Tải bản đầy đủ

Giải pháp phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ 5 6 tuổi thông qua các hoạt động trong trường mầm non

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập -Tự do-Hạnh phúc

MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số …………………………………………
1. Tên sáng kiến: “Giải pháp phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ 5-6
tuổi thông qua các hoạt động trong trường Mầm non”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
Giáo dục mầm non.
3. Mô tả bản chất của sáng kiến
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết
Trước đây việc tổ chức các hoạt động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi chưa đạt
hiệu quả cao. Trẻ còn thụ động, ít hứng thú tham gia vào các hoạt động. Kiến
thức mà trẻ lĩnh hội được còn mang tính áp đặt, một chiều, trẻ chưa có cơ hội để
hợp tác chia sẻ ý kiến với bạn bè và người lớn. Khi chưa áp dụng giải pháp phát
huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua các hoạt động
cho trẻ trong trường Mầm non thì: Đồ dùng đồ chơi tranh ảnh minh họa, giáo án
điện tử còn hạn chế, chưa gây hứng thú cho trẻ học. Môi trường trong các hoạt
động chưa thu hút trẻ. Phương pháp còn mang tính áp đặt, rập khuôn theo mẫu,
chưa phát huy khả năng sáng tạo của trẻ;

Từ khi tôi vận dụng giải pháp phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ 5-6
tuổi thông qua các hoạt động trong trường mầm non tại nhóm lớp mình, tôi thấy
trẻ rất hứng thú tham gia vào các hoạt động cùng cô. Kiến thức mà trẻ lĩnh hội
được mang tính mở rộng, tính thực tế, phù hợp với vốn kinh nghiệm của trẻ. Trẻ
có nhiều cơ hội để học bằng nhiều cách khác nhau. Trước tình hình trên tôi ngày
đêm trăn trở suy nghĩ là mình phải làm sao nghiên cứu ra một phương pháp dạy
học vừa đảm bảo tính vừa sức, vừa phát huy tối đa tính tích cực, tự giác chủ


động, sáng tạo của trẻ nhằm giúp trẻ nắm được các kiến thức của các hoạt động
một cách dễ dàng, có hiệu quả hơn. Với nhiều suy nghĩ ấy, tơi đã quyết tâm
đầu tư thực hiện đề tài này và muốn cùng các đồng nghiệp chia
sẻ với tơi những kinh nghiệm giảng dạy, trao đổi để đưa ra “Giải pháp phát huy
tính tích cực, sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi thơng qua các hoạt động trong trường
Mầm non”, nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, mặt khác còn tạo tiền đề kiến
thức vững chắc để trẻ vững tin bước vào lớp 1. Mục đích của việc
nghiên cứu đề tài này là tôi rất mong muốn mỗi giáo viên
chúng ta sẽ đào tạo cho đất nước những nhân tài trong tương lai khơng chỉ
thành thục về kĩ năng mà còn giúp trẻ năng động sáng tạo, trí tưởng tượng
phong phú biết vươn tới để tự hồn thiện mình hơn. Trường mầm non là cái nơi
cung cấp cho trẻ những tri thức khoa học, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết ban đầu, giúp
trẻ hình thành và phát triển tồn diện. Chính vì thế mà mỗi giáo viên chúng
ta phải luôn nghiên cứu tìm tòi những biện pháp tối ưu nhất để giúp các
cháu phát triển tồn diện hơn tạo điều kiện tốt hơn trong những cấp học cao
hơn.
Để thực hiện mục tiêu đó đầu năm tơi đã tiến hành khảo sát thực trạng của
lớp, trường mình tơi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn sau:
* Thuận lợi:
- Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường;
- Giáo viên có trình độ ch̉n về chun mơn;
- Đa số phụ huynh quan tâm đến trẻ;
- Cả 2 giáo viên trong lớp đều có trách nhiệm cao trong cơng việc;
- Trường đã đạt ch̉n Quốc Gia và đã đạt phổ cập trẻ 5 tuổi nên lớp được
trang bị về điều kiện cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, phòng học khang trang,
đảm bảo có điều kiện tốt cho trẻ tham gia các hoạt động trong lớp lẫn ngồi
trời…
- Trường bán trú nên thời gian trẻ tiếp xúc với cơ khá nhiều.
2


