Tải bản đầy đủ

Pháp luật về trợ giúp xã hội và thực tiễn thực hiện tại huyện văn lãng, tỉnh lạng sơn

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRIỆU TUẤN BÌNH

PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI VÀ
THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN VĂN LÃNG,
TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP


TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRIỆU TUẤN BÌNH

PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI VÀ
THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN VĂN LÃNG,
TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số

: 8 38 01 07

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hiền Phƣơng

Hà Nội - 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ
ràng, được trích dẫn theo đúng quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn
này.
NGƢỜI CAM ĐOAN

TRIỆU TUẤN BÌNH


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. ASXH:

An sinh xã hội

2. BTXH:

Bảo trợ xã hội

3. TGXH:

Trợ giúp xã hội

4. CSXH:

Chính sách xã hội

5. UBND:

Ủy ban nhân dân

6. NCT:

Người cao tuổi


DANH MỤC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

Trang

Bảng 1

Bảng tổng hợp trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi
dưỡng giai đoạn 2015 - 2017.

45

Bảng 2

Bảng tổng hợp người từ 16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong
các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định
136/2013/NĐ-CP mà đang học phổ thông, học nghề, trung
học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất giai
đoạn 2015 - 2017.

46

Bảng 3

Bảng tổng hợp trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo; người
bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo không còn khả năng lao động
mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng,
trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng, trợ cấp hàng tháng
khác giai đoạn 2015-2017.

47

Bảng 4

Bảng tổng hợp người đơn thân nghèo đang nuôi con giai

48

đoạn 2015-2017.
Bảng 5

Bảng tổng hợp người cao tuổi hưởng TGXH thường xuyên

49

giai đoạn 2015 - 2017.
Bảng 6

Bảng tổng hợp trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện

50

hưởng TGXH thường xuyên giai đoạn 2015-2017.
Bảng tổng hợp đối tượng và kinh phí thực hiện TGXH hàng
Bảng 7

tháng đối với đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại

56

cộng đồng giai đoạn 2015 - 2017.
Bảng 8

Bảng tổng hợp cứu đói dịp Tết Âm lịch.

59

Bảng 9

Bảng tổng hợp cứu đói giáp hạt giai đoạn 2015 - 2017.

59


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng
Mục lục
MỞ ĐẦU........................................................................................................1
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI VÀ
PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI…...…………………………........4
1.1. Những vấn đề lý luận về TGXH...............................................................4
1.1.1. Khái niệm TGXH..................................................................................4
1.1.2. Đặc điểm của TGXH.............................................................................6
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của TGXH...................................................................8
1.2. Những vấn đề lý luận về pháp luật TGXH...............................................9
1.2.1. Khái niệm pháp luật TGXH..................................................................9
1.2.2. Nguyên tắc cơ bản của pháp luật TGXH…………………….............10
1.2.3. Phân loại TGXH..................................................................................13
1.2.4. Nội dung pháp luật TGXH..................................................................15
1.3. Quy định pháp luật hiện hành về TGXH................................................20
1.3.1. Đối tượng TGXH.................................................................................20
1.3.2. Chế độ TGXH thường xuyên tại cộng đồng........................................22


1.3.3. Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng tại cộng đồng, cơ sở bảo trợ xã hội, nhà
xã hội.............................................................................................................27
1.3.4. Chế độ TGXH đột xuất.......................................................................33
1.3.5. Tổ chức và thực hiện pháp luật TGXH...............................................35
CHƢƠNG 2. THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRỢ GIÚP XÃ
HỘI TẠI HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN……………...........37
2.1. Tổng quan về huyện Văn Lãng, đối tượng và nhu cầu TGXH, cơ quan
thực hiện TGXH............................................................................................37
2.2. Thực hiện chế độ TGXH thường xuyên tại huyện Văn
Lãng...............................................................................................................44
2.3. Thực hiện chế độ TGXH chăm sóc nuôi dưỡng tại cộng đồng, cơ sở bảo
trợ xã hội, nhà xã hội tại huyện Văn Lãng....................................................56
2.4. Thực hiện chế độ TGXH đột xuất tại huyện Văn Lãng.........................58
2.5. Đánh giá chung về tình hình thực hiện TGXH trên địa bàn huyện Văn
Lãng...............................................................................................................61
CHƢƠNG 3. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRỢ GIÚP XÃ HỘI VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN TẠI HUYỆN VĂN LÃNG,
TỈNH LẠNG SƠN.......................................................................................65
3.1. Yêu cầu đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện công tác TGXH và
một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về TGXH....................65
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về
TGXH............................................................................................................71
KẾT LUẬN..................................................................................................75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trợ giúp xã hội (TGXH) là một trong những trụ cột quan trọng của
cả hệ thống ASXH (ASXH), là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia, có tác
động không chỉ đối với sự phát triển kinh tế mà còn đối với đời sống xã hội,
nó phản ánh thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó. Là một đất
nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, lại bị ảnh hưởng của
thiên tai và biến đổi khí hậu; đang trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa
nhanh nên hiện nay số người cần TGXH của Việt Nam rất lớn “có khoảng
22,5 triệu người, chiếm 25% dân số. Trong đó, có trên 10 triệu người cao tuổi
không có lương hưu; 7,6 triệu người khuyến tật; 1,5 triệu trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt; 2,9 triệu hộ nghèo và cận nghèo, hơn 1,8 triệu hộ gia đình cần
được trợ cấp hằng tháng; khoảng 254.000 người nhiễm HIV/AIDS, hơn
200.000 người nghiện ma túy, 30.000 nạn nhân bạo hành gia đình và nhiều
phụ nữ, trẻ em bị ngược đãi, xâm hại cần được BTXH”1.
Giải quyết được vấn đề về TGXH ở các nước đang phát triển, mà trong
đó có Việt Nam đang ngày càng trở thành vấn đề cấp bách. Trong bối cảnh xã
hội đang ngày một phát triển, vai trò của hệ thống TGXH càng trở nên quan
trọng và cần thiết, góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo mang tính chất
quy luật của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, để thực hiện thành công vai trò
ấy và bảo đảm những mục tiêu ASXH, đòi hỏi công tác TGXH phải sớm có
những đổi mới mạnh mẽ, khắc phục triệt để những khuyết thiếu trong cơ chế,
chính sách, làm thay đổi nhận thức, dần hướng đến tính chuyên nghiệp.
Đánh giá tầm quan trọng, ý nghĩa của TGXH trong giai đoạn hiện nay,
việc nghiên cứu và đánh giá thực tiễn các quy định của pháp luật về TGXH là
cần thiết nhằm hoàn thiện hơn nữa các chính sách pháp luật về TGXH cả
trong lý luận và thực tiễn. Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Pháp luật
về TGXH và thực tiễn thực hiện tại huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn”.
1

