Tải bản đầy đủ

Thăm dò khả năng phòng và chữa trị ung thư của hoạt chất scutebarbalactone VN tách chiết từ cây bán chi liên trên chuột gây u thực nghiệm

MỞ ĐẦU
kiếm Tìm hợp chất tự nhiên trong phòng ngừa và chữa trị bệnh, đặc biệt
bệnh ung thư, đang là hướng nghiên cứu thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
khoa học trong và ngoài nước.
Ung thư là căn bệnh nan y, là một trong những gánh nặng của bệnh tật
toàn cầu gây ra tỉ lệ tử vong cao. Theo báo cáo mới nhất của Hiệp hội Quốc tế
chống ung thư (UICC) cho thấy căn bệnh ung thư là nguyên nhân gây tử vong
cho gần 7 triệu người chỉ trong năm 2004 chiếm 12,5% tổng số người chết do
bệnh tật. Con số người mắc bệnh ung thư sẽ tăng nhanh và đạt tới con số 16
triệu người vào năm 2020 như dự đoán của Tổ chức y tế thế giới WHO [1].
Do vậy, nhu cầu sử dụng thuốc để phong ngừa và chữa trị những căn bệnh
nan y đặc biệt là bệnh ung thư là tất yếu và cần thiết, qua đó góp phần vào
việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng của mọi quốc gia trên thế giới.
Hiên nay, một trong những hướng chính tìm kiếm các thuốc phony chữa
trị ung thư có hiệu lực được các nhà khoa học quan tâm là hướng sự tập trung
vào hợp chất thiên nhiên có nguồn ngốc từ thực vật. Theo đánh giá của Tổ
chức y tế thế giới, 80% dân số trên thế giới vẫn tin dùng các loại thảo dược
cho việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu và khoảng hơn 60% các tác nhân hoá trị
liệu khác dùng trong điều trị ung thư có nguồn gốc từ các hợp chất tự nhiên
[64], [65], [66]. Đối với Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt
đới gió mùa với khoảng 3|4 diên tích của cả nướclà rừng núi trung điệp vì thế

thảm thực vật rất phong phú và đa dạng đây là điều kiên thuận lợi để hướng
nghiên cứu phát triển thành thuốc phòng và chữa trị ung thư đi từ thực vật là
hoàn toàn có thể. Theo hướng nghiên cứu này Viên nghiên cứu ung thư quốc
gia của Hoa kỳ(National cancer Institute - NCI) đã hợp tác với nhiều quốc gia
như Bangladesh, Viêt Nam, Brazinl, Costa Rica, Lao, mêxicô, v.v.để nghiên
cứu tìm kiếm các hoạt chất từ thực vật có khả năng phòng chống và chữa trị
ung thư [40], [71], [72]. Đến nay, một số hợp chất có nguồn gốc từ thiên
nhiên đã chích thức được sử dụng cho bệnh nhân ung thư như Camptothecine
từ cây Hạnh phúc (Camptotheca acuminata ) [73], hai hoạt chất Vinblastine


và Vincristine từ cây Dừa cạn (Catharan thus roseus (L.) G.Don) [73] , Taxol
từ cây Thông đỏ ( Taxus brevifolia) [67] v.v. Nổi bật là năm 2006, Đỗ thị
Thảo- viên công nghệ sinh học- Viện công nghệ khoa học Việt Nam đã phát
hiên ra hoạt chất Scutebarbalactone VN một hoạt chất mới lân đầu tiên được
phân lập, tách chiết từ cây Bán chi liên (Scutellaria barbata D.Don) đã chứng
minh cấu trúc hoá học có khả năng diệt và ức chế nhiều loại tế bào ung thư
phát triển ở điều kiên in vitro, hoạt chất này có hoạt tính mạnh diệt và ức chế
tế bào ung thư phát triển nhưng it gây độc với tế bào thường. Dù bất kỳ hoạt
chất nào để phát triển thành thuốc chữa bệnh, sau khi được chứng minh ơ
điều kiện in vitro cũng phải được thử nghiêm ở mức độ in vivo để tạo cơ sở
cho nghiên cứu tiền lâm sàng( Preclincal) và thử nghiêm lâm sàng(Clinical
trial) .
Với hoạt tính phòng chống ung thư đầy tiềm năng trên chúng tôi muốn
nghiên cứu sâu hơn nữa các đặc tính, khả năng phòng chữa ung thư của hoạt
chất Scutebarbalactone VN ở mức in vivo tạo cơ sở cho các nghiên cứu khoa
học thử nghiêm tiền lâm sàng và lâm sàng sau này, nhầm đi đến đích cuối
cùng làm ra thuốc phòng ngừa và chữa trị ung thư có hiệu quả kinh tế và an
toàn cho nhân dân góp phần vào việc chăm sóc bảo vệ sức khoẻ cho cộng
đồng.
Xuất phát từ cơ sở khoa học và thưc tiển trên chúng tôi tiến hành đề tài''
Thăm dò khả năng phòng và chữa trị ung thư của hoạt chất
Scutebarbalactone VN tách chiết từ cây bán chi liên trên chuột gây u thực
nghiệm''
Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu :

1. Gây u thực nghiệm trên chuột BALB/c bằng tế bào tế bào LLC ( ) để tạo
mô hình cho nghiên cứu khả năng phòng chữa ung thư của hoạt chất SBVN.


2. Tìm hiểu và chứng minh khả năng phòng chữa ung thư của hoạt chất
SBVN ở mức in vivo.
3. Thiết lập tiền đề cho các thử nghiệm tiền lâm sàng và lâm sàng đối với
hoạt chất tiềm năng SBVN.
Nội dung nghiên cứu:
1.

Gây ung thư thực nghiệm trên chuột nhắt trắng dòng BALB/c bằng
hoá chất DMBA và bằng dòng tế bào ung thư nuôi cấy in vitro là LLC

2.

Kiểm tra và xác định liều độc cấp tính gây chết 50% động vật thí
nghiệm LC50 (lethal dose) của hoạt chất SBVN.

3.

Dựa vào kết quả nghiên cứu độc tính in vitro đã có và liều độc cấp
LC50 , tiến hành xác định nồng độ SBVN sử dụng cho bước thử nghiệm in
vivo trên chuột.

4.

Thực hiện việc sử dụng hoạt chất SBVN làm chất bảo vệ để ngăn chặn
sự phát triển và diệt các khối u ung thư thực nghiệm.

5.

Thu nhận kết quả, tiến hành xử lí số liệu thống kê bằng hệ thống
Student-t Test, Excel 2003 để phân tích dữ liệu, thiết lập các hình và bảng
minh hoạ, từ đó rút ra kết luận nghiên cứu.

