Tải bản đầy đủ

Báo cáothực tập tại ban chính sách phát triển kinh tế nông thôn

Báo cáo thực tập

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN..............................................................................................................3
LỜI MỞ ĐẦU....................................................................................................................4
CHƯƠNG I.TỔNG QUAN VỀ VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG
ƯƠNG (CIEM).................................................................................................................. 6
1.Quá trình hình thành và phát triển của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương....6
2. Các đóng góp chính của Viện trong 5 năm (từ năm 2008 - 2013)..................................9
3. Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện......................................12
3.1. Cơ cấu tổ chức...........................................................................................................12
3.2. Vị trí và chức năng....................................................................................................13
3.3. Nhiệm vụ và quyền hạn của Viện..............................................................................14
4. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng, ban nghiệp vụ....................................................15
4.1. Hội đồng khoa học....................................................................................................15
4.2. Ban thể chế kinh tế....................................................................................................15
4.3. Ban Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh.................................................15
4.4. Ban Cải cách và phát triển doanh nghiệp..................................................................16
4.5. Ban Chính sách phát triển nông thôn.........................................................................16
4.6. Ban Chính sách Dịch vụ công...................................................................................16
4.7. Ban Chính sách Kinh tế vĩ mô...................................................................................17

4.8. Ban Chính sách Đầu tư.............................................................................................17
4.9. Trung tâm Tư vấn quản lý và Đào tạo.......................................................................17
4.10. Trung tâm Thông tin Tư liệu...................................................................................17
4.11. Tạp chí và quản lý kinh tế.......................................................................................18
4.12. Văn phòng Viện.......................................................................................................18
CHƯƠNG II. BAN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN.................................19
1.Chức năng, lĩnh vực hoạt động......................................................................................19
1.1. Nghiên cứu chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn.............................19
1.2. Nghiên cứu các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, mô hình hợp tác trong nông
thôn.................................................................................................................................. 19
1.3. Nghiên cứu chính sách xã hội, chính sách giảm nghèo trong nông thôn...................19
1.4. Nghiên cứu chính sách bảo vệ môi trường ở nông thôn...........................................20
Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

1


Báo cáo thực tập

2. Cơ cấu tổ chức.............................................................................................................. 21
CHƯƠNG III. THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CÒN TỒN ĐỌNG
CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG...............................22
1.Những việc làm được....................................................................................................22
2. Những vấn đề còn tồn đọng của Viện...........................................................................23
LỜI KẾT.......................................................................................................................... 25

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

2


Báo cáo thực tập

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo tổng hợp thực tập tốt nghiệp của riêng tôi, nội
dung nghiên cứu, phân tích, đánh giá, các số liệu và kết quả thể hiện trong báo cáo là
những số liệu trung thực, được tổng hợp từ tài liệu tham khảo thu thập được trong quá
trình thực tập tại Ban chính sách phát triển nông thôn và một số tài liệu khác. Tôi đã hoàn
thành báo cáo tổng hợp thực tập tốt nghiệp dưới dự hướng dẫn của Thạc sĩ Lưu Đức Khải
– Trưởng Ban chính sách phát triển nông thôn, Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung
ương.
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Khoa Kinh tế và Quản lý và giảng viên hướng dẫn
về sự cam đoan này.

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

3


Báo cáo thực tập

LỜI MỞ ĐẦU
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương là Viện cấp Quốc gia trực thuộc Bộ
Kế hoạch và Đầu tư.
Với nhiệm vụ chính là tổng kết tình hình thực tế nghiên cứu lý luận, tìm ra những
định hướng và giải pháp phá bỏ những cái lỗi thời của cơ chế quản lý cũ, xây dựng cơ
chế quản lý mới, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước và xu thế chung của thời đại
nhằm từng bước thay đổi tinh thế, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế đất nước.
Ngoài ra Viện còn có nhiệm vụ tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trung ương, tỉnh và
huyện nhằm trang bị cho số cán bộ nàu những kiến thức mới về quản lý kinh tế, truyền
đạt những tư tưởng mới của Đảng và Nhà nước về đổi mới kinh tế và quản lý kinh tế.
Mặc dù chỉ trong một thời gian ngắn thực tập tại Viện nghiên cứu quản lý kinh tế
Trung ương, với sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú và anh chị trong Viện, đặc biệt là
Th.s Lưu Đức Khải – Trưởng Ban chính sách phát triển nông thôn em đã được tiếp cận,
tìm hiểu về chức năng nhiệm vụ cũng như cơ cấu tổ chức và tình hình hoạt động của Ban
chính sách phát triển nông thôn. Trên cơ sở đó, em xin trình bày báo cáo thực tập với bố
cục như sau:
Chương I: Tổng quan về Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương
Chương II: Ban chính sách phát triển nông thôn.
Chương III: Thành tựu đạt được và những hạn chế còn tồn đọng của Viện Nghiên cứu
Quản lý kinh tế Trung ương.

Mục tiêu báo cáo:
Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn thu thập được trong quá trình thực tạp tại Viện
nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, bài Báo cáo tổng hợp lại thực trạng hoạt động
của Ban chính sách phát triểnnông thôn. Từ đó đưa ra được các giải pháp, khuyến nghị
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban, tạo dựng môi trường kinh doanh… và nâng
cao năng lực cạnh tranh Quốc gia trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngay càng sâu
rộng.
Nhiệm vụ báo cáo:
- Hệ thống hóa các lý luận cơ bản liên quan đến cơ sở thực tập.
- Đánh giá thực trạng hoạt động của Ban chính sách phát triển nông thôn nói riêng và
Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương nói chung.

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

4


Báo cáo thực tập

- Đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chính sách phát
triển nông thôn.
- Từ các kiến thức và thông tin thu thập được trong quá trình thực tập nêu ra định hướng
nghiên cứu và đề cương sơ bộ cho khóa luận tốt nghiệp.
Trong một khoảng thời gian ngăn thực tập, báo cáo của em có thể không tránh khỏi
những thiếu sót nhất định. Em hy vọng sẽ nhận được những ý kiến đóng góp tích cực của
quý thầy cô để hoàn thiện báo cáo và khóa luận của em sau này.
Em xin chân thành cảm ơn !

