Tải bản đầy đủ

Sàn bê tông ứng lực căng trước

SÀN BÊ TÔNG CỐT THÉP ỨNG LỰC TRƯỚC
CÔNG NGHỆ CĂNG TRƯỚC
Cốt thép ứng suất trước được kéo căng ra trước trên bệ khuôn
đúc bê tông trước khi chế tạo kết cấu bê tông (như căng dây đàn).
Cốt thép là các sợi thép có cường độ cao, có thể kéo căng một
đầu hoặc cả hai đầu, thép có thể là loại tròn trơn hoặc có đốt, các sợi
thép hoặc tao cáp. Sau đó kết cấu bê tông được đúc bình thường với
cốt thép ứng suất trước như kết cấu bê tông cốt thép thông thường. Đến
khi bê tông đạt đến một giá trị cường độ nhất định để có thể giữ được
ứng suất trước, thì tiến hành cắt cốt thép rời ra khỏi bệ căng.
Do tính đàn hồi cao của cốt thép, nó có xu hướng biến dạng co lại
dọc theo trục của cốt thép. Nhờ lực bám dính giữa bê tông và cốt thép
ứng suất trước, biến dạng này được chuyển hóa thành biến dạng vồng
ngược của kết cấu bê tông so với phương biến dạng khi kết cấu bê tông
chịu tải trọng.
Phương pháp này tạo kết cấu ứng suất trước nhờ lực bám dính
giữa bê tông và cốt thép, và được gọi là phương pháp căng trước vì cốt
thép được căng trước cả khi kết cấu bê tông được hình thành và đạt tới
cường độ thiết kế.
Trình tự thi công: Gồm 7 bước cơ bản
1-Lắp đặt cốp pha và cốt thép thường.


2-Lắp đặt cốt thép dự ứng lực.
3-Lắp kích hoặc neo vào bệ tỳ.
4-Căng cốt thép dự ứng lực.
5-Đổ bê tông đúc cấu kiện.
6-Khi bê tông đạt cường độ qui định (70-80%) thì nhả kích và cắt
đầu cốt thép, sau đó cốt thép có xu thế co lại và tạo ra ứng lực
nén trong bê tông.
7-Trát bê tông bịt đầu.
Phương pháp này, cần có một bệ căng cố định nên thích hợp cho
việc chế tạo các kết cấu bê tông ứng suất trước đúc sẵn trong các nhà
máy bê tông đúc sẵn. Kết cấu bê tông ứng suất trước căng trước có ưu
điểm là dùng lực bán dính trên suốt chiều dài cốt thép nên ít có rủi ro do
tổn hao ứng suất trước, có thể phân bố lực nén đều đặn trong cấu kiện
bê tông ứng lực trước. Sàn bê tông ứng lực trước là sàn không dầm
(sàn phẳng) nên: Tăng tương đối chiều cao thông tầng, tạo được độ
phẳng không gian trần đẹp; độ bền công trình cao; thi công nhanh; sử