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1 TÌNH HÌNH UNG THƯ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM


Ung thư là căn bệnh nan y, gây ra tỉ lệ tử vong cao. Theo báo cáo mới
nhất của Tổ chức y tế thế giới WHO bệnh ung thư đang dần vượt qua bệnh
tim mạch để trở thành căn bệnh gây tử vong cao nhất trên thế giới. Trong 5
năm từ 1998-2002 có 24,6 triệu người chết vì ung thư, riêng năm 2004 có 7
triệu bệnh nhân ung thư tử vong và thêm 11 triệu người mới mắc căn bệnh
này[62], [63]. Trong tổng số 58 triệu người chết trên toàn thế giới năm 2005,
bệnh ung thư là nguyên nhân gây tử vong cho 7,6 triệu (hay 13% trên tổng
số) người. Các ca tử vong do ung thư sẽ không ngừng tăng, với mức ước tính
khoảng 9 triệu người chết do ung thư vào năm 2015 và 11,4 triệu người chết
vào năm 2030. ((http:// www.benhungthu.net.vn ) Các loại bệnh ung thư
chính dẫn đến tỷ lên tử vong chung như :
Bệnh ung thư Phổi khiến 1,3 triệu người chết mỗi năm
Bệnh ung thư Dạ Dày khiến 1 triệu người chết mỗi năm
Bệnh ung thư Gan khiến 662000 người chết mỗi năm
Bệmh ung thư Đại Tràng khiến 655000 người chết mỗi năm
Bệnh ung thư Vú khiến 502000 người chết mỗi năứnố người chết do
Số người chết do bệnh ung thư thường rơi vào các quốc gia có thu nhập
bình quân trung bình và thấp. (http:// www.benhungthu.net.vn )
Ung thư đang là một trong những gánh nặng của bệnh tật toàn cầu. Ở
Việt Nam, mặc dù chưa có những thống kê đầy đủ nhưng theo thông tin từ
bệnh viện K Trung ương, mỗi năm cả nước có thêm khoảng 150.000 ca mắc
ung thư mới và 75.000 ca tử vong vỡ căn bệnh ung thư (http://


www.ungthu.net.vn). Theo dự báo của bộ Y tế tại hội nghị sơ kết về phòng
chống ung thư tháng 7/2009, năm 2010 Việt Nam sẽ có khoảng 200.000
trường hợp mắc ung thư mới và 100.000 người tử vong. Tuy nhiên, điều đáng
lo ngại là số bệnh nhân mắc bệnh ngày càng trẻ hoá, tế bào ung thư có xu


hướng ác tính thường cao hơn và thời gian để khối u có kích thước nhân 2
cũng ngắn hơn (http://www.ungthu.net.vn).
Như vậy, ung thư vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở Việt Nam.
Ung thư xảy ra ở cả nam và nữ, đối với nam giới các bệnh ung thư thường
gặp như: phổi, gan, vòng họng...còn nữ là ung thư vú, ung thư cổ tư cung.
Đặc biệt, ung thư ở nữ thường xuất hiện ở độ tuổi 40-50, ngoài ra ung thư còn
là mối đe doạ với mọi người già. Ung thư có khả năng điều trị khỏi nếu phát
hiện ở giai đoạn sớm. Để hạn chế sự gia tăng của căn bệnh này, viềc tìm ra
phương cách phòng và chữa trị ung thư là mối quan tâm thực sự là rất cấp
thiết. Phương hướng tìm kiếm các thảo dược lấy từ tự nhiên, để phòng và
chữa trị ung thư là một ưu sách.
1.2. UNG THƯ HỌC, ĐẶC TÍNH CƠ BẢN, NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC
PHƯƠNHG PHÁP PHÒNG TRÁNH CHỮA TRỊ .

Ung thư là tên chung dùng để gọi một nhóm bệnh trên 200 loại khác
nhau về nguồn gốc tế bào phát sinh, khả năng di căn, tiên lượng và cách thức
điều trị nhưng đều có chung một đặc điểm nổi bật là sự tăng sinh vô hạn, vô
tổ chức không tuân theo cơ chế kiểm soát về phát triển của của cơ thể, có thể
di căn, tồn tại, xâm lấn và phát triển của tế bào ưng thư. [4], [5], [38], [22].
Ung thư là căn bênh của tế bào, ung thư thường xuất phát từ một tế bào ban
đầu của một tổ chức nào đó trong cơ thể và vượt qua cơ chế kiểm soát của cơ thể,
phát triển, sinh sôi không ngừng, hình thành một đám tế bào có chung một đặc
điểm là phát sinh, phát triển vô tổ chức xâm lấn chèn ép vào các mô, các cơ quan
tổ chức xung quanh. Như vậy ung thư là một bệnh lý ''ác tính'' của tế bào và rất đa
dạng về căn nguyên, cách phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị.
Hippocrate, một nhà y học Hy Lạp cổ đại được xem là người đầu tiên
nhận dạng căn bệnh ung thư khi ông đặt tên cho căn bệnh là ''karkino'' theo
tiếng Hy lạp có nghĩa là con cua bởi sự xâm lấn, phát triển của khối u ác tính
nhắc ông nhớ tới hình ảnh ''con cua có các càng tua tủa''. Ngày nay ung thư


học được thế giới biết đến với từ ''cancer'' theo tiếng anh và cũng có nghĩa là
con cua trong tiếng la tinh [6], [24]..
1.2.1 CÁC ĐẶC TÍNH CỦA BỆNH UNG THƯ

1.2.1.1 Ung thư là căn bệnh của tế bào.
Ung thư bắt đầu từ một tế bào và phải mất một thời gian nhiều năm khi
có một khích thước đủ lớn mới xuất hiện các dấu hiệu nhận biết được. Thông
thường, các tế bào có một tuổi thọ nhất định và tuân thủ chặt chẽ theo một qui
luật chung là '' phát triển - già - chết''. Các tế bào chết đi lại được thay thế
bằng các tế bào mới. Cơ thể có một cơ chế kiểm soát qui luật này rất nghiêm
gặt và duy trì số lượng tế bào của mỗi cơ quan, mỗi tổ chức ở mức ổn định.
Bệnh ung thư bắt đầu khi có một tế bào vượt qua cơ chế kiểm soát này của cơ
thể, phát triển, sinh sôi không ngừng, hình thành một đám tế bào ( khối u ) có
chung một đặc điểm là phát triển vô tổ chức, xâm lấn và chèn ép vào các cơ
quan, tổ chức xung quanh gây tử vong cho người bệnh [ 17], [26].
1.2.1.2. Bệnh ung thư gồm nhiều giai đoạn
Quá trình phát triển từ một TBUT ban đầu thành một khối u ung thư và đe dọa
tính mạng người bệnh trải qua nhiều giai đoạn [38].
Giai đoạn đầu là quá trình hình thành TBUT khởi phát do ảnh hưởng của
các tác nhân nội bào hay ngoại bào. Tiếp theo đó là quá trình phân chia liên
tục không ngừng của TBUT này để thành một khối u được gọi là quá trình
phát triển bệnh. Các TBUT trong khối u sẽ tiếp tục tăng sinh, tự mất đi các
phụ cảm nhận biết giới hạn với các tế bào lân cận sản xuất ồ ạt các Cytokine (
cell signals) và các enzym protease dẫn tới phá huỷ màng đệm lót và môi
trường ngoại bào bao quanh khiến chúng chỉ liên kết lỏng lẻo, dễ dàng bứt ra
khỏi khối u mẹ, theo mạch máu và mạch bạch huyết di chuyển tới các tổ chức
và cơ quan mới, bám lại và tiếp tục tăng sinh vô tổ chức. Quá trình này gọi là
sự di căn (metastatic process). Các TBUT chèn ép hay di căn vào các cơ quan


giữ chức năng sống trong cơ thể như não, tim, phổi, gan, thận v.v. khiến bệnh
nhân tử vong [17], [27], [74].
Như vậy, quá trình hình thành và phát triển căn bệmh ung thư được tóm tắt như
sau.