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

5


Báo cáo thực tập

CHƯƠNG I.TỔNG QUAN VỀ VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG
ƯƠNG (CIEM)
1.Quá trình hình thành và phát triển của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung
ương.
Sau khi đất nước thống nhất nền kinh tế nước ta phải đối mặt với nhiều khó khăn
mới trong khi nhiều tiềm năng chưa được phát huy, sản xuất thì trì trệ, đình đốn; đầu tư
giảm mạnh; hàng hóa khan hiếm; làm phát ngày một gia tăng; nhiều lao động không có
việc làm hoặc thiếu việc làm; đời sống của nhân dân không được cải thiện, thậm chí còn
có mặt giảm sút; tình hình xã hội có nhiều diễn biến phức tạp… Nền kinh tế thiếu động
lực phát triển; một bộ phận không nhỏ người lao động và cán bộ quản lý không quan tâm
đến việc phát triển sản xuất, kinh doanh nên năng suất lao dộng vốn đã thấp nay lại càng
giảm sút, làm cho nền kinh tế ngày càng suy thoái.
Trong điều kiện đó, Đại hội Đảng lần thứ IV đã đề ra nhiệm vụ: “Tổ chức lại sản
xuất xã hội trong phạm vi cả nước, cải tiến phương thức quản lý kinh tế, với trọng tâm là
kế hoạch hóa toàn bộ bộ máy quản lý kinh tế …”, thực hiện một sự chuyển biến sâu sắc
trong tổ chức và quản lý kinh tế trong cả nước. Thực hiện chủ trương của Đại hội, Trung
ương Đảng và Chính phủ thấy cần phải có một cơ quan chuyên nghiên cứu, nhận xét,
đánh giá khách quan quá trình xây dựng và phát triển kinh tế và kiến nghị các biện pháp
khả thi, hữu hiệu nhằm quản lý ngày một tốt hơn nền kinh tế.
Từ yêu cầu trên, Trung ương Đảng và chính phủ đã thành lập một số nhóm, tổ
gồm những cán bộ biệt phái từ các Bộ, ngành và sau này là Ban nghiên cứu cải tiến quản
lý kinh tế trực thuộc Ban Bí thư và Chính phủ. Do đòi hỏi cấp thiết phải nghiên cứu
phương thức quản lý kinh tế mới, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương được thành
lập trên cơ sở Ban nghiên cứu cải tiến quản lý kinh tế.
Căn cứ vào Quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 111 - CP ngày 18/05/1978 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ
chức của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW.
Năm 1992, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 07-CP ngày 27/10/1992
giao cho Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) phụ trách Việc
nghiên cứu quản lý kinh tế TW.
Ngày 29/11/1995 Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành quyết định số 17BKH/TCCB quy đinh chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Viện nghiên cứu quản
lý kinh tế trung ương, Viện được coi là cơ quan tương đương Tổng cục loại I và có tài
khoản cấp I.

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

6


Báo cáo thực tập

Năm 2003, theo quyết định số 233/2003/QĐ-TTg ngày 13/11/2003 cảu Thủ tướng
Chính phủ, Viện nghiên cứu quả lý kinh tế trung ương là Viện cấp quốc gia, trực thuộc
Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Sau đây là những chặng đường phát triển của Viện từ kh thành lập cho đến nay:
Giai đoạn từ khi thành lập đến 1998.
Ngày 18/05/1978 Chủ tịch ủy ban Thường vụ Quốc hội khoa VI, phê chuẩn việc
thành lập Viện nghiên cứu quả lý kinh tế Trung ương, cơ quan ngang bộ của Hội đồng
Chính phủ theo Nghị định số 111/CP.
Trong 30 năm qua đã có nhiều diễn biến quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội
nước ta, đó là thời kỳ quan trọng đặt nền móng và kiếm tìm những kinh nghiệm cho sự
chuyển đổi có tính chất cách mạng của nền kinh tế Việt Nam, thời ý đổi mới toàn diện
của đất nước làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Ngay sau khu miền Bắc được giải phóng Đảng đã tập trung sức lãnh đạo khôi
phục, cải tạo nền kinh tế và bắt đầu công cuộc xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã
hôi thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965). Thành tựu đạt được là rất to
lớn, song từ cuối năm 1965 chiến tranh lan rộng ra miền Bắc đã buộc chúng ta phải
chuyển hướng vừa phát triển kinh tế vừa chiến đấu bảo vệ miền Bắc XHCN, chi viện cho
tiền tuyến lớn, giải phóng miền nam thống nhất đất nước. Mặc dù đạt được những thành
tựu to lớn, nhưng ngay từ giữa nhưng năm 60 chúng ta đã nhận thấy những vướng mắc trì
trệ trong quản lý hành chính, cung cấp vè đề ra nhiều phong trào như Ba xây, Ba chống,
cải tiến quản lý HTX nông nghiệp vòng I, vòng II,… Nhà nước cũng đã mời các chuyên
gia cố vấn cảu CHDC Đức sang giúp đỡ, nhằm khắc phục những vướng mắc, trì trệ trong
quản lý. Tuy nhiên do điều kiện khách quan và chủ quan, công cuộc cải cách kinh tế đã
không đạt được những tiến bộ mong muốn và cần thiết.
Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, với khí thế hào hùng của
cả dân tộc, cả nước bước vào xây dựng XHCN với kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976 –
1980), nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó tình hình kinh tế lại lâm vào tình thế khó
khăn, bế tắc. Do vậy nhiệm vụ nghiên cứu quản lý kinh tế đã được Đảng và Nhà nước đặt
ra.
Đại hội IV đã đề ra một nhiệm vụ “…Tổ chức lại nền sản xuất xã hội trong phạm
vi cả nước, cải tiến phương thức quản lý kế hoạch hóa làm chính, kiện toàn bộ máy quản
lý kinh tế…”, “…thực hiện một sự chuyến biến sâu sắc trong tổ chức và quản lý kinh tế
trong cả nước…”. Thực hiện chủ chương của Đại hội trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và
phát triển kinh tế, Trung ương Đảng và Chính phủ thấy cần thiết phải có một cơ quan
riêng không bị cuốn hút vào công việc điều hành hàng ngày, cơ quan này chuyên nghiên

