Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu một số thông số chức năng thị giác hai mắt ở trẻ em

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tật khúc xạ, rối loạn chức năng điều tiết; rối loạn chức năng thị giác hai
mắt là những rối loạn xảy ra với tỉ lệ cao ở trẻ em. Nghiên cứu của Scheiman
(1996) trên 2023 bệnh nhân từ 6 tháng đến 18 tuổi thấy bên cạnh tật khúc xạ
với tỉ lệ mắc cao nhất, thì tỉ lệ các bất thường về điều tiết và thị giác hai mắt
(có lác và không lác) cao gấp 9,7 lần so với các bệnh của nhãn cầu ở nhóm
tuổi từ 6 tháng đến 5 tuổi; cao gấp 8,5 lần so với các bệnh của nhãn cầu ở
nhóm tuổi từ 6 tuổi đến 18 tuổi [1]. Các rối loạn chức năng thị giác hai mắt
gây các triệu chứng tuy không ảnh hưởng trầm trọng đến giá trị thị lực nhưng
nó lại ảnh hưởng đến sự thoải mái của thị giác và đến chất lượng của cuộc
sống. Bình thường những đứa trẻ bị lệch mắt dễ được phát hiện hơn, còn
những đứa trẻ mặc dù có thị lực tốt (20/20) nhưng nó lại có vấn đề về nhìn
gần như đọc sách thì lại dễ bỏ qua không bị phát hiện. Và, những đứa trẻ này
không biết như thế nào để đi khám bệnh vì hiếm khi trẻ phàn nàn về vấn đề
này. Hầu hết mọi người không nhận ra là mắt của chúng ta là phần của bộ
não. Vì vậy nếu người nào đó có vấn đề về thần kinh cũng có thể ảnh hưởng
đến thị lực. Để có thể có thị lực nhìn xa (20/20) thì chỉ cần khoảng 15 kỹ năng
cần thiết để đọc, học và chức năng trong cuộc sống. Thực tế, có khoảng 35

vùng của bộ não liên quan toàn bộ hoặc một phần quá trình phân tích thông
tin. Ít nhất có khoảng 305 đường dẫn trong não tới 35 vùng này; và 70%
thông tin cảm thụ tới não là thị giác. Trong khi có tới ¼ đứa trẻ bình thường
có vấn đề khó khăn về đọc và học do không được chẩn đoán về vấn đề thị
giác. Các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ cao các đứa trẻ cần có dụng cụ trợ giúp
đặc biệt cho các vấn đề thị giác mà khi được điều chỉnh rồi sẽ tạo ra những
khác biệt rõ rệt trong cuộc sống của chúng. Vì vậy rất cần thiết để phát hiện


2

các rối loạn chức năng thị giác để cải thiện chất lượng học tập và sinh hoạt
của trẻ.
Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về thông số chức năng thị giác
(Morgan, 1944; Scobee và Green, 1948; Saladin và Sheedy, 1978; Wesson,
1982; Freier và Pickwell, 1983; Hayes et al., 1998; Scheiman et al., 2003) [2],
[3] và có một số nghiên cứu dành riêng trển đối tượng trẻ em như nghiên cứu
điểm cận qui tụ (Hayes et al., 1998; Chen et al., 2000) [3]; tỉ số qui tụ do điều
tiết/điều tiết (AC/A) (Mutti et al., 2000); thị lực lập thể; thông số về chức
năng thị giác ở trẻ em (R.Jiménez et al., 2004) [4]. Đồng thời cũng có nhiều
nghiên cứu về các rối loạn chức năng thị giác hai mắt như: tìm hiểu mối liên
quan giữa triệu chứng nhức mắt với các qui tụ và định thị saccade (Yuval et
al., 2010) [5]; nghiên cứu sự thay đổi trong 10 năm của qui tụ phù thị, lác ẩn,
điểm cận qui tụ ở trẻ em cận thị (Heather Anderson et al., 2011) [6]. Tuy có
rất nhiều nghiên cứu về vấn đề trên nhưng mỗi nghiên cứu sử dụng các
phương pháp đo khác nhau và cũng chưa có nhiều thống nhất trong tiêu chí
chẩn đoán để phân loại các rối loạn điều tiết và thị giác hai mắt (Macfarlane
et al., 1987; Wick, 1987; Scheiman và Wick, 2002) [7], [8]. Vì có tần suất rất
cao các bất thường về thị giác hai mắt ở trẻ em học đường, vì vậy theo Bailey
(1998) [9] nên có những chương trình khám sàng lọc gồm nhiều test để phát
hiện những bất thường trên. Hiệp hội Khúc xạ Hoa kỳ cho rằng nên ưu tiên có
phác đồ chẩn đoán và điều trị rối loạn điều tiết và thị giác hai mắt cho trẻ em.
Scheiman và Wick (2002) [8] chỉ ra rằng cần thiết phải biết các thông số bình
thường của các đánh giá chức năng thị lực khác nhau ở từng nhóm tuổi khác
nhau để giúp phân biệt một cá thể là bình thường hay bất thường [2], [3],
[10], [11]. Ở Việt Nam, Đ.K.Ánh (2009) có nghiên về đánh giá tỉ số qui tụ do điều
tiết / điều tiết (AC/A) ở trẻ em độ tuổi đi học [12].Tuy nhiên vẫn chưa có nhiều