Tế bào
bình
thường

Tác nhân nội
hoặc ngoại bào

Tế bào
ung thư

Quá trình tăng sinh

U ác
tính

Chữa trị

và phát triển

Sống
sót

Di căn

xâm lấn

Tử
vong

1.2.2 KHÁI QUÁT VỀ TẾ BÀO UNG THƯ

1.2.2.1 Phân loại ung thư theo nguôn gốc tế bào
Theo nguồn gốc phát sinh, ung thư được các nhà khoa học phân chia
gồm [24], [38], [74].
+ Carcinoma: ( nguồn gốc biểu bì): đây là dạng ung thư phổ biến nhất,
phát sinh từ những tế bào có nguồn gốc từ lá phôi trong và lá phôi ngoài. Như
ung thư phổi, ung thư vú, ung thư trực tràng v.v.
+ Sarcoma: Ung thư liên kêt: là dạng ung thư it gặp, phát sinh từ những
tế bào có nguồn gốc lá phôi giữa và là những tế bào thuộc vào hề thống
chống đỡ cho cơ thể như xương, sụn, mỡ, mô liên kết


+ Lymphoma: Ung thư hạch: là dạng ung thư hiếm gặp phát sinh từ các
hạch bạch huyết và các mô thuộc hệ thống miễn dịch của cơ thể như: ung thư
Lymphoma Burkitt.
+ Leukemia: Ung thư máu (bệnh bạch cầu): là dạng ung thư nguy hiểm
và biểu hiện bệnh rất sớm, cả ở trẻ em và người trẻ tuổi, phát sinh từ các mô
tạo máu, các tế bào máu non thuộc tuỷ xương có xu hướng tích tụ thành số
lượng lớn trong hệ máu như trường hợp ung thư bạch cầu cấp tính (Human
Acute Leukemia).
1.2.2.2 Các đặc tính của tế bào ung thư
Nhìn chung, TBUT kếm biệt hoá hơn so với tế bào bình thường do sự
phân chia của nó quá nhanh tróng và diễn ra liên tục [26]. Trong quá trình
phân chia, các đặc tính tiềm ẩn của chúng cũng thay đổi bất thường và rất
nhanh theo thời gian. Ví dụ TBUT gan có thể mất đi khả năng sản xuất một
vài loại enzym đặc trưng so với tế bào gan bình thường khác và qua nhiều lần
phân chia bất thường, chúng thậm chí mất hẳn những chức năng đặc trưng
của tế bào gan. Kiểu bất thường này là do sự biến đổi nhanh chóng của hệ
gien trong TBUT.
Các TBUT thường có rất nhiều nhiễm sắc thể bất thường và không ổn
định. Hình thái, các TBUT có tỉ lệ nhân/ tế bào chất cao, nhân to, bờ nét
không rỏ, xuất hiện nhiều sợi phân bào so với tế bào bình thường khác.
Do đó, TBUT có đặc tính riêng như:[27], [38], [24].
- Khả năng xâm lấn và di căn của TBUT
Đây là tính đặc trưng và nguy hiểm nhất của TBUT và chỉ riêng TBUT mới
có. Các TBUT không khu trú tại chổ mà chúng tăng cường xâm lấn vào các cơ
quan, tổ chức sống lân cận, xâm nhập vào cả hệ thống tuần hoàn và bạch huyết để
di chuyển tới những vị trí cách xa nơi TBUT phát sinh. Tại vị trí mới, các tế bào
ung thư lại tiếp tục tăng sinh tạo khối u mới, chèn ép vào các tổ chức mang chức


năng sống của cơ thể và gây tử vong cho bệnh nhân [8], [26]. Hiện nay, đặc thù
này của TBUT vẫn chua hoàn toàn sáng tỏ trên cơ sở khoa học [24], [27], [74].
Khả năng di căn của TBUT cũng phụ thuộc vào tiềm năng phát triển của
chúng tại vị trí mới khi bị bao quanh bởi những tế bào hoàn toàn khác biệt về
mặt chức năng và hình thái. Tiềm năng này có được là nhờ xuất hiện một số
protein mới ở TBUT. Vi dụ một số enzym được TBUT tiết ra sẽ làm thoái hoá
phân tử collagen hay một số protêin màng đệm lót khác như proteolycan,
glycosaminoglycan để chúng xâm nhập, tồn tại và phát triển ở các tổ chức, cơ
quan mới mà chúng vừa di chuyển tới [27], [60].
- Khả năng sinh sản không thể kiểm soát của TBUT
Trong cơ thể con người, mỗi phút có tới 10 triệu tế bào sinh sôi. quá
trình phân chia này diễn ra theo một trình tự khuôn mẫu và được kiểm soát
chặt chẽ. Khi một tế bào bình thường trở thành TBUT, nó sẽ phân chia bất
thường. Quá trình phân chia bất thường này diễn ra nhanh hơn bình thường
và các tế bào con cháu được sinh ra sẽ không trưởng thành và chết đi như các
tế bào bình thường khác, ngược lại chúng tiếp tục quá trình phân chia vô tổ
chức và ngày càng trở nên khác biệt di truyền với tế bào mẹ ban đầu [16],
[74], [60].
-Khả năng vượt qua sự kiểm soát của hệ miễn dịch của TBUT
TBUT có khả năng vượt qua sự kiểm soát của hệ miễn dịch để tồn tại và
phát triển. Trong hệ máu của cơ thể có những tế bào “giết tự nhiên” (Natural
Killer Cell) có thể ngay lập tức nhận dạng và tiêu diệt các tế bào lạ xâm nhập
hay xuất hiện trong cơ thể. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là các tế bào ung
thư có những thay đổi đáng kể khác lạ với tế bào bình thường nhưng lại thoát
khỏi sự phát hiện và tiêu diệt của hệ miễn dịch [66].
Có lẽ các TBUT đã che dấu được mình để vượt qua sự nhận biết của các
tế bào Lympho. Kết quả hệ miễn dịch của cơ thể không thể phát hiện được
TBUT và tiêu diệt chúng. TBUT là tế bào của chính cơ thể bệnh nhân nhưng


bị biến chất, thoái hoá nguy hiếm làm hệ miễn dịch không nhận biết được.
[27].
1.2.3. NGUYÊN NHÂN GÂY BÊNH UNG THƯ.