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

7


Báo cáo thực tập

cứu, nhận xét đánh giá khách quan quá trình này và kiến nghị các biện pháp khả thi, hữu
hiệu nhằm quản lý ngày một tốt hơn nền kinh tế trong cả nước.
Từ những yêu cầu khách quan đó mà Trung ương Đảng và Chính phủ đã lần lượt
thành lập một số tổ nhóm gồm những cán bộ biệt phái từ các Bộ, ngành và sau này là Ban
nghiên cứu cải tiến quản lý kinh tế trực thuộc Ban bí thư và Chính phủ. Nhiều đồng chí
lãnh đạo cấp cao của Đảng và Chính phủ đã trực tiếp phụ trách các tổ chức nghiên cứu
đó như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Phó thủ tướng Lê Thanh Nghị, phó thủ tướng
Nguyễn Duy Trinh,…
Trước đòi hỏi ngày càng bức xúc của thực tiễn, yêu cầu cấp bách phải nghiên cứu
có luận cứ về phương thức quản lý kinh tế mới nên đã thúc đẩy việc chuyển Ban nghiên
cứu cải tiến quản lý kinh tế thành Viện.
Ngày 14/07/1977 Bộ Chính Trị Ban chấp hành Trung ương (khóa 4) ra Quyết định
209-NQ-NS/TW thành lập Viện nghiên cứu quản lý kinh tế của Trung ương Đảng và
Chính phủ, cử đồng chí Nguyễn Văn Trân làm Viện tường đồng chí Đoàn Trọng Tuyến
làm phó Viện trưởng.
Ngày 10/11/1977 Ban bí thư ra quyết định số 04 QĐ/TW quy định nhiệm vụ,
quyền hạn và quy chế công tác của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW. Căn cứ vào điều
53 của Hiến pháp năm 1959, điều 3 của Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ và theo đề nghị
của Hội đồng Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Quyết nghị số 215NQ/QHK6 ngày 17/04/1978 phê chuẩn việc thành lập Viện nghiên cứu quản lý kinh tế
TW, cơ quan ngang Bộ của Hội đồng Chính phủ.
Đến năm 1980, nhằm đào tạo thuận lợi cho việc thống nhất chỉ đạo, Ban bí thư
TW khoa IV đã Quyết định để Viện thôi trực thuộc Ban bí thứ chỉ con trực thuộc Chính
phủ nhưng chức năng nhiệm vụ của Viện giữ nguyên không thay đổi.
Giai đoạn từ 1998 đến nay.
Trong giai đoạn hiện nay, tình hình kinh tế thế giới và trong nước có nhiều biến
động và thay đổi lớn, việc đưa ra các chính sách đòi hỏi phải kịp thời và mang tính chiến
lược chính vì vậy khối lượng công việc của Viện ngày càng nhiều, vai trò, trách nhiệm
của Viện trong công cuộc đẩy mạnh, phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế ngày
càng được đánh giá cao. Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trong tình hình mới, Viện đã
có những cải cách, thay đổi lớn.
Trước hết là việc nâng cao đội ngũ cán bộ trong Viện, Viện đã cho nhiều cán bộ đi
học thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài, coi trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ qua thực tiễn, coi
thực tế đất nước là trường đại học lớn để bồi dưỡng và rèn luyện cán bộ.

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

8


Báo cáo thực tập

Cơ sở vật chất cũng không ngững được cải thiện. Từ một sơ sở nghèo nàn, chật
hẹp khi mới thành lập, đến nay nhờ có sự giúp đỡ và đầu tư của Nhà nước, sự hỗ trợ của
các đơn vị trong và ngoài nước, Viện đã đầu tư xây dựng được một khu làm việc khang
trang với thiết bị và phương tiện làm việc ngày càng được tăng cường để từng bước đáp
ứng yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu hiện tại. Đặc biệt trong 2 năm 2002 – 2003, Viện đã
triển khai thực hiện và hoàn thành dự án: “Đầu tư theo chiều sâu, nâng cao năng lực hoạt
động của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương”. Kết quả dự án đã cải tạo và nâng
cấp 2 tòa nhà làm việc của Viện, với diện tích được tăng thêm, đồng thời với việc bố trí
các phòng làm việc hợp lý, các trang thiết bị, máy móc hiện đại, tiện sử dụng, cải thiệ
môi trường làm việc cho cán bộ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của một Viện nghiên
cứu.
Từ một thư viện với tủ sách nhỏ chuyên ngành quản lý, Viện đã phát triển thành
một trung tâm thông tin tư liệu. Thư viện hiện nay có khoảng 15.000 đầu sách; trên 100
loại báo và tạp chí trong và ngoài nước; trên 3.500 bản tài liệu, đề tài nghiên cứu khoa
học, tài liệu tra cứu… Hoạt động thư viện đã được tin học hóa. Hiện nay cơ sở dữ liệu với
thư mục điện tử đã có trên 17.000 biểu ghi và có thể tra cứu thông tin qua mạng LAN.
Với một đội ngũ cán bộ không nhiều, Trung tâm đã thu thập, lựa chọn và xử lý hàng
nghìn tài liệu tham khảo các vấn đề cập nhật trong quản lý kinh tế phục vụ nghiên cứu
công tác quản lý kinh tế của Viện, phục vụ các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
cùng một số cơ quan khác. Đã xuất bản và phát hành hàng trăm ấn phẩm và đầu sách.
Trung tâm thông tin tư liệu có một kho sách, báo, tạp chí quý giá với khoảng 15
nghìn cuốn sách, nhiều loại báo, tạp chí, bản tin trong nước và ngoài nước, là nơi lưu trữ
nhiều sách mới của nước ngoài: Anh, Pháp, Đức, Úc về kinh tế và quản lý kinh tế. Việc
hình thành thư viện điện tử để phục vụ cho công tác quản lý và chia sẻ thông tin nghiên
cứu. Các cán bộ của Viện đều có thể truy cập vào mạng Internet để cập nhật tin tức và
thông tin phục vụ công tác nghiên cứu và trao đổi thư tín.
2. Các đóng góp chính của Viện trong 5 năm (từ năm 2008 - 2013)
Về công tác nghiên cứu, tham mưu về cơ chế chính sách
Kể từ khi thành lập đến nay, Viện luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nghiên cứu,
tham mưu và đề xuất cơ chế, chính sách quản lý kinh tế. Trong 5 năm (từ năm 2008 –
2013), Viện được giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng hơn 100 đề án, báo cáo, dự thảo văn
bản quy phạm pháp luật trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Chính phủ và Thủ tướng Chính
phủ. Các đề án, báo cáo nghiên cứu của Viện đã phục vụ kịp thời, có hiệu quả cho công
tác tham mưu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đóng góp kịp thời cho việc ban hành các chính
sách ổn định kinh tế vĩ mô, chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội hàng năm của Chính phủ. Điển hình là các đề án, báo cáo sau:

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

9


Báo cáo thực tập

- Thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X, Viện đã tập trung nghiên cứu các đề án,
báo cáo chủ yếu liên quan đến chủ trương “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trên cơ sở Nghị quyết số 21-NQ-TW, Viện đã xây dựng
dự thảo Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 và
được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 22/2008/NQ-CP.
+ Xây dựng Đề án “Những giải pháp, chính sách để nâng cao chất lượng tăng trưởng,
hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
Quyết định số 1914/2010/QĐ-TTg ngày 19/10/2010. Đề án đã đánh giá tăng trưởng của
Việt Nam về số lượng và chất lượng đến năm 2010 và đề xuất giải pháp nâng cao chất
lượng tăng trưởng nhằm phát triển bền vững.
+ Xây dựng Đề án “Tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo
hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế giai đoạn
2011-2020”. Đề án đề xuất các giải pháp chính sách thúc đẩy chuyển đổi và cơ cấu lại
nền kinh tế theo hướng phân bổ, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn lực,
cải thiện năng suất và năng lực cạnh tranh để trở thành nhân tố chủ yếu của tăng trưởng
kinh tế ở nước ta. Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số
339/QĐ-TTg ngày 19/02/2013.
+ Xây dựng Đề án Chiến lược Công nghiệp hóa của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác
Việt Nam-Nhật Bản hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Đề án đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1043/QĐ-TTg ngày 01/07/2013. Chiến lược đóng
góp vào phát triển một số ngành công nghiệp Việt Nam có tiềm năng thông qua thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài có chất lượng, trước hết từ Nhật Bản, thúc đẩy chuyển giao
công nghệ và liên kết sản xuất với khu vực trong nước.
- Nghiên cứu, đánh giá các tác động của hội nhập và khủng hoảng kinh tế thế giới và đề
xuất các chính sách thích ứng nhằm đối phó với tình hình bất ổn kinh tế vĩ mô.
- Dự thảo nhiều nghị định liên quan đến quản lý, giám sát hoạt động doanh nghiệp nhà
nước đặc biệt là các tập đoàn kinh tế; chính sách phát triển các thành phần kinh tế và cải
thiện môi trường đầu tư kinh doanh và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính. Viện đã
thực hiện nhiều hoạt động nghiên cứu, tập trung kiến nghị một số giải pháp sắp xếp lại
DNNN, nâng cao khả năng cạnh tranh của DNNN trong điều kiện hội nhập và đặc biệt là
trước yêu cầu của tình hình thực tế về đẩy mạnh công tác quản lý và giám sát nhằm đưa
các hoạt động tập đoàn kinh tế nhà nước theo hướng hiệu quả hơn. Viện được giao xây
dựng Đề án "Tiếp tục đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN". Đề
án đã được báo cáo Ban Cán sự Đảng Chính phủ trình Hội nghị Trung ương 6 (Khóa XI)
thảo luận và ra kết luận số 50-KL/TW ngày 29/10/2012. Đây sẽ là cơ sở để Chính phủ
ban hành những chính sách nhằm đổi mới, sắp xếp lại DNNN để hoạt động hiệu quả hơn
trong thời gian tới.
- Dự thảo Luật Doanh nghiệp sửa đổi và một số nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành một
số điều của Luật Doanh nghiệp 2005 như Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày
01/10/2010 được ban hành nhằm sửa đổi một số điều khoản chưa đủ rõ, cụ thể và chưa
Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