TS. Nguyễn Văn Hồi, Cục trưởng Cục BTXH, Báo cáo tại hội nghị chuyên đề về công tác bảo trợ xã hội
năm 2018.


2

2. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định hiện hành của pháp
luật về TGXH và các chính sách TGXH tại Việt Nam hiện nay, cụ thể hơn là vấn
đề TGXH tại địa bàn huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Trong luận văn này,
nghiên cứu khía cạnh pháp lý, khái quát chung về TGXH và chính sách TGXH,
thực trạng về vấn đề TGXH tại địa bàn huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Chỉ rõ
được các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của sự hạn chế. Từ các vấn đề lý
luận đã đưa ra, sẽ đúc kết đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện các chính sách
TGXH hiện nay cũng như thực tế tại địa phương. Đồng thời luận văn sẽ đưa ra

cái nhìn tổng quát hơn về phương hướng hoàn thiện, đánh giá các chính sách
pháp lý hiện hành.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản
của Đảng và Nhà nước ta cũng như những quy định pháp luật trong chính sách
TGXH. Ngoài ra, luận văn vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin với phương pháp
duy vật biện chứng. Đồng thời sử dụng kết hợp các phương pháp cụ thể như:
phân tích, thống kê, tổng hợp, đối chiếu để giải quyết các vấn đề mà đề tài đặt ra.
TGXH đang là vấn đề bức thiết không chỉ riêng ở Việt Nam mà còn đối với mọi
quốc gia trên toàn thế giới. Trong xu thế phát triển của nền kinh tế trong khu vực
và thế giới, chính sách TGXH đòi hỏi phải có những thay đổi, có sự hoàn thiện
các quy định pháp luật để phát huy tác dụng của nó đối với toàn bộ các đối tượng
TGXH. Luận văn này sẽ nghiên cứu về TGXH trên vấn đề lý luận và thực tiễn
pháp luật TGXH tại huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
4. Những đóng góp của việc nghiên cứu đề tài.
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý về TGXH và chính
sách TGXH, trên cơ sở đó chỉ rõ tầm quan trọng của TGXH trong sự phát triển
Kinh tế - Chính trị. ên cạnh đó, từ hoạt động thực tiễn đánh giá thành tựu và
hạn chế thực tiễn áp dụng những quy định pháp luật về TGXH tại địa bàn huyện
Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đồng thời có cái nhìn tổng quát về vấn đề TGXH tại


3

Việt Nam. Luận văn sẽ đưa ra cách nhìn khách quan để từ đó đề xuất một số giải
pháp, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về TGXH trong giai đoạn hiện nay.
5. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các bảng và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về TGXH và pháp luật TGXH.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật TGXH tại huyện Văn Lãng,
tỉnh Lạng Sơn.
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật TGXH và nâng cao
hiệu quả thực hiện tại huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.


4

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI VÀ PHÁP
LUẬT TRỢ GIÚP XÃ HỘI.
1.1. Những vấn đề lý luận về TGXH
1.1.1. Khái niệm TGXH
Trong cuộc sống, không phải lúc nào con người cũng gặp những thuận
lợi, may mắn mà do nhiều nguyên nhân khác nhau con người luôn có nguy cơ
gặp phải rủi ro bất ngờ, những khó khăn, thiệt hại như mất mát về kinh tế, sức
khỏe, ngưng trệ sản xuất… Những đối tượng này tạo thành bộ phận người
“yếu thế” trong xã hội mà việc đảm bảo cuộc sống tối thiểu, hỗ trợ để họ
vươn lên hoà nhập cộng đồng là yêu cầu đảm bảo quyền con người và mang
tính xã hội sâu sắc. Sự tương trợ, giúp đỡ đối với bộ phận những người “yếu
thế” trong xã hội từ tự phát ở quy mô nhỏ đã ngày càng phát triển với quy mô
lớn hơn với các hình thức đa dạng, phong phú hơn. Khi nhà nước ra đời, hoạt
động trợ giúp được mở rộng và có sự tham gia của Nhà nước. Bên cạnh
những hình thức mang tính truyền thống như từ thiện, phát chẩn, cứu đói... thì
sự can thiệp của nhà nước đối với bộ phận người “yếu thế” trong xã hội như
một sự đảm bảo có tính ổn định hơn, TGXH trở thành nội dung quan trọng
của chính sách xã hội các quốc gia.
Trên thế giới, TGXH được thực hiện ở các quốc gia với sự đa dạng về
hình thức thực hiện và có thể có sự khác nhau về phạm vi đối tượng bảo vệ,
mức độ trợ giúp. Tiếp cận từ góc độ ASXH, TGXH là một bộ phận của cấu
thành ASXH, là hình thức tương trợ cộng đồng phổ biến nhất nhằm đảm bảo
cuộc sống tối thiểu cho các thành viên “yếu thế” trong xã hội. Mặc dù Tổ
chức Lao động quốc tế không đưa ra định nghĩa chuẩn về TGXH nhưng đã đề
cập tới như một trong quy phạm tối thiểu của ASXH và khuyến cáo các quốc
gia tổ chức thực hiện.
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, TGXH là “sự giúp đỡ thêm
bằng tiền hoặc các điều kiện sinh sống thích hợp để đối tượng được giúp đỡ