Đến nay, chưa thể xác định rỏ một loại nguyên nhân chung nào cho các
loại ung thư, mỗi loại ung thư có những nguyên nhân riêng biệt, tác động theo
nhiều cơ chế khác nhau nhưng hiện tại có thể chia làm 2 nhóm tác nhân lớn:
Tác nhân môi trường và tác nhân sinh học.[4], [5],[ 22].
2.1.3.1 Tác nhân môi trường.
Gồm tác nhân hoá học, vật lý.
* Tác nhân hoá học gây ung thư như: khói thuốc lá, các thành phần hoá
học trong thuốc trừ sâu, các sản phẩm phụ gia dùng cho bảo quản thực phẩm,
tạo mầu không đạt tiêu chuẩn, chất A-mi-ăng. Trong đó khói thuốc lá được
xem là mối nguy hại tiềm ẩn lớn nhất cho sức khoẻ cộng đồng với hơn 20
chất hoá học có khả năng gây ra các bệnh ung thư như: ung thư phổi, thanh
quản, thực quản v.v. Ngoài ra các khí đốt xăng dầu, động cơ, khí thải nhà máy
công nghiệp v.v cũng được xem là độc hại và gây ôi nhiễm môi trường là
nguyên nhân gây bệnh ung thư cao cho con người.[5], [74], [43], [37], [27].
Tác nhân hoá học gây ung thư theo 2 cách:
+ Tác động trực tiếp đến hệ gien gọi là nhóm carcinogen như: các dẫn
xuất của nitrosamin có nhiều trong thành phần thuốc lá, các alcohol trong
rượu, các polycyclic hydrocarbon (PAH), polyvinyl chlorid (PVC), thuốc trừ
sâu chứa DDT, aflatoxin trong nấm mốc v.v.[5], [27].
Cơ chế hoạt động của nhóm hoá chất này là: thông qua trung tâm ái lực
điện tử electrophilics để phản ứng với các trung tâm mang điên tích âm của
các phân tử protein, ADN, ARN của tế bào, từ đó gây ra những thay đổi về
mặt cấu trúc của các phân tử này dẫn tới thay đổi về mặt chức năng. Do tác
động trực tiếp vào các phân tử ADN, nhóm hoá chất này đã làm biến đổi các


gien tiền ung thư Proto-oncogene trở thành gien ung thư oncogene dễn tới
hình thành tế bào ung thư nguyên phát [5], [70], [27], [56].
+ Nhóm hoá chất gây ung thư tác động gián tiếp gọi là: các promoter,
chúng cũng chứa đựng các trung tâm ái lực điện tử electrophilic nhưng
không tác động trực tiếp đến phân tử ADN, ARN mà thông qua việc kích hoạt
các enzym kinase nội bào (nhóm enzyn này chịu trách nhiệm trong quá trình
phân chia mitosis của tế bào), làm thay đổi cấu trúc và chức năng các phân tử
ADN, ARN của tế bào, qua đó biến đổi gien tiền ung Proto-oncogene trở
thành gien ung thư oncogene dẫn tới hình thành tế bào ung. Đại diện điển
hình của nhóm này là phorbol ester [27], [56].
* Các yếu tố phóng xạ như tia X, tia gamma, các đồng vị phóng xạ 3H,
14
C, 32P...dùng trong quân sự, y học, nghiên cứu khoa học...Hay nguồn phóng
xạ tự nhiên từ vũ trụ, từ các đồng vị phóng xạ trong không khí, đất, nước như:
các hạt anpha và proton đó cũng là một trong số những tác nhân gây ung thư
cao cho con người trên toàn cầu. [4], [5], [24], [27], [22].
Cơ chế gây ung thư của các tia phóng xạ cũng giống như một số hoá
chất gây ung thư, tác nhân phóng xạ thường tác động đến cơ thể thông qua
việc tạo rất nhiều gốc tự do như: O2. - , HO., NO., ... [70], [55]. Chính các gốc
tự do này đi vào nhân gây ra phản ứng oxi hoá làm thay đổi cấu trúc của phân
tử ADN dưới sự xúc tác bởi các ion sắt, đồng, định vị gần phân tử ADN. Sự
thay đổi cấu trúc ADN rất nghiêm trọng, đây là nguyên nhân dẫn đến nhiều
bệnh di truyền và cả bệnh ung thư [39], [27], [44], [5].
Ngoài ra, một số tác nhân cũng có là nguyên nhân gây ung thư như: tia
tử ngoại mặt trời, tia cực tím UV, sóng điện từ, chế độ ăn uống giàu lipit,
đạm,... [4], [5], [6].
1.1.3.2. Tác nhân sinh học:


Tác nhân sinh học chủ yếu là một số loại virus và vi khuẩn có khả năng
khởi động châm ngòi cho sự phát triển ung thư khi nó lây nhiễm sang tế bào
bình thường. [5], [76], [57], [27].
Virus gây ung thư gồm 2 loại: virus ADN và virus ARN. Cơ chế gây
ung thư của các virus này tương đối phức tạp và chưa được hiểu hết. Tuy
nhiên, có thể xem như chúng làm biến đổi các tính đặc thù của tế bào chủ
( hình thái, sinh lý, sinh hoá ) bằng cách hợp nhất một số gien của mình vào
hệ gien của tế bào bị chúng lây nhiễm khiến cho một số gien hoạt động bất
thường, các proto - oncogen biến đồi thành oncogen mở đầu cho sự hình
thành căn bệnh ung thư. [27], [58], [59]. Oncogen chính là gien dẫn đến sinh
ung thư mới ( neoplasma ), nó đóng vai trò chủ yếu trong sinh ung thư [5].
Oncogen được thừa nhận đầu tiên ở virus ung thư gây ra biến hình tế bào
viral oncogen [5].
+ Virus ADN gây ung thư có nhiều loại, đặc trưng nhất là: các papovavirus
với hai đại diện thường gặp là SV40 và polyma. Trên lý thuyến ADN của virus
có thể hợp nhất vào ADN của tế bào chủ tại vị trí đặc trưng hoặc những vị trí ngẫu
nhiên khác. Do vậy sau khi bị lây nhiễm, tế bào chủ thường bị kích hoạt để đi vào
quá trình sinh sôi vô tổ chức không thể kiểm soát hình thành bệnh ung thư [27].
+ Đối với các virus ARN gây bệnh ung thư thường gặp nhất là
Retrovirus. Đây là một trong những virus gây ung thư đầu tiên được Reyton
Rous tìm ra 1911 và đặt tên là RSV, một Retrovirus (đảo ngược ) mang gien
ARN [24]. Cơ chế hoạt động của các virus ARN phức tạp hơn so với các
virus ADN. Các Retrovirus gây bệnh ung thư theo 2 cách:
a. Trong phương thức hoạt động thứ nhất, các Retrovirus chứa phân tử
ARN như vật liệu di truyền và sử dụng enzyn sao chép ngược ( reverse
trascriptase ) để tạo ra một phiên bản ADN nội bào mới có khả năng gắn kết và sát
nhập vào hệ ADN của tế bào chủ. Các gien của virus gắn kết trực tiếp vào các proto
- oncogien của tế bào chủ nên đã biến chúng thành dạng oncogien gây ung thư.