10


Báo cáo thực tập

phù hợp với thực tiễn của Nghị định 139/2007/NĐ-CP; đồng thời bổ sung thêm điều
khoản hướng dẫn một số nội dung khác của Luật Doanh nghiệp chưa cụ thể, còn cách
hiểu khác nhau trong quá trình thực hiện.
Về công tác nghiên cứu khoa học
Ngay từ khi mới thành lập, Viện đã luôn coi trọng công tác tổ chức nghiên cứu
khoa học gắn liền với tổng kết thực tiễn nhằm tạo luận cứ khoa học, thực tiễn cho việc
xây dựng các đề án quản lý kinh tế tham mưu cho Đảng và Nhà nước. Trong cơ cấu tổ
chức của Viện, Hội đồng khoa học với các thành viên do Hội nghị cán bộ nghiên cứu bầu
ra, có chức năng tư vấn về khoa học quản lý kinh tế cho Viện trưởng và các Lãnh đạo
Viện.
Trong giai đoạn từ năm 2008 – 2013, Viện đã tiếp tục hoàn thiện 02 đề tài cấp Nhà
nước và trúng thầu thêm 05 đề tài khoa học cấp Nhà nước. Ngoài ra, Viện còn chủ trì
thực hiện hàng chục đề tài khoa học cấp Bộ và đề tài cơ sở. Các đề tài do Viện thực hiện
đều nhằm phục vụ trực tiếp cho thực hiện các nhiệm vụ chính trị được cấp trên giao.
Về công tác đào tạo
Hiện nay, Viện tập trung vào công tác đào tạo tiến sĩ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
chuyên ngành quản lý kinh tế; mở các lớp huấn luyện có liên quan đến phổ biến, tuyên
truyền nội dung luật pháp kinh tế và các lớp chuyên đề về kinh doanh, cơ chế chính sách
và quản lý kinh tế cho cán bộ, lãnh đạo cũng như các doanh nghiệp trong cả nước.
Trong 05 năm (từ năm 2008-2013), Viện đã tổ chức tuyển sinh 05 khóa đào tạo
tiến sĩ với tổng số 60 nghiên cứu sinh; trong giai đoạn này Viện đã đào tạo và cấp bằng
tiến sĩ cho 09 nghiên cứu sinh đã hoàn thành và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ và có
54 nghiên cứu sinh đang tiếp tục theo học và nghiên cứu tại Viện.
Viện còn tham gia chuẩn bị tài liệu cho khóa tập huấn của cán bộ trung, cao cấp
nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, tổ chức khóa học về kinh tế thị trường và thương
mại quốc tế cho cán bộ của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên và tổ chức các khóa
tập huấn về đổi mới kinh tế và quản lý kinh tế cho các đại biểu hội đồng nhân dân các cấp
của Việt Nam.
Về hợp tác quốc tế
Viện tích cực hợp tác nghiên cứu với nhiều nước và tổ chức quốc tế như: Chương
trình hợp tác phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức – GTZ
(nay là GIZ), Viện Friedrich Ebert Stiftung (FES), Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế
DANIDA do Đan Mạch tài trợ, Cơ quan hợp tác phát triển Thụy điển (SIDA), Ngân hàng
Thế giới (WB), DFID v.v.
Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

11


Báo cáo thực tập

Nhiều dự án nghiên cứu hợp tác quốc tế có tính thực tiễn cao như dự án “Tầm
nhìn thể chế đến năm 2020” do Chính phủ Thụy Điển tài trợ qua tổ chức SIDA phối hợp
với Văn phòng Chính phủ và Bộ Nội; tham gia vào hoạt động của Ủy ban Kinh tế, Diễn
đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), tập trung vào các nội dung cải
cách cơ cấu mới của APEC và nhóm công tác về Luật và Quản trị doanh nghiệp; hợp tác
với Đại sứ quán Nhật Bản và JICA trong việc xây dựng Đề án Chiến lược công nghiệp
hóa trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam-Nhật Bản hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
Ngoài ra, Viện còn thiết lập quan hệ hợp tác rộng rãi và có hiệu quả với một số
nước và tổ chức quốc tế như: Pháp, Anh, Úc, Canada, Trung Quốc, Singapore, Quỹ Tiền
tệ quốc tế (IMF), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)
v.v. Năm 2008, các nước thành viên của Viện Nghiên cứu ASEAN và Đông Á (ERIA) tín
nhiệm bầu Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương làm Chủ tịch Hội
đồng điều hành Viện ERIA nhiệm kỳ năm 2008 – 2011.
3. Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện.
Chức năng, nhiệm vu, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện nghiên cứu quản lý
kinh tế trung ương được quy định trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngày
14/11/2003. Quyết định được căn cứ vào Luật tổ chức Chính phủ ngày 25/12/2001.
Căn cứ Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 05/11/2002 của chính phủ quy định
chức năng, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
Căn cứ nghị định số 61/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 của Chính phủ quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Quy định của Thủ tướng chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của
Viện nghien cứu quản lý kinh tế trung ương được cụ thể như sau:
3.1. Cơ cấu tổ chức
Cơ câu tổ chức của viện theo các nghị định trên gồm có:
- Về lãnh đạo Viện:
Viện có Viện trưởng và các Phó Viện trưởng.
Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương do Thủ tướng Chính phủ
bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư về toàn bộ hoạt
động của Viện.
Phó viện trưởng do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư bổ nhiệm, miễn nhiệm theo
đề nghị của Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương và chiuj trách nhiệm
trước Viện trưởng về lĩnh vực công tác được phân công.
- Về cơ cấu tổ chức của Viện:
Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

12


Báo cáo thực tập

Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức các đơn vị trực thuộc Viện theo quy định của
pháp luật.