5

có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình hoặc cho gia đình,
sớm hòa nhập với cộng đồng”. Đối tượng của TGXH là những người rơi vào
hoàn cảnh thiếu thốn điều kiện vật chất, tinh thần vì nhiều nguyên nhân khác
nhau dẫn đến cuộc sống hàng ngày bị đe dọa, họ được cộng đồng bảo vệ, giúp
đỡ để có cuộc sống bình thường. TGXH không chỉ nhằm giúp đỡ đối tượng
thoát khỏi tình trạng khó khăn cấp thiết của cuộc sống hàng ngày mà còn tính
đến việc hỗ trợ, tạo điều kiện để họ phát huy năng lực của mình, vươn lên hòa
nhập cộng đồng.
Gần với khái niệm “TGXH” có khái niệm “cứu tế xã hội”. “Cứu tế xã
hội là sự giúp đỡ bằng tiền hoặc hiện vật có tính cấp thiết, “cấp cứu” ở mức
độ cần thiết cho những người lâm vào cảnh bần cùng không có khả năng tự lo
liệu cuộc sống thường ngày của bản thân và gia đình”2. Cứu tế xã hội mang
tính chất cấp thiết, cấp cứu giúp đối tượng thoát ngay khỏi tình trạng nguy
kịch, hiểm nghèo. Đối tượng của cứu tế xã hội là những người lâm vào tình
trạng khó khăn nghiêm trọng, nếu không được giúp đỡ thì bản thân và gia
đình có thể bị nguy hại đến cuộc sống, thậm chí có thể bị chết vì đói, rét, bệnh
tật. Vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà cuộc sống của họ bị đe dọa như
người già yếu, trẻ em mồ côi không có người nuôi dưỡng, thiếu đói do mất
mùa, thiên tai gây thiệt hại nặng nề đến điều kiện sống của đối tượng. Chính
vì vậy sự giúp đỡ cũng rất linh hoạt, phong phú với hoàn cảnh cụ thể nhưng
mang tính thiết thực gắn với điều kiện sống hàng ngày là cơm ăn, áo mặc và
trong nhiều trường hợp, cứu tế bằng hiện vật có ý nghĩa thiết thực hơn so với
bằng tiền.
Có thể hiểu TGXH là sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội và cộng đồng đối
với những người bị lâm vào hoàn cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói… vì nhiều
nguyên nhân khác nhau mà họ không thể tự lo liệu được cuộc sống tối thiểu
của bản thân và gia đình nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống

2

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 1 trang 641.


6

thường nhật, giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng
đồng.
1.1.2. Đặc điểm của TGXH
- Đối tượng TGXH:
Đối tượng TGXH là mọi thành viên trong xã hội gặp khó khăn, rơi vào
hoàn cảnh thiếu thốn vật chất, tinh thần vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn
đến cuộc sống thường ngày hoặc lâu dài bị đe dọa. Như vậy, nếu như đối
tượng của bảo hiểm xã hội là người lao động và gia đình họ, đối tượng của ưu
đãi xã hội là những người có công với cách mạng, thương binh, liệt sĩ, các
anh hùng… thì đối tượng của TGXH rộng hơn, thể hiện tính bao quát nhất đối
với các thành viên xã hội và mang đậm nét nhân đạo trong toàn bộ hệ thống
các chế độ ASXH. Đối tượng TGXH có thể là người có tham gia quan hệ lao
động hoặc không tham gia quan hệ lao động, người già hoặc trẻ em, người
khuyết tật, người lang thang không có nơi cư trú… Dưới góc độ kinh tế, đây
là những thành viên có mức sống thấp hơn mức sống tối thiểu của xã hội, họ
gặp phải rủ ro, khó khăn và cần được trợ giúp về vật chất để đảm bảo điều
kiện sống. Trong xã hội, họ là bộ phận những người yếu thế, do những
nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau mà bị rủi ro, thiệt thòi, ít có cơ
may trong cuộc sống như người bình thường và không đủ khả năng tự lo liệu,
đảm bảo các điều kiện sống tối thiểu cho bản thân và gia đình. Dưới góc độ
nhân đạo, đối tượng TGXH bao gồm cả những người không may rơi vào tệ
nạn xã hội dẫn đến khó khăn, không đảm bảo cuộc sống bình thường như
nghiện hút, tiêm chích ma túy, mại dâm, lang thang xin ăn…
Đối tượng TGXH không bị đặt ra điều kiện về sự đóng góp vật chất, sức
khỏe hay tinh thần để được hưởng TGXH. Bất cứ người nào khi rơi vào hoàn
cảnh đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định cho thấy tình trạng khó
khăn, khả năng khắc phục và nhu cầu cấp thiết của mình thì đều có thể trở
thành đối tượng hưởng TGXH. Phạm vi đối tượng được hưởng trợ giúp, thứ


