Tải bản đầy đủ

Thế nào là nước ngầm

"Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm
tích bở rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới
bề mặt trái đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người".
Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành nước ngầm tầng mặt
và nước ngầm tầng sâu. Ðặc điểm chung của nước ngầm là khả năng di
chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm theo địa
hình. Nước ngầm tầng mặt thường không có lớp ngăn cách với địa hình bề
mặt. Do vậy, thành phần và mực nước biến đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng
thái của nước mặt. Loại nước ngầm tầng mặt rất dễ bị ô nhiễm. Nước
ngầm tầng sâu thường nằm trong lớp đất đá xốp được ngăn cách bên trên
và phía dưới bởi các lớp không thấm nước. Theo không gian phân bố, một
lớp nước ngầm tầng sâu thường có ba vùng chức năng:


Vùng thu nhận nước.



Vùng chuyển tải nước.




Vùng khai thác nước có áp.

Khoảng cách giữa vùng thu nhận và vùng khai thác nước thường khá xa,
từ vài chục đến vài trăm km. Các lỗ khoan nước ở vùng khai thác thường
có áp lực. Ðây là loại nước ngầm có chất lượng tốt và lưu lượng ổn định.
Trong các khu vực phát triển đá cacbonat thường tồn tại loại nước ngầm
caxtơ di chuyển theo các khe nứt caxtơ. Trong các dải cồn cát vùng ven
biển thường có các thấu kính nước ngọt nằm trên mực nước biển.
Nước ngầm là chỉ loại nước chảy trong mạch kín ở dưới đất do các kiến
tạo địa chất tạo nên, có thể là các túi nước liên thông nhau hoặc là mạch
nước chảy sát với tầng đá mẹ.
Hình thành[sửa]
Hình thành nước ngầm do nước trên bề mặt ngấm xuống, do không thể
ngấm qua tầng đá mẹ nên trên nó nước sẽ tập trung trên bề mặt, tùy từng
kiến tạo địa chất mà nó hình thành nên các hình dạng khác nhau, nước tập
trung nhiều sẽ bắt đầu di chuyển và liên kết với các khoang, túi nước khác,
dần dần hình thành mạch ngước ngầm lớn nhỏ, tuy nhiên việc hình thành
nước ngầm phụ thuộc vào lượng nước ngấm xuống và phụ thuộc
vào lượng mưa và khả năng trữ nước của đất.
Trong chuyên ngành còn sử dụng thuật ngữ nước dưới đất để chỉ khái
niệm gần như tương đương.


Nước ngầm có nguồn gốc nội sinh: Nước được sinh ra trong điều kiện
nhiệt độ cao và áp suất lớn của các hoạt động xâm nhập nông á núi lửa
trẻ. Nguồn nước này một phần được phun lên mặt đất khi núi lửa hoạt
động, phần còn lại được lưu giữ trong lòng đất tạo thành nước ngầm.
Chưa thể tính được trữ lượng của loại nước ngầm nguồn gốc nội sinh này,
nhưng nó giữ vai trò to lớn trong việc cung cấp nước thường xuyên cho
các sông suối từ các vùng núi cao và sẽ cung cấp nước sinh hoạt một
cách bền vững cho cư dân ở vùng núi cao, vùng trung du, hải đảo và sa
mạc bằng một tổ hợp tối ưu các phương pháp địa chất, địa mạo, địa vật lý
và khoan hoặc đào giếng để lấy nước ngầm một cách không khó
lắm[cần dẫn nguồn]. Tuy vậy, với các vùng cao nguyên đá vôi, còn đòi hỏi các
nguồn (núi lửa) phải đủ lớn để lấp nhét đầy các khe nứt và hang hốc của
đá vôi, đồng thời có nhiều nước ngầm.[1]. Với các quần đảo như Trường
Sa, Cát Bà, Bạch Long Vĩ,các đảo như: Hòn Mê, Côn Đảo,... có kích thước
đủ lớn, cần đặt vấn đề tìm, thăm dò và xây dựng các giếng khoan khai thác
nước ngầm nguồn gốc nội sinh. Lâu nay, do quan niệm nước ngầm do trên
mặt ngấm xuống thành các tầng chứa nước nên người ta tìm rất tốn tiền
mà không ra.[cần dẫn nguồn]
Đáy các đồng bằng cũng tồn tại các hoạt động núi lửa nên chúng ta vẫn
thu được nước nóng nguồn gốc nội sinh ở Thái Bình (Khu vực nước
khoáng Lavi)và Thanh Hóa (Vùng nước nóng xã Quảng Yên, huyện Quảng
Xương).[cần dẫn nguồn]



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×