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Viện

3.2. Vị trí và chức năng.
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương là Viện cấp quốc gia, trực thuộc bộ Kế
hoạch và Đầu tư, có chức năng nghiên cứu và đề xuất về thể chế, chính sách, kế hoạch
hóa,c ơ chế quản lý kinh tế, môi trường kinh doanh, cải cách kinh tế, tổ chức nghiên cứu

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

13


Báo cáo thực tập

khoa học, đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế và tổ chức hoạt động tư vấn theo quy
định của pháp luật.
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương là đơn vị sự nghiệp khoa học, có tư
cách pháp nhân, con dấu, và tài khoản riêng, hoạt động tự chủ theo quy định của pháp
luật.
3.3. Nhiệm vụ và quyền hạn của Viện.
Tổ chức nghiên cứu xây dựng các đề án về thể chế kinh tế, đổi mới quản lý kinh
tế, cơ chế quản lý kinh tế, kế hoạch hóa, môi trường kinh doanh và những vấn đề khác
thuộc lĩnh vực quản lý kinh tế vĩ mô, liên ngành theo sự phân công của Bộ trưởng Bộ Kế
hoạch và Đầu tư.
Phối hợp các đơn vị trong Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu và xây dựng các văn
bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực nghiên cứu của Viện theo sự phân công của
Bộ trường Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Tổng hợp và đề xuất cơ chế, chính sách kinh tế cần bổ sung, sửa đổi hoặc ban
hành mới, tham gia nghiên cứu, thẩm định các cơ chế chính sách thuộc lĩnh vực kinh tế vĩ
mô, do các Bộ, ngành chủ trì soạn thảo.
Tổ chức triển khai thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực
được giao và các lĩnh vực khoa học khác theo quy định của pháp luật.
Nghiên cứu tổng kết thực tiễn quản lý kinh tế trong nước, kinh nghiệm quốc tế, đề
xuất việc thí điểm áp dụng những cơ chế, chính sách, mô hình tổ chức quản lý kinh tế
mới theo yêu cầu thực tiễn kinh tế xã hội của Việt Nam.
Nghiên cứu,tổng kết lý luận và phương pháp luận về khoa học quản lý kinh tế và
kế hoạch hóa, nghiên cứu thực tiễn, xây dựng và phát triển khoa học quản lý kinh tế ở
Việt Nam.
Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quản lý kinh tế theo sự phân
công của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Làm công tác thông tin, tư liệu và xuất bản về quản lý kinh tế, tổ chức hoạt dộng
tư vấn về quản lý kinh tế, ký kết, thực hiện các hợp đồng nghiên cứu khoa học, tham gia
bồi dưỡng, đào tạo cán bộ quản lý kinh tế và cán bộ sau đại học theo quy định của pháp
luật.
Hỗ trợ nội dung và kỹ thuật cho các hoạt động của Câu lạc bộ giám đốc các địa
phương.

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

14


Báo cáo thực tập

Quản lý, tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp dồng thuộc
Viện và tài chính, tài sản kinh phí được giao theo quy định của pháp luật và phân cấp
quản lý của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Thực hiện những nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao.
4. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng, ban nghiệp vụ
4.1. Hội đồng khoa học
Hội đồng khoa học của Viện là tổ chức tư vấn giúp Viện trưởng trong việc tổ chức
công tác nghiên cứu khoa học và đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học trong Viện. Hội
đồng có nhiệm vụ thảo luận và phát biểu với Viện trưởng về:
- Dự thảo Kế hoạch nghiên cứu khoa học dài hạn (3-5 năm) và hàng năm của Viện, bao
gồm cả vấn đề hợp tác nghiên cứu với các tổ chức nghiên cứu trong và ngoài nước;
- Tư vấn, góp ý về việc tham gia và nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước;
- Xem xét và tư vấn việc phê duyệt đề cương nghiên cứu các chương trình, đề tài cấp Bộ
và cấp cơ sở;
- Đánh giá chất lượng về mặt khoa học của các công trình, đề án, các đề tài nghiên cứu
của Viện;
- Đề nghị khen thưởng các công trình khoa học xuất sắc thuộc phạm vi quyền hạn của
Viện.
- Các nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Viện trưởng.
4.2. Ban thể chế kinh tế
- Nghiên cứu vai trò, chức năng, nhiệm vụ, bộ máy tổ chức của Nhà nước và các vấn đề
trong quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Nghiên cứu các vấn đề về thể chế kinh tế.
- Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến cơ chế, chính sách phát triển kinh tế vùng và các
khu kinh tế.
- Nghiên cứu đổi mới công tác kếa hoạch hóa, chủ trì tổng hợp cơ chế, chính sách phục
vụ xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hang năm.
- Nghiên cứu các vấn đề khác liên quan đến thể chế kinh tế.
4.3. Ban Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh
- Nghiên cứu các chính sách, quy định về điều kiện kinh doanh và cải cách thủ tục hành
chính cho doanh nghiệp;
Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

15


Báo cáo thực tập

- Nghiên cứu và đề xuất các chính sách về hoàn thiện môi trường kinh doanh;
- Nghiên cứu các chính sách tăng trưởng, chất lượng tăng trưởng và nâng cao năng lực
cạnh tranh quốc gia, ngành và doanh nghiệp;
- Nghiên cứu các vấn đề khác liên quan đến môi trường kinh doanh và năng lực cạnh
tranh.
4.4. Ban Cải cách và phát triển doanh nghiệp.
- Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình doanh nghiệp; hỗ trợ phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa;
- Nghiên cứu cơ chế, chính sách đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp nhà nước;
- Nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp, nghiên cứu mô hình tổ chức quản lý, các hình
thức liên kết kinh tế, liên kết doanh nghiệp, cơ chế, chính sách mua, bán, sát nhập các
loại hình doanh nghiệp;
- Nghiên cứu cơ chế, chính sách quản lý nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp
không phân biệt hình thức sở hữu;
- Nghiên cứu những vấn đề khác về cải cách và phát triển doanh nghiệp.
4.5. Ban Chính sách phát triển nông thôn.
- Nghiên cứu chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn;
- Nghiên cứu các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, mô hình hợp tác trong nông
thôn;
- Nghiên cứu chính sách xã hội, chính sách giảm nghèo trong nông thôn;
- Nghiên cứu chính sách bảo vệ môi trường ở nông thôn;
- Nghiên cứu những vấn đề khác liên quan đến chính sách phát triển nông thôn.
4.6. Ban Chính sách Dịch vụ công.
- Nghiên cứu chính sách phát triển trị trường tài nguyên, thị trường lao động, thị trường
khoa học công nghệ;
- Nghiên cứu cơ chế, chính sách phát triển các loại hình dịch vụ môi trường, dịch vụ khoa
học và công nghệ, dịch vụ xã hội;
- Nghiên cứu các vấn đề về phát triển bền vững;

