Tải bản đầy đủ

Tiểu luận quản lý nhà nước về thuế

Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

MỤC LỤC
MỤC LỤC..............................................................................................................i
...............................................................................................................................ii
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................iii
LỜI NÓI ĐẦU.......................................................................................................1
I.MÔ TẢ TÌNH HUỐNG......................................................................................3
II.MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG.................................................................6
2.1 Phân tích tình huống....................................................................................6
2.2 Mục tiêu xử lý tình huống:.........................................................................6
III. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ...........................................7
3.1 Nguyên nhân dẫn đến xảy ra tình huống.....................................................7
3.2 Phân tích hậu quả của tình huống................................................................9
IV. XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN
...............................................................................................................................9
4.1 Cơ sở pháp lý...............................................................................................9
4.2 Phương án giải quyết.................................................................................13
4.3 Lựa chọn phương án..................................................................................13
V. KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN..................................15
VI. KIẾN NGHỊ..................................................................................................16

KẾT LUẬN........................................................................................................18
MỤC LỤC..............................................................................................................i
...............................................................................................................................ii
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................iii
LỜI NÓI ĐẦU.......................................................................................................1
I.MÔ TẢ TÌNH HUỐNG......................................................................................3
II.MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG.................................................................6
2.1 Phân tích tình huống....................................................................................6
2.2 Mục tiêu xử lý tình huống:.........................................................................6
III. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ...........................................7
3.1 Nguyên nhân dẫn đến xảy ra tình huống.....................................................7
3.2 Phân tích hậu quả của tình huống................................................................9
IV. XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN
...............................................................................................................................9
4.1 Cơ sở pháp lý...............................................................................................9
4.2 Phương án giải quyết.................................................................................13
4.3 Lựa chọn phương án..................................................................................13
i


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

V. KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN..................................15
VI. KIẾN NGHỊ..................................................................................................16
KẾT LUẬN........................................................................................................18
................................................................................................................................
................................................................................................................................

ii


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc
hội và các văn bản hướng dẫn thi hành.
2. Luật số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012 của Quốc hội về việc sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật Quản lý thuế.
3. Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ
quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết
định hành chính thuế.
4. Thông tư 215/2013/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Bộ Tài Chính
hướng dẫn về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.
5. Quy trình quản lý nợ thuế - Ban hành kèm theo Quyết đinh số: 1395/QĐ-TCT
ngày 14 tháng 10 năm 2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế.
6. Quy trình cưỡng chế nợ thuế (Ban hành kèm theo Quyết định số: 490/QĐTCT ngày 8/5/2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế).
7. Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch kiểm tra viên thuế, Nhà xuất bản Tài
Chính, 2014
8. Tài liệu tham khảo khác.

iii


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

LỜI NÓI ĐẦU
Hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách là một trong những nhiệm vụ
quan trọng để thực hiện các mục tiêu chiến lược trong phát triển kinh tế – xã
hội, bảo đảm an sinh xã hội và tăng phúc lợi cho người dân. Để phấn đấu hoàn
thành nhiệm vụ thu ngân sách được giao, hàng năm ngành thuế đã phấn đấu
quyết liệt, vượt qua khó khăn, triển khai đồng bộ, có hiệu quả nhiều biện pháp
quản lý thu, huy động được nguồn thu lớn, ổn định cho ngân sách . Tuy nhiên,
trong những năm gần đây do tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn do ảnh hưởng
từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cuối năm 2008 và năm 2009, nhiều doanh
nghiệp kinh doanh thua lỗ, thực sự khó khăn về tài chính nên không có khả năng
thanh toán các khoản nợ thuế. Mặt khác, còn có không ít doanh nghiệp chây ỳ,
cố tình dây dưa chiếm dụng tiền thuế dẫn đến nợ đọng thuế kéo dài gây ảnh
hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nói trên. Thực tế
đó đã đặt ra yêu cầu cho cơ quan thuế là làm thế nào để quản lý thuế tốt hơn
nhằm nâng cao ý thức tự giác trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các doanh
nghiệp và đảm bảo hoàn thành kế hoạch thu Ngân sách của ngành.
Là cán bộ ngành thuế và đang công tác tại Phòng Quản lý nợ và cưỡng
chế nợ thuế - Cục Thuế , xuất phát từ thực tiễn, kết hợp với lý luận và vốn kiến
thức đã tiếp thu trong quá trình học Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch kiểm tra
viên thuế tại Trường Nghiệp vụ Thuế, tôi xin đưa ra một tình huống xảy ra trong
công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế đó là: “Cưỡng chế nợ thuế đối với
Công ty cổ phần Xây dựng Minh Đức” tại Cục Thuế làm đề tài cho tiểu luận
cuối khóa.
Ngoài lời nói đầu và kết luận, nội dung cơ bản của tiểu luận được kết cấu
gồm sáu phần cơ bản sau:
1. Mô tả tình huống
2. Xác định mục tiêu xử lý tình huống
3. Phân tích nguyên nhân và hậu quả
4. Xây dựng các phương án giải quyết vấn đề và lựa chọn phương án
1


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

5. Kế hoạch tổ chức thực hiện phương án được lựa chọn
6. Kiến nghị
Trong quá trình hoàn thành tiểu luận, mặc dù đã có những nỗ lực, cố gắng
của bản thân, nhưng do kinh nghiệm còn thiếu, kiến thức còn hạn chế nên nội
dung không tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong sự góp ý chân thành của
các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn ./.

