
nhĩ lượng- phản ánh hoạt động của màng nhĩ- xương con và hoành đồ nhĩ
lượng- phản ánh tình trạng tắc vòi và sự có mặt của dịch trong hòm nhĩ. Trong
VTGƯD, nhĩ đồ biến động theo dạng hoành đồ nhĩ lượng [12]
+ Dung tích ống tai ngoài (Equivalent Ear Canal Volume- ECV): là thể tích
không khí từ đầu dò đến mặt ngoài màng nhĩ nếu màng nhĩ còn nguyên vẹn.
Ứng dụng của ECV là giải thích các nhĩ đồ dẹt: nếu đường dẹt nằm trong
vùng ECV bình thường nguyên nhân thường do viêm tai giữa ứ dịch hoặc cố
định xương búa, nằm thấp hơn trong các trường hợp tắc nghẽn ống tai ngoài,
cao hơn trong trường hợp màng nhĩ thủng. ECV bình thường ở người lớn là
0,63-1,46 cm3, trẻ < 7 tuổi là 0,3-1 cm3.
+ Áp lực đỉnh nhĩ đồ (Tympanometric Peak Pressure- TPP): là điểm mà áp lực
ống tai ngoài cân bằng với tai giữa, nơi độ thông thuận cao nhất hay trở kháng
nhỏ nhất. Trong viêm tai giữa ứ dịch, áp lực hòm nhĩ giảm, TPP âm [6].


24

+ Độ thông thuận (Static Acoustic Admittance- SA) là chiều cao đoạn thẳng
tính từ mặt phẳng màng nhĩ đến đỉnh đồ thị. VTGƯD làm tăng trở kháng tai
giữa, làm SA giảm (bình thường 0,4-1,4mmhos) [6].
+ Chiều rộng đồ thị (Tympanometric width – TW): là bề rộng của 2 đường kẻ
thẳng góc với trục hoành từ giao điểm của TPP/2 với 2 ngành của nhĩ đồ. TW
là thông số có giá trị nhất nhằm xác định VTGƯD ở trẻ con [6].
Viêm tai giữa ứ dịch làm tăng chiều rộng của nhĩ đồ [2]:
• TW nhỏ hơn 150daPa là không có VTGƯD.
• TW lớn hơn 350daPa là có VTGƯD.
• TW trong khoảng 150-350 daPa thì cần xác định chẩn đoán
thêm bằng cách soi tai.

Hình 1.10: TPP, SA và TW.
 Thính lực đồ: VTGƯD thường dẫn đến tình trạng nghe kém dẫn truyền nhẹ
đến trung bình [22]. Ngưỡng nghe cụ thể được xác định ở các tần số 0.25, 0.5,
1, 2, 4 và 8 kHz bằng các phương pháp tùy thuộc vào độ tuổi của trẻ. Ở trẻ
VTGƯD sức nghe giảm trung bình từ 25- 30dB, trong đó có 20% là nghe kém
trên 35 dB ở các tần số thấp [19].


25

 Đo thính lực não (ABR) là phương pháp tuyệt vời để đánh giá thính giác cho
trẻ em, người không hợp tác với đánh giá thính giác hành vi do độ tuổi rất trẻ
hoặc chậm phát triển [2]. Tuy nhiên phương pháp cận lâm sàng này ít sử dụng
ở Việt Nam hiện nay.
1.3.3.3.

Chẩn đoán.

Chẩn đoán viêm tai giữa ứ dịch dựa vào [5],[ 27]:




Tiền sử nhiều đợt viêm tai giữa cấp tái phát hoặc có nghe kém.
Soi tai: màng nhĩ dày, đục, bên trong chứa dịch và kém di động.
Nhĩ lượng đồ: đỉnh tù, lệch trái và doãng rộng ( dạng As, B hoặc C theo



phân loại của Jerger).
Thính lực đồ: nghe kém dẫn truyền nhẹ tới trung bình, thường mất sức
nghe từ 25 – 30dB.

1.3.4.

Biến chứng và di chứng.
Ảnh hưởng đến chức năng nghe, nếu bị trong thời gian dài gây chậm

phát triển phát âm và ngôn ngữ, khả năng học tập của trẻ nhỏ [28].
Ngoài ra có các di chứng như: xơ nhĩ, xẹp nhĩ, hình thành túi co kéo,
viêm tai dính, viêm tai giữa mạn tính có cholesteatom,…[2],[ 27]
1.3.5.
1.3.5.1.

Điều trị.
Điều trị nội khoa.

Theo dõi: bác sĩ lâm sàng nên theo dõi khi VTGƯD ở trẻ không có nguy
cơ chậm phát triển ngôn ngữ và trí tuệ, học tập trong vòng 3 tháng từ khi mắc
bệnh hoặc kể từ ngày phát hiện bệnh lần đầu [5].
Kháng sinh: kháng sinh amoxicillin có hoặc không kèm acid clavulanic,
trimethoprim + sulfamethoxazole có thể được lựa chọn điều trị. Kháng sinh
có hiệu quả trong điều trị ngắn ngày: 10 ngày- 8 tuần, trung bình là 4 tuần;
không có khuyến cáo điều trị kéo dài [2].


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×