3

nghiên cứu về các vấn đề này cũng như chưa có sự thống nhất các phương
pháp đo các chức năng thị giác. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu một số thông số chức năng thị giác hai mắt ở trẻ em”
Mắt là một máy ảnh sinh học. Chúng ta có thể “nhìn thấy” là từ não chứ
không phải là từ võng mạc.
Thị giác là khả năng nhận và diễn giải thông tin từ ánh sáng đi vào mắt.
Việc tri giác này còn được gọi là thị lực, sự nhìn. Những bộ phận khác nhau
cấu thành thị giác được xem như là một tổng thể như là hệ thị giác và được
tập trung nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau như tâm lý, khoa học
nhận thức, khoa học thần kinh và sinh học phân tử. Hệ thị giác cho phép con
người thu nhận và xử lý thông tin từ môi trường. Hành động nhìn bắt đầu từ
khi thấu kính của mắt điều chỉnh để thu được ảnh của cảnh vật xung quanh
vào một màng lưới nhạy sáng nằm sau mắt (võng mạc). Về bản chất, võng
mạc là một phần của tách biệt não bộ, hoạt động như là một máy biến đổi để
chuyển đổi mẫu ánh sáng thành các tín hiệu thần kinh. Võng mạc có các tế
bào nhạy với tác nhân kích thích là ánh sáng. Chúng phát hiện các quang tử
kích thích và đáp ứng bằng cách sinh ra các xung/tín hiệu thần kinh. Các tín
hiệu này được xử lý trong một cấu trúc thứ lớp gồm các phần khác nhau của
não bộ, từ võng mạc đến các nhân cong ở biên, đến các vỏ não sơ cấp và thứ
cấp. Vấn đề chính của thị giác là những gì mà con người thấy được không
phải chỉ là sự biến đổi của các kích thích ở võng mạc (tức là ảnh trên võng
mạc). Vì vậy, những người có quan tâm đến dạng tri giác này đã cố gắng giải
thích cách làm việc của tiến trình xử lý hình ảnh để tạo ra cái mà chúng ta
thực sự nhìn thấy.
Các loại thị giác: + Thị giác một mắt (monocular): thị giác được nhìn
bởi một mắt, + Thị giác bi-ocular: không có sự phối hợp giữa hai mắt + Thị