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

16


Báo cáo thực tập

- Nghiên cứu mô hình tổ chức và quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ công phù hợp với
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam;
- Nghiên cứu những vấn đề khác liên quan đến chính sách dịch vụ công.
4.7. Ban Chính sách Kinh tế vĩ mô.
- Nghiên cứu chính sách kinh tế vĩ mô và dự báo kinh tế vĩ mô;
- Nghiên cứu chính sách thương mại và các vấn đề liên quan đến chính sách thương
mại;
- Nghiên cứu cơ chế, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế;
- Nghiên cứu chính sách phát triển thị trường tài chính và hệ thống tài chính;
- Nghiên cứu các vấn đề khác liên quan đến chính sách kinh tế vĩ mô và hội nhập kinh tế
quốc tế.
4.8. Ban Chính sách Đầu tư.
- Nghiên cứu cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về đầu tư;
- Nghiên cứu cơ chế, chính sách đầu tư công;
- Nghiên cứu cơ chế, chính sách thu hút và sử dụng vốn đầu tư xã hội;
- Nghiên cứu cơ chế, chính sách về cơ cấu đầu tư;
- Nghiên cứu các vấn đề khác liên quan đến chính sách đầu tư.
4.9. Trung tâm Tư vấn quản lý và Đào tạo.
- Tổ chức bồi dưỡng, đào tạo cán bộ quản lý kinh tế và là đầu mối thực hiện công tác đào
tạo sau đại học theo quy định của pháp luật;
- Tổ chức thực hiện hoạt động tư vấn về quản lý kinh tế theo yêu cầu của các đơn vị, tổ
chức trong và ngoài nước;
- Nghiên cứu các vấn đề thực tiễn phục vụ cho công tác tư vấn và đào tạo về quản lý kinh
tế;
- Thường trự Văn phòng Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ Doanh nghiệp nhà nước;
Thực hiện những nhiệm vụ khác liên quan đến tư vấn, quản lý và đào tạo.
4.10. Trung tâm Thông tin Tư liệu.

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

17


Báo cáo thực tập

- Thu thập và xử lý thông tinh phục vụ công tác nghiên cứu của Viện và đáp ứng nhu cầu
thông tin kinh tế cho người dung tin ở trong và ngoài nước là các cơ quan nghiên cứu và
hoạch định chính sách, các doanh nghiệp và những người có quan tâm;
- Tổ chức biên soạn và xuất bản các ấn phẩm thông tin;
- Thực hiện hoạt động của một thư viện chuyên ngành về kinh tế, xây dựng và phát triển
các cơ sở dữ liệu điện tử;
- Quản lý và phát triển các hoạt động của Cổng thông tin kinh tế Việt Nam, website của
Viện;
- Hợp tác trong nước và quốc tế về hoạt động Thông tin – Thư viện;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan đến thông tin và tư liệu.
4.11. Tạp chí và quản lý kinh tế.
- Xuất bản và phát hành: Tạp chí quản lý kinh tế bằng tiếng Việt và tiếng Anh (Vietnam
Economic Management Review), Bản tin, Phụ trương Tạp chí Quản lý kinh tế và các ấn
phẩm, tài liệu nghiên cứu khác có liên quan tới quản lý kinh tế theo quy định của pháp
luật;
- Tổ chức các hội nghị, hội thảo để trao đổi những vấn đề lý luận và thực tiễn về đổi mới
quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường và phù hợp với các nguyên tắc hội nhập kinh tế
quốc tế;
- Quản lý đội ngũ cán bộ, nhân viên, phóng viên thuộc biên chế, hợp đồng của Tạp chí
theo Luật Báo chí; quản lý tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật và theo Quyết
định của Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương; Tạp chí Quản lý kinh
tế có con dấu riêng.
4.12. Văn phòng Viện.
- Tổng hợp, xây dựng chương trình, kế hoạch công tác và nghiên cứu khoa học của Viện;
đôn đốc và chuẩn bị báo cáo cơ quan lãnh đạo cấp trên về kết quả thực hiện các nhiệm vụ
của Viện;
- Thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ, thông tin nội bộ, quản trị, lễ tân;
- Thực hiện công tác tổ chức và nhân sự;
- Quản lý tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật của Viện;
- Làm đầu mối công tác đối ngoại; phối hợp với các đơn vị tổ chức các cuộc họp, hội
thảo của Viện.

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

18


Báo cáo thực tập

CHƯƠNG II. BAN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
1.Chức năng, lĩnh vực hoạt động
1.1. Nghiên cứu chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn.
Trong một xã hội mà dân cư nông thôn và lao động nông nghiệp chiếm đại bô
phận thì việc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải diễn ra có những đặc điểm đặc
thù. Với các chính sách mới trong nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, thi hành Luật
Đất đai, Luật Hợp tác xã (sửa đổi), phát triển kinh tế trang trại… tạo ra nền tảng cho kinh
tế nông nghiệp và nông thôn có nhiều chuyển biến lớn, góp phần làm cho kinh tế nước ta
ổn định.
Đảng ta đặt vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là
một nhiệm vụ rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định quá trình phát triển. Một khi chưa tạo
ra được chuyển biến của khu vực kinh tế này thì không thể nói đã hoàn thành nhiệm vụ
về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do đó, đã chủ trương phát triển toàn diện
nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng chuyên canh, cơ cấu cây trồng hợp lý, có sản
phẩm hàng hóa nhiều về số lượng và về chất lượng. Tuy nhiên nhiệm vụ này còn rất nặng
nề khi năm 2003 nông, lâm, ngư nghiệp mới tạo ra khoảng 132 nghìn tỷ đồng giá trị gia
tăng với hơn 25 triệu lao động trong ngành. Như vậy, năng suất lao động mới khoảng
hơn 5 triệu đồng/người, do đó, nếu phải nuôi dưỡng thêm một người thì bình quân thu
nhập của người dân sống bằng nghề nông mới đạt mức rất thấp. Nếu nói rộng ra cả các
ngành nghề khác ở nông thôn (bao gồm công nghiệp nông thôn và dịch vụ) thì thu nhập
thực tế của người dân nông thôn cũng còn rất khiêm tốn, khả năng tích lũy vốn cho
công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn rất thấp. Trong khi đó, cơ sở hạ tầng ở nông thôn dù
đã được cải thiện song còn thấp so với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
thôn. Đó là chưa kể tới vấn đề đô thị hóa nhanh sẽ tác động đến các hộ nông dân ven
đô, làm cho họ mất ruộng nhưng chưa kịp chuyển đổi ngành nghề và rèn luyện trong
kinh doanh.. Từ đó, có thể làm nảy sinh những vấn đề xã hội không nhỏ.
1.2. Nghiên cứu các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, mô hình hợp tác trong
nông thôn
Xu thế đa dạng hóa tổ chức sản xuất phát triển song song với hình thức truyền
thống như hợp tác xã (HTX), tổ hợp tác, các nhóm kinh tế phi chính thức, dựa trên
nguyên tắc liên kết kinh tế tự nguyện giữa các nông hộ trở nên phổ biến hơn. Đặc biệt,
những năm gần đây, hình thức hợp đồng tiêu thụ nông sản đang phát triển, gắn kết nông
dân sản xuất nguyên liệu với nhà máy chế biến và thương mại. Nhưng, vẫn còn nhiều vấn
đề cần giải quyết để các mô hình tổ chức sản xuất mới trong nông nghiệp, nông thôn phát
huy hiệu quả, đáp ứng tốt yêu cầu thực tiễn sản xuất…
1.3. Nghiên cứu chính sách xã hội, chính sách giảm nghèo trong nông thôn
Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