* Khó khăn:
- Số trẻ trong lớp khá đông nên ảnh hưởng đến các hoạt động của trẻ;
- Lớp có nhiều cháu cá biệt, năng động hay chọc phá bạn;
- Bên cạnh trẻ năng động còn có trẻ chậm, thụ động, không mạnh dạn;
- Một số trẻ do ba mẹ đi làm xa, ít được quan tâm, lười tham gia, còn thụ
động;
- Tuy vào học lớp 5-6 tuổi nhưng vẫn còn một số trẻ chưa qua các lớp 4-5
tuổi nên còn bỡ ngỡ, xa lạ, có cháu thì mới chuyển từ lớp hai buổi sang, nên
chưa mạnh dạn, tự tin, còn rụt rè khi tham gia các hoạt động;
- Lớp có trẻ chậm phát triển học hòa nhập;
Từ những thuận lợi và khó khăn trên tôi mạnh dạn đưa ra “Giải pháp phát
huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi thông qua các hoạt động trong trường
Mầm non”.
3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
3.2.1. Mục đích của giải pháp
- Tìm ra những giải pháp để giúp trẻ năng động hơn, hứng thú hơn trong
các hoạt động, góp phần phát triển toàn diện về nhân cách cho trẻ;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên cung cấp các kiến thức về các hoạt
động cho trẻ, hoàn thành mục tiêu mà nhà trường đưa ra và góp phần nâng cao
hiệu quả chất lượng giáo dục;
- Phát huy tính tích cực sáng tạo ở trẻ, nhằm tạo cho trẻ hứng thú tham gia
vào các hoạt động, giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, sâu sắc
và rộng mở, góp phần phát triển toàn diện cho trẻ.
3.2.2. Nội dung của giải pháp
a) Tính mới của giải pháp
- Muốn trẻ tích cực, sáng tạo, nhanh nhạy trong các hoạt động thì giáo
3


viên cần tổ chức xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, thẩm mĩ để trẻ chủ
động, vui chơi, tìm tòi khám phá, thực hành, trải nghiệm với những sự vật, hiện
tượng xung quanh trẻ;
- Giáo viên nắm vững về kiến thức ở các hoạt động cho trẻ, linh hoạt sáng
tạo và biết sử dụng nhiều đồ dùng trực quan, đồ chơi phong phú, hấp dẫn trẻ;
- Giáo viên dạy trẻ, cho trẻ tự thể hiện tính sáng tạo của mình bằng cách
thức lấy trẻ làm trung tâm trong các hoạt động;
- Trẻ biết tự đưa ra ý kiến của bản thân về vấn đề nào đó;
- Khi tổ chức cho trẻ hoạt động cô thay đổi hình thức tổ chức và đặt câu
hỏi mở để khơi gợi ý tưởng sáng tạo của trẻ;
- Trẻ hứng thú tham gia các hoạt động, thực hiện được các kỹ năng thuần
thục, biết liên hệ thực tế trong mọi tình huống;
- Trẻ tập trung chú ý trong giờ học;
- Phụ huynh ngày càng tin tưởng sự truyền đạt kiến thức của cô giáo đối
với trẻ nên càng phối hợp tốt với cô về các hoạt động giáo dục trẻ.
b) Sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ
Giải pháp mới

Giải pháp cũ

- Dạy trẻ kỹ năng giải quyết vấn

- Phạt trẻ khi trẻ tỏ ra không chú

đề;

ý, nhận thức sai, lười biếng;
- Giáo viên luôn luôn tuyên

- Dùng mệnh lệnh hơn là tạo cơ

dương quan tâm nhắc nhở, động viên hội cho trẻ tự thực hành trải nghiệm;
trẻ;