4

giác hai mắt (Binocular): thị giác tạo ra bởi sự phối hợp của hai mắt. Thị giác
một mắt là thị lực trong đó cả hai mắt được sử dụng riêng biệt. Bằng cách sử
dụng mắt theo cách này, ngược lại bằng tầm nhìn hai mắt , trường nhìn được
tăng lên, trong khi nhận thức về chiều sâu là giới hạn. Đôi mắt của một con
vật có thị lực một mắt thường nằm ở hai bên trái của đầu thú, cho phép nó
nhìn thấy hai vật cùng một lúc. Từ monocular xuất phát từ gốc Hy
Lạp , mono cho một, và gốc La tinh , mắt cho mắt. Trong sinh học , thị giác
hai mắt là một loại thị lực, trong đó một con vật có hai mắt có thể nhận ra
một hình ảnh ba chiều duy nhất của môi trường xung quanh.
1. Sinh lý thị giác hai mắt
1.1 Định nghĩa thị giác hai mắt
Định nghĩa thị giác hai mắt là tình trạng hai mắt được nhìn đồng thời khi
một cá thể nhìn vào một vật. Sự phối hợp nhìn của cả hai mắt để tạo một hình
ảnh đơn duy nhất.
Vai trò của thị giác hai mắt là tạo cho chúng ta cảm giác nhìn. Khi nhìn
một vật, mỗi mắt sẽ nhận một hình ảnh riêng, nhưng nhìn với hai mắt thì hai
ảnh đó chập thành ảnh thứ ba với đặc tính thấy cả chiều sâu và chiều nổi, đó
là thị giác hai mắt. Như vậy ưu điểm của thị giác hai mắt cho: hình nổi, tổng
hợp của thị giác hai mắt (sắc nét, rõ ràng và tăng độ nhạy cảm), thị trường
rộng hơn, mắt để dành (spare eye) [1].
1.2. Cơ chế của phát triển thị giác hai mắt
Cơ chế của phát triển thị giác hai mắt gồm:
+ Cơ chế vận động: phát triển thần kinh cơ chính xác để trục thị giác
được hướng đến vật tiêu và để chồng (overlap) thị trường, liên quan đến
việc duy trì hai mắt ở vị trí chính xác trong mối liên quan giữa lúc nghỉ và
vận động.


5

+ Cơ chế cảm thụ: hình ảnh hai mắt bằng nhau về kích thước và độ rõ
nét, vùng tương ứng võng mạc để mắt có thể nhìn thấy một hình, đường dẫn
truyền thị giác bình thường, liên quan đến hệ thống thị giác và các điểm nhận
cảm của các cơ ngoại nhãn.
+ Cơ chế trung tâm: khả năng vỏ não thúc đẩy để tạo thành thị giác,
điều khiển các hoạt động của phù thị (hiện tượng cảm thụ) và điều khiển vỏ
não của các vận động nhãn cầu (hiện tượng vận động).
Cơ chế cảm thụ phụ thuộc: giá trị thị lực của receptor võng mạc của mỗi
mắt, tương ứng võng mạc hai mắt bình thường, phần nữa bắt chéo của thần
kinh thị giác tại giao thoa thị giác và đường dẫn truyền thị giác, điểm tiếp
nhận từ các cơ ngoại nhãn.
Yếu tố giá trị thị lực của mỗi mắt phụ thuộc vào : + trung tâm nhìn
(hoàng điểm) và các môi trường trong suốt (giác mạc, thủy dịch, thủy tinh thể,
dịch kính). + Chênh lệch khúc xạ của hai mắt (chênh lệch hình ảnh võng mạc
không quá lớn để ngăn ngừa phù thị, chêch lệch khúc xạ (anisekonia).
Tương ứng võng mạc bình thường
Giao thoa thị giác: cấu trúc đầu tiên đóng góp cho thị giác hai mắt, phần
bắt chéo một phần của giao thoa có vai trò định thị (project) vào cùng một vị
trí của vỏ não. Nó phụ thuộc vào phần nữa bắt chéo bởi vì nó làm cho các sợi
thần kinh từ vùng võng mạc tương ứng của hai mắt sẽ kết hợp với các sợi của
mắt kia để hợp nhất tại vùng thị giác của võ não vùng chẩm.
Các cơ ngoại nhãn cung cấp cho não các thông tin cảm thụ tự nhiên.
Cơ chế vận động: duy trì một vị trí chính xác trong mối quan hệ giữa
nghỉ ngơi và hoạt động. Phụ thuộc vào + Yếu tố giải phẫu: xương hốc mắt/
các thành phần bên trong hốc mắt. + Yếu tố sinh lý: phản xạ tư thế (Postural