dụng không gian linh hoạt…Trong thi công, với 1 nhịp lớn, sàn bê tông
ứng lực trước cần ít bê tông hơn, cho phép tháo cốppha sớm hơn. Sàn
nhà xây dựng nhanh thì việc hoàn thiện có thể kết thúc sớm, đưa công
trình vào khai thác sớm. Qua kinh nghiệm và tính toán của nhiều nước
thì giá thành phần kết cấu nhà cao tầng thường chiếm tới 28 - 32% giá
thành xây dựng, mà trong phần kết cấu, riêng lõi và sàn nhà đã chiếm
tới gần 80% giá thành. Các tính toán cho thấy sử dụng sàn tiền chế ứng
lực trước là biện pháp tối ưu để giảm thời gian thi công và tiết kiệm cốp
pha dàn giáo dẫn đến giảm đáng kể giá thành xây dựng. Sàn ứng lực
trước có khả năng vượt nhịp lên tới 20m, nhưng chỉ hiệu quả trong nhịp
từ 8 - 12m, kinh tế nhất là nhịp 9m.
Các chuyên gia xây dựng cũng nhận định, đối với kết cấu nhịp
không lớn, thì thi công bê tông cốt thép thường là rẻ nhất. Nhưng với
các kết cấu đòi hỏi vượt khẩu độ (nhịp lớn) thì việc ứng dụng công nghệ
sàn ứng lực trước hiệu quả hơn, rẻ hơn.
So với thi công bê tông cốt thép thông thường, phương pháp thi
công sàn phẳng tiết kiệm vật liệu hơn, tạo được không gian sử dụng
nhiều hơn, rộng hơn; đồng thời, giảm thiểu việc sử dụng vật liệu xây
truyền thống mà thay vào đó là sử dụng vật liệu xanh, tạo nên môi
trường sống bền vững, thân thiện với môi trường. Việc ngày càng nhiều
công trình dân dụng ứng dụng sàn phẳng đã tạo cơ hội cho gạch không
nung hay công nghệ sản xuất các tấm vách ngăn phát triển về chủng
loại, mẫu mã, kết cấu và chất lượng.
-Nhược điểm của phương pháp này là phải lắp đặt bệ tỳ phức tạp, do
đó thường được sử dụng trong các nhà máy bê tông đúc sẵn hoặc tại
các bãi đúc trên các công trường xây dựng.

Sơ đồ nguyên lý

Sơ đồ thiết bị căng trước


1-Cấu kiện bê tông cốt thép;
2- Bệ tỳ;
3-Kích hoặc neo;
4-Thép cường độ cao

Khi kéo căng thép, đổ bê tông rồi nhả kích

Thép có xu thế bị co lại, tạo ra ứng lực nén
trong bê tông và dầm bị võng lên.


SÀN BÊ TÔNG CỐT THÉP ỨNG LỰC TRƯỚC
CÔNG NGHỆ CĂNG SAU
ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA CÔNG NGHỆ DỰ ỨNG LỰC
- Làm nén cấu kiện bê tông
- Làm giảm ứng suất kéo, hạn chế độ võng và vết nứt trong cấu
kiện bê tông.
- Tăng bước cột
- Giảm chiều cao tiết diện
- Giảm tiết diện bản thân
HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÔNG NGHỆ DỰ ỨNG LỰC
- Thi công nhanh và đơn giản
- Giảm tối đa chiều cao mỗi tầng
- Mang hiệu quả cao về chi phí đầu tư với những công trình phù
hợp
- Với những công trình có bước cột từ 7m trở lên, kết cấu dự ứng
lực dầm sàn tiết kiệm từ 5% - 20% chi phí phần thô so với kết cấu
bê tông cốt thép thường.
- Những công trình có tổng diện tích sàn lớn hơn 4000 m 2 phát huy
hiệu quả kinh tế khi dùng công nghệ này.
Trình tự thi công sàn DƯL
1. Lắp đặt ván khuôn
2. Lấy dấu đường cáp trên ván khuôn
3. Lắp đặt cốt thép dưới
4. Lắp đặt cáp DƯL
5. Lắp đặt cốt thép trên


6. Đổ bê tông
7. Kéo căng cáp DƯL
8. Bơm vữa
A. LẮP ĐẶT CÁP DỰ ỨNG LỰC
1. CÔNG TÁC LẮP ĐẶT ĐƯỜNG CÁP:
- Lắp ống chứa cáp
- Luồng cáp cho đường cáp
- Chế tạo đầu neo chết
- Lắp đặt đường cáp theo thiết kế
2. LẮP ĐẶT HỆ ĐẦU NEO KÉO
- Hệ neo kéo nối với đầu hộc bằng kẽm buộc và băng keo
- Thân neo được buộc vào ống kẽ bằn thép sợi
- Thân neo và đầu hộc nhựa được gắn cố định vào ván khuôn
thành cốp pha
3. ĐỊNH HÌNH DẠNG CONG
- Sử dụng các con kê với khoảng cách từ 800-1200mm
- Cố định ống chứa cáp với con kê bằng dây théo buộc
B. HOÀN THIỆN TRƯỚC KHI ĐỔ BÊ TÔNG
- Lỗ bơm vữa được đặt ở tất cả các đầu neo kéo và đầu neo chết
- Vòi bơm vữa được đậy chặt sau khi lắp đặt, chỉ được mở khi thực
hiện công tác bơm vữa
- Khe hở giữa thân neo, khuôn hộc đầu neo, ván khuôn thành phải
được gắn kín.
- Quấn kín phần nối giữa thân neo và ống cáp bằng băng dính


