Tải bản đầy đủ

MỘT số GIẢI PHAP NHẰM NANG CAO HIỆU QUẢ của HOẠT DỘNG THANH TRA

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Nguyễn Thị Minh Châu
Trường Đại học Ngân hàng Tp. HCM
Số điện thoại: 0988.436.689
Dẫn nhập:
Khủng hoảng kinh tế xảy ra năm 2008 đã làm cho không ít quốc gia trên thế giới nhìn
nhận lại hoạt động thanh tra giám sát hệ thống tài chính. Các quốc gia nhận ra rằng khi hệ
thống thanh tra giám sát thất bại trong việc điều tiết, giám sát hệ thống tài chính thì hậu
quả không chỉ là sự suy giảm kinh tế mà còn là khủng hoảng lòng tin và bất ổn xã hội –
đây là điều rất khó khôi phục trong một khoảng thời gian ngắn. Vì vậy, nhu cầu nâng cấp,
thậm chí thay đổi hệ thống thanh tra giám sát tài chính phù hợp hơn là đòi hỏi hết sức cấp
bách đối với các quốc gia. Một trong những vấn đề cần quan tâm đó chính là hoạt động
thanh tra, giám sát của ngân hàng trung ương.
Những dấu hiệu bất ổn trong nền kinh tế như tỷ lệ lạm phát cao, tốc độ tăng trưởng suy
giảm, tình hình nợ xấu cao… đang buộc Việt Nam phải nhìn nhận lại hệ thống thanh tra
giám sát tài chính của mình, mà trong đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang đóng một
vai trò quan trọng. Trong giới hạn bài viết của mình, dựa trên những thay đổi trong hoạt
động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước, tác giả tập trung phân tích những hạn
chế để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hoạt quả hoạt động thanh tra, giám
sát của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian tới.

I. MỘT SỐ THAY ĐỔI TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
Hiện nay, mô hình giám sát tài chính Việt Nam theo mô hình phân tán dựa trên cơ sở thể
chế. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước thực hiện thanh tra, giám sát hoạt động các TCTD,
Bộ Tài chính thực hiện giám sát hoạt động chứng khoán và Bảo hiểm (chịu sự giám sát
trực tiếp của Ủy Ban chứng khoán Nhà nước và Cục Bảo hiểm). Như vậy, Ngân hàng
Nhà nước không chỉ là người điều hành chính sách tiền tệ mà còn là cơ quan chịu trách
nhiệm giám sát, quản lý hoạt động của các tổ chức tín dụng nhằm bảo đảm cho việc phát
triển bền vững của các tổ chức tín dụng, trong đó có hệ thống ngân hàng thương mại.


Sơ đồ: Mô hình giám sát tài chính hiện nay của Việt Nam

Hoạt động thanh tra ngân hàng là hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước đối với
các đối tượng thanh tra ngân hàng trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân
hàng” (khoản 11 điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước 2010)
Với sự phát triển ngày càng nhanh chóng của thị trường trong những năm đầu của thế kỷ
21, hoạt động giám sát, thanh tra của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã có những
thay đổi như sau:
Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng
Được thành lập dựa trên cơ sở tổ chức lại 4 đơn vị trực thuộc Ngân hàng Nhà nước gồm
Thanh tra, Vụ các ngân hàng, Vụ các tổ chức tín dụng hợp tác và trung tâm phòng chống
rửa tiền. Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng ra đời năm 2009 được xem như là một
công cuộc cải tổ đáng kể của Ngân hàng Nhà nước nhằm tăng khả năng thanh tra, giám
sát hệ thống các TCTD. Theo quyết định số 83/2009/QD – TTg ngày 27 tháng 5 năm
2009 của Thủ tướng Chính phủ: “Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng là cơ quan
thường trực của NHNN thực hiện chức năng thanh tra hành chính, thanh tra chuyên
ngành và giám sát chuyên ngành về ngân hàng trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý
nhà nước của NHNN; tham mưu giúp Thống dốc NHNN quản lý nhà nước đối với các
TCTD, tổ chức tài chính quy mô nhỏ, hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; thực
hiện phòng chống rửa tiền theo quy định của Pháp luật”. Việc cơ cấu lại chức năng theo
hướng trên nhằm hạn chế những bất cập trong việc tách bạch giữa các khâu này, tạo ra