- Thường giáo viên hay giải
- Tôn trọng quyền quyết định quyết hộ trẻ;

của trẻ;
- Giáo viên cho trẻ lĩnh hội kiến

- Trẻ ít thực hành trải nghiệm

thức và trẻ trải nghiệm nhiều hơn;
4


- Sử dụng nhiều đồ dùng trực
quan, đồ chơi phong phú, hấp dẫn trẻ;
- Trẻ linh hoạt tích cực trong

- Sử dụng đồ dùng chưa phong
phú, trò chơi chưa hấp dẫn;
- Trẻ chưa tự tin còn thụ động

mọi hoạt động, trẻ thông minh hoạt khi tham gia các hoạt động, liên hệ
bát, sáng tạo liên hệ thực tế trong mọi thực tế chưa linh hoạt.
tình huống.
3.2.3. Các giải pháp thực hiện
* Thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
- Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm là dựa trên nhu cầu, hứng thú, khả năng
và thế mạnh của từng trẻ. Tạo nhiều cơ hội cho trẻ học bằng nhiều cách khác
nhau, phản ánh được mức độ phát triển của từng trẻ, mỗi trẻ đều có cơ hội tốt
nhất để thành công. Đây cũng là phương pháp kích thích trẻ tích cực tham gia
vào các hoạt động;
- Đối với trẻ khi tham gia vào các hoạt động nói chung hay hoạt động
thẩm mĩ nói riêng thì tôi để cho trẻ tự đưa ra ý tưởng của mình;
Ví dụ: Khi dạy cho trẻ vận động múa minh họa bài hát nào đó tôi để cho
trẻ tự múa sáng tạo những động tác theo ý tưởng của trẻ. Sau đó tôi sẽ kết hợp
những động tác của trẻ lại và đưa ra một bài múa hoàn chỉnh để trẻ thực hiện thì
trẻ sẽ hứng thú tham gia hơn.
- Như chúng ta đã biết, trẻ mẫu giáo “Học bằng chơi, chơi mà học”, trẻ
lĩnh hội kiến thức thông qua chơi. Trong khi trẻ chơi, tôi hỗ trợ và mở rộng
những gì trẻ đang hứng thú và đang thực hiện bằng cách: Đặt câu hỏi mang tính
tư duy, lắng nghe trẻ, gợi ý, khuyến khích động viên và chơi cùng trẻ;
Ví dụ: Ở góc phân vai, tôi gợi hỏi trẻ ở nhà thường con được mẹ nấu cho
ăn những món gì? Con biết nấu những món nào? Tôi cho trẻ tự lựa chọn thực
phẩm để trẻ nấu những món ăn mà trẻ thích, nhưng tôi yêu cầu là những món ăn
đó phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và có chất dinh dưỡng, trang trí bàn
5


ăn phải đẹp.
Ví dụ: Ở góc xây dựng, tôi yêu cầu trẻ xếp các khối gỗ hình trụ theo thứ
tự cao dần hoặc thấp dần. Đầu tiên tôi cho trẻ quan sát các khối gỗ để trẻ chọn ra
khối thấp nhất (hoặc cao nhất), nếu trẻ chưa nhận ra tôi khuyến khích trẻ để xích
những khối gỗ lại gần nhau cho việc so sánh dễ dàng hơn. Nếu trẻ xếp chưa
đúng cô đưa ra gợi ý cho trẻ chọn tiếp, chọn tiếp…
- Bên cạnh đó thông qua các hoạt động, tôi thường tìm hiểu vốn kinh
nghiệm của trẻ để giáo dục dựa trên nhu cầu, khả năng hứng thú của trẻ. Tôi
không buộc trẻ giải quyết vấn đề theo cách của mình, mà để cho trẻ tự do thảo
luận nêu nhận xét theo cách hiểu biết của trẻ;
Ví dụ: Trong giờ chơi tự do ngoài trời, trẻ chơi với nước. Tôi có thể hỏi
trẻ:
- Tại sao nước lại chảy ra từ những chiếc lỗ trên vỏ chai?
- Làm thế nào để chai nước nhẹ đi?
- Con có thể làm thế nào để cho nước chảy nhanh hơn (hoặc chậm hơn)?
- Nước có thể tạo ra âm thanh không?
- Làm thế nào để chúng ta phát hiện được điều đó?
- Nước từ đâu có?...
Trong quá trình giáo dục trẻ, tôi luôn chú ý đến việc giáo dục cá nhân để
trẻ nào cũng được hỗ trợ để tham gia, được khuyến khích để tạo ra sự lựa chọn
giải quyết vấn đề.
Tóm lại: Phương pháp hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm kích thích
cho trẻ hứng thú tham gia vào các hoạt động, đạt hiệu quả cao.
* Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh
- Môi trường giáo dục thân thiện và thẩm mĩ sẽ gây hứng thú cho trẻ, kích
thích trẻ tham gia vào các hoạt động. Nhận thức được điều này, tôi đã thống nhất
với giáo viên dạy cùng lớp sắp xếp các góc chơi phù hợp với tâm sinh lý trẻ. Các
6