- Bọc các bó cáp thòi ra ngoài bằng ni lông
- Khi đổ bê tông cần cẩn thận tránh làm hỏng cáp do đầm rung gây
ra
- Đầm bê tông tại vị trí hai đầu neo phải thực hiện cẩn thận để hạn
chế lỗ rỗng trong bê tông
- C. KÉO CĂNG CÁP DỰ ỨNG LỰC
1. Kéo căng các đường cáp dạng bó dẹp
- Thực hiện từng sợi một tại mỗi đường cáp
- Dùng sơn đánh dấu điểm chuẩn cho việc đo độ dãn dài
- Tấm chặn nêm được luồng qua sợi cáp sau đó ép sát vào mặt đầu
neo
- Thực hiện kéo khử chùng các sợi cáp với lực 5MPa, sau đó kéo
với 100% lực thiết kế, giảm áp lực về 0 rồi hồi kích
- Độ dãn dài được đo bởi các vạch sơn trên sợi cáp, sau khi căng
mỗi đường cáp đo độ dãn dài của từng sợi

2. Trình tự kéo căng các sợi cáp bó dẹp


Bó cáp dẹp 4 sợi

Bó cáp dẹp 3 sợi


3. Kéo căng các đường cáp dạng bó tròn
- Thực hiện tất cả sợi một tại mỗi đường cáp
- Tấm chặn nêm được luồn qua sợi cáp sau đó áp sát vào mặt đầu
neo
- Kích được luồn qua cáp rồi ép sát vào tấm chặn nêm
- Việc kéo căng được tiến hành theo 4 cấp lực kéo: 25%, 50%,
75%, 100% của lực kéo thiết kế. Cần thực hiện liên tục với mỗi
đường cáp như sau:
• Kéo đến 25% Ptk để khử chùng cáp, xả áp lực, hồi kích, kéo
nhẹ kích về phía sau, xịt sơn đánh dấu trên cáp
• Đẩy kích áp sát vào đầu neo, kéo đến 25% Ptk một lần nữa,
đo độ dãn dài ban đầu. Kiểm tra nêm ở đầu bị động có vào
đều không, có xảy ra hiện tượng tuột cáp hay không.
• Kéo đến 50% Ptk, đo độ dãn dài
• Kéo đến 75% Ptk, đo độ dãn dài
• Kéo đến 100% Ptk, đo độ dãn dài, giảm áp lực xuống còn
25%Ptk, đo độ dãn dài, xả lực kích về 0, kiểm tra độ đồng
đều của dấu sơn xem có tuột cáp hay không.
C. BƠM VỮA VÀO ĐƯỜNG CÁP
- Vữa được bơm từ một đầu của đường cáp và kiểm tra vữa tại các
đầu ra cho đến khi vữa không còn bọt khí và độ đồng đều của vữa
giống như trong máy trộn.
- Thực hiện một cách liên tục
- Sau khi vữa chảy ra đầu kia của đường cáp, tiếp tục duy trì áp lực
trong 10-15 giây sau đó thì khóa vòi bơm. Chuyển sang bơm vữa
cho đường cáp kế tiếp
- Tất cả các vòi bơm vữa có thể bị cắt bỏ 24h sau khi bơm vữa.