bức tranh toàn diện và sâu sắc hơn về từng NHTM, đảm bảo sự nhất quán và nâng cao
hiệu lực của hoạt động giám sát.
Khung pháp lý cho hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Khung pháp lý về thanh tra, giám sát ngân hàng ngày càng được hoàn thiện theo hướng
nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý, tăng cường cạnh tranh, bảo đảm các nguyên tắc
thị trường và phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc ban hành Luật NHNN, Luật các Tổ chức
tín dụng (TCTD), Luật Thanh tra đang thay thế dần các văn bản dưới luật, một số các văn
bản khác có liên quan như Luật phòng, chống rửa tiền, các quy định mới về tỷ lệ an toàn
hoạt động, quy định mới về phân loại tài sản, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro, quy
định về kiểm soát đặc biệt, quy định về tổ chức và hoạt động TCTD phi ngân hàng, mua
cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài… đã góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực công tác
giám sát ngân hàng, tạo điều kiện cho việc hình thành và kiện toàn mô hình tổ chức và
hoạt động thanh tra ngân hàng cho phù hợp với thực tiễn cũng như định rõ nhiệm vụ,
quyền hạn, quy trình, thủ tục và các chế tài về thanh tra ngân hàng.
Nội dung thanh tra, giám sát ngân hàng
Trước đây, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng mới chỉ dừng lại ở việc kiểm tra tính
tuân thủ của các ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động kiểm tra này không còn phù hợp với sự
phát triển của nền kinh tế nói chung và hoạt động tài chính – ngân hàng nói riêng. Vì vậy,
để theo kịp sự phát triển của thị trường, của hoạt động ngân hàng và thông lệ quốc tế, nội
dung thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đã bắt đầu xây dựng hệ thống giám sát
ngân hàng mang tính cảnh báo rủi ro cho hoạt động từng ngân hàng cũng như của cả hệ
thống ngân hàng. Các nội dung giám sát hiện nay không chỉ tập trung vào những chỉ tiêu
cơ bản như vốn tự có, giới hạn tín dụng, chất lượng tín dụng mà còn mở rộng ra các yếu
tố định tính như theo dõi diến biến cơ cấu tài sản nợ - tài sản có, việc đảm bảo khả năng
chi trả hay đánh giá tính thanh khoản của ngân hàng. Một số tỷ lệ bảo đảm an toàn trong
hoạt động ngân hàng cũng đã được tính toán dựa trên thông lệ quốc tế, đảm bảo tính
thống nhất trong quản lý vĩ mô, phân loại ngân hàng, đánh giá so sánh nhóm ngân hàng
cùng loại và toàn hệ thống ngân hàng. Việc áp dụng các tiêu chí đánh giá CAMELS
nhằm đưa ra các thang điểm cho các chỉ tiêu cụ thể trong quy định xếp loại ngân hàng
thương mại cổ phần được xem như là một bước tiến trong hoạt động thanh tra, giám sát
ngân hàng.
Cách thức tổ chức thanh tra, giám sát