7

tự ưu tiên trợ giúp phụ thuộc vào đặc điểm của từng nhóm đối tượng, khả
năng đáp ứng của điều kiện kinh tế, xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ.
- Hình thức TGXH
Do sự bao quát của đối tượng TGXH và sự đa dạng của nhu cầu trợ giúp
mà TGXH được thực hiện với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Căn cứ
vào thời gian TGXH thì có TGXH thường xuyên và chế độ TGXH đột xuất.
TGXH thường xuyên được thực hiện ổn định, trong khoảng thời gian nhất
định hoặc cho đến khi đối tượng thoát ra khỏi hoàn cảnh khó khăn, không còn
đáp ứng các điều kiện nhận trợ cấp. TGXH đột xuất được thực hiện một lần,
có tính nhất thời, linh hoạt gắn với những tình huống, nhu cầu cụ thể. Căn cứ
vào nội dung trợ giúp thì có TGXH về vật chất và TGXH về tinh thần, cơ hội.
TGXH về vật chất là sự trợ giúp bằng tiền thông qua các khoản trợ cấp, các
phương tiện sinh sống, chi trả y tế… TGXH về tinh thần, cơ hội bao gồm các
hoạt động tư vấn chăm sóc sức khỏe, tâm lý, giáo dục, tổ chức sinh hoạt văn
hóa, tạo việc làm, học nghề,… Chăm sóc về vật chất và tinh thần có thể được
thực hiện đồng thời, bổ sung cho nhau nhằm đem lại hiệu quả tích cực nhất.
- Nội dung TGXH
Chế độ TGXH rất phong phú, bao trùm lên các lĩnh vực của đời sống
xã hội. Về cơ bản, nội dung của TGXH được biết đến là các khoản trợ cấp vật
chất và các hỗ trợ hiện vật, phương tiện, cơ hội sinh sống. Mức trợ cấp được
đặt trong tương quan so với các chi phí sống thiết yếu, đặc điểm của điều kiện
kinh tế xã hội nơi người được trợ cấp sinh sống hướng tới bảo đảm mức sống
tối thiểu. Do đó mức trợ cấp của TGXH thường thấp và linh hoạt. Thời gian
hưởng trợ cấp cũng được xác định phù hợp với đặc điểm khó khăn của đối
tượng và khả năng cải thiện điều kiện sống của họ. Trợ cấp có thể được thực
hiện một lần đối với các đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn, túng quẫn
mang tính đột xuất, tạm thời trước mắt hoặc thực hiện thường xuyên trong
khoảng thời gian xác định hoặc lâu dài tùy thuộc nhu cầu trợ giúp và khả năng
tài chính của ngân sách, nguồn trợ giúp. Sự đa dạng hoá về nội dung,hình


8

thức và phương thức trợ giúp không chỉ là đặc điểm của hoạt động này thể
hiện tính xã hội sâu sắc mà còn là nguyên tắc trong thực hiện trự giúp xã hội,
là yếu tố quan trọng cho sự thành công của TGXH.
1.1.3. Vai trò và ý nghĩa của TGXH
Vai trò của TGXH: TGXH thực hiện chức năng bảo đảm ASXH của
nhà nước. TGXH thực hiện chức năng tái phân phối lại của cải xã hội. TGXH
có vai trò phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu các khắc phục rủi ro và giải quyết
một số vấn đề xã hội nảy sinh. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngoài cơ hội
cho sự phát triển kinh tế thì ngược lại thách thức và rủi ro lại là vấn đề xã hội
như bất bình đẳng gia tăng, phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội, nghèo
đói, bần cùng hóa và ô nhiễm môi trường. Do vậy kinh tế thị trường càng phát
triển mạnh thì vai trò của TGXH càng lớn, có như vậy mới đảm bảo sự hài
hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội trong từng bước đi, từng giai
đoạn phát triển của đất nước.
Ý nghĩa của TGXH: TGXH là sự bảo vệ phổ cập và đồng nhất đối với
mọi thành viên của xã hội trên cơ sở sự tương trợ cộng đồng, chia sẻ rủi ro
nên TGXH mang tính nhân đạo, ý nghĩa về kinh tế chính trị, xã hội và pháp
luật. Cụ thể:
- Dưới góc độ kinh tế: TGXH không vì mục đích kinh doanh hay thu lợi
nhuận nhưng lại có ý nghĩa phân phối lại tiền bạc, của cải và dịch vụ có lợi
cho các thành viên bất hạnh, yếu thế trong xã hội góp phần thu hẹp sự chênh
lệch mức sống, giảm bớt đói nghèo, là biện pháp thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế, tiến bộ xã hội. Với mỗi thành viên xã hội nói chung và đối tượng
được TGXH nói riêng thì TGXH có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc
đảm bảo sự tồn tại và tạo cơ hội vượt qua những khó khăn, túng quẫn về kinh
tế. Mặt khác, TGXH chính là “ lưới đỡ” kinh tế cuối cùng về miếng cơm
manh áo hàng ngày của các đối tượng được TGXH. Không chỉ vậy TGXH
còn là cơ hội để họ vươn lên những khó khăn trong cuộc sống, tạo cơ hội để


9

bảo đảm tốt hơn cuộc sống của mình. Nhưng dù sao thì TGXH cũng không
thể loại trừ được những rủi ro, nghèo đói, bất hạnh...
- Dưới góc độ chính trị, xã hội: TGXH không chỉ là thái độ của Nhà
nước , là biện pháp hỗ trợ tích cực của xã hội đối với mỗi thành viên của mình
khi gặp rủi ro, mà còn làm giảm thiểu những bất ổn trong xã hội, góp phần
duy trì ổn định xã hội trong đó có ổn định chính trị. Có thể nói như vậy bởi lẽ
do xuất phát từ nền tảng của TGXH là hợp tác, tương trợ cộng đồng của các
thành viên xã hội trước những bất hạnh, rủi ro của mỗi cá nhân. Theo đó
những khó khăn bất hạnh này được cả cộng đồng gánh vác, sẻ chia mà không
đòi hỏi một nghĩa vụ nào cả về tài chính. Ở đây không có sự phân biệt về đối
tượng hưởng cũng như chủ thể thực hiện mà hơn nữa lại là yếu tố tạo nên sự
hòa đồng giữa các thành viên xã hội không phân biệt giới tính, tôn giáo, địa vị
kinh tế.
- Dưới góc độ pháp luật: TGXH là chế định quan trọng trong hệ thống
pháp luật ASXH, điều chỉnh việc trợ giúp vật chất và tinh thần cho nhóm đối
tượng có vị thế thấp, chịu nhiều thiệt thòi, ít có cơ may trong cuộc sống như
những người bình thường khác và không đủ khả năng tự lo liệu, đảm bảo
cuộc sống cho bản thân và gia đình. Ý nghĩa pháp luật của TGXH xuất phát
từ quyền cơ bản của con người bởi lẽ mỗi con người được sinh ra họ đều có
quyền được sống, được bình đẳng, được yêu thương và được bảo vệ trước
những biến cố bất lợi hoặc cuộc sống bị đe dọa.
1.2. Những vấn đề lý luận về pháp luật TGXH
1.2.1. Khái niệm pháp luật TGXH
TGXH là một vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm thông
qua hàng loạt các văn bản tạo hành lang pháp lý cho hoạt động TGXH được
thực hiện trên thực tế, TGXH bản thân mang tính rộng khắp về phạm vi và
chủ thể do đó quan tâm đến các đối tượng được TGXH là một vấn đề tất yếu
của Nhà nước trong quá trình phát triển của lịch sử.