Thông thường một tế bào bình thường để chuyển sang tế bào ung thư
phải trải qua một hoặc một vài đột biến ở gien nhất định. Quá trình này liên
quan đến hệ thống gien tiền ung thư (proto - oncogien ) và gien át chế ung thư
(tumor - suppressor gene ), gien tiền ung thư mã hoá cho nhóm protien tham
gia vào quá trình hình thành những chất truyền tin ( messennger ) trong quá
trình dẫn truyền tín hiệu tế bào. Các chất truyền tin này sẽ truyền tín hiệu "
Tiến hành phân bào " tới chính tế bào đó hay những tế bào khác. Do vậy khi
bị đột biến, các gien tiền ung thư sẽ biểu hiện quá mức ( overexpression ) các
tín hiệu phân chia tế bào và làm các tế bào tăng sinh thừa thải, lúc này trở
thành các gien ung thư ( Oncogen ). Tuy nhiên, những các gien ung thư thực
chất là các gien cần thiết đối với quá trình phát triển, sửa chữa và hằng định
nội môi của cơ thể, do đó kháng thể loại bỏ những gien này khỏi hệ gien tế
bào chủ nhằm làm giảm khả năng ung thư.
b. Trong phương thức hoạt động thứ 2, thì vị trí gắn kết và hợp nhất
không phải trực tiếp vào các proto - oncogien mà chỉ ở gần đó nhưng cũng
kích hoạt chúng hoạt động như một oncogene thực sự [27].
Trong các Retrovirus phải kể đến virus HIV, nó không trực tiếp gây ra bệnh
ung thư nhưng chúng làm suy giảm và mất khả năng miễn dịch của cơ thể khiến
hệ miễn dịch mất khả năng diệt tế bào ung thư nguyên phát, dẫn tới cơ thể rất
mẫn cảm với nhiều loại virus, vi khuẩn gây bệnh ung thư.[74]. virus gây suy
giảm hệ miễn dịch .
Ngoài ra virus viêm gan B được xem là một trong những nguyên nhân
chính gây ung thư gan.
1.2.3. KHẢ NĂNG PHÒNG VÀ CHỮA TRỊ BỆNH UNG THƯ
Ung thư là căn bệnh tiến triển trong thời gian tương đối dài kể từ khi
khởi phát một tế bào ban đầu, nên việc phòng và trị bệnh ung thư mang lại
sức khoẻ cho cộng đồng là hoàn toàn có thể. Tuy nhiên, khi các khối u đó di
căn thì việc chữa trị trở nên khó khăn, tỉ lệ tử vong của người bệnh là rất cao.


Vì vậy, việc phòng hay chữa trị bệnh nên được thực hiện càng sớm càng tốt
[34], [74].
Việc phòng bệnh có hiệu quả là tránh tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh
và thực hiện lối sống lành mạnh, có chế độ ăn uống, làm việc hợp lý và khoa
học, nên thường xuyên tập luyện thể thao.
Việc chữa trị bệnh ung thư căn cứ vào mỗi loại ung thư, mỗi giai đoạn
khác nhau, tính chất của tế bào ung thư mà áp dụng một hay nhiều phương
pháp điều trị khác nhau cụ thể sử dụng các liệu pháp sinh học, hoá trị, xạ trị,
phẫu thuật hay kết hợp cả bốn liệu pháp này. Gần đây, xuất hiện khái niệm
mới về “hoá học phòng chống ung thư” là việc sử dụng các hoạt chất có khả
năng chống oxy hoá, kích hoạt hệ enzym khử độc v.v. để loại bỏ các tác nhân
gây ung thư cho cơ thể hoặc sử dụng các hoạt chất có khả năng tác động tới
các yếu tố truyền tín hiệu thứ cấp như NfkB (nuclear factor kappa bindinh),
cAMP (Adenosine 5’triphosphate vòng) v.v. liên quan đến quá trình phát
triển ung thư để ngăn cản bệnh phát triển. Hoá học phòng chống ung thư đang
được xem là rất có triển vọng trong phòng và chữa trị bệnh ung thư [5], [34],
[33], [35], [36], [44], [61].

1.2.3.1.Liệu pháp sinh học ( Biological therapy ):
Liệu pháp sinh học là sử dụng hệ miễn dịch của cơ thể một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp để chống lại bệnh ung thư hoặc thông qua việc làm giảm thiểu
các tác dụng phụ của các liệu pháp chữa trị ung thư khác. Liệu pháp này bao
gồm việc sử dụng các interferon, interleukin, kháng thể đơn dòng, vaccine,
can thiệp vào hệ gien và các chất tăng cường miễn dịch không đặc trưng để
chống lại TBUT. [27], [74], [22].
Liệu pháp sinh học được sử dụng để:


+ Giám sát ngăn chặn hoặc chấm dứt các phản ứng sinh học cho phép
TBUT phát triển [41], [74].
+ Làm cho TBUT được nhận dạng nhờ đó hệ miễn dịch nhận biết và tiêu
diệt TBUT. [74].
+ Tăng cường sức mạnh tiêu diệt của các tế bào trong hệ miễn dịch như
tế bào lympho T, NK và macrophages . [74].
+ Chuyển dạng phát triển của TBUT để hướng những tế bào đột biến này
đi vào quá trình tự chết . [74].
+ Tăng cường khả năng sửa chữa hoặc thay thế những tế bào bình
thường bị tồn thương trong quá trình chữa trị ung thư bằng xạ trị hay hoá trị .
[74].
+ Ngăn chặn hoặc đảo ngược quá trình chuyển dạng từ tế bào bình
thường hay tế bào tiền ung thư thành tế bào ung thư.
+ Phòng chống tế bào ung thư di chuyển tới các bộ phận khác của cơ thể .
[74].
1.2.3.2. Liệu pháp hoá trị
Đây là liệu pháp chữa trị bằng hoá chất có khả năng ngăn chặn hoặc tiêu
diệt sự phát triển của TBUT. Các hoá chất được sử dụng tuỳ vào từng loại
ung thư khác nhau có liệu lượng khác nhau. Đến nay việc chữa trị ung thư
bằng liệu pháp hoá trị đang được xem là phổ biến và mang lại hiệu quả cao,
tuy nhiên liệu pháp này thường đi kèm với nhiều tác dụng phụ không mong
muốn như: nôn mữa, rụng tóc, giảm lượng hồng cầu... [19], [40].
1.2.3.3. Liệu pháp xạ trị:
Là liệu pháp sử dụng nguồn năng lực cao từ tia X, tia gamma, neutron và
các nguồn phóng xạ khác để tiêu diệt tế bào ung thư và các khối u. Liệu khác


này sử dụng máy chiếu phóng xạ từ ngoài cơ thể hoặc thông qua một số
nguồn vật liệu phóng xạ được chuyển vào cơ thể ở vị trí gần khối u ung thư.
Ngoài ra, còn sử dụng các chất đồng vị phóng xạ gắn với kháng thể đơn dòng
để tăng cường tính hiệu quả và đặc hiệu, tránh làm tồn thương các tế bào lành
khác trong quá trình điều trị bệnh ung thư. [16], [74].
1.2.3.4. Liệu pháp phẩu thuật:
Sử dụng phẩu thuật để cắt bỏ khối u ung thư. Liệu pháp này thực sự đem
lại hiệu quả chữa trị cao, nếu đây là giai đoạn đầu của bệnh ung thư, chưa có
di căn, khối u vẫn còn khu trú tại chỗ. Trong trường hợp bệnh đã di căn đến
các khu vực khác trong cơ thể thì liệu pháp này cần kết hợp với các liệu pháp
khác để điều trị tích cực và triệt để. [4], [24].
1.2.3.5. Liệu pháp hoá học phòng chống ung thư - HHPCUT
Ung thư là một căn bệnh có mức tiến triển trong một thời gian tương đối
dài kể từ khi khởi phát từ một tế bào ban đầu nên việc phòng và chữa trị bệnh
.
Mục đích của liệu pháp hoá trị liệu ung thư ( cancer chemotherspy )
nhằm tiêu diệt TBUT để ngăn ngừa sự tiến triển của căn bệnh , thì liệu pháp
HHPCUT nhằm ngăn chặn bệnh hình thành và phát triển [74], [47], [46].
Các nhóm hoạt chất phòng chất ung thư hoạt động theo 2 cách:
- Phòng chống hoặc ngăn chặn những đột biến gien có khả năng dẫn tới
bệnh ung thư [74].
- Phòng chống hoặc ngăn chặn quá trình tăng sinh liên tục của các tế bào
bệnh dẫn tới hình thành một khối u [74].
Phòng chống ung thư, bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng nói chung và cho
nhóm người làm việc trong môi trường tiếp xúc thường xuyên với hoá chất,
phóng xạ, ôi nhiễm v.v. có nguy cơ mắc bệnh ung thư cao là vấn đề dược