Hoạt động ngân hàng với những đặc thù rủi ro riêng của nó, vì vậy, khác với hoạt động
thanh tra chuyên ngành khác, thanh tra chuyên ngành ngân hàng ngoài việc phải tiến
hành thanh tra tại chỗ còn phải thực hiện hoạt động giám sát từ xa. Đây là một hoạt động
có vai trò quan trọng trong việc củng cố chất lượng cho hoạt động thanh tra tại chỗ. Hoạt
động giám sát từ xa là công việc thường xuyên, nhằm cập nhật thông tin liên tục, hàng
ngày đối với từng tổ chức tín dụng để tiến hành phân tích, đánh giá rủi ro và xếp hạng tổ
chức tín dụng. Kết quả của hoạt động giám sát từ xa sẽ chỉ rõ đơn vị nào cần thanh tra tại
chỗ, trọng tâm thanh tra vào nội dung gì, thời gian nào cần thanh tra. Nói cách khác, hoạt
động giám sát từ xa giúp xây dựng kế hoạch thanh tra tại chỗ định kỳ hoặc đột xuất nhằm
thẩm tra và kiểm chứng thực tế hoạt động của từng ngân hàng cụ thể, cũng như phát hiện
những sai sót hay những nguy cơ trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Sự phối
hợp hoạt động giữa giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ thể hiện sự cải cách trong hoạt
động giám sát của NHNN theo các nguyên tắc giám sát của quốc tế. Điều này cơ bản đã
đem lại những kết quả khả quan trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng trong giai
đoạn vừa qua. Ví dụ như năm 2012, Ngân hàng Nhà nước đã xếp hạng các ngân hàng
thương mại theo 4 nhóm, làm cơ sở cấp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng nhằm hạn chế tình
trạng tăng trưởng tín dụng nóng, kiểm soát hoạt động của các ngân hàng yếu kém… Hay
nhờ có công tác thanh tra, giám sát mà Ngân hàng Nhà nước đã đánh giá thực trạng của
các tổ chức tín dụng từ đó có biện pháp cơ cấu lại phù hợp với mức độ yếu kém, rủi ro
của từng tổ chức tín dụng được thể hiện trong đề án tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.
Đồng thời, cũng đã bước đầu thực hiện được công tác cảnh báo sớm thể hiện qua một số
các chỉ thị nhằm yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn
như Chỉ thị số 02/2006/CT-NHNN ngày 23/5/2006 về việc tăng cường các biện pháp
phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các TCTD, Chỉ thị số
03/2007/CT-NHNN về việc kiểm soát quy mô, chất lượng tín dụng và cho vay đầu tư,
kinh doanh chứng khoán, công văn số 5137/NHNN-TT ngày 08/7/2010 gửi các tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán nhằm xử lý, ngăn chặn thanh toán cho cá độ quốc tế và
nhiều văn bản khác. Như vậy, thông qua hoạt động giám sát từ xa kết hợp với thanh tra
tại chỗ, Ngân hàng Nhà nước đã phát hiện, khắc phục và chấn chỉnh, xử lý nhiều vụ việc
tiêu cực, vi phạm pháp luật, yếu kém về tài chính, tổ chức, quản trị và hoạt động tại các
ngân hàng thương mại trong nước, từ đó nâng cao tính an toàn cho hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam.
II. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ
NƯỚC TRONG THỜI GIAN QUA


2.1 Kết quả đạt được từ hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước
Với sự ra đời của Cơ quan thanh tra, giám sát thuộc Ngân hàng Nhà nước và những thay
đổi trong việc hoàn thiện khung pháp lý, nội dung và cách thức thực hiện hoạt động thanh
tra, giám sát, Ngân hàng Nhà nước kiểm soát tốt hơn hoạt động của hệ thống ngân hàng
thương mại, sớm phát hiện ra những dấu hiệu sai phạm, những ngân hàng thương mại
hoạt động yếu kém để có những biện pháp xử lý thích hợp, làm lành mạnh hóa hệ thống
ngân hàng thương mại Việt Nam. Như vậy, xét về cơ bản, những thay đổi trong hoạt động
thanh tra, giám sát trong thời gian qua đã gặt hái được một số kết quả nhất định trong
việc đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng thương
mại nói riêng.
2.2 Hạn chế trong công tác thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước
Mặc dù đã có những thay đổi phù hợp với sự chuyển biến của thị trường, xu hướng của
thế giới nhưng công tác thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước vẫn còn nhiều bất
cập, chưa theo kịp sự phát triển, đa dạng hóa các hoạt động, công cụ tài chính cũng như
sự biến động của thị trường hiện nay. Điều này được thể hiện qua việc hệ thống ngân
hàng vẫn tồn tại hạn chế về chất lượng, hiệu quả, mức độ lành mạnh và năng lực cạnh
tranh, chẳng hạn vấn đề nợ xấu lớn, tập trung tín dụng quá mức, thanh khoản yếu, cạnh
tranh không lành mạnh, vi phạm pháp luật và chấp nhận rủi ro quá mức dẫn đến tổn
thất…Vậy thì hạn chế trong hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước nằm
ở điểm nào?
Sự phối hợp giữa các cơ quan giám sát tài chính đối với tổng thể hệ thống chưa có
hiệu quả cao:
Các ngân hàng thương mại của nước ta hiện nay đang có xu hướng phát triển thành tập
đoàn tài chính – ngân hàng với việc mở ra hàng loạt các công ty con hoạt động trong lĩnh
vực chứng khoán, bảo hiểm… Trong khi đó, với mô hình giám sát tài chính phân quyền
gồm các cơ quan giám sát độc lập như hiện nay sẽ dễ dẫn đến hiện tượng khó giám sát
các rủi ro chéo do thiếu sự phối hợp, liên thông với nhau giữa các cơ quan giám sát độc
lập này. Mặc dù đã có thêm sự ra đời của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, nhưng với
vị thế pháp lý còn hạn chế - chỉ đứng ở góc độ tư vấn như hiện nay thì việc trở thành
nhân tố kết nối giữa các cơ quan giám sát độc lập là điều khó khả thi. Bên cạnh đó, hoạt
động kết hợp giám sát giữa Việt Nam và các nước cũng còn hạn chế trong khi các tổ chức
tài chính ngày càng trở nên đa năng, đa quốc gia với các công cụ tài chính ngày càng
phong phú và phức tạp.