10

Từ việc xác định trách nhiệm chính của Nhà nước đối với cuộc sống của
nhân dân thông qua các khoản trợ cấp, hỗ trợ từ tài chính công, Nhà nước
cũng huy động sự tham gia của cả cộng đồng, của các cơ quan tổ chức và cá
nhân. Mỗi cá nhân trong cộng đồng đều có trách nhiệm với các thành viên
khác và với chính mình trên cơ sở thương yêu, đùm bọc, che chở lẫn nhau.
Đây trở thành nền tảng của xã hội hóa hoạt động TGXH , mặt khác trong điều
kiện hiện nay, việc xã hội hóa thực hiện TGXH được nhìn nhận theo hướng
tiến bộ nó không chỉ dừng lại ở việc mang tính ban phát, bao cấp mà hướng
tới việc huy động nguồn lực và sự quan tâm của cả cộng đồng nhằm đưa đến
sự bảo vệ cao nhất cho các đối tượng được hưởng TGXH. Điều này thể hiện
rõ trong những quy định mang tính tùy nghi, điều chỉnh hoạt động của các
hiệp hội từ thiện, các trung tâm bảo trợ, chăm sóc tại nhà xã hội, cơ sở bảo trợ
xã hội… và cả những mô hình chăm sóc thay thế hiện đang thu hút sự quan
tâm của cả cộng đồng.
Từ những lý luận nêu trên có thể hiểu “Pháp luật TGXH được hiểu là
tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực TGXH như đối tượng, điều kiện, chế độ trợ
cấp cụ thể và trách nhiệm của Nhà nước cộng đồng và bản thân các cá nhân
đối với các đối tượng được TGXH”.
1.2.2 Nguyên tắc cơ bản của pháp luật TGXH
TGXH là một bộ phận của ASXH, do đó nó có những nguyên tắc chung
của ASXH như nguyên tắc lấy số đông bù số ít trên cơ sở tương trợ cộng
đồng, nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý thực hiện, nguyên tắc đảm bảo
thực hiện đối với mọi thành viên xã hội… Tuy nhiên, TGXH là một bộ phận
của ASXH và có những đặc điểm riêng vì thế nó cũng có những nguyên tắc
riêng cơ bản như sau:
- Nguyên tắc công bằng, công khai, kịp thời theo mức độ khó khăn và ưu
tiên tại gia đình, nơi sinh sống.


11

Quyền hưởng ASXH nói chung và TGXH nói riêng là quyền công dân
trong xã hội, mọi người trong xã hội đều có quyền được hưởng TGXH khi rơi
vào hoàn cành khó khăn, bất hạnh đe dọa cuộc sống hàng ngày mà không
phân biệt địa vị kinh tế xã hội, tôn giáo, giới tính… TGXH là một hình thức
tương trợ cộng đồng sâu sắc huy động nguồn lực và sự tham gia thực hiện
không chỉ của nhà nước mà còn cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Do đó
thực hiện TGXH phải đảm bảo công khai từ việc lập danh sách đối tượng đến
chi trả trợ cấp và cả huy động nguồn lực tham gia. Thực hiện TGXH phải kịp
thời theo mức độ khó khăn để đảm bảo được mục đích, ý nghĩa giúp đối
tượng nhanh chóng thoát khỏi tình trạng cuộc sống bị đe dọa, vươn lên hòa
nhập cộng đồng.
Khi gặp rủi ro, lâm vào tình trạng khó khăn, bất hạnh… đối tượng trợ
giúp được hưởng trợ cấp, giúp đỡ căn cứ vào mức độ khó khăn mà không phụ
thuộc hay đặt ra các điều kiện gắn với đặc điểm nhân thân, mức sống hay
nghĩa vụ tài chính trước khi gặp rủi ro. Các yếu tố hoàn cảnh cá nhân, tình
trạng tài sản, thu nhập và nhu cầu thực tế của đối tượng tại thời điểm phát
sinh nhu cầu trợ giúp là yếu tố cơ bản xác định hình thức và mức hưởng trợ
cấp. Đây chính là tính nhân đạo rõ nét của chế độ TGXH so với các chế độ
khác trong hệ thống ASXH.
TGXH không chỉ nhằm giúp đối tượng nhanh chóng thoát ra khỏi tình
trạng các điều kiện sống tối thiểu không được đảm bảo, cuộc sống hàng ngày
bị đe dọa mà còn tính đến tạo điều kiện để đối tượng phát huy năng lực của
bản thân, vươn lên hòa nhập cộng đồng. Gia đình, nơi sinh sống là môi trường
gần gũi nhất đối với người được trợ cấp, đây cũng là môi trường có thể giúp
họ nhanh chóng hòa nhập cộng đồng. Thực hiện TGXH ưu tiên tại gia đình,
nơi sinh sống thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước về TGXH, huy động
nguồn lực tại địa phương tham gia TGXH và đảm bảo trợ giúp đúng đối
tượng, phù hợp từng trường hợp cụ thể.