nguyên vật liệu trang trí phòng học thường ở trạng thái mở, dễ gắn, dễ gỡ. Nhiều
học liệu cho trẻ sử dụng bằng nhiều cách khác nhau và sáng tạo. Các đồ dùng đồ
chơi trong các góc được sắp xếp thành những bài tập có mục đích rõ rệt mà khi
cầm vào đồ chơi trẻ có thể tương tác và thực hành kỹ năng;
- Như vậy môi trường giáo dục thân thiện, thẩm mỹ và mang tính tương
tác giữa giáo viên với trẻ; giữa trẻ với trẻ. Có nhiều cơ hội cho trẻ lựa chọn học
liệu và hoạt động để trẻ có thể: chủ động, vui chơi, tìm tòi khám phá, thực hành,
trải nghiệm, sáng tạo, hợp tác với bạn bè, trò chuyện và chia sẻ ý kiến của mình
với bạn.
* Sử dụng đồ dùng đồ chơi trực quan hấp dẫn trẻ trong các hoạt động
- Muốn trẻ hào hứng tham gia tích cực vào các hoạt động một cách sinh
động, cách sử dụng trực quan xuất phát từ đặc điểm nhận thức của trẻ về các
biểu tượng mang nặng cảm tính nên tôi đã sử dụng thủ thuật gây hứng thú cho
trẻ ngay từ tiết học đầu tiên, nhằm tạo cho trẻ một tâm trạng vui vẻ, phấn khởi
khơi gợi tính tò mò ham hiểu biết của trẻ;
- Để liên kết các nội dung trong một tiết học được liên hoàn và chuyển
sang nội dung mới một cách linh hoạt, đưa trực quan ra một cách hợp lý không
có động tác thừa hay các câu hỏi lặp đi lặp lại nhàm chắn, tôi thường sử dụng
các câu chuyện sáng tạo;
VD: Có một bạn Cún rất ngoan, hôm nay trên đường đi học bạn Cún gặp
cô, và bạn Cún đã nói thầm vào tai cô đấy! Chúng mình có muốn biết bạn Cún
nói gì không nào? (Trẻ hào hứng nghe và rất muốn được biết điều mà Cún nói
với cô giáo) Tôi lại nói tiếp: Bạn Cún nhờ cô hỏi các bạn lớp mình xem có biết
ngày 19/5 là ngày gì không nào? Trẻ trả lời đúng. Tôi nói tiếp: Bạn Cún cảm ơn
các bạn lớp mình đã giúp cho bạn ấy biết bí mật của ngày 19/ 5 nên đã tặng lớp
mình một món quà (món quà đó là một trò chơi ôn luyện đã chuẩn bị trước);
- Với trẻ 5-6 tuổi việc sử dụng đồ dùng trực quan, đồ chơi phong phú
trong các hoạt động là cần thiết, không những tạo cho trẻ có được tính nhanh
nhẹ, thông minh, hoạt bát, sáng tạo trong khi trẻ thực hiện các hoạt động ở trên
7