6

reflexes), phản xạ định thị (Fixation Reflexes), phản xạ đồng động (Kinetic
Reflexes).
Phản xạ tư thế: là phản xạ duy trì hai mắt ở một vị trí tương đối so với
nhãn cầu sao cho trục thị giác được giữ cân bằng với mắt kia cho dù có các
vận động của đầu tương đối so với cơ thể hoặc vận động của cơ thể so với
không gian khi không có bất kỳ kích thích thị giác nào. Đây là phản xạ không
điều kiện. Có hai loại phản xạ: Phản xạ tư thế tĩnh: thay đổi vị trí của đầu so
với cơ thể. Được điều khiển một phần bởi tai trong: túi bầu dục (utricle) và túi
nhỏ (saccule) và các thông tin cảm nhận từ cơ cổ. Ví dụ phản xạ nghiên đầu
hay “ hiện tượng đầu búp bê”. Phản xạ cân bằng động: thay đổi vị trí của đầu
so với không gian, chịu trách nhiệm cho việc tăng hoặc giảm tốc độ. Được
điều khiển bởi ống bán khuyên.
Phản xạ định thị: là phản xạ duy trì hai mắt ở một vị trí tương đối so với
nhãn cầu sao cho trục thị giác được giữ cân bằng với mắt kia cho dù có các
vận động của đầu tương đối so với cơ thể hoặc vận động của cơ thể so với
không gian khi có kích thích thị giác lên đến võ não đi theo đường thần kinh
hướng tâm. Đây là phản xạ có điều kiện. Có các loại phản xạ định thị: phản
xạ định thị là khả năng của mỗi mắt định thị vào một vật tiêu xác định nào đó;
phản xạ tái định thị: có tái định thị bị động: khả năng duy trì định thị vào vật
tiêu đang chuyển động và phản xạ định thị chủ động: thay đổi định thị từ vật
tiêu này sang vật tiêu khác; phản xạ định thị - liên vận (Conjugate – fixation
reflex): là phản xạ định thị cho cả hai mắt tại cùng một thời điểm trong suốt
quá trình của hoạt động liên vận, phát triển vào tháng thứ 6; phản xạ định thị
qui tụ (Vergence fixation) hay phản xạ không liên vận (Disjunctive): phản xạ
định thị cho cả hai mắt tại cùng một thời điểm trong suốt quá trình của hoạt
động không liên vận. Phản xạ này phát triển muộn hơn phản xạ liên vận
nhưng thường phát triển đầy đủ vào tháng thứ 6; phản xạ phù thị - điều chỉnh


7

(corrective-fusion): sự phối hợp giữa phản xạ liên vận và không liên vận giúp
mắt có được chức năng thị giác hai mắt trong điều kiện căng thẳng. Chức
năng này phát triển từ lúc 1 tuổi đến 5 tuổi thì phát triển đầy đủ.
Phản xạ đồng động: duy trì chính xác vị trí của hai mắt so với nhãn cầu
do sự điều khiển của mối quan hệ điều tiết – qui tụ.
Cơ chế trung tâm: phối hợp điều khiển các hoạt động của hợp thị (hiện
tượng cảm thụ) và điều khiển vỏ não của các vận động nhãn cầu (hiện tượng
vận động).
Yếu tố hợp thị: chức năng của vỏ não là nhận một tín hiệu thần kinh của
một vật tiêu mặc dù thực tế là vật tiêu này được nhìn tách biệt bởi hai mắt.
Hai nữa hình ảnh này được xây dựng trên hai nữa tách biệt nhau theo chiều
đứng và ghép vào nhau
Yếu tố điều khiển vận động của nhãn cầu: trung tâm của vùng trán và
vùng chẩm của bán cầu đại não điều khiển trung tâm trung gian và nhân sọ
liên quan cuối cùng đến đầu ra tác động đến các cơ ngoại nhãn [13],[14],[15],
[16].
1.3. Điều kiện cần thiết để phát triển thị giác hai mắt
Thị giác hai mắt qua hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất hai mắt phải
truyền lên não ở mỗi mắt một hình ảnh chính xác của vật, giai đoạn thứ hai võ
não nhận hai xung động thần kinh xuất phát từ hai mắt, hợp nhất hai xung
động thần kinh và khởi thảo nhận thức một ảnh duy nhất hoàn chỉnh. Giai
đoạn thứ nhất này cần phải có những yếu tố sau đây:
+ Sự toàn vẹn về giải phẫu học và quang học của hai nhãn cầu để cho
các ảnh được tạo ra giống nhau, bằng nhau.
+ Có thị trường hai mắt: vật tiêu phải được hai mắt nhìn cùng lúc.