2


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG
Công ty cổ phần Xây dựng Minh Đức thuộc quản lý thuế của Văn phòng
Cục Thuế thành phố
Mã số thuế: 0200103827
Đia chỉ: Số 12 Trần Quang Khải, quận Hồng Bàng, Hải Phòng
Ngành nghề kinh doanh: Xây dựng cơ bản.
Tính đến ngày 30/6/2014, đơn vị còn nợ Ngân sách Nhà nước là:
6.303.508.721 đồng, trong đó:
Tiền thuế giá trị gia tăng là : 4.125.880.135 đồng
Tiền phạt chậm nộp là

: 2.177.628.586 đồng

Khoản tiền thuế nợ này phát sinh lũy kế từ kỳ kê khai thuế tháng 8 năm
2011
Căn cứ theo Quy trình quản lý nợ thuế (Ban hành kèm theo Quyết đinh số:
1395/QĐ-TCT ngày 14 tháng 10 năm 2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục
Thuế) và Quy trình cưỡng chế nợ thuế (Ban hành kèm theo Quyết định
số: 490/QĐ-TCT ngày 8/5/2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế) cán bộ
thuế đã thực hiện các bước sau:
Trong thời gian 30 ngày kể từ ngày hết hạn nộp thuế của kỳ kê khai thuế
tháng 8/2011 (20/9/2011), cán bộ thuế đã tiến hành đôn đốc nộp thuế bằng hình
thức gọi điện thoại nhắc nhở và phát hành Thông báo tiền thuế nợ và tiền phạt
chậm nộp theo mẫu số 07/QLN ban hành kèm theo quy trình tới doanh nghiệp.
Sang tháng 11/2011 đơn vị có kê khai số thuế giá trị gia tăng là:
91.616.451 đồng nhưng mới chỉ nộp: 4.000.000 đồng, trong khi đó số nợ cũ vẫn
chưa nộp vào Ngân sách. Cán bộ thuế vẫn tiếp tục gọi điện nhắc nhở đôn đốc
tình hình thu nộp, gửi thông báo tiền thuế nợ và tiền phạt chậm nộp theo mẫu số
07/QLN tới doanh nghiệp đồng thời gửi giấy mời Giám đốc và kế toán trưởng
công ty lên làm việc tại cơ quan thuế.
Ngày 08/12/2011 tại trụ sở cơ quan thuế, cán bộ thuế trực tiếp làm việc với
Giám đốc và kế toán trưởng công ty với những nội dung sau:
+ Thông báo số thuế đơn vị còn nợ đọng Ngân sách nhà nước
3


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

+ Đối chiếu số thuế nợ đọng với sổ theo dõi của công ty
+ Đề nghị doanh nghiệp giải trình lý do chưa thực hiện nộp số tiền thuế nợ
trên
+ Đề nghị doanh nghiệp cung cấp số và ký hiệu về tài khoản của công ty tại
các ngân hàng, số tiền hiện có trong tài khoản; các khoản phải thu và các khoản
phải trả của doanh nghiệp.
+ Đề nghị doanh nghiệp thực hiện nộp ngay số tiền thuế nợ trên vào Ngân
sách Nhà nước trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp thuế nếu không cơ
quan thuế sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế trích tiền từ tài khoản của đối tượng
bị cưỡng chế tại kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng; yêu cầu phong tỏa tài
khoản theo đúng luật định.
Sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp thuế (20/9/2011) cán bộ thuế tiến hành
lập thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế nợ thuế theo mẫu 09/TBCCNT (ban hành kèm theo quy trình cưỡng chế nợ thuế) gửi tới doanh nghiệp.
Đồng thời cán bộ thuế tiến hành gửi văn bản yêu cầu kho bạc nhà nước, tổ chức
tín dụng trên địa bàn cung cấp thông tin về tài khoản, như: nơi mở tài khoản, số
và ký hiệu về tài khoản, số tiền hiện có trong tài khoản
Đến ngày 12/01/2012 Công ty cổ phần Xây dựng Minh Đức vẫn còn nợ
đọng tiền thuế số tiền: 4.440.451.153 đồng khoản thuế nợ này đã quá 90 ngày kể
từ ngày hết hạn nộp thuế (20/9/2013). Căn cứ theo Quy trình cưỡng chế nợ thuế
490/QĐ-TCT ngày 8/5/2009, cơ quan thuế tiến hành cưỡng chế bằng biện pháp
trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản của công ty trên số tiền thuế nợ và
tiền chậm nộp đối với tất cả ngân hàng và các tổ chức tín dụng trên địa bàn.
Sau thời gian gọi điện đôn đốc, gửi thông báo, thực hiện biện pháp cưỡng
chế trích tiền từ tài khoản kết hợp với thành lập đoàn xuống đơn vị kiểm tra, đôn
đốc tình hình nộp thuế của doanh nghiệp; kết quả số tiền thuế nợ thu được
không đáng kể, số nợ mới phát sinh thêm dẫn đến số tiền thuế nợ không giảm đi.
Số dư trong các tài khoản ngân hàng của đơn vị không nhiều, thậm chí là không
đủ số dư dẫn đến số tiền thu được từ biện pháp pháp cưỡng chế trích tiền từ tài
khoản này không khả thi. Trong biên bản làm việc đơn vị có cam kết hàng tháng
4