lớp cũng như trong các hoạt động khác mà còn góp phần phát triển toàn diện
nhân cách cho trẻ mẫu giáo. Bên cạnh đó còn giúp trẻ có tâm thể vững vàng
trước khi bước vào lớp 1.
* Tổ chức cho trẻ thực hành, trải nghiệm với mọi hình thức
Tổ chức cho trẻ thực hành trải nghiệm là cách thức giúp trẻ lĩnh hội kiến
thức sâu sắc và mở rộng nhất. Bởi vì trẻ được thao tác, thực hành, làm thí
nghiệm, được chia sẻ ý kiến với bạn bè, người lớn. Từ đó, trẻ sẽ nhớ lâu hơn,
hiểu biết nhiều hơn về nội dung đó. Vì thế, tùy theo chủ đề mà tôi tổ chức cho
trẻ tham gia vào các hoạt động khám phá;
Ví dụ: Về chủ đề “Thế giới thực vật”, tôi cho trẻ biết môi trường sống của
cây là cây sống nhờ có đất, nước, ánh sáng…Tôi cho trẻ ra góc thiên nhiên của
trường, nhổ một cây hoặc một dây nào đó rời khỏi mặt đất. Hôm sau cho trẻ ra
quan sát, trẻ tự nêu nhận xét về những gì trẻ thấy (cây héo lá, chết…). Hoặc cho
trẻ không chăm sóc, tưới nước một cây nào đó, sau một vài tuần thì trẻ thấy cây
đó chết. Hay là cho trẻ gieo hạt cải thành cây, sau đó đem cây vào nơi không có
ánh sáng, khoảng một vài tuần thì trẻ quan sát thấy cây sẽ không có màu xanh
đậm, yếu ớt và chết…. Từ đó trẻ nhận biết rằng cây sống cần có đất, nước, ánh
sáng.
Ví dụ: Khi chơi ngoài trời, muốn cho trẻ biết sự bốc hơi của nước, tôi cho
trẻ dùng cọ vẽ nước lên mặt sân, sau một lát quay lại những hình của trẻ vẽ lúc
nảy, tôi hỏi trẻ: Lúc nảy con vẽ hình lên mặt sân, sau bây giờ cô không thấy gì
hết?
Tại sao vậy?..
Thế là trẻ tự nêu nhận xét (vì có nắng, gió làm cho nước mau bốc hơi…).
Ví dụ: Khi học chủ đề “Thế giới côn trùng”, cho trẻ tìm hiểu về các loại
côn trùng bướm, ong, nhện, tôi chuẩn bị một số con bướm, ong, nhện (đã làm
chết), bắt đầu cho trẻ hoạt động theo nhóm. Mỗi nhóm sẽ quan sát một loại qua
kính hiển vi, sau đó yêu cầu trẻ ghi chép (vẽ lại) những gì trẻ quan sát được về
8