BƠM VỮA CHO CÁC ỐNG GEN
Trong các kết cấu dự ứng lực có dính bám sau, các ống gen cần
phải được bơm vữa càng sớm càng tốt sau khi cáp đã được neo.
Tuổi thọ lâu dài của kết cấu dự ứng lực kéo sau có dính bám phụ
thuộc vào sự thành công của công tác bơm vữa.
Mục tiêu của việc bơm vữa là làm đầy ống gen bằng vật liệu có
khả năng cung cấp môi trường kiềm để chống rỉ cho cốt thép và có
cường độ cần thiết để tạo lực dính bám giữa cáp với bê tông xung
quanh.
LƯU Ý VỀ VỮA:.
- Thông thường, vữa bơm vào ống gen chứa một hỗn hợp xi măng
và nước (tỷ lệ nước/xi măng khoảng 0,5) cùng các phụ gia giảm nước
và phụ gia nở.
- Vữa dùng cho các ống gen có đường kính lớn cũng có thể chứa
các cốt liệu như cát, tro bay hay pozzolans.
- Vữa thích hợp cần phải có đủ tính lưu động trong quá trình bơm, ít
bị mất nước và phân rã, có độ co ngót thấp, có cường độ đầy đủ và
không chứa các chất có hại như clo-rit, ni-trat, sun-fit hay các hợp chất
khác có thể tham gia gây rỉ cốt thép.
BỐ TRÍ ỐNG THÔNG HƠI VÀ ỐNG BƠM VỮA
- Vữa được bơm vào tại các điểm thấp của cáp hay tại các đầu của
cấu kiện.
- Các ống thông hơi được đặt ở các điểm cao của cáp. Nếu ống
gen không được thông hơi đầy đủ, các túi khí có thể bị kẹt lại tại các
điểm cao của ống gen.
- Hơi nước có trong các túi khí này có thể làm cho cốt thép bị rỉ và ở
các miền lạnh, hơi nước bị đóng băng và có thể gây ra các hư hỏng
nghiêm trọng.


- Túi khí hình thành tại điểm cao của cáp do sự thoát khí không
thích hợp Trước khi bơm vữa, các ống gen cần phải được thổi sạch các
mảnh vụn và bụi bẩn bằng hơi ép không có dầu.
Đôi khi, ống gen cũng phải được rửa bằng nước trước khi bơm
vữa. Nếu ống gen bị tắc trong quá trình bơm vữa thì ngay lập tức phải
rửa ống gen bằng nước, bơm vào từ ống thoát khí gần nhất theo chiều
ngược với chiều bơm vữa.
CHUẨN BỊ
Các thiết bị chuẩn bị thí nghiệm vữa trên công trường:
- Máy bơm vữa: 1 bộ
- 1 bộ Khuôn mẫu 40x40x160 mm:
- 2 bộ Phểu thử độ chảy
Sau khi kết quả kéo căng được chấp thuận và cho phép cắt cáp,
các đoạn cáp thừa bên ngoài thân neo được cắt khoảng hai lần đường
kính cáp hoặc 20mm, lấy giá trị nào lớn hơn.
Đối với các loại neo có kích thước nhỏ như loại dùng cho sàn dự
ứng lực, hộc neo có thể trát bằng vữa xi măng (tỷ lệ xi măng/cát 1:1)
thay vì bê tông 24 giờ trước khi bơm vữa để tránh vữa rò rỉ qua nêm.
Thiết bị bơm vữa phải được đặt càng gần các điểm bơm càng tốt
để tránh mất mát áp lực không cần thiết.
Xi măng và phụ gia phải sẵn sàng với khối lượng đầy đủ để nạp vào
thiết bị bơm vữa và phải tránh không bị ẩm (bị bắn từ máy trộn, mưa…)
và nguồn nước phải được đảm bảo, nếu cần thiết phải có thùng chứa
nước.
Ngay trước khi bơm vữa, các đường cáp phải được thổi bằng khi
để phát hiện những chổ tắc có thể và đẩy nước ra ngoài. Khí thoát ra
phải được kiểm tra tại tất cả các vòi bơm vữa.
Các bản ghi về áp lực bơm, lượng vữa đã sử dụng, nhiệt độ và các
chi tiết khác của quá trình bơm vữa cần phải được lưu giữ. Áp lực bơm
cao, ví dụ quá 1,5 MPa, có thể là dấu hiệu về sự tắc ống gen và có thể
gây ra sự phân rã vữa hay làm vỡ tách bê tông xung quanh ống gen.