nhiều nhà khoa học quan tâm. Viên nghiên cứu ung thu của Hoa Kỳ _ NCI đã
đưa HHPCUT thành một trong những vấn đề được ưu tiên hàng đầu .
1.2.3.6. Phòng chống chữa trị ung thư ngay ở các giai đoạn phát triển
ung thư
Một tế bào bình thường khi chịu tác động của các tác nhân gây ung thư
sẽ có sự biến đồi bất thường về mặt di truyền, các gien Proto - oncogene biến
đổi thành các oncogene gây ung thư và hình thành ở giai đoạn khởi phát của
bệnh ung thư. Quá trình này có thể phòng chống bằng nhiều phương cách
khác nhau như: dùng hoạt chất cảm ứng các enzym khử độc của cơ thể như
Glutathione - S -transferase ( GST ), Quinone reductase ( QR ),...nhằm loại
bỏ các yếu tố gây ung thư [45], hay sử dụng các dược chất chống oxi hoá
nhằm loại bỏ các gốc tự do gây đột biến gien,... [44]. Ngoài việc giúp cơ thể
tránh ảnh hưởng hoặc loại bỏ tác nhân ung thư, các hoạt chất PCUT còn kích
hoạt hệ gien sửa chữa đột biến hay kích hoạt tế bào chuyển dạng đi vào quá
trình tự chết nhờ vậy sự hình thành ung thư sẽ được loại bỏ. Các hoạt chất có
khả năng PCTU ở giai đoạn này gọi là các dược chất phòng ung thư tiền phát
(anti - intiation agents ) [43].
Trong giai đoạn ung thư phát triển, việc PCUT tập trung vào các dược
chất có khả năng kìm hãm, ức chế sự phát triển, trì hoãn hay dừng sự tăng
sinh của TBUT, từ đó ngăn chặn sự phát triển của khối u đã có, phòng chống
sự hình thành các khối u mới sinh. [42].
1.3. MỘT SỐ HỢP CHẤT TỰ NHIÊN CÓ TÁC DỤNG PHÒNG CHỐNG VÀ
CHỮA TRỊ BỆNH UNG THƯ

Sử dụng các hợp chất có nguồn gốc tự nhiên trong phòng ngừa và chữa
trị bệnh ung thư đang là hướng đi chính của nhiều nhà nghiên cứu khoa học.
Đây là một hướng đi có hiệu quả vì tính an toàn và tính kinh tế.
Từ lâu, việc chữa trị ung thư bằng hoá chất ( hoá trị liệu ) được sử dụng
phổ biến và có hiệu quả nhất định trong cứu chữa các bệnh nhân ung thư.


Phương pháp chữa trị ung thư bằng hoá chất này mang tính độc cao đối với
TBUT, tiêu diệt hoặc ngăn chặn TBUT phát triển song cũng độc với tế bào
bình thường, gây ra những tác dụng phụ không mong muốn. Vì vậy, các nhà
khoa học luôn nỗ lực tìm kiếm những hoạt chất đặc hiệu hơn trong việc tiêu
diệt hoặc ức chế TBUT phát triển mà ít ảnh hưởng tới tế bào bình thường
khác [42].
Đến nay đã chính thức có 15 hoạt chất được sử dụng trên toàn thế giới
để điều trị một số bệnh ung thư [11], 29], [32], [40], [48] .
1.3.1 Các hoạt chất có khả năng chữa trị ung thư từ tự nhiên.
Bảng 1.1. Danh mục 15 hoạt chất nguồn gốc thực vật và sử dụng để điều trị ung thư

STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15

Tên hoạt chất
Betulinic acid
Camptothecin
Colchiceine amide
Colchicine
Demecolcine
Etoposide
Irintecan
lapachol
Monocrotaline
Podophyllotoxin
Taxol
Teniposide
Topotecan
Vinblastine
Vincristine

Từ loại thực vật
Betula alba
Camptotheca acuminata
Colchcum autumnale
Colchcum autumnale
Colchcum autumnale
Podophylum peltatum
Camptotheca acuminata
Tababuia sp.
Crotalaria sessiliflorra
Podophyllum peltatum
Taxus brevifolia
Podophyllum peltatum
Camptotheca acuminata
Catharanthus roseus
Catharanthus roseus

1.3.2 Các hoạt chất có khả năng phòng chống ung thư từ tự nhiên
Hiện nay, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rất nhiều hợp chất trong tự
nhiên có hoạt tính phòng chống ung thư cao ở điều kiện in vitro, in vivo đã


cho những kết quả khả quan khi được thử nghiệm tiền lâm sàng cũng như ở
mức lâm sàng trên cơ thể người như: Polyphenol của chè xanh, Piroxicam,
Oltipraz Vitamin B12, Folate v.v.[5], [47] và Pholysaccharide có trong mộc
nhĩ trắng và mộc nhĩ đen (báo sức khoẻ).
Đến nay, được biết có 12 hợp chất và nhóm hoạt chất được sử dụng để
PCUT trong những điều kiện nhất định đem lại một số hiệu quả khả quan
trong việc phòng chống và cứu chữa cho bệnh nhân ung thư [4], [33], [61],
sách phòng chống ung thư.

Một số hoạt chất PCUT đã và đang được sử dụng phổ biến:
Hinh
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

Tên hoạt chất
Vitamin A và các Retinoid khác
Vitamin C
Vitamin D
Vitamin E
Acid Folic
Hợp chất Selenium
Calcium
Beta-Carotene
Monoterpene
Tamoxifen
Finasteride
Oltipaz

Loại hợp chất
Vitamin
Vitamin
Vitamin
Vitamin
Vitamin
Chất khoáng (Mineral)
Chất khoáng (Mineral)
Hoá thực vật (Phytochemical)
Hoá thực vật (Phytochemical)
Hoá tổng hợp (Drug)
Hoá tổng hợp (Drug)
Hoá tổng hợp (Drug)

Trong luận văn tiến sĩ Đỗ thị Thảo - Viện công nghệ sinh học-Viện khoa
học và công nghệ Việt Nam đã phát hiện ra hoạt chất scuterbacbalatone tách
chiết từ cây Bán chi liên, chứng minh có khả năng ức chế và diệt tế bào ung
thư phát triển ở điều kiện in vitro nhưng không ảnh hưởng đến tế bào bình
thường khác. Trong tương lai sẽ tiến tục sàng lọc ở mức in vivo và kiểm


nghiệm lâm sàng ở động vật và người, từ đó phát triển thành thuốc phòng
ngừa và chữa trị bệnh ung thư là hoàn toàn có thể.
Bên cạnh việc chữa trị, phòng ngừa ung thư cũng đóng vai trò quan
trọng. Đa phần việc phòng chống nhiều bệnh nguy hiểm là thông qua vaccine.
Tuy nhiên, việc sử dụng vaccine phòng tất cả các loại ung thư cho đến nay là
chưa thể thực hiện được do đặc tính của căn bệnh ung thư là đa dạng, đa
nguyên nhân. Theo được biết, hiện nay đã chế xuất ra loại vacxin phòng
chống ung thư cổ tử cung cho phự nữ đã được bán rộng rãi trên thị trường .
Vì thế, việc tiếp tục hi vọng một liệu pháp vaccine cho các loại bệnh ung thư
trong tương lai đang là hướng nghiên cứu chung của các nhà nghiên cứu
khoa học và là hướng đi chính của thời đại.
1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TÌM KIẾM THUỐC PHÒNG CHỐNG VÀ
CHỮA TRỊ UNG THƯ TRONG NƯỚC

Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có thảm thực vật
phong phú và đa dạng. Theo số liệu thống kê của Tổ chức Bảo tồn Thiên
nhiên Thế giới (IUCN) thì Việt Nam có trên 12.000 loài thực vật và khoảng
4.000 loài được sử dụng trong dân gian làm thuốc chữa bệnh. Đây chính là
nguyên liệu quý giá cung cấp cho nền công nghiệp dược phẩm nước nhà. Từ
xa xưa ông cha ta đã tận dụng nguồn tài nguyên này để cứu chữa bệnh tật cho
nhân dân. Các kinh nghiện thực tế đã được đúc kết thành rất nhiều sách quý
và lưu truyền cho đến tận ngày nay. Với căn bệnh ung thư cững đã có nhiều
tài liệu ghi lại khả năng chữa trị u bướu của một số loại thực vật [8], [21].
Các nhà khoa học Việt Nam, bên cạnh việc phát huy những kinh nghiệm
của cha ông, đang gắng sức tìm hiểu khả năng thực sự trong việc chữa trị căn
bệnh ung thư ở mức độ phân tử. Đã có một số báo cáo khoa học công bố và
chứng minh khả năng chữa trị ung thư của một số loài thực vật như: Trinh nữ
hoàng cung [6], [23], cây Bổ béo đen [10], cây Diếp cá [20], cây Hà thủ o
trắng, cây Bí kỳ nam [50] và một số loại cây khác [49].


Tuy nhiên, còn nhiều loài thực vật được ghi nhận là có khả năng chữa
trị ung thư , chống viêm hay tăng cường hệ miễn dịch chống ung thư, đã và
đang tiếp tục được nghiên cứu sâu ở mức độ phân tử nhằm tìm ra hoạt chất có
hoạt tính PCUT. Đây là hướng đi tích cực, khả quan của ngành y tế với mục
tiêu bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.

1.4 Tổng quan về cây Bán chi liên (Scutellariabarbata D. Don).

hình ảnh cây Bán Chi Liên - Scutellaria barbata D. Don
1.4.1 Cây Bán chi liên và hoạt tính chữa trị ung thư.
Bán chi liên hay còn gọi là Thuẩn râu, cỏ Hàn tín lá hẹp ..... có tên khoa
học là Scutellariabarbata D. Don hay Scutellaria rivularis Wall thuộc chi
Hoàng cầm (Scutellaria), họ Bạc hà Lamiaceae [12]. Bán chi liên là một thảo
dược lưu niên được phân bố ở Hàn Quốc, phía nam Trung Quốc, và Việt
Nam. Cây được biết đến trong y học dân tộc Trung Quốc với tên Ban- ZhiLian và trong y học Hàn Quốc có tên gọi là Banjiryun. Còn ở Việt Nam, theo
GS Võ Văn Chi, Bán chi liên còn được gọi là Hoàng cầm râu , phân bố nhiều


ở các ruộng khô thuộc Hoà Bình, Hà Tây, Bắc Thái, Hà Giang, Hoà Bình, Hải
Dương, Ninh Bình, Thanh Hoá......Toàn cây được thu hái vào mùa xuân, hè
lúc cây ra hoa, rữa sạch, phơi khô, bó lại để dùng. Theo dân gian, cây có vị
đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc lợi tiểu, tiêu sưng, giảm đau,
chống khối u tân sinh, , áp xe phổi, viêm ruột thừa, viêm gan, xơ gan cổ
trướng [12], [9], [10], [11].
Trong y học Trung Quốc toà cây khô được dùng làm thuốc hạ sốt, lợi
tiểu, điều trị khối u tân sinh, ung thư phổi, ung thư gan, ung thư trực tràng....,
ngoài ra dùng cây tươi giã đắp, nấu nước rửa, trị mụn nhọt, sưng đau, viêm
vú, dùng thay ích mẫu chữa bệnh phụ khoa......Bán chi liên có trong đơn
thuốc chữa, ung thư phổi, ung thư gan, ung thư trực tràng....[12], [3],[6 ], [8 ]
[9].
Trong thời gian gần đây, các nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm tới
cây Bán chi liên của Trung Quốc vì khả năng chống ung thư của nó. Nhiều
nghiên cứu in vitro đã chứng minh rằng một số thành phần hoá học của cây
Bán chi liên có khả năng diệt và ức chế tế bào ung thư phát triển [14], có khả
năng tác động đến quá trình tự chết apoptosis của tế bào [17, 19], kích hoạt hệ
enzyme caspase [10], tác động và ức chế nhiều yếu tố liên quan quá trình tăng
sinh, phát triển và bất tử của tế bào ung thư như COX-2, extracellular signalregulated kinase (ERK)/Akt [17] v.v.
ở mức độ lâm sàng, loài thực vật này đã được sử dụng rất nhiều cho
chữa trị các bệnh ung thư đường tiêu hoá, ung thư gan, ung thư phổi, ung thư
vú, ung thư tử cung [8], [75], [51], [52]. Gần đây, một số nhà khoa học thuộc
trường đại học California, Hoa Kỳ thậm chí đã tiến hành thử nghiệm chữa trị
ung thư lâm sàng pha I cho 21 bệnh nhân ung thư bằng chất chiết thô bằng
nước của cây Bán chi liên. Thí nghiệm này đã cho những kết quả rất khả
quan. Chất chiết thô của cây Bán chi liên ức chế mạnh sự phát triển của khối
u trên các bệnh nhân ung thư vú, duy trì và thậm chí làm giảm kích thước