bộ phận của chúng. Kế đến tôi cho trẻ thảo luận, nêu nhận xét, rút ra kết luận
chung dưới sự gợi ý của cô, như thế trẻ sẽ rất hứng thú…
Ví dụ: Về chủ đề: “Bản thân”, tìm hiểu về các giác quan, muốn cho trẻ
biết được chức năng của từng giác quan, tôi tổ chức cho trẻ thực hành trải
nghiệm theo nhóm (5 nhóm). Chẳng hạn, nhóm thứ nhất sẽ nếm vị của chanh,
muối, đường, cà phê… , trẻ nếm và nêu lên nhận xét của mình. Tôi hỏi trẻ: Nhờ
đâu mà con biết được vị của chanh thì chua? (trẻ sẽ nói nhờ lưỡi – cô cho trẻ
biết lưỡi là giác quan vị giác. Nhóm thứ hai sẽ trải nghiệm về giác quan xúc
giác, tôi cho trẻ sờ những vật nhẵn, sần sùi, nóng, lạnh… trẻ nêu lên nhận xét
của mình, sau đó cô cho trẻ biết da (đặc biệt là da lòng bàn tay) là giác quan xúc
giác. Nhóm thứ ba trải nghiệm về giác quan khướu giác: ngửi mùi thơm của quả
chín, mùi hương của hoa…Cô cho trẻ biết mũi là giác quan khướu giác. Nhóm
thứ tư trải nghiệm về giác quan thị giác, tôi cho trẻ quan sát một số loại hoa: hoa
hồng, hoa cúc…tôi cho trẻ nói về màu sắc, đặc điểm của hoa…cô cho trẻ biết
mắt là giác quan thị giác. Nhóm thứ năm trải nghiệm về giác quan thính giác:
Tôi cho trẻ nghe tiếng gà gáy, tiếng chó sủa…Cô cho trẻ biết tai là giác quan
thính giác.
Tóm lại: Tổ chức cho trẻ thực hành, trải nghiệm là con đường truyền đạt
kiến thức đến trẻ đạt hiệu quả nhất. Trẻ lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc, tích
cực nhất.
* Thường xuyên thay đổi hình thức tổ chức các hoạt động
Thu hút được sự chú ý của trẻ vừa dễ lại vừa khó, vì trẻ rất hào hứng
trước những điều mới lạ nhưng dễ nhàm chán với những gì quen thuộc. Hiểu
được điều này khi tổ chức cho trẻ hoạt động, tôi thường thay đổi hình thức động
– tĩnh đan xen lẫn nhau, chuyển tiếp từ hoạt động này sang hoạt động khác một
cách nhẹ nhàng để trẻ không bị ức chế. Ở hoạt động học, không nhất thiết là tổ
chức trong lớp mà tùy theo đề tài tôi có thể tổ chức cho trẻ học ngoài trời. Và tôi
đặc biệt chú ý đến việc tổ chức cho trẻ hoạt động theo nhóm. Vì khi hoạt động
nhóm trẻ sẽ có nhiều cơ hội để hoạt động, thảo luận, nêu ý kiến, vốn kinh
9


nghiệm của mình cùng với các bạn, người lớn điều này mang lại sự hứng thú,
tích cực ở trẻ;
Ví dụ: Khi học chủ đề: “gia đình”, tìm hiểu về gia đình bé, thay gì tôi cho
trẻ kể các thành viên trong gia đình mình, về công việc, sở thích…. nhưng tôi lại
tổ chức cho trẻ hoạt động theo nhóm vẽ, tô màu, dán ảnh về gia đình mình …
Ví dụ: Trong giờ làm quen văn học, tập trẻ kể lại chuyện, để gây sự chú ý
của trẻ vào lời kể của cô (đối với chuyện mà trẻ được nghe kể ở mọi lúc mọi nơi
rồi), tôi cố ý kể sai đi một tình tiết nào đó để trẻ phát hiện ra. Sau đó tôi cho trẻ
kể lại theo tình tiết đúng mà trẻ đã được nghe kể rồi, điều này gây sự tập trung
của các trẻ khác chú ý vào hoạt động hơn. Chẳng hạn như trong câu chuyện“Dê
con nhanh trí” có đoạn: “Con ở nhà cho ngoan! Mẹ đi ra đồng ăn cỏ tươi để có
nhiều sữa ngọt cho con bú. Ai gọi cũng đừng mở cửa nhé! Nếu không thì Sói
vào ăn thịt con đấy!”. Cô kể thế này: “Con ở nhà cho ngoan! Mẹ đi ra đồng ăn
cỏ tươi để có nhiều sữa ngọt cho con bú. Ai gọi cũng đừng mở cửa nhé! Nếu
không thì Voi vào ăn thịt con đấy!”, từ Sói tôi thay bằng Voi, chợt trẻ có ý kiến
phản lại với tôi là không phải thế. Lúc đó tôi mới giả vờ hỏi trẻ lại rằng : Thế thì
như thế nào con kể tiếp cho cô và bạn nghe xem! Thì trẻ bắt đầu kể lại là
“…..Nếu không thì Sói vào ăn thịt con đấy!”
Tóm lại: Tôi thường xuyên thay đổi hình thức tổ chức các hoạt động để
gây sự hứng thú tập trung chú ý của trẻ.
* Đặt câu hỏi mở
- Để phát huy tính tích cực ở trẻ thông qua các hoạt động, tôi cũng rất chú
trọng đến việc đặt câu hỏi với trẻ. Câu hỏi phải mang tính vừa sức, phù hợp với
vốn kinh nghiệm của trẻ. Không đặt câu hỏi quá xa rời thực tế, quá cao đối với
trẻ hoặc câu hỏi quá dễ đối với trẻ. Vì như thế không phát huy được tính tích
cực, tư duy sáng tạo ở trẻ. Không đặt câu hỏi để trẻ trả lời có hoặc không, mà tôi
đặt câu hỏi mở để trẻ trả lời bằng nhiều cách khác nhau, tùy theo vốn sống của
trẻ. Câu hỏi thường bắt đầu: Vì sao…? Làm như thế nào…? Tại sao…? Nếu
như…?
10