QUI TRÌNH TRỘN VỮA
- Kiểm tra cẩn thận tình trạng máy trộn vữa trước khi sử d ụng để
đảm bảo rằng máy trộn sẵn sàng hoạt động
- Đong một lượng nước vào máy trộn vữa theo như yêu cầu.
- Khởi động máy trộn vữa và cho phụ gia Sikament NN theo lượng
đã định
- Cho một lượng phụ gia SikaIntraplast Z -HV đã định sẵn vào và
trộn khoảng 2 phút
- Sau đó cho ximăng vào từng bao một theo lượng đã định sẵn và
trộn trong khoảng 2 phút nữa cho tới khi hỗn hợp vữa đồng đều
- Dùng lưới lọc trong chu trình bơm tuần hoàn để loại bỏ ximăng
cục chưa tan có trong vữa (nếu có)
- Các thí nghiệm vữa sẽ được thực hiện theo yêu cầu
- Ngay sau khi các thí nghiệm kiểm tra chất lượng cần thiết được
thực hiện, có thể tiến hành bơm vữa
QUI TRÌNH BƠM VỮA
Vữa được bơm từ một đầu của đường cáp và phải kiểm tra vữa tại
các đầu ra cho đến khi vữa không còn bọt khí và độ đồng đều của vữa
giống như trong máy trộn trước khi đóng ống.
Quá trình bơm vữa cho mỗi đường cáp nên được thực hiện một
cách liên tục. Nếu quá trình bị ngưng giữa chừng trên 30 phút, đường
cáp cần phải làm sạch bằng nước và thổi bằng khí trước khi bắt đầu
bơm lại từ đầu.
Sau khi vữa chảy ra ở đầu kia của đường cáp, nghĩa là toàn bộ
đường cáp đã được bơm đầy, các ống bơm vữa được đóng lại. Tiếp tục
duy trì áp lực bơm trong vòng 10 -15 giây thì khóa vòi bơm. Việc bơm
vữa bây giờ có thể được chuyển sang đư ờng cáp kế tiếp
Tất cả các vòi bơm vữa có thể được cắt bỏ 24h sau khi bơm vữa.
Ghi lại quá trình bơm vữa trong “Báo cáo bơm vữa”
THỬ VỮA


-

Độ chảy Kiểm tra độ chảy của vữa bằng phễu hình côn (EN
445-2007). Thời gian chảy được đo bằng đồng hồ bấm giây. Độ
chảy của vữa là thời gian từ lúc vữa bắt đầu chảy đến lúc vữa
chảy ra khỏi phểu được 01 lít. Việc đo đạc được thực hiện tại chỗ,
khoảng 4 phút sau khi trộn vữa, thời gian chảy của vữa phải nhỏ
hơn 25 giây. Thí nghiệm này được tiến hành cho mỗi mẻ trộn.

-

Cường độ chịu nén Sau khi đổ đầy vữa, khuôn đúc mẫu (khối
lập phương 40x40x160 mm) được bao bọc lại bằng ny lông. Mỗi
ca làm việc 8h lấy 6 mẫu (6 viên). Sau 18 đến 24h tháo mẫu ra
khỏi khuôn và bảo quản mẫu trong môi trường ẩm hoăc ngâm
trong nước. Mỗi lần thí nghiệm cường độ chịu nén cho 3 mẫu.
Theo tiêu chuẩn, cường độ nén của mẫu vữa sau 28 ngày tối thiểu
phải đạt 30 Mpa hoặc 27 Mpa tại thời điểm 7 ngày trong trường
hợp đề xuất đánh giá cường độ nén tại thời điểm 28 ngày dựa vào
cường độ nén tại thời điểm 7 ngày.