8

+ Tương ứng võng mạc bình thường: cả hai võng mạc và những thành
phần thần kinh xuất phát từ võng mạc phải hoạt động hài hoà.
+ Cơ chế vận nhãn phải bình thường: cả hai mắt phải được hướng về vật
tiêu dễ dàng.
+ Đường dẫn truyền thị giác và trung khu thị giác phải hoạt động bình
thường.
Giai đoạn hai vỏ não nhận hai xung động thần kinh xuất phát từ hai mắt
là khởi đầu giai đoạn thứ nhì của cơ chế thị giác hai mắt, nghĩa là hợp nhất hai
xung động thần kinh và khởi thảo một nhận thức duy nhất chung cuộc.
Giai đoạn diễn ra ở vỏ não: sau khi hai hình của vật tiêu được tạo ra ở
mắt, động hình ở vỏ não sẽ hoà nhập lại để đưa ra nhận thức tâm thần thành
một ảnh duy nhất theo 3 chiều của vật trong không gian.
Khi hai hình ảnh hợp nhất có thể xảy ra 3 trường hợp:
- Hai hình hoàn toàn giống nhau (kích thước, màu sắc, cường độ ánh
sáng): kết quả cho một hình thứ 3 giống hình 1 và hình thứ 2, không thay đổi
về cường độ ánh sáng.
- Hai hình khác nhau nhẹ: kết quả là hình ảnh hợp nhất trung gian giữa 2
hình của mắt và có không gian ba chiều (hiện tượng phù thị).
- Hai hình khác nhau hoàn toàn: não không thể hợp nhất 2 hình. Khi đó
sẽ có 2 trường hợp xảy ra:
+ Loại bỏ hẳn một hình (hiện tượng trung hoà - tạo mắt ưu thế).
+ Nhận lần lượt một trong hai hình khi thì mắt phải khi thì mắt trái (có
sự cạnh tranh võng mạc.


9

1.4. Các giai đoạn phát triển quan trọng thị giác hai mắt
Thị giác hai mắt phát triển qua các cột mốc chính sau: 2-3 tuần:
nghiêng đầu để định thị vật tiêu; 4-5 tuần: duy trì định thị một mắt với các
vật tiêu to và gần hơn; 3 tháng: phù thị hai mắt (binocular fusion); 3-6
tháng: thị lực nổi; 6 tháng: thị lực hình nổi là 60 cung phút; sự phát triển
của đường đồng cảm (horopter) và vergence cũng bị ảnh hưởng mạnh mẻ
bởi sự thay đổi của kích thước nhãn cầu và vị trí nhãn cầu trong thời kì trẻ
em (infancy) 1 tuổi: vận động phù thị được thiết lập ổn định; 2-3 tuổi: đạt
tới mức thị lực của người lớn.
1.5. Sinh lý học thần kinh của thị giác hai mắt
Giao thoa thị giác: cấu trúc đầu tiên
đóng góp cho thị giác hai mắt, phần bắt
chéo một phần của giao thoa có vai trò
định thị (project) vào cùng một vị trí của
vỏ não. Nó phụ thuộc vào phần nữa bắt
chéo bởi vì nó làm cho các sợi thần kinh
từ vùng võng mạc tương ứng của hai
mắt sẽ kết hợp với các sợi của mắt kia
để hợp nhất tại vùng thị giác của võ não
vùng chẩm. Theo 2 con đường thần kinh
là: Parvocellular và Magnocellular. Các sợi từ các điểm võng mạc tương ứng
(võng mạc phía thái dương mắt này và võng mạc phía mũi mắt kia) đến cùng
một ống thị giác và dừng tại thể gối ngoài. Sau đó từ tia thị đến vùng sọc của
võ não thị giác tại thùy chẩm.