Ví dụ: Cho trẻ quan sát con gà trống, tôi đặt câu hỏi:
- Đây là con gì?
- Vì sao con biết đây là con gà trống?
- Vì sao con gà bới đất tìm giun dễ dàng?
- Tại sao gà không bơi được dưới nước?...
- Nếu như gà trống rơi xuống nước thì như thế nào?
Ví dụ: Qua câu chuyện “Ba cô gái”, tôi có thể hỏi trẻ:
- Trong ba cô con gái con yêu cô nào? Vì sao?
- Nếu như con là cô chị Cả thì con sẽ làm gì khi hay tin mẹ ốm?...
Ví dụ: Về chủ đề “Thế giới thực vật”, tìm hiểu về một số loại quả, tôi
không giới thiệu cho trẻ từng loại quả về hình dạng, đặc điểm, màu sắc…, mà
tôi chuẩn bị sẵn một số loại quả cho trẻ sờ, ăn (nếm) và ngửi. Sau đó tôi hỏi:
- Bé nào muốn ăn thử nào?
- Con vừa ăn được miếng quả gì?
- Tại sao con biết miếng quả con ăn là miếng cam?
- Tại sao con biết miếng vừa ăn là miếng xoài?
- Theo con quả cam như thế nào?
- Con biết gì về quả xoài?
- Chúng ta thường ăn những phần nào của quả?
Sau khi trẻ mô tả được đặc điểm những loại quả ăn (nếm) và ngửi…tôi
yêu cầu trẻ lên chọn quả mình mô tả cho các bạn khác có ý kiến và nhận xét…
Tóm lại: Sử dụng các câu hỏi mở nhằm kích thích trẻ tư duy, hứng thú
tham gia vào hoạt động. Qua đó, trẻ nêu lên được cảm nhận qua vốn sống và
kinh nghiệm của chính bản thân trẻ.
* Tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ dựa vào cộng đồng
11