19


Báo cáo thực tập

Nghèo đói là một trong những vấn đề nan giải mà mọi quốc gia trên thế giới đặc
biệt là những quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam đều phải quan tâm và tìm
cách giải quyết. Việc tấn công vào nghèo đói là một nhiệm vụ không kém phần quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Đại họi VII của Đảng đã xác
định xóa đói giảm nghèo là một trong những chương trình kinh tế xã hội vừa cấp bách
trước mắt, vừa cơ bản lâu dài. Đồng thời, việc xóa đói giảm nghèo đòi hỏi cũng phải có
những chính sách thích hợp thì mới đạt hiệu quả. Những chính sách mà nhà nước đưa ra
không những góp phần xóa đói giảm nghèo mà còn góp phần phát triển các ngành kinh
tế, cải thiện đời sống người nghèo để giúp họ thoát khỏi cảnh nghèo đói. Khi Việt Nam
chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công tác giảm nghèo là một
nhiệm vụ cấp thiết hơn bao giờ hết và những chính sách của nhà nước càng có ý nghĩa
nhiều hơn nữa đối với công tác giảm nghèo.
1.4. Nghiên cứu chính sách bảo vệ môi trường ở nông thôn
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước luôn
chú trọng công tác bảo vệ môi trường, coi đó là một trong những nhân tố quan trọng bậc
nhất góp phần phát triển kinh tế nói chung và phát triển một nền nông nghiệp bền vững
nói riêng. Sau gần 30 năm đổi mới, công tác bảo vệ môi trường ở nước ta đã có những
chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trước áp lực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, tình trạng ô nhiễm môi trường đang ở mức đáng báo động, công tác bảo vệ môi
trường đang đứng trước những thách thức gay gắt; đất đai bị thoái hóa; chất lượng nguồn
nước suy giảm mạnh; không khí bị ô nhiễm; tài nguyên thiên nhiên bị khai thác không
theo quy hoạch; khí hậu có nhiều diễn biến phức tạp, nguy cơ mất cân bằng sinh thái diễn
ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khỏe và đời sống
nhân dân; nhận thức về tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường của các cấp,
ngành và người dân ở nhiều nơi chưa đầy đủ; nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường
còn hạn chế; công tác quản lý nhà nước về môi trường còn nhiều bất cập…
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn giữ vị trí chiến lược và là cơ sở
cũng như lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, bảo đảm an ninh,
quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của
đất nước. Nông thôn là địa bàn sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng
của cả xã hội; là thị trường để tiêu thụ sản phẩm, có vai trò quan trọng trong việc tạo sự
gắn bó hài hòa giữa con người với thiên nhiên, giúp hình thành những vùng du lịch sinh
thái đa dạng và thanh bình, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho con người. Do đó,
việc khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường ở khu vực
nông thôn có ảnh hưởng to lớn đến việc bảo vệ môi trường của cả nước. Sự phát triển bền
vững nông thôn bảo đảm cho sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước.

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

20


Báo cáo thực tập

Như vậy, có thể thấy, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng công tác bảo vệ môi
trường, trong đó có môi trường nông thôn, coi đây là bước đi tất yếu cần thực hiện để
hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững và xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2. Cơ cấu tổ chức
Lãnh đạo Ban:
Trưởng ban: Ths. Lưu Đức Khải

Email: khai@mpi.gov.vn

Phó Trưởng ban: Ths. Nguyễn Hữu Thọ
Danh sách cán bộ Ban:
- CN. Hoàng Xuân Diễm
- TS. Lê Mạnh Hùng
- Ths. Đinh Xuân Nghiêm
- Ths. Lê Thị Xuân Quỳnh
- CN. Đỗ Thị Thu Thủy

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

21


Báo cáo thực tập

CHƯƠNG III. THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CÒN TỒN
ĐỌNG CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG
1.Những việc làm được
Do bám sát thực tế, tổng kết những sang kiến tự phát từ cơ sở, kết hợp với tham
khảo kinh nghiệm nước ngoài, Viện đã mạnh dạn đề xuất sang kiến đổi mới. Điều này
không phải do trình độ lý luận cao siêu hay là một sang taoọ gì ghê gớm, chúng ta chỉ
biết là không thể làm như cái cũ. Khái niệm “đổi mới” quản lý kinh tế đã được Viện đưa
ra từ trước đó. Mặt khác chúng ta cũng tiếp thu được thông tin từ bên ngoài, chủ yếu từ
kinh nghiệm của Liên Xô về thực hiện chính sách kinh tế mới (NEP).
Được Đảng và Chính phủ giao chủ trì nghiên cứu nhiều đề án lớn về đổi mới quản
lý trong các lĩnh vực kinh tế quan trọng nhằm cụ thể hóa chủ trương của các nghị quyết
trung ương, nghị quyết đại hội Đảng. Ngoài ra còn nhiều đề án khác mà Viện được giao
chủ trì hoặc tham gia với cơ quan khác nghiên cứu trình cấp trên.
Sớm đề xuất với Trung ương về việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế.
Ngay trong bản sự thảo đề án (11/1978) Viện đã kiến nghị cần mở rộng kinh tế đối ngoại
và coi kinh tế đối ngoại là bộ phận của đường lối kinh tế, là một nhân tố tạo cơ cấu kinh
tế mới của nước ta, một cách tốt nhất để sớm phát huy lao động, tài nguyên đất, rừng,
biển thực hiện công nghiệp hóa.
Đã đạt được kết quả nhất định trng công tác bồi dưỡng quản lý cho đội ngũ cán bộ
trung, cao cấp và cán bộ cơ sở trong cả nước. Thực chất của việc bồi dưỡng này không
phải là nâng cao trình độ quản lý cho cán bộ mà xoay chuyển tư duy của họ, trang bị một
số quan điểm mới về quản lý kinh tếm một cách nhìn mới về hiện trạng kinh tế nước ta
cho đội ngũ cán bộ trung, cao cấp cả nước.
Trong các kiến nghị về đổi mới kinh tế và quản lý kinh tế Viện luôn bám sát
đường lối của Đảng và coi trọng, đề cao các quy luật kinh tế khách quan, đặc biệt là quy
luật giá trị. Tư tưởng nghiên cứu của Viện là coi trọng và chú ý đúng mức đến việc tìm
tòi, sử dụng quy luật giá trị gắn với hiệu quả của các hoạt động kinh tế. Giá cả là vấn đề
quan tâm đầu tiên trong các kiến nghị, do hệ thống giá của ta có nhiều điểm không sát với
thực tiễn, phải cải cách nó một cách cơ bản để tiến tới hệ thống một giá biến động theo
quan hệ cung cầu. Trước mắt phải điều chỉnh và cải tiến chính sách giá cho phù hợp theo
hướng làm cho giá cả sát với giá trị để thức đẩy sản xuất và tăng ăng suất, đẩy mạnh thu
mua, nắm nguồn hang, xuất khẩu, bớt bù lỗ, bớt gánh nặng cho ngân sách. Hỗ trợ cholưu
thông tiền tệ, giảm bôi chi tiền mặt và lạm phát.
Thấy rõ những bất hợp lý, lạc hậu của cơ cấu kinh tế cùng những ảnh hưởng của
nó đến quá trình phát triên của đất nước, Viện đã kiến nghị phải sắp xếp lại kinh tế, tập
trung sức cho một số chương trình trọng điểm, rà soát, sắp xếp lại các cơ sở kinh tế cho
quốc doanh dựa trên hiệu quả của sản xuất kinh doanh.