Thuyết sinh lý thần kinh của Thị giác hai mắt và thị lực nổi

Hình 1.1: Sinh lý thần kinh của
thị giác hai mắt


10

Thuyết tương ứng võng mạc đã được xây dựng trên bằng chứng về dữ liệu
tâm – vật lý học. Các bằng chứng về sinh lý cũng đã xuất hiện trong tác phẩm
của Hubel và Weisel. Các tác giả này cho chúng ta thấy các kích thích ánh
sáng từ võng mạc được đi đến võ não thị giác được xác định và mã hóa như
thế nào. Tròn nghiên cứu vi điện tử của đáp ứng đơn tế bào trong thể sọc của
vỏ não mèo, người ta thấy rằng khoảng 80% noron có thể được điều khiển từ
hai mắt. Tuy nhiên, chỉ có 25% của những tế bào được điều khiển hai mắt
được kích thích đều nhau từ mỗi mắt; 75% ảnh hưởng theo cấp độ từ mắt phải
hoặc mắt trái, 10% còn lại được điều khiển duy nhất từ một mắt phải hoặc
trái. Các tế bào được điều khiển bởi kích thích của hai mắt có trường tiếp
nhận gần bằng nhau về kích thước và có vị trí tương đồng trong thị trường.
Trường tiếp nhận của một noron thị giác được định nghĩa là phần của thị
trường mà có thể ảnh hưởng đến phần đi ra của tế bào đó. Hoạt động của hầu
hết các noron của dải sọc là tối đa với vận động của một tia sáng ở trước mắt
khi tia sáng có một hướng đặc biệt và hướng ưu tiên của vận động. Các thử
nghiệm tương tự ở khỉ cũng cho kết quả tương tự. Kết quả này cho thấy vùng
vỏ não dễ bị tổn thương khi gây thử nghiệm trên lâm sàng bệnh như lác,
chênh lệch khúc xạ, giảm thị lực. Các nghiên cứu cho thấy nhận thức chiều
sâu của thị giác hai mắt nằm ở vùng vỏ não 18 trên khỉ miền nhiệt đới.
Lý thuyết về thị giác hai mắt
Lịch sử nghiên cứu: hầu hết các thuật ngữ được dùng ngày hôm nay đã
được giới thiệu từ thế kỷ 19. Johannes Mu’’ller, Hermann von Helmholtz,
Ewald Hering được xem là cha đẻ của ngành Sinh lý học thị giác hiện đại.
Các qui luật cơ bản về thị giác hai mắt và định khu không gian đã được các
tác giả tìm ra từ rất lâu mà từ đó các hiểu biết về lác và các triệu chứng của nó
cũng được hiểu dựa trên cơ sở của các lý luận này.


11

Lý thuyết về Thị giác hai mắt: lý thuyết cũ gồm có: Thuyết thay thế của
thị giác hai mắt, thuyết dự định của thị giác hai mắt (Projection theory of
Binocular vision), thuyết vận động, thuyết isomorphism, thuyết sinh lý thần
kinh, thuyết võng mạc tương ứng và phân ly (được chấp nhận rộng rãi nhất).
Thuyết Tương ứng võng mạc và phân ly: các kích thích đồng thời của
các điểm võng mạc tương ứng bởi một vật tiêu chuyển thành ấn tượng thị
giác không có chất lượng độ sâu. Sự kích thích đồng thời bởi hai điểm
khác nhau về đặc tính dẫn đến sự cạnh tranh thị giác hai mắt. Song thị xảy
ra khi các yếu tố khác nhau được kích thích bởi một vật tiêu. – Thị giác
đơn hai mắt có hình nổi là kết quả của sự phân biệt theo chiều ngang xảy ra
trong vùng Panum [16].
1.6. Hướng thị giác (visual direction)
Hướng thị giác là một đường nối giữa vật tiêu và hình ảnh trên võng mạc.
Mỗi điểm võng mạc có một hướng thị giác riêng, khác biệt với hướng của các
điểm khác. Hướng thị giác chính là hướng của trung tâm hoàng điểm, còn gọi
là hướng “thẳng đằng trước” (hay còn gọi hướng qui tắc), hướng thứ phát là
hướng của các điểm võng mạc khác [3].