- Cộng đồng là cha, mẹ trẻ, là các ban ngành đoàn thể của địa phương.
Việc tổ chức giáo dục trẻ mầm non dựa vào cộng đồng tạo điều kiện thuận lợi
cho việc tiếp cận giáo dục và học tập suốt đời đối với trẻ.
- Trẻ có cơ hội tiếp cận với việc học tập qua những trải nghiệm thực tế,
được tham gia, giải quyết các nhiệm vụ học tập gắn với bối cảnh thực tế ở địa
phương một các thiết thực, hấp dẫn và hiệu quả.
Ví dụ: Tổ chức các trò chơi dân gian cho trẻ tại nhà văn hóa của địa
phương do đoàn thanh niên phối hợp với giáo viên mầm non tổ chức; Hoạt động
lao động: các hoạt động thu dọn vệ sinh đường phố, nông thôn gần địa điểm
trường mầm non hoặc trong trường; Hoạt động lễ hội: tổ chức cho trẻ mầm non
tham gia lễ hội, tham quan thắng cảnh, di tích địa phương với sự hỗ trợ của cộng
đồng…
* Tuyên dương, khen ngợi
Bên cạnh tôi cũng không quên sử dụng cách động viên, khuyến khích và
khen ngợi, tuyên dương phù hợp với tính cách của trẻ cũng là biện pháp giúp trẻ
tích cực, hứng thú tham gia vào các hoạt động.
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp
Với đề tài “Giải pháp phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi
thông qua các hoạt động trong trường Mầm non” có khả năng ứng dụng cho tất
cả các nhóm lớp ở các độ tuổi khác nhau trong trường mầm non cũng như ở địa
bàn khác. Tùy theo lứa tuổi mà giáo viên xây dựng kế hoạch, điều chỉnh nội
dung, mục tiêu cho phù hợp với khả năng, với nhu cầu cần đáp ứng cho trẻ. Và
tôi mong rằng mỗi giáo viên chúng ta cần phải nghiên cứu tài liệu chuyên môn,
có tri thức, kinh nghiệm luôn luôn tư duy linh hoạt và học tập không ngừng để
hiệu quả chăm sóc giáo dục trẻ đạt cao hơn.
3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp
Qua một năm nghiên cứu và ứng dụng đề tài “Giải pháp phát huy tính tích
cực, sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi thông qua các hoạt động trong trường Mầm non”
12


tôi đã thu được một số kết quả như sau:
* Đối với trẻ: Trẻ hồn nhiên phát huy được tính tích cực mở rộng sự hiểu
biết trong hoạt động chung. Trẻ biết thể hiện ý kiến, ý định của mình với cô giáo
và các bạn trong từng hoạt động. Trẻ được tôn trọng, lợi ích nhu cầu khả năng
của trẻ được quan tâm và đáp ứng, trẻ có cơ hội tham gia vào các hoạt động giáo
dục bằng nhiều cách, khuyến khích sự khám phá, quan sát, bắt chước, sáng tạo,
tưởng tượng, thử nghiệm, thực hành, giao tiếp của trẻ. Đa số trẻ tự tin, linh hoạt,
nhanh nhạy phát triển toàn diện năm mặt “đức, trí, thể, mĩ, lao” theo mục tiêu
chăm sóc giáo dục trẻ mà bộ giáo dục đã ban hành.
* Đối với bản thân: Tôi luôn đầu tư cho tiết dạy có chú ý vận dụng việc
đổi mới phương pháp trong quá trình soạn giảng, xác định chính xác mục tiêu,
kiến thức và kĩ năng trọng tâm cơ bản của bài dạy, truyền thụ đầy đủ có hệ
thống các kiến thức và phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học, tổ chức
được các hoạt động học tập cho trẻ giúp trẻ chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ
năng một cách chủ động. Phát huy được năng lực chăm sóc giáo dục trẻ. Áp
dụng được cái mới của thời đại trong lĩnh vực giáo dục, giúp bản thân đáp ứng
được các nhu cầu phát triển của giáo dục tạo niềm tin cho phụ huynh, kĩ năng
nghiệp vụ sư phạm của bản thân được nâng lên một bước. Kiến thức sư phạm
trở nên rộng rãi và toàn diện. Việc lồng ghép tích hợp mang tính phù hợp cao.
Cụ thể trong 2 năm học vừa qua và năm học này đạt kết quả như sau:
Năm 2016 - 2017 đạt giáo viên giỏi cấp huyện, Tỉnh;
Năm 2017 - 2018 đạt bảo lưu giáo viên giỏi cấp huyện, Tỉnh;
Năm 2018 - 2019 đạt giáo viên giỏi cấp huyện, bảo lưu giáo viên giỏi cấp
Tỉnh;
Bản thân đã góp phần để trường đạt chuẩn Quốc Gia mức độ 1 và công
tác kiểm định chất lượng đạt cấp độ 3
3.5. Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu: Không
3.6. Tài liệu kèm theo: Không.
13


14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×