-


BIỆN PHÁP KĨ THUẬT THI CÔNG CỌC LY TÂM ỨNG SUẤT TRƯỚC
1. Phân loại, hình dáng, kích thước cơ bản:
Phân loại:
Cọc bê tông ly tâm ứng suất thường (PC) là cọc bê tông LTUST được
sản xuất bằng
phương pháp quay ly tâm, có cấp độ bền chịu nén của bê tông không
nhỏ hơn B40.
Cọc bê tông ly tâm ứng suất cường độ cao (PHC) là cọc bê tông
LTUST được sản
xuất bằng phương pháp quay ly tâm, có cấp độ bền chịu nén của bê
tông không nhỏ hơn B60.
Hình dáng, kích thước:
Cọc PC, PHC có hình trụ rỗng được thể hiện trên hình 1, có đầu cọc,
đầu mối nối hoặc mũi cọc phù hợp. Đường kính ngoài và chiều dài
thanh cọc không đổi tại mọi tiết diện của thân cọc.
L

D

D

d

a

Chú thích:

L
D
d
a
b

Chiều dài cọc
Đường kính ngoài cọc
Chiều dài thanh cọc
Đầu cọc hoặc đầu mối nối
Mũi cọc hoặc đầu mối nối
Hình 1 - Cọc bê tông ứng lực trước PC, PHC

b


Cọc có đường kính từ 300 ÷1000 (mm). Được sản xuất bằng phương
pháp quay ly tâm có cấp độ bền chịu nén của bê tông từ B40 đến B60.
Chiều dài và bề dầy thành cọc tùy thuộc vào đường kính ngoài của cọc.
Với cọc có đường kính ngoài 300mm thì chiều dài cọc tối đa là 13m và
chiều dầy thành cọc là 60mm, với cọc có đường kính ngoài 1000mm thì
chiều dài cọc tối đa là 24m, chiều dầy thành cọc là 140mm, …

2. Phạm vi sử dụng
Là loại cọc có khá nhiều ưu điểm nên rất thông dụng trong các lĩnh
vực như :
Công trình cầu đường, cảng biển đối với cọc có đường kính lớn
như D1000, D1200.
Công xây dựng dân dụng và công nghiệp đối với các cọc có
đường kính nhỏ.
Ngoài ra, do cọc chịu tải trọng ngang tốt nên thường dùng cho
các công trình tường
chắn sóng, đất …

3. Quy trình sản xuất cọc ly tâm ứng suất trước
Gồm có 8 bước sau:

Bước 1- Nguyên Vật Liệu & Kiểm tra thiết kế: Chuẩn bị đầu vào nguyên
vật liệu có sự kiểm soát tốt như: Xi măng từ Nghi Sơn, Phụ Gia Basf
AC388 của Ý hoặc Phụ giao KAQ của Nhật Bản, Cát từ Campuchia có
các mudule theo tiêu chuẩn thí nghiệm sạch và ray sàn cho phép, Mỏ đá
hóa an ở Bình Dương, Thép nhập từ các nước Trung Quốc, Malaysia,
Thái Lan.
– Riêng cát phải đúng theo module làm cọc, sạch và được giữa ẩm
– Đá 1×2 được sàn ra theo tiêu chuẩn và cũng được rửa sạch để làm
tăng mác bê tông.