12

- Nguyên tắc phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, mức sống tối thiểu của
dân cư từng thời kỳ
Tùy thuộc điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội mà nhu cầu TGXH ở mỗi
địa phương, quốc gia là khác nhau. Việc đáp ứng nhu cầu TGXH về cả phạm
vi đối tượng hưởng và mức hưởng phải được tính toán cân đối và phù hợp khả
năng đáp ứng, điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai đoạn, nếu không sẽ
không đạt được mục đích của TGXH và ảnh hưởng đến các chính sách kinh tế
xã hội khác. Phạm vi đối tượng hưởng TGXH và mức hưởng TGXH ở các
quốc gia, thậm chí giữa các vùng, miền của quốc gia cũng có thể có sự khác
biệt phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia, vùng miền. Nếu
mức trợ cấp cao hơn so với khả năng đáp ứng thì sẽ không đảm bảo thực hiện,
tạo tâm lý ỷ lại, trông chờ vào nguồn trợ cấp của đối tượng, vô hình chung
không tạo động lực để những người yếu thế trong xã hội phát huy năng lực
của mình, vươn lên hòa nhập cộng đồng. Nếu mức trợ cấp quá thấp sẽ không
đảm bảo được mục đích của TGXH nói riêng và ASXH nói chung, không
giúp được đối tượng thoát khỏi tình trạng cuộc sống hàng ngày bị đe dọa. Do
đó mức trợ cấp phải được xác định và điều chỉnh kịp thời trên cơ sở mức sống
tối thiểu của dân cư từng thời kỳ.
Với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Việt Nam hiện nay, tỷ lệ số hộ đói
nghèo, số lượng người khuyết tật, cô đơn không nơi nương tựa, trẻ em có
hoàn cảnh khó khăn… như hiện nay đặt ra nhu cầu, áp lực lớn cho công tác
TGXH. Nguồn kinh phí thực hiện TGXH chủ yếu từ ngân sách quốc gia và
các địa phương, trong khi đó mỗi địa phương có những đặc điểm, điều kiện
kinh tế xã hội riêng. Địa phương có nguồn thu, ngân sách lớn thì nguồn kinh
phí dành cho TGXH sẽ lớn hơn và ngược lại, ở các thành phố lớn, chi phí
đảm bảo cho các điều kiện sống tối thiểu thường là cao hơn ở các tỉnh lẻ, khu
vực nông thôn. Do đó chế độ TGXH giới hạn phạm vi đối tượng hưởng gắn
với những điều kiện cụ thể trong từng thời kỳ. TGXH phải đảm bảo tính


13

thống nhất trong phạm vi quốc gia và có tính đến các yếu tố đặc thù của địa
phương, đảm bảo được nhu cầu sống tối thiểu cho đối tượng được trợ giúp.
- Nguyên tắc khuyến khích cơ quan, tổ chức nhận chăm sóc, nuôi dưỡng
và giúp đỡ đối với đối tượng bảo trợ xã hội
TGXH là chế độ ASXH mang tính cộng đồng, xã hội rõ nét. Mỗi cá nhân
sống trong cộng đồng đều có trách nhiệm với các thành viên khác và với
chính mình trên cơ sở sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau. Trong khi đó số lượng
người yếu thế, rơi vào hoàn cảnh khó khăn cần được hỗ trợ là rất lớn, nhu cầu
trợ giúp rất đa dạng, phong phú. Nhằm tăng cường nguồn lực cho TGXH,
Nhà nước cần xã hội hóa TGXH, tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham
gia thực hiện TGXH. Nhà nước không chỉ sẵn sàng tiếp nhận sự đóng góp, hỗ
trợ tài chính của các tổ chức, cá nhân cho hoạt động TGXH nói chung mà còn
để họ tham gia sâu hơn, trực tiếp hơn vào quá trình thực hiện các công việc
chăm sóc, nuôi dưỡng và giúp đỡ đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Đối với
nhiều đối tượng bảo trợ xã hội, họ không chỉ có nhu cầu được giúp đỡ về vật
chất, các điều kiện sống tối thiểu mà còn thiếu thốn về tinh thần, tình cảm.
Việc các cơ quan, tổ chức nhận chăm sóc, nuôi dưỡng, giúp đỡ đối với đối
tượng bảo trợ xã hội giúp họ có khả năng hòa nhập cộng đồng tốt hơn và
thường sẽ nhận được sự trợ giúp cao hơn mức chuẩn quy định.
Xã hội hóa thực hiện TGXH nhưng để đảm bảo mục đích của TGXH,
quyền lợi của các đối tượng trợ giúp, Nhà nước có các quy định cụ thể về hoạt
động của các hiệp hội từ thiện, các tổ chức phi chính phủ, hoạt động huy động
quyên góp từ thiện… Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức nhận chăm
sóc, nuôi dưỡng và giúp đỡ đối với đối tượng bảo trợ xã hội bằng chế độ hỗ
trợ kinh phí, một số ưu đãi đồng thời cần có sự giám sát, đảm bảo đúng mục
đích TGXH và quyền của đối tượng.
1.2.3. Phân loại TGXH