Việc thực hiện giám sát trên cơ sở rủi ro, giám sát an toàn vĩ mô và vi mô vẫn còn yếu
kém
Việc giám sát dựa trên rủi ro đã bắt đầu được triển khai, tuy nhiên chúng ta vẫn còn thiếu
khuyết các công cụ phục vụ cho quá trình giám sát an toàn vĩ mô và vi mô. Các mô hình
định lượng, dự báo kiểm định như EWS, ST, VaR cho cả hệ thống tài chính và cho từng
định chế tài chính hầu như chưa được chú trọng triển khai.
Các chỉ tiêu giám sát từ xa theo CAMELS cũng đã bắt đầu được áp dụng nhưng mới chỉ
dừng lại ở những chỉ tiêu mang tính chất định lượng. Những chỉ tiêu định lượng này
thường bị hạn chế bởi phải phụ thuộc vào thời gian báo cáo trong khi rủi ro, biến động có
thể diễn ra hàng ngày. Ngoài ra, việc áp dụng các chỉ tiêu giám sát này mới chỉ được áp
dụng cho các ngân hàng thương mại cổ phần, quỹ tín dụng nhân dân.
Hoạt động giám sát của NHNN vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được các yêu cầu trong
các nguyên tắc giám sát của Basel
Theo kết quả phân tích của TS. Hạ Thị Thiều Dao trong bài viết “Giám sát ngân hàng
theo Basel 2 và việc tuân thủ của Việt Nam”, ta thấy hoạt động thanh tra, giám sát của
Ngân hàng Nhà nước hiện nay mới chỉ “tuân thủ một phần” 21 nguyên tắc và những
nguyên tắc còn lại đều “chưa tuân thủ”. Về cơ bản, một số những nội dung quan trọng
như hoạt động giám sát đối với việc chuyển đổi quyền sở hữu của ngân hàng thương mại,
các cuộc sáp nhập lớn của các ngân hàng thương mại, tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn tối thiểu,
giới hạn tín dụng đối với khách hàng lớn, rủi ro thanh khoản và kiểm toán, kiểm soát nội
bộ của ngân hàng thương mại đều đã được đáp ứng một phần. Tuy nhiên, những nguyên
tắc liên quan đến việc giám sát khả năng quản trị các loại rủi ro vẫn chưa được triển khai
hoặc mới chỉ ở dạng bước đầu.
Vấn đề về phương tiện kỹ thuật và nguồn nhân lực
Vấn đề về phương tiện kỹ thuật và nguồn nhân lực vấn còn nhiều bất cập. Cụ thể một
trong những công cụ ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động thanh tra, giám sát là nguồn
thông tin cập nhật thì công nghệ thu thập, xử lý thông tin ở nước ta còn lạc hậu, thiếu
nhanh chóng và chính xác. Bên cạnh đó, chất lượng cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp
ứng được yêu cầu trong hoạt động thanh tra giám sát, ví dụ như chưa có khả năng sử
dụng các mô hình định lượng và kiểm tra tính hiệu quả của mô hình quản trị rủi ro của
các tổ chức tài chính…
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH
TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC ĐIỀU HÀNH
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.