– Tạo lòng thép thông qua hàn tại nhà máy
Song song với khâu chuẩn bị vật liệu là làm rõ các thiết kế cọc, cấp phối
sử dụng để bước sang bước khâu nạp liệu
Bước 2- Nạp liệu: Lắp lòng thép vào khuôn cọc và tiến hành đổ bê tông
với các thiết kế cấp phối đã được duyệt từ khách hàng (nhà tư vấn, chủ
đầu tư, nhà thầu thi công…). Lấp copha và kiểm tra kỹ độ kính tránh rò
rỉ nước bê tông và qui ly tâm không bị ảnh hưởng.
Trong đó: Bê tông được trộn bằng xi măng PCB40 và 1 số phụ gia(Sika
visconcrete HE-500: là chất siêu hóa dẻo công nghệ cao gốc Polyme
thế hệ thứ 3 với hiệu quả thúc đẩy đông cứng cho bê tông)
Bê tông sản xuất cọc thường được thiết kế với độ sụt không quá 60mm
Bước 3- Căng thép: Là bước ứng lực trước cho cọc BTLT theo các ứng
suất theo thiết kế để có các moment kháng uốn khi đi vào sử dụng. Các
kết quả kéo thép được lưu tại phòng thí nghiệm.
Bước 4- Quay ly tâm: Đây là bước rất quan trọng để lèn chặt bê tông và
thông thường có 4 cấp độ quay để cọc đạt được chất lượng như thiết
kế.
Bước 5- Hấp cọc : Đây bước đưa cọc vào lò hơi hấp ở nhiệt độ khoảng
100⁰C để quyết định tháo khuôn sớm, hơi nước nóng sẽ đẩy nhanh quá
trình thủy hóa bê tông ở môi trường nhiệt độ cao. Thông thường hấp
cọc khoảng 8h. Hoặc tùy theo công nghệ của từng nhà máy sản xuất.
Bước 6- Tháo khuôn và kiểm tra sản phầm : Đây có thể là bước cuối
nếu không thông qua lò cao áp tùy theo tiến độ hoặc quyết định có liên
quan đến chứa hàng tại nhà máy. Trong bước này chúng ta sẻ kiểm tra
và phân loại các loại cọc đúng chất lượng hoặc cần lưu ý khác.
Bước 7- Hấp qua lò cao áp: Đây cách tại các nhà máy có các đơn hàng
cần cung cấp nhanh hoặc muốn làm tăng thêm mác bê tông, và ngay
sau khi lấy cọc ra khỏi lò cao áp thì chúng ta có thể đưa cọc ra bải thành
phẩm.
Bước 8- Hấp qua lò cao áp: Đây giao đoạn kiểm tra số lượng, chất
lượng, chủng loại hàng hóa và vận chuyển đến công trình thông qua các
đầu xe kéo hoặc các xà lan đường sông chuyển đến khách hàng.


4. Ứng dụng
Cọc bê tông ly tâm ứng suất trước dùng làm nền móng cho các công
trình như trạm điện, nhà cao tầng, cầu, cầu vượt, bến cảng, các công
trình biển, tường chắn,…
Ưu điểm
Cọc bê tông ly tâm ứng suất trước được sản xuất và quản lý trong môi
trường nhà máy nên chất lượng đồng đều được duy trì.
Sử dụng bê tông mác cao 60-80N/mm3 cùng với quá trình quay ly tâm,
và tác động của ứng suất trước làm cải thiện được kết cấu chịu lực của
cọc và các tính năng ưu việt khác của cọc:
- Tài dọc trục cao
- Khả năng chịu kéo cao.
- Momen uốn lớn
- Chống nứt cọc
- Chống ăn mòn sun phát và chống ăn mòn cốt thép.
- Không xuất hiện ứng suất gây xoắn nứt trong quá trình đóng.
- Cho phép đóng xuyên qua các lớp địa tầng cứng.
Cọc bê tông ly tâm ứng suất trước có thể sản xuất dài hơn 36m cho một
đoạn, mối ghép lắp nhanh và kinh tế, trọng lượng trên một đơn vị chiều
dài thấp dẫn đến giá thành hạ. Vòng quay sản xuất sản phẩm nhanh,
đạt cường độ cao đáp ứng tiến độ giao hàng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×