khối u (theo tiêu chuẩn RECIST) ở 16 bệnh nhân và cho thấy có độ an toàn
nhất định, hầu như không có tác dụng phụ [15].
Năm 2007, công ty dược phẩm Bionovo đã đăng ký một sáng chế phát triển
chế phẩm BZL 101 từ dịch chiết nước của cây Bán chi liên trong điều trị ung
thư, đặc biệt là ung thư vú. Theo các nhà nghiên cứu, hiệu quả của BZL 101
là ngăn chặn các tế tào ung thư phát triển ở pha G1 trong tru kỳ tế bào và
hướng những tế bào này đi đến quá trình tự chết (apoptosis) mà không ảnh
hưởng đến tế bào thường, do vậy ít khả năng gây tác dụng phụ. Đây thực sự
là phát hiện quan trọng và tạo động lực để phát triển Bán chi liên làm thuốc
hoá dự phòng ung thư, đặc biệt là bệnh ung thư phụ thuộc hocmon [28], [29],
[53].
Với mong muốn làm sáng tỏ tác dụng sinh học từ cây Bán chi liên, các
nhà khoa học trên thế giới đã tiến hành khảo sát thành phần hoá học tìm ra
hoạt chất đóng vai trò chính đối với công dụng của cây Bán chi liên là hợp
chất Flavonoid và các hợp chất diterpenlactone có khung neoclerodan như
scutebarbatine A, scuterivulactone C1, scutebarbatine G (1), 6,7-di-Onicotinoylscutebarbatine G (2), 6-O-nicotinoyl-7-O-acetylscutebarbatine G
(3), scutebarbatine H (4) and 7-O-nicotinoylscutebarbatine H hay như
pheophorbide v.v. [10 ], [11 ], [14], [27], [28]. Các hợp chất này đã được
chứng minh là có khả năng phòng chữa ung thư ở mức nhất định, ví dụ như
pheophorbide tác động đến quá trình tự chết của tế bào apoptosis [19],từ dịch
chiết thô của thân, lá cây Bán chi liên, Yoichi Sato và cộng sự đã phân lập và
xác định cấu trúc của hợp chất Flavonoid là Apigenin và Luteolin có hoạt
tính chống oxy hoá, chống dị ứng và kháng một số dòng ung thư ở người như
ung thư phổi, ung thư vú và ung thư gan Hep-G2 [30], [31]. Luteolin ức chế
sự sinh sản của tế bào ung thư LLC (Lewis Lung Carcinoma) [17]. Tiếp đó,
Chen LG và cộng sự trường đại học Quốc gia Đài loan đã phân lập được
Wogonin từ thảo dược này, kết quả cho thấy, Wogonin có khả năng chống ung
thư và điều tiết tác dụng kháng viêm thông qua việc kìm hãm hoạt đọng của


enzym Cyclooxygenase-2( COX-2) là enzym làm tiến triển quá trình ung thư
trong cơ thể.[14].
Năm 2006, Dai SI cùng cộng sự của trường Đại học Quảng tây TRung
quốc đã phân lập được 3 neo-clerodanes là barbatin A, barbatin C. Các chất
này thể hiện hoạt tính độc tế bào kháng lại các dòng tế bào gây ung thư ở
người là HONE-1 ( ung thư vòm họng) KB ( ung thư biểu bì miệng) và HT29 (ung thư thanh quản) với giá trị IC50 nằm tromg khoảng 3,5-8,1µM [77].
Cũng trong năm 2006, nhóm nghiên cứu của Sheng Jun Dai, trường Đại
học Quảng tây TRung quốc đã phân lập được thêm 5 neo-clerodane
diterpenoid alkloid là scutebarbatins B-F. Các chất này cũng thể hiện hoạt
tính độc tế bào kháng lại các dòng tế bào gây ung thư ở ngườilà HONE-1
( ung thư vòm họng) KB ( ung thư biểu bì miệng) và HT-29 (ung thư thanh
quản) với giá trị IC50 nằm trong khoảng 3,9-7,8µM [27], [28].
Năm 2007, nhóm nghiên cứu trên lập được thêm 9 alkloid mới là
scutebarbatins G, 6-7-di-O-nicotynoylscutebarbatin G, 6-nicotynoyl-7-Oacetyl scutebarbatins G, scutebarbatine H và 7-O-nicotynoylscutebarbatin H
và các scutebarbatins I-L, có hoạt tính chống lại các dòng tế bào gây ung thư
ở trên với giá trị IC50 nằm trong khoảng 3,5-8,5 µM [24], [26].
Năm 2008, Nguyễn Thu Hà- Viện khoa học và công nghệ Việt Nam đã
nghiên cứu và phân lập được 3 hoạt chất là: barbatine (C,D) và
Scutebarbatine A có khả năng ức chế sự phát triển hoặc diệt tế bào ung thư
qua phép thử độc tế bào với 04 dòng TBUT là ung thư biểu mô (KB), ung thư
vú (MCF-7), ung thư gan (Hep-G2), ung thư phổi (LU). Vì các TBUT là
những tế bào kém biệt hoá do sự phân chia quá nhanh chóng và diễn ra liên
tục. Chúng có khả năng vượt qua sự kiểm soát của hệ miễn dịch của cơ thể và
tăng cường xâm lấn vào các tổ chức sống lân cận. Vì vậy những chất có khả
năng phòng chống và điều trị ung thư là những chất được đánh giá có hoạt
tính gây độc cho TBUT, do đó có khả năng ức chế sự phát triển và diệt
TBUT. Kết quả cho thấy, chất barbatine C có khả năng gây độc cho tế bào


ung thư biểu mô -KB với giá trị IC 50 là 19,78 µM/ml, chất barbatine D có
hoạt tính độc trên 2 dòng tế bào là ung thư biểu mô-KB và ung thư gan HepG2 với giá trị IC50 là 28,32 µM/ml và 24,97 µM/ml, chất Scutebarbatine A có
hoạt tính độc với tế bào ung thư phổi với giá trị IC50 là 10,86 µM/ml.
Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu đã công bố về khả năng phòng chữa ung
thư của cây Bán chi liên đều tập trung vào chất chiết thô hoặc chỉ một số
phân đoạn hoá học nhất định như phân đoạn Chloroform v.v. [20].
Năm 2006, Đỗ thị Thảo - Viện công nghệ sinh học-Viện khoa học và
công nghệ Việt Nam đã phân lập được một số hợp chất từ cây Bán chi liên,
trong đó có một hoạt chất mới được đặt tên là Scutebarbalactone VN. Qua
khảo sát hoạt tính độc tế bào ở điều kiện in vitro đã chứng minh khả năng diệt
và ức chế của hoạt chất này trên nhiều dòng TBUT như: Dòng TBUT biểu
mô-KB, TBUT phổi LU, TBUT gan Hepa1c1c7, TBUT tiền liệt tuyến
LNCaP, TBUT máu cấp tính HL-60....v.v, hoạt chất này thể hiện hoạt tính rất
tốt với giá trị IC50 nằm trong khoảng từ 2,2 - 8,3 µM và thể hiện hoạt tính
mạnh nhất trên dòng tế bào ung thư vú (IC50 = 2,2 µ M), yếu nhất trên dòng
TBUT biểu mô KB (IC50 = 8,3µM), hoạt chất cũng có thể có tính độc tế bào
trên tế bào bình thường khi kiểm tra bằng tế bào gốc ESC (IC50 ≥20µM)
nhưng không đáng kể. Theo tác giã, Scutebarbalactone VN có tác dụng ức
chế TBUT là do nó ảnh hưởng tới hoạt động phiên mã của gien Oct4, Gien
Oct4 là gien mã hoá cho yếu tố điều hoà phiên mã và được xem là gien quan
trọng giám sát quá trình sinh sản và biệt hoá của tế bào gốc, cũng như đối với
TBUT. Ngoài ra hoạt chất này còn ức chế được hoạt động của enzym
aromatase (CYP19). Aromatase là enzym biến đổi androgen thành steroid
C18 estrogen vòng, bước quan trọng nhất trong quá trình tổng hợp hoocmon
estrogen.. Đối với một số loại ung thư như: ung thư vú, ung thư tiền liệt tuyến
thì hoạt động của enzym này sẽ là yếu tố kích thích khối ung thư phát triển.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×