Để nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước trong thời
gian tới, trên cơ sở những hạn chế đã phân tích, cần phải thực hiện các giải pháp sau:
Hoàn thiện hệ thống các cơ chế, chính sách quản lý và quy chế an toàn hoạt động
ngân hàng
Chính sách quản lý và quy chế an toàn hợp lý sẽ tạo ra một môi trường hoạt động ngân
hàng lành mạnh, tạo động lực khuyến khích các tổ chức tín dụng nâng cao năng lực quản
trị, đặc biệt là quản trị rủi ro và đề cao ý thức tuân thủ pháp luật. Vì vậy, trong thời gian
tới, để tăng tính bền vững cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng
thương mại Việt Nam, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống các cơ chế, chính sách quản lý,
quy chế an toàn hoạt động ngân hàng theo hướng áp dụng nguyên tắc Basel II và các
thông lệ quốc tế. Ví dụ như đưa thêm các chỉ tiêu định tính để khắc phục những nhược
điểm của việc phân tích các chỉ tiêu định lượng. Bên cạnh đó, cần có lộ trình phù hợp để
áp dụng những nguyên tắc của Basel vào việc giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng
thương mại.
Tăng cường thanh tra, giám sát rủi ro cùng với đánh giá tình hình chấp hành pháp
luật của các TCTD đi đôi với việc tăng cường chế tài xử lý vi phạm
Trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động, khả năng xảy ra rủi ro là khá cao như hiện
nay thì việc tăng cường thanh tra, giám sát rủi ro là điều cần thiết để xây dựng một hệ
thống ngân hàng phát triển bền vững, an toàn. Nội dung quan trọng của thanh tra, giám
sát rủi ro là xem xét, đánh giá mức độ rủi ro, khả năng chống đỡ với rủi ro của các tổ
chức tín dụng nói chung, ngân hàng thương mại nói riêng để có biện pháp ngăn chặn,
phòng ngừa và xử lý. Để thực hiện được nội dung này thì cần phải thực hiện được nội
dung ban hành các quy chế, quy định thống nhất về thanh tra, giám sát rủi ro.
Kết hợp với tăng cường thanh tra, giám sát rủi ro, cần phải đánh giá tình hình chấp hành
pháp luật của các tổ chức tín dụng để có biện pháp xử lý kịp thời khi phát hiện dấu hiệu
có vấn đề. Những chế tài và hình phạt xử lý vi phạm, nếu được thực hiện tốt sẽ là động
lực để các ngân hàng thương mại tự hoàn thiện, quản lý hoạt động của mình tốt hơn, từ
đó, nâng cao an toàn cho hệ thống ngân hàng thương mại.
Tăng cường giám sát an toàn vĩ mô và vi mô
Một trong những hạn chế của thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước là việc giám
sát an toàn vĩ mô, vi mô còn chưa hiệu quả. Ta có thể khắc phục vấn đề này thông qua hai
biện pháp gồm tăng cường kỷ luật thị trường và minh bạch hóa hoạt động ngân hàng. Với