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

sẽ nộp từ 100 đến 150 triệu đồng vào Ngân sách và cố gắng nộp hết số tiền nợ
đong nhưng việc thực hiện chưa đến đâu.
Trước tình hình nhiệm vụ thu ngân sách hết sức nặng nề, số thuế nợ đọng
toàn ngành có xu hướng tăng lên, điều này đặt ra cho cán bộ thuế cần có các
biện pháp mạnh và tích cực hơn trong công tác thu hồi nợ đọng. Đối với Công ty
cổ phần Xây dựng Minh Đức tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế thời gian qua
không có dấu hiệu tích cực, số tiền thu được thông qua biện pháp trích tiền từ tài
khoản không đáng kể trong khi đó các tháng doanh nghiệp vẫn phát sinh doanh
thu kê khai số thuế giá trị gia tăng phải nộp. Cán bộ thuế đang xem xét, cân nhắc
việc áp dụng biện pháp cưỡng chế tiếp theo đối với công ty đó là biện pháp
cưỡng chế thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng.
Ngày 18/6/2014 cán bộ thuế đã mời Giám đốc và kế toán trưởng công ty
lên cơ quan thuế làm việc về tình hình chấp hành nghĩa vụ Ngân sách của công
ty, cụ thể:
+ Thông báo về số tiền thuế nợ đọng của công ty đến ngày 18/6/2014.
+ Thông báo đơn vị biết cơ quan thuế sẽ tiến hành biện pháp cưỡng chế
tiếp theo đó là thông báo báo đơn giá trị không còn sử dụng nếu như doanh
nghiệp không thực hiện nộp ngay số tiền nợ đọng vào Ngân sách Nhà nước.
+ Đề nghị doanh nghiệp có ý kiến:
Ông Trần Văn Thế - Giám đốc công ty giải trình như sau:
Công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, trong những năm gần
đây nền kinh tế khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, thị trường bất
động sản đóng băng. Từ đầu năm 2011 đến gần đây việc hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty gặp nhiều khó khăn, không thu hồi được nợ từ khách
hàng (Công ty cổ phần hàng hải Việt Hưng nợ trên 3 tỷ đồng, Chi nhánh Công
ty TNHH vận tải biển Ngọc Mai nợ gần 2 tỷ đồng…) do đó doanh nghiệp chưa
thể trả ngay được khoản thuế phát sinh hàng tháng. Đề nghị Cục Thuế xem xét
tạo điều kiện thuận lợi cho công ty duy trì hoạt động để vượt khó khăn, nộp dần
tiền thuế nợ vào Ngân sách và chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế hóa đơn đối
với đơn vị.
5


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

Kết thúc buổi làm việc cán bộ thuế có thiết lập một biên bản với nội dung:
1/ Đối chiếu số thuế nợ đọng chính xác;
2/ Yêu cầu đơn vị cung cấp số liệu các khoản phải thu, phải trả
3/ Yêu cầu Công ty thực hiện nộp ngay số tiền thuế nợ vào NSNN;
4/ Bảo lưu ý kiến của doanh nghiệp.
II.MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
2.1 Phân tích tình huống
- Công ty có thuộc trường hợp bị cưỡng chế bằng biện pháp hóa đơn không còn
giá trị sử dụng hay không?
- Có nên thi hành biện pháp cưỡng chế thông báo báo đơn giá trị không còn sử
dụng đối với công ty tại thời điểm này không?
- Có thể áp dụng biện pháp thu hồi nợ nào tích cực hơn không?
- Căn cứ vào văn bản pháp luật nào quy định? cơ sở nào để thực hiện ? tổ chức
thực hiện như thế nào?
2.2 Mục tiêu xử lý tình huống:
Trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu, rộng với nền
kinh tế thế giới, đặc biệt đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương
mại thế giới (WTO), đòi hỏi chúng ta cần phải nhanh chóng thúc đẩy cải cách,
phát triển, hiện đại hoá ngành thuế theo cơ chế, chính sách quản lý kinh tế nói
chung và chính sách quản lý nhà nước về thuế nói riêng để thích ứng với tình
hình mới nhằm vừa đảm bảo tạo thuận lợi cho người sản xuất và kinh doanh vừa
đảm bảo việc chấp hành và tuân thủ các quy định của pháp luật, đảm bảo an
ninh, lợi ích kinh tế quốc gia.
Với nhiệm vụ chính trị của ngành thuế nói chung, công tác quản lý nợ và
cưỡng chế nợ thuế nói riêng là đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước,
không để trốn thuế, thất thu thuế và bảo đảm ngăn chặn kịp thời các hành vi vi
phạm trong lĩnh vực này.
Do đó trong việc xử lý tình huống về cưỡng chế nợ thuế mục tiêu là tìm ra