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

22


Báo cáo thực tập

=>Những việc làm trên đây là những đóng góp của Viện vào quá trình đổi mới ở nước ta.
Có việc đã được thể hiện bằng các chính sách, chế độ quản lý cụ thể và thực hiện có kết
quả. Còn nhiều việc tuy chưa được cụ thể hóa, chưa được thật sáng tỏ, nhưng đã góp
phần vào quá trình thay đổi tư duy, xoay chuyển ý nghĩ của phần lớn đội ngũ cán bộ nước
ta, phù hợp với quy luật phát triển khách quan.
2. Những vấn đề còn tồn đọng của Viện
Ngày nay, sau hơn 20 năm đổi mới với tư duy được đổi mới, khi cơ chế đã từng
bước chuyển đổi theo hướng thị trường, khi cơ cấu kinh tế đã có những chuyển biến bước
đầu, việc xem xét lại các việc làm vừa qua để thấy rõ mặt ưu điểm và khuyết điểm đã có
nhiều căn cứ về cả lý luận và thực tiễn. Chúng ta là người sống trong sự biến đổi của thời
đại, mang hơi thở của thời đại, là con người của thời đại, nên suy nghĩ việc làm cũng
không thể tách rời khỏi thời đại. Những việc Viện chưa làm được, chưa nghĩ tới đầy đủ
hoặc chưa làm tốt có thể tóm tắt lại trên các điểm lớn:
 Một trong những nhiệm vụ quan trọng số một của Viện khi thành lập là “Nghiên cứu hệ
thống quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa trong cả nước”, trong 30 năm qua Viện đã có
nhiều cố gắng trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn để đóng góp với Đảng và Nhà nước
trong sự nghiệp đổi mới quản lý kinh tế đất nước, song đến nay việc hình dung một cách
có hệ thống, rõ rệt “hệ thống quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa” hay nói cách khác là hình
thành một chiến lượng quản lý lâu dài cho đất nước như thế nào cả về mặt lý luận và thực
tiễn vẫn đang là vấn đề còn bỏ ngỏ.
 Trong quản lý kinh tế, nhât là quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường, các công cụ
kinh tế vĩ mô luôn đóng vai trò quan trọng mang tính công phạt lớn, song việc đi nghiên
cứu về mặt lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới ở nước ta để vận dụng, đặc việt là
vai trò, vị trí của các công cụ quản lý vĩ mô trương nền kinh tế vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là những
công cụ gì, kế hoạch có là công cụ quan trọng số một không?
 Viện đã có một số đóng góp trong quá trình đổi mới quản lý doanh nghiệp Nhà nước từ
nhiêu năm nay, song đến nay vấn đề cải cách doanh nghiệp Nhà nước vẫn là vấn đề gai
góc và có nhiều tranh cãi, vướng mắc cần phải được nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hơn để
có những lời giải có hiệu quả hơn.
 Hiện tại và tương lai dài hơn đối với nền kinh tế nước ta, nông nghiệp nông thôn vẫn
đóng giữ vị trí quan trọng và chủ yếu cả về giá trị sản lượng trong thu nhập quốc nội và
dân cư lao động. Nhưng sau 20 năm đổi mới, nhiều vấn đề của nông nghiệp nông thôn
vẫn đang đặt ra.
 Trong lĩnh vực phân phối lưu thông chưa được tổ chức nghiên cứu một cách cơ bản ở
tầm chỉ đạo chung của nhà nước cũng như bản than Viện chưa tập trung lực lượng để
nghiên cứu, đồng thời năng lực nghiên cứu về lĩnh vực này còn hạn chế nhiều.

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

23


Báo cáo thực tập

 Ngay từ đầu tiên khi mới thành lập Viện đã sớm nhận thức được về vai trò, vị trí của
việc phát triển kinh tế đối ngoại, về mở cửa nền kinh tế. Song việc nghiên cứu nó không
được tiếp tục thường xuyên. Cho dù bộ thương mại và các viện nghiên cứu khác có
nghiên cứu nhưng dưới góc độ nghiên cứu cơ chế tổng thê quản lý nèn kinh tế, Việnc ần
phải đặt cho mình nhiệm vụ nghiên cứu lĩnh vực quan trọng này.

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

24


Báo cáo thực tập

LỜI KẾT
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương là viện cấp Quốc gia, trực thuộc bộ kế
hoạch và đầu tư trong quá trình hình thành và phát triển đã hoàn thành nhiệm vụ và chức
năng của Viện như: xây dựng cơ chế quản lý phù hợp với tình hình phát triển của đất
nước… Cơ cấu tổ chức khá chặt chẽ, thực hiện tốt và phát huy tốt các chức năng của
phòng ban trong viện. Đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm và đầy nhiệt huyết đã phát huy
được khả năng của các thành viên trong viện.
Là một sinh viên vừa hoàn thành chương trình học của ngành Kinh tế quốc tế. Và
qua thời gian thực tập tại Ban chính sách phát triển kinh tế nông thôn - Viện nghiên cứu
quản lý trung ương, em đã thấy được những vấn đề còn tồn đọng trong những chính sách
phát triển kinh tế nông thôn, đặc biệt là đối với những mặt hàng nông sản: cà phê, gạo,…
Có những cơ hội phát triển, tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những thách thức mà nông
sản Việt Nam cần phải đối mặt. Với đề tài: “Cơ hội và thách thức đối với việc phát triển
xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” và những dữ
liệu thu thập được trong quá trình thực tập tại Ban chính sách phát triển kinh tế nông thôn
em sẽ phân tích và làm rõ sự phát triển của cà phê Việt Nam.

Đỗ Thị Thắm – 54K-QT

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×