một hệ thống ngân hàng phát triển nhanh về cả quy mô, chất lượng, sự đa dạng thì bản
thân một cơ quan thanh tra, giám sát sẽ không thể quản lý hết, do đó, sự tham gia giám
sát của thị trường đối với hoạt động ngân hàng là điều cần thiết. Các bên tham gia như
người gửi tiền, cổ đông, cộng đồng… vừa bảo đảm trách nhiệm của mình, tự bảo vệ lợi
ích của mình, đồng thời, phối hợp với cơ quan thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng.
Như vậy sẽ làm cho hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát được nâng cao hơn.
Sự phối hợp giữa các cơ quan thanh tra, giám sát có liên quan trong và ngoài nước
Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan thanh tra, giám sát có liên quan trong
nước và nước ngoài, đồng thời, kiện toàn mô hình thanh tra, giám sát ngân hàng theo
hướng nâng cao tính tập trung, thống nhất. Trong đó, sự phối hợp giữa các cơ quan thanh
tra, giám sát là điều hết sức cần thiết nhằm quản lý có hiệu quả, nhịp nhàng và tạo điều
kiện thuận lợi cho các bộ phận trên thị trường tài chính nói chung, hệ thống ngân hàng
thương mại nói riêng phát triển bền vững.
Đồng thời, cần phát triển hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng có cơ cấu tổ chức hợp lý
và có đủ năng lực, nguồn lực thực thi sứ mạng bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín
dụng. Đây là vấn đề cần được thực hiện thường xuyên để cho cơ quan quản lý có khả
năng thích nghi, vận hành có hiệu quả trong môi trường quản lý và đối tượng quản lý
luôn biến đổi, phát triển.
Ứng dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại, đồng thời, nâng cao số lượng và chất lượng
cán bộ thanh tra, giám sát ngân hàng
Như đã phân tích ở trên, hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước
hiện nay còn chưa cao là do phương tiện kỹ thuật còn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu
cầu của hoạt động thanh tra, giám sát. Vì vậy, trong thời gian tới, cần chú trọng đầu tư
vào các phương tiện kỹ thuật, đặc biệt là những phương tiện kỹ thuật giúp xây dựng cơ sở
thông tin đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời để tăng khả năng dự báo, giám sát và thanh tra
của Ngân hàng Nhà nước.
Một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát của
Ngân hàng Nhà nước là nguồn nhân lực. Cần chú trọng tăng cường số lượng và chất
lượng cán bộ thanh tra, giám sát ngân hàng vì đây là yếu tố then chốt quyết định chất
lượng, hiệu quả thanh tra, giám sát và tiến trình đổi mới công tác quản lý, giám sát ngân
hàng theo thông lệ, chuẩn mực quốc tế.


Như vậy, nhờ nhận thức được vai trò ngày càng quan trọng và có những thay đổi phù
hợp, hoạt động thanh tra, giám sát đang ngày càng phát huy vai trò của mình trong việc
giữ vững sự an toàn của thị trường tài chính – ngân hàng nói chung và hệ thống thương
mại nói riêng. Tuy nhiên, trong tình hình kinh tế vẫn còn nhiều biến động, những sai
phạm, rủi ro trong hoạt động ngân hàng ngày càng khó kiểm soát… thì Ngân hàng Nhà
nước cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh
tra giám sát như hoàn thiện hệ thống các cơ chế, chính sách quản lý và quy chế an toàn
hoạt động ngân hàng; tăng cường thanh tra, giám sát rủi ro; xem xét việc xử lý sau khi
phát hiện sai phạm; tăng cường sự liên kết với các ban bộ trong hệ thống thanh tra giám
sát của nước ta. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng cần nâng cấp cơ sở trang thiết bị
vật chất cũng như đào tạo, tuyển dụng những nhân viên có chất lượng để thực hiện tốt
hoạt động thanh tra, giám sát.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Võ Trí Thành & Lê Xuân Sang, “Giám sát hệ thống tài chính: chỉ tiêu và mô hình định
lượng”, NXB Trí thức, 2013
2. Nguyễn Hữu Nghĩa, “Nâng cao chất lượng quản lý, giám sát ngân hàng”
http://tinnhanhchungkhoan.vn/GL/N/DJDFAC/nang-cao-chat-luong-quan-ly-giamsat-ngan-hang.html
3. Ts. Trần Văn Hùng, “Tìm hiểu vài nét hoạt động giám sát tài chính ở việt nam hiện
nay”
http://www.gdtd.vn/channel/3023/201110/Tim-hieu-vai-net-hoat-dong-giam-sat-taichinh-o-viet-nam-hien-nay-1953857/
4. Ngân hàng Nhà nước, “Lựa chọn mô hình giám sát tài chính phù hợp cho Việt Nam”
http://anhchanpttc.wordpress.com/2011/11/14/l%E1%BB%B1a-ch%E1%BB
%8Dn-mo-hinh-giam-sat-tai-chinh-phu-h%E1%BB%A3p-cho-vi%E1%BB%87tnam/
5. TS. Hạ Thị Thiều Dao, “Giám sát ngân hàng theo Basel 2 và việc tuân thủ của Việt
Nam”, Tạp chí Ngân hàng (số 15/2010)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×