6


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

phương án xử lý tình huống thỏa đáng nhất, hợp tình, hợp lý nhất tạo điều kiện
thuận lợi tối đa doanh nghiệp lớn mạnh và phát triển, nhưng phải làm sao tuân
thủ nghiêm túc, chính xác pháp luật Luật về thuế Việt nam, đạt được mục tiêu:
- Làm cho đối tượng vi phạm hiểu và thấy hành vi vi phạm của doanh
nghiệp mình là sai, vi phạm pháp luật về thuế, ngoài ra còn nhằm mục đích giáo
dục, răn đe người nộp thuế khác khi có ý định tương tự.
- Kiên quyết không để các tổ chức, cá nhân người nộp thuế chiếm dụng tiền
thuế nhà nước, đây cũng thể hiện quan điểm hành động kiên quyết, cứng rắn của
Nhà nước và các cơ quan quản lý hành chính trong việc thực thi pháp luật.
- Tạo sự công bằng đối với các doanh nghiệp chấp hành tốt luật thuế .
- Cơ quan quản lý thuế cần phải đồng hành với người nộp thuế còn nợ đọng
NSNN trong bối cảnh kinh tế khó khăn chung này. Cho nên, ngoài việc thực
hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, cơ quan thuế
cần phải vận dụng các biện pháp mềm dẻo, không những thu được thuế, mà còn
thu được lòng dân như Bác Hồ đã dạy.
Mục tiêu quan trọng và lâu dài là từ việc giải quyết tình huống là tìm ra
những hạn chế, thiếu sót của pháp luật thuế. Chính sách thuế và các quy định
liên quan cần phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, đảm bảo
đồng bộ, thống nhất, bao quát được hết các tình huống có thể xảy ra. Đồng thời
tìm ra biện pháp nhằm nâng cao ý thức chấp hành Luật thuế của người nộp thuế.
III. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ
3.1 Nguyên nhân dẫn đến xảy ra tình huống
3.1.1 Nguyên nhân khách quan
Tình hình kinh tế trong những năm gần đây còn khó khăn do ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng kinh tế, thị trường bất động trong tình trạng đóng băng,
hoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, hàng tồn kho tăng cao,
không thu hồi được nợ từ khách hàng...Một bộ phận doanh nghiệp, cá nhân kinh
doanh thua lỗ, phá sản, vay nợ ngân hàng lớn, dẫn đến không chấp hành nghiêm
nghĩa vụ nộp Ngân sách Nhà nước.
Công tác tuyên truyền, phổ biến về chính sách pháp luật thuế nói riêng và
7


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

pháp luật Việt Nam nói chung tuy đã được quan tâm xong còn chưa được phổ
biến rộng rãi để các tổ chức cá nhân người nộp thuế hiểu được rõ và chấp hành.
Hệ thống các văn bản pháp luật về thuế, các hướng dẫn chế độ chính sách
cho tổ chức cá nhân người nộp thuế chưa đầy đủ và thường xuyên thay đổi làm
cho đơn vị khó nắm bắt kịp.
Chính sách quy định về cưỡng chế nợ thuế vẫn còn nhiều vướng mắc, bất
cập đó là các biện pháp cưỡng chế phải thực hiện theo tuần tự nên việc cưỡng
chế nợ thuế đạt hiệu quả không cao, sẽ mất nhiều thời gian và mất cơ hội áp
dụng xử lý kịp thời những biện pháp cưỡng chế phù hợp nhất với tình huống.Ví
dụ: Luật quy định phải thực hiện biện pháp đầu tiên là trích tiền từ tại khoản của
đối tượng bị cưỡng chế tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng. Trên thực tế, đối
tượng bị cưỡng chế còn tài sản, còn số dư tài khoản tại ngân hàng, nhưng khi cơ
quan quản lý thuế thực hiện các thủ tục để xác minh tài khoản, xác minh số dư
tại các ngân hàng thì đối tượng bị cưỡng chế đã có đủ thời gian tẩu tán tài sản
(không chỉ tiền trong tài khoản mà những tài sản khác) dẫn tới việc thực hiện
các biện pháp cưỡng chế không đạt hiệu quả. Hoặc qua kiểm tra cho thấy bên
thứ 3 còn nợ tiền của doanh nghiệp và có khả năng thu được nợ qua bên thứ 3
nhưng do chưa áp dụng các biện pháp trước đó ( biện pháp trích tiền từ tài khoản
của đối tượng bị cưỡng chế tại kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng, yêu cầu
phong tỏa tài khoản; khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập; thông báo hóa
đơn không còn giá trị sử dụng; kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên) nên
không thể áp dụng được biện pháp này.
3.1.2 Nguyên nhân chủ quan
Ý thức chấp hành nghĩa vụ thực hiện Ngân sách của doanh nghiệp chưa
cao, còn chậm trễ, chây ỳ dẫn đến nợ đọng thuế kéo dài.
Do lực lượng cán bộ quản lý nợ còn mỏng, phương pháp triển khai chưa
quyết kiệt, chưa áp dụng triệt để các biện pháp chế tài trong quản lý nợ.
Sự hợp tác, phối hợp trong công tác thu nợ thuế giữa cơ quan thuế với các
ban ngành: kho bạc, ngân hàng, các tổ chức tín dụng... chưa chặt chẽ. Nếu
không muốn nói là một số ngân hàng, tổ chức liên quan tỏ ra không hợp tác vì
8