14

TGXH được phân loại theo đối tượng hưởng trợ giúp, tính chất trợ giúp (
TGXH đột xuất, TGXH thường xuyên), chủ thể thực hiện ( trợ giúp của Nhà
nước, trợ giúp của cộng đồng).
- Đối tượng hưởng TGXH là những đối tượng yếu thế, có những thiệt
thòi, khó khăn về kinh tế (hộ nghèo), về sức khỏe (người khuyết tật) hoàn
cảnh sống (người cô đơn, không nơi nương tựa, trẻ mồ côi), là những nhóm
xã hội đặc biệt, có hoàn cảnh khó khăn hơn, có vị thế xã hội thấp kém hơn so
với với các nhóm xã hội “bình thường” có những đặc điểm tương tự. Họ gặp
phải hàng loạt thách thức, ngăn cản khả năng hòa nhập của họ vào đời sống
cộng đồng như vấn đề về thể chất, liên quan đến khả năng, nghề nghiệp, hoàn
cảnh sống, sự đánh giá, kỳ thị của xã hội, các vấn đề tâm lý... ngăn cản họ tiếp
cận và sử dụng các phương tiện sống thiết yếu hay các dịch vụ xã hội cần
thiết cho mọi thành viên “bình thường” của xã hội. Để nâng cao vị thế xã hội,
giảm sự thiệt thòi, họ rất cần được sự quan tâm, giúp đỡ, hỗ trợ từ xã hội.
Nước ta là nước vừa thoát nghèo, đời sống của người dân còn nhiều khó khăn,
lại trải qua nhiều năm chiến tranh ác liệt, nên số người tàn tật, nạn nhân chiến
tranh cao, thêm vào đó dân số nước ta cũng đang trong xu hướng bị già hóa;
điều đó càng làm đông đảo thêm dân số của nhóm yếu thế, cần trợ giúp.
- Phân loại theo tính chất trợ giúp:
Trợ giúp thường xuyên: là hình thức trợ giúp mang tính định kì, lặp đi
lặp lại áp dụng đối với đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn kéo dài, thể hiện
tính chất nhân đạo và chính sách ASXH của nhà nước một cách rõ nét.
Trợ giúp đột xuất: là hình thức trợ giúp mang tính khẩn cấp, một lần áp
dụng đối với đối tượng gặp rủi ro cả trong trường hợp những rủi ro có tính
đơn lẻ (ví dụ như tai nạn, cháy nhà), và rủi ro trên diện rộng (chủ yếu do thiên
tai như bão, lụt, hạn hán).
- Phân loại theo chủ thể thực hiện là Nhà nước và cộng đồng. Tuy nhiên
pháp luật chỉ điều chỉnh quan hệ TGXH đối với chủ thể Nhà nước với nguồn
kinh phí trợ giúp từ ngân sách nhà nước cho đối tượng được xác định.


15

Trợ giúp của Nhà nước: Xây dựng kế hoạch, dự toán ngân sách và phân
bổ ngân sách căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, của ngành, định
mức phân bổ chi bảo đảm xã hội. Huy động tối đa nguồn, ngân sách ưu tiên
cho thực hiện chế độ chính sách trực tiếp cho đối tượng. Các nguồn huy động
ngoài ngân sách đầu tư phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ, tuyên truyền
nâng cao nhận thức, đào tạo cán bộ, phát triển hệ thống giám sát. Bảo đảm xã
hội trên cơ sở nhu cầu chi TGXH và các chính sách khác. Trong đó coi trọng
chi TGXH.
Trợ giúp của cộng đồng: Xây dựng cơ chế huy động nguồn lực từ cộng
đồng nhằm bổ sung sự thiếu hụt trong quá trình thực hiện chính sách. Trong
bối cảnh ngân sách nhà nước dành cho chi bảo đảm xã hội còn thấp, cần đẩy
mạnh huy động đa nguồn, nguồn ngân sách ưu tiên cho thực hiện chính sách
TGXH, các nguồn huy động từ cộng đồng dành cho thực hiện các nội dung
khác của bảo đảm xã hội.
1.2.4. Nội dung pháp luật TGXH
Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội mà mỗi quốc gia có những chính
sách khác nhau về TGXH, song nhìn chung pháp luật TGXH của các quốc gia
thường bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Đối tượng hưởng TGXH: Đối tượng hưởng TGXH là nội dung quan
trọng của pháp luật TGXH, là mục tiêu hướng tới trong việc thực hiện TGXH.
Xác định đối tượng hưởng TGXH là cơ sở đầu tiên quyết định sự thành công
hay thất bại của chính sách TGXH. Các quy định về đối tượng hưởng TGXH
là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban
hành hoặc thừa nhận, xác định các vấn đề về: đối tượng hưởng, mức hưởng
và điều kiện hưởng TGXH.
Nghiên cứu pháp luật TGXH một số quốc gia trên thế giới cho thấy:
Ở Thụy Điển và Anh đều có hệ thống TGXH phát triển, phạm vi rộng và
ngân sách lớn, phổ cập đối với tất cả mọi người dân. Chính sách TGXH được
thiết kế theo vòng đời, cho toàn dân, bao gồm tất cả các đối tượng, không loại


16

trừ người giàu (phổ quát). Tuy vậy, không cào bằng, mà phụ thuộc vào nhu cầu
của đối tượng. Đối với từng nhóm đối tượng có hoàn cảnh khác nhau sẽ có phân
tầng trợ giúp bổ sung khác nhau để bảo đảm công bằng.
Ở Cộng hòa Liên bang Đức thì đối tượng được TGXH là những người
hưởng bảo hiểm xã hội có mức thu nhập thấp hơn mức sống tối thiểu bằng trợ
cấp xã hội bổ sung để bảo đảm mức sống tối thiểu.Bài học từ sự thành công
trong thực hiện mục tiêu bao phủ TGXH toàn dân từ các nước trên thế giới cho
thấy trợ cấp của nhà nước đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là đối với những đối
tượng yếu thế trong xã hội như người nghèo, người cao tuổi và trẻ em.
- Chế độ hưởng TGXH: Các quy định về chế độ hưởng TGXH là tổng hợp
các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa
nhận, xác định mức hưởng, chế độ hưởng, điều kiện hưởng, thủ tục hưởng các
quyền lợi TGXH cho các đối tượng hưởng nhằm đạt được mục tiêu bao phủ
TGXH. Khi xem xét chế độ TGXH cần nghiên cứu trên cả hai nội dung là chế độ
hưởng TGXH và mức hưởng TGXH. Chính sách TGXH có thể hiện được đầy

đủ và rõ nét tính nhân văn và bền vững hay không thể hiện ở chính những quy
định về quyền lợi hưởng và mức hưởng TGXH. Các quy định về chế độ hưởng
và mức hưởng của TGXH trước hết xác định những điều kiện để được hưởng
các quyền lợi TGXH. Pháp luật TGXH các quốc gia trên thế giới nhìn chung đều
có những nội dung cơ bản quy định về quyền lợi hưởng và mức hưởng TGXH
như:
Brazil : Trợ cấp tiền mặt cho trẻ em thuộc các hộ gia đình thu nhập thấp
dưới 30$ một tháng mức trợ cấp 7,5USD một trẻ em, tối đa không quá 3 trẻ em,
với điều kiện bảo đảm cho trẻ em đến trường và hộ gia đình tham gia khám chữa
bệnh - mức trợ cấp này từ năm 2003. Trợ cấp tiền mặt phổ cập cho người cao
tuổi trên 65 tuổi (lương hưu xã hội - tương đương với mức lương hưu tối thiểu là
130USD một tháng) và trợ cấp tiền mặt cho người khuyết tật không phải là
người cao tuổi có thu nhập dưới 1/4 lương hưu tối thiểu với mức tương đương
lương hưu tối thiểu 130USD/tháng.