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

sự ảnh hưởng đến lợi ích của họ, một số ngân hàng vẫn xem công tác thu hồi nợ
thuế là trách nhiệm của riêng cơ quan thuế, nên chưa thực sự tích cực hợp tác
3.2 Phân tích hậu quả của tình huống
Tình huống cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không có giá trị
sử dụng đã ảnh hưởng đến nhiều mặt của quá trình quản lý nhà nước nói chung
và quản lý thuế nói riêng.
Thứ nhất: Tạo ra chi phí không cần thiết đối với xã hội có liên quan đến
công tác quản lý thuế, gây mất thời gian, công sức, tiền của cho việc quản lý nợ
thuế và cưỡng chế thuế.
Thứ hai: Có thể dẫn đến thất thu Ngân sách Nhà nước.
Thứ ba: Phần nào làm ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa cơ quan quản lý
thuế, cán bộ thuế và người nộp thuế.
Thứ tư: Gây ảnh hưởng phần nào đến uy tín và hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Thứ năm: Nếu xử lý không thỏa đáng sẽ gây mất công bằng về nghĩa vụ
thuế và tạo môi trường kinh doanh không bình đẳng giữa các tổ chức và cá nhân
đang kinh doanh trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế.
IV. XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN

4.1 Cơ sở pháp lý
Căn cứ Thông tư số 215/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính
hướng dẫn về chế thi hành quyết định hành chính thuế và hướng dẫn thi hành
Chương II Nghị định số 129/2013/NĐ-CP về cưỡng chế thi hành quyết định
hành chính thuế
- Tại khoản 1, Điều 2 có quy định các trường hợp bị cưỡng chế đối với
người nộp thuế:
“a) Người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế đã quá 90 ngày
(chín mươi) ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, hết thời hạn gia hạn nộp
thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền.
b) Người nộp thuế còn nợ tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế có
9


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

hành vi bỏ trốn, tẩu tán tài sản.
c) Người nộp thuế không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
về thuế trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt
vi phạm hành chính về thuế thì bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi
phạm hành chính về thuế. Trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính
về thuế có thời hạn thi hành nhiều hơn 10 (mười) ngày mà người nộp thuế
không chấp hành quyết định xử phạt theo thời hạn ghi trên quyết định xử phạt
thì bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế (trừ
trường hợp được hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành quyết định xử phạt vi phạm
hành chính về thuế).”
- Tại Điều 3 quy định:
“1. Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế (sau đây
gọi chung là biện pháp cưỡng chế)
a) Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế tại kho bạc nhà nước,
tổ chức tín dụng; yêu cầu phong tỏa tài khoản.
b) Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập.
c) Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng.
d) Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật
để thu tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước.
đ) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân
khác đang giữ.
e) Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề.
2. Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nêu trên được thực hiện theo quy
định tại Điều 11, 12, 13, 14, 15 và Điều 16 Mục 2 Thông tư này.
Trường hợp đã ban hành quyết định cưỡng chế bằng biện pháp tiếp theo mà
có thông tin, điều kiện để thực hiện biện pháp cưỡng chế trước đó thì người ban
hành quyết định cưỡng chế có quyền quyết định chấm dứt biện pháp cưỡng chế
đang thực hiện và ban hành quyết định thực hiện biện pháp cưỡng chế trước để
bảo đảm thu đủ số tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế.”
10


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

- Khoản 1 Điều 5: “Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế tiếp theo được thực
hiện khi không áp dụng được các biện pháp cưỡng chế trước đó hoặc đã áp dụng
các biện pháp cưỡng chế trước đó nhưng chưa thu đủ tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền
chậm nộp tiền thuế theo quyết định hành chính thuế; trường hợp cưỡng chế bằng
biện pháp khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập thì chỉ áp dụng đối với
người nộp thuế là cá nhân”
- Khoản 1 Điều 8 quy định:
“1. Biện pháp bảo đảm thi hành quyết định cưỡng chế
a) Trường hợp người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền
thuế có hành vi bỏ trốn, tẩu tán tài sản thì người có thẩm quyền ban hành quyết
định cưỡng chế áp dụng biện pháp cưỡng chế phù hợp để đảm bảo thu hồi nợ
thuế kịp thời cho ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 17 Mục 2 Thông tư
này.
b) Trường hợp có đầy đủ căn cứ xác định việc áp dụng biện pháp cưỡng
chế đang thực hiện không thu được số tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền
thuế thì người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế có quyền chấm
dứt quyết định cưỡng chế đang thực hiện và ban hành quyết định áp dụng biện
pháp cưỡng chế tiếp theo.
c) Trường hợp tổ chức, cá nhân bị cưỡng chế có hành vi chống đối không
thực hiện quyết định cưỡng chế sau khi đã vận động, giải thích, thuyết phục
nhưng không có hiệu quả thì người ban hành quyết định cưỡng chế có quyền
huy động lực lượng, phương tiện để bảo đảm thi hành cưỡng chế.
d) Trường hợp quyết định cưỡng chế đã được giao cho cá nhân bị cưỡng
chế theo quy định mà cá nhân bị cưỡng chế chưa thực hiện hoặc trốn tránh thực
hiện thì bị đưa vào diện chưa được xuất cảnh.”
Khoản 1 Điều 13 quy định về đối tượng áp dụng biện pháp thông báo hóa
đơn không còn giá trị sử dụng:
“1. Đối tượng áp dụng:
Cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng
đối với đối tượng bị cưỡng chế không áp dụng được biện pháp cưỡng chế trích
11


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế tại kho bạc nhà nước, tổ chức tín
dụng, yêu cầu phong tỏa tài khoản; khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập
đối với cá nhân hoặc đã áp dụng các biện pháp này nhưng vẫn không thu đủ tiền
thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước.
Hóa đơn thông báo không còn giá trị sử dụng bao gồm các loại hóa đơn:
hóa đơn tự in do các tổ chức, cá nhân kinh doanh tự in; hóa đơn đặt in do các tổ
chức, cá nhân kinh doanh hoặc cơ quan thuế đặt in; hóa đơn điện tử do các tổ
chức, cá nhân kinh doanh khởi tạo, lập theo quy định của pháp luật”
- Tại khoản 1 Điều 15 quy định về cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài
sản của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ
“1. Đối tượng áp dụng:
Cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng
chế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (sau đây gọi là bên thứ ba) được áp
dụng đối với các đối tượng bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 2 Thông tư này
trong các trường hợp sau:
a) Cơ quan thuế không áp dụng được các biện pháp cưỡng chế trích tiền từ
tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế tại kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng,
yêu cầu phong tỏa tài khoản; khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập; thông
báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng; kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê
biên theo quy định của pháp luật hoặc đã áp dụng các biện pháp này nhưng vẫn
chưa thu đủ số tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế.
b) Cơ quan thuế có căn cứ xác định tổ chức, cá nhân (bên thứ ba) đang có
khoản nợ hoặc đang giữ tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế, bao gồm: Tổ
chức, cá nhân đang có khoản nợ đến hạn phải trả cho đối tượng bị cưỡng chế. Tổ
chức, cá nhân, kho bạc nhà nước, ngân hàng, tổ chức tín dụng được đối tượng bị
cưỡng chế ủy quyền giữ hộ tiền, tài sản, hàng hóa, giấy tờ, chứng chỉ có giá
hoặc cơ quan thuế có đủ căn cứ chứng minh số tiền, tài sản, hàng hóa, giấy tờ,
chứng chỉ có giá mà cá nhân, hộ gia đình, tổ chức đó đang giữ là thuộc sở hữu
của đối tượng bị cưỡng chế.”

12


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

4.2 Phương án giải quyết
Phương án 1: Tiến hành cưỡng chế bước tiếp theo đối với doanh nghiệp
đó là cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng.
Phương án 2: Tạm thời chưa tiến hành cưỡng chế bằng biện pháp thông
báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng đối với doanh nghiệp, để tạo điều kiện
cho doanh nghiệp tiếp tục hoạt động kinh doanh, phục hồi lại tình hình tài chính
để trả hết nợ Ngân sách.
Phương án 3: Thực hiện cưỡng chế đối với Công ty cổ phần dịch vụ hàng
hải Việt Hưng (mã số thuế: 0200172534); Chi nhánh Công ty TNHH vận tải
biển Ngọc Mai (mã số thuế: 1000972462-002) đang có khoản nợ đến hạn phải
trả cho Công ty cổ phần Xây dựng Minh Đức (thực hiện cưỡng chế cưỡng chế
bằng biện pháp thu tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân
khác đang nắm giữ)
Biện pháp cưỡng chế khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập thì chỉ áp
dụng đối với người nộp thuế là cá nhân nên trong trường hợp này không áp dụng
được.
4.3 Lựa chọn phương án
Qua phân tích, nghiên cứu các phương án đã đưa ra có thể thấy mỗi
phương án đều có những mặt mạnh và mặt hạn chế nhất định. Cụ thể như sau:
Phương án 1:
+ Mặt mạnh: Đây là phương án xử lý thể hiện sự kiên quyết, cứng rắn của
cơ quan trong công tác thu nợ, xử lý các trường hợp cố tình chây ỳ, nợ thuế kéo
dài; đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật về thuế.
- Là phương án có căn cứ pháp lý vững chắc
+ Mặt hạn chế: Đây là phương án xử lý không mong muốn đối với cả
doanh nghiệp và cơ quan thuế.
Phương án 2:
+ Mặt mạnh: Tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp để hoạt động sản xuất
kinh doanh, phục hồi tình hình tài chính.
+ Mặt hạn chế:
13