17

Mexico: Chương trình trợ cấp tiền mặt có điều kiện cho trẻ em và gia đình
thuộc diện hộ nghèo với điều kiện bảo đảm cho trẻ em đến trường và tham gia
khám chữa bệnh, mức hỗ trợ tùy theo độ tuổi, bậc học, dao động trong khoảng
20-30% thu nhập của hộ gia đình.
Ecuado: Trợ cấp cho hộ gia đình nghèo và thu nhập thấp với điều kiện về
giáo dục: bảo đảm cho trẻ em từ 6-16 tuổi đi học và tỷ lệ dự học từ 91% trở lên;
điều kiện về y tế: bảo đảm cho trẻ em dưới 6 tuổi và phụ nữ mang thai định kỳ
khám 2 tuần một lần với mức trợ cấp chung là 15USD một hộ một tháng.
Nam Phi: Trợ cấp cho trẻ em, NCT là nam từ 65 trở lên và nữ từ 60 tuổi trở
lên, người khuyết tật nặng không có thu nhập, thu nhập thấp thông qua kiểm tra
thu nhập với mức trợ cấp là 30USD một tháng cho trẻ em, 90USD cho con nuôi;
130USD cho NCT, người khuyết tật nặng, các đối tượng cần sự quan tâm đặc
biệt khác với mức 130USD một người một tháng3.
- Kinh phí thực hiện TGXH: Hệ thống TGXH của Nhật được thiết kế để
đảm bảo dân số của quốc gia này được cung cấp các dịch vụ cơ bản bao gồm:
bảo hiểm sức khỏe và điều dưỡng; bảo hiểm việc làm; bảo hiểm hưu trí; bảo
hiểm bồi thường cho người lao động. Người sử dụng lao động cũng như người
lao động phải đóng góp vào hệ thống. Mỗi người lao động phải đóng góp 12%
tiền lương hàng năm của họ cho hệ thống TGXH của quốc gia. Người nước
ngoài làm việc tại Nhật Bản khi đăng ký và đóng góp vào hệ thống cũng sẽ được
tiếp cận với sự chăm sóc và hỗ trợ giống như người bản địa. Những người lao
động bất hợp pháp, không đăng ký với Chính phủ sẽ không phải đóng góp vào
hệ thống và cũng không đủ điều kiện hưởng TGXH.
Tại Trung Quốc, mỗi chính quyền địa phương quản lý theo cách riêng, ví
dụ như tỷ lệ và mức đóng góp của các chủ sở hữu lao động và nhân viên của họ
đối với các khoản trợ cấp khác nhau tùy theo thẩm quyền của địa phương. Sự
đóng góp vào hệ thống TGXH của Trung Quốc là bắt buộc đối với người lao

3

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Năm 2016, Đề án đổi mới và phát triển TGXH giai đoạn 2016 2025, tầm nhìn đến năm 2030.


18

động, người sử dụng lao động Trung Quốc cũng như người nước ngoài làm việc
ở Trung Quốc, ngoại trừ những người nước ngoài làm việc tại Thượng Hải.

Tại Việt Nam, là một đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ
quốc, lại bị ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu; đang trong quá trình
công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh nên hiện nay số người cần TGXH của Việt
Nam rất lớn, là trách nhiệm của Nhà nước và của Cộng đồng. So với các
cường quốc trong châu lục thì mức độ bao phủ, đối tượng hưởng TGXH
thường xuyên thấp hơn nhiều chỉ chiếm khoảng 2% dân số. Cùng với quá
trình hình thành và phát triển chính sách TGXH thì mức TGXH cũng được
điều chỉnh dựa vào điều kiện kinh tế, mức sống và khả năng ngân sách từng
giai đoạn. Giai đoạn từ 1965 về trước chưa hình thành mức TGXH bằng tiền
mặt cụ thể mà dựa vào huy động hiện vật như gạo, thóc, quần áo. Từ năm
1966, TGXH đã được quy định tương đương 10 -13kg thóc/tháng. Sau giải
phóng (1976-1985), đã hình thành hai mức theo hai khu vực nông thôn từ 810 đồng/người/tháng và 10-12 đồng/người/tháng ở thành thị. Đến năm 1985
với quan niệm tiền lương hàng tháng của người đi làm phải đủ nuôi cho 3
người (bản thân họ, 01 bố/mẹ và 01 con) và mức trợ cấp phải bằng 1/3 lương
tối thiểu của người lao động, do vậy TGXH đổi thành trợ cấp khẩu phần ăn
với mức 15kg thóc/người/tháng.
Từ năm 1994, mức trợ cấp đã được quy định riêng cho từng đối tượng và
chuyển từ quy định hiện vật (ngang giá) sang quy định về mặt giá trị và đã
tính đến những sự biến động của giá cả. Đến nay mức TGXH đã được điều
chỉnh 6 lần theo tỷ lệ tăng giá. Cụ thể năm 1994 (Quyết định 167/TTg ngày
08/4/1994) quy định mức TGXH là 24.000 đ/tháng (Tương đương 12kg gạo),
năm 2000 (Nghị định 07/2000/NĐ-CP ngày 09/3/2000) điều chỉnh tăng lên
45.000đ (tăng 1,875 lần so với năm 1994), năm 2004 (Nghị định
168/2004/NĐ-CP ngày 20/9/2004) nâng lên 65.000đ (tăng 1,44 lần so với
năm 2000), năm 2007 (Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007) quy định
mức chuẩn 120.000đ (tăng 1,85 lần so với 2004) và năm 2010 (Nghị định số


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×