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

- Tình trạng nợ đọng kéo dài, có thể dẫn tới thất thu ngân sách
- Dẫn tới sự không bình đẳng giữa các tổ chức và cá nhân đang kinh doanh
trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế.
Phương án 3:
+ Mặt mạnh: Việc cưỡng chế thông qua người thứ ba có khả thi, số tiền nợ
đọng của Công ty cổ phần Xây dựng Minh Đức có thể thu được. Vì qua kiểm tra
tại bàn cho thấy hoạt động sản xuất của Công ty cổ phần dịch vụ hàng hải Việt
Hưng, Chi nhánh Công ty TNHH vận tải biển Ngọc Mai vẫn diễn ra bình
thường, số thuế hàng tháng đơn vị vẫn kê khai đều đặn, kết quả sản xuất kinh
doanh của công ty năm 2013 tương đối.
+ Mặt hạn chế: Chưa thể thực hiện được phương án này ngay, vì theo
Thông tư 215 thì biện pháp chỉ được áp dụng khi không áp dụng được các biện
pháp cưỡng chế trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế tại kho bạc
nhà nước, tổ chức tín dụng, yêu cầu phong tỏa tài khoản; khấu trừ một phần tiền
lương hoặc thu nhập; thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng; kê biên tài
sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật hoặc đã áp dụng các
biện pháp này nhưng vẫn chưa thu đủ số tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp
tiền thuế. Trong khi phương pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng
vẫn áp dụng được nhưng chưa áp dụng đối với doanh nghiệp. Do đó, đây cũng
là vướng mắc và băn khoăn của cán bộ thuế vì xét về luật thì chưa áp dụng biện
pháp cưỡng chế qua người thứ ba tại thời điểm này là đúng, nhưng xét về bản
chất thì việc áp dụng biện pháp này có khả thi hơn: có thể thu được số thuế nợ
lại vẫn đảm bảo được hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Kết luận: Trên cơ sở phân tích mặt mạnh, mặt hạn chế của từng phương án
đã đưa ra kết hợp với tình hình thực tế cán bộ thuế đã đề xuất Lãnh đạo Cục xử
lý theo phương án 1. Vì: trong thời gian qua cơ quan thuế đã rất nhiều lần đôn
đốc, nhắc nhở doanh nghiệp về tình hình nợ đọng và cũng hết sức tạo điều kiện
cho doanh nghiệp hoạt động, phục hồi lại sản xuất kinh doanh, thu hồi công nợ
để hoàn thành nghĩa vụ Ngân sách. Còn về phía doanh nghiệp có cam kết hàng
tháng sẽ nộp từ 100 đến 150 triệu đồng vào Ngân sách và cố gắng nộp hết số
14


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

tiền thuế nợ đọng nhưng qua theo dõi việc thực hiện của đơn vị không tốt và
cũng không có dấu hiệu tích cực nào trong việc nộp tiền thuế. Trong khi đó kiểm
tra sổ sách cho thấy năm 2014 đơn vị vẫn kê khai phát sinh thuế giá trị gia tăng,
tức là vẫn có phát sinh doanh thu nhưng lại không nộp tiền vào Ngân sách. Như
vậy đơn vị thuộc diện cố tình chây ỳ, dây dưa, ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế
không tốt.
Vì thế việc áp dụng biện pháp cưỡng chế hóa đơn đối với Công ty cổ phần
Xây dựng Minh Đức là cần thiết, cho thấy cơ quan thuế kiên quyết xử lý các
trường hợp cố tình chây ỳ, nợ thuế kéo dài, ảnh hưởng đến tâm lý của các doanh
nghiệp chấp hành, thực hiện tốt chính sách thuế.
V. KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN
Căn cứ theo Điều 13 Thông tư 215 215/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của
Bộ Tài chính hướng dẫn về chế thi hành quyết định hành chính thuế và hướng
dẫn thi hành Chương II Nghị định số 129/2013/NĐ-CP về cưỡng chế thi hành
quyết định hành chính thuế, cán bộ thuế tiến hành thực hiện:
Bước 1: Xác minh thông tin về tình hình sử dụng hóa đơn của đơn vị, cán
bộ thuế tiến hành:
- Gửi văn bản yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin về tình hình sử
dụng hóa đơn.
- Gửi văn bản đề nghị phòng Hành chính- Quản trị - Tài vụ - Ấn chỉ và
phòng Kiểm tra thuế số 2 cung cấp thông tin liên quan đến việc quản lý và sử
dụng hóa đơn của Công ty cổ phần Xây dựng Minh Đức.
- Tiến hành đối chiếu dữ liệu giữa doanh nghiệp cung cấp với dữ liệu hóa
đơn do cơ quan thuế quản. Nếu có sai lệch đề nghị đơn vị điều chỉnh số liệu và
báo cáo bổ sung trong 05 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan thuế đề nghị điều
chỉnh số liệu. Nếu không có sai lệch gì thì tiến hành bước tiếp theo.
- Trường hợp xác minh công ty không còn sử dụng hóa đơn, không còn tồn
hóa đơn đã thông báo phát hành, không đặt in hóa đơn và không mua hóa đơn
của cơ quan thuế thì cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế
thực hiện chuyển sang cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài

15


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

sản kê biên ngay trong ngày tiếp theo ngày xác minh các thông tin về hóa đơn
nêu trên.
Bước 2: Làm tờ trình đề xuất với Lãnh đạo Cục về việc cần thiết áp dụng
biện pháp cưỡng chế thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng với công ty.
Bước 3: Sau khi Lãnh đạo Cục đồng ý với đề xuất trên, sẽ chuyển Bộ phận
Pháp chế của Phòng Tổng hợp – Nghiệp vụ - Dự toán thẩm định Quyết định về
việc áp dụng cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử
dụng và Thông báo về việc hóa đơn không còn giá trị sử dụng.
Bước 4: Trình Cục trưởng ký định quyết định cưỡng chế và thông báo hóa
đơn không còn giá trị sử dụng của doanh nghiệp.
Bước 5: Mời doanh nghiệp lên nhận quyết định cưỡng chế và thông báo
hóa đơn không còn giá trị sử dụng của doanh nghiệp (nên có biên bản giao văn
bản). Nếu doanh nghiệp không lên nhận trực tiếp thì gửi qua bưu điện bằng hình
thức bảo đảm.
Bước 6: Trong ngày quyết định cưỡng chế có hiệu lực tiến hành chuyển
quyết định cưỡng chế và thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng của doanh
nghiệp đến Phòng Tuyên truyền và Hỗ trợ người nộp thuế để đưa lên Trang
thông tin điện tử Cục Thuế (www.gdt.gov.vn) và Trang thông tin điện tử Tổng
cục Thuế (www.gdt.gov.vn). Đồng thời gửi Bộ phận Ấn chỉ được biết và thực
hiện.
VI. KIẾN NGHỊ
Từ tình huống cưỡng chế nợ thuế đối với Công ty cổ phần Xây dựng Minh
Đức cho thấy trong công tác quản lý nợ, cưỡng chế nợ thuế nói riêng và công tác
quản lý thuế nói chung còn gặp nhiều vướng mắc, khó khăn. Để công tác quản
lý nợ và cưỡng chế nợ thuế được hiệu quả hơn sau đây tôi xin đưa ra một số
kiến nghị sau:
Thứ nhất: Kiến nghị với Tổng cục Thuế và Bộ Tài Chính cần có những
nghiên cứu sửa đổi quy định về cưỡng chế nợ thuế theo hướng cho phép cơ quan
thuế được chủ động áp dụng biện pháp cưỡng chế phù hợp và hiệu quả nhất.
Thứ hai: Đối với các cơ quan ban ngành khác, ngành thuế rất mong sự hợp
tác, phối hợp chặt chẽ đặc biệt là cơ quan kho bạc, ngân hàng, các tổ chức tín
16


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

dụng trong nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước cũng như công tác thu nợ và
cưỡng chế nợ thuế. Nên chăng xây dựng hệ thống kết nối thông tin giữa cơ quan
thuế với hệ thống ngân hàng thương mại để có số liệu chính xác về số tài khoản,
số dư..., giảm thiểu được thời gian, thủ tục, thuận lợi hơn cho cán bộ thuế trong
công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế cũng như cả về phía ngân hàng.
Thứ ba: Nên xây dựng hệ thống truyền thông tin giữa cơ quan thuế với
doanh nghiệp từ đó cơ quan thuế có thể gửi các thông báo, giấy mời,..tới doanh
nghiệp thông qua đường truyền điện tử thay bằng cách gửi thủ công như hiện
nay tránh hiện tượng thất lạc mà nhanh chóng, thuận tiện, mang lại hiệu quả cao
hơn trong công tác quản lý.
Thứ tư: Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật
thuế có ý nghĩa rất quan trọng giúp cho các đối tượng nộp thuế hiểu và thực hiện
theo đúng quy định của luật thuế.
Thứ năm: Đề nghị Tổng cục Thuế thường xuyên tổ chức nhiều lớp tập
huấn nghiệp vụ cho lực lượng công chức thuế nói chung, công chức quản lý nợ
và cưỡng chế nợ thuế nói riêng một cách chuyên sâu, có định hướng chuyên hoá
và phục vụ lâu dài. Mặt khác cần mở rộng chức năng và nâng cao tầm hoạt động
của lực lượng này.
Thứ sáu: Cục Thuế các tỉnh nên tăng cường trao đổi, chia sẻ, học hỏi
những kinh nghiệm, những cách làm mới hiệu quá trong công tác quản lý nợ và
cưỡng chế nợ thuế của nhau.

17


Tiểu luận tình huống Quản lý Nhà nước

KẾT LUẬN
Quá trình quản lý Nhà nước về thuế hiện nay còn nhiều bất cập do cả các
nguyên nhân khách quan và chủ quan. Tình huống quản lý trên chỉ là một trong
rất nhiều tình huống mà hiện nay trong quá trình xử lý, các cơ quan quản lý thuế
gặp phải. Trước một tình huống quản lý thuế nói chung, quản lý nợ và cưỡng
chế nợ thuế nói riêng cán bộ thuế phải lựa chọn cách thức giải quyết sao cho
phù hợp. Phương án giải quyết một mặt phải tuân thủ đúng theo quy định của
pháp luật, một mặt phải đảm bảo hợp lý, hợp tình và phải luôn đảm bảo lợi ích
chính đáng của người nộp thuế. Quyết định quản lý do cơ quan quản lý nhà
nước ban hành đảm bảo phải có tính khả thi cao. Người bị tác động bởi quyết
định quản lý phải thực sự đồng tình với nội dung của quyết định quản lý. Muốn
vậy, hệ thống văn bản, chính sách pháp luật phải bao quát, đầy đủ. Các quy trình
quản lý phải quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng. Chỉ có như vậy các tình huống
gặp phải trong quá trình quản lý Nhà nước nói chung và quá trình quản lý thuế
nói riêng mới được giải quyết một cách thấu tình đạt lý.

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×