12

Hình 1.2: Hướng thị giác
1.7. Tương ứng võng mạc
Muốn có sự hợp nhất hai hình ảnh của mỗi mắt thì phải có một tương quan
sinh lý giữa hai võng mạc, được gọi là tương ứng võng mạc. Điểm tương ứng
võng mạc: các điểm võng mạc của hai mắt sẽ có cùng hướng thị giác chủ quan.
Ví dụ: hoàng điểm của hai mắt, điểm võng mạc thái dương của mắt này với điểm
mũi võng mạc mắt kia và ngược lại. Đó là hai điểm võng mạc tương ứng nhau.
Các điểm võng mạc còn lại không tương ứng. Vì vậy hai ảnh tạo nên một cặp
điểm tương ứng võng mạc, được khu trú trong cùng một hướng. Nếu hai ảnh này
xuất phát từ cùng một vật, thì vật này được hai mắt nhìn thấy thành một hình.
Trái lại nếu hai ảnh tạo ra trên hai điểm võng mạc không tương ứng với nhau,
được khu trú trong hai hướng khác nhau thì dù hai ảnh này từ cùng một vật hoặc
hai vật khác nhau mắt đều nhìn thấy hai hình. Đặc điểm nổi bậc của tương ứng
võng mạc: các điểm võng mạc tương ứng là những yếu tố cơ bản của hai võng
mạc để tạo thị giác hai mắt; thị giác đơn là điểm nổi bậc của tương ứng võng
mạc. Tất cả các hướng thị giác chủ quan sẽ cắt nhau tại một điểm với hướng thị
giác cơ bản và sự nhìn thấy chung của cả hai mắt được nhìn vào một mắt tưởng
tượng trung tâm thứ ba [16].


13

aL và aR là các điểm tương ứng võng mạc
bL và bR là các điểm tương ứng võng mạc

Hình 1.3: Điểm tương ứng võng mạc

Hình 1.4: Mắt tưởng tượng thứ 3

1.8. Đường đồng cảm
Đường đồng cảm (Horopter ): Khái niệm đường đồng cảm là một thuật
ngữ rất cũ được giới thiệu bởi Aguilonius vào năm 1613 trong quyển sách
Quang học của ông mặc dù lý thuyết cơ bản về đường đồng cảm đã được
nhắc từ thời Ptolemy. Trong ứng dụng hiện đại đường đồng cảm được định
nghĩa là quĩ tích các điểm vật tiêu mà hình ảnh của nó nằm trên các điểm
võng mạc tương ứng ở một khoảng cách định thị nhất định. Theo cách tiếp
cận một cách toán học của Helmholtz, xác định toàn bộ mặt phẳng của đường
đồng cảm thì người ta tổng hợp cả các yếu tố tương ứng võng mạc với các
vật định thị cả theo chiều thẳng đứng. Trong mục đích này, chúng tôi chỉ quan
tâm đến sự phân bố theo chiều ngang của các điểm tương ứng võng mạc và
xem đường đồng cảm thẳng đứng. đường cong đường ngang của thị lực
(horizon of vision); các điểm vật tiêu nằm trên đường đồng cảm thì được nhìn


14

thấy một hình; các điểm nằm ngoài đường đồng cảm sẽ được nhìn thấy hai
hình; đặc điểm của đường đồng cảm là mặt phẳng hai chiều, với hình dạng
mặt phẳng song song với mặt phẳng trán: đường cong theo chiều dọc [3].

Hình 1.5: Đường đồng cảm. Các vật tiêu nằm trên đường đồng cảm cho
hình ảnh trên các điểm võng mạc tương ứng và được thấy một hình
Đường đồng cảm lý thuyết: đường cong Veith-Muller; nếu các điểm
võng mạc tương ứng có khoảng cách ngang đồng đều từ hoàng điểm của mỗi
mắt; hình dạng của đường đồng cảm là đường tròn đi qua tâm xoay của hai
mắt và điểm định thị.
Đường đồng cảm theo kinh nghiệm (Empirical): Hering và Hilliebrand
chỉ ra rằng đường cong Vieth-Mu’’ller không mô tả hết đường đồng cảm theo
chiều dọc. Đường đồng cảm kinh nghiệm được mô tả: phẳng hơn đường đồng
cảm lý thuyết; đóng góp vào các điểm tương ứng võng mạc không cùng với
phần võng mạc mũi và thái dương; hình dạng thay đổi theo từng người. Sự


15

khác nhau giữa hai đường đồng cảm này đóng góp vào sự giá trị thay đổi của
môi trường quang học.

Hình 1.6: Đường đồng cảm Veith Muller và đường đồng cảm kinh
nghiệm

1.9. Vùng và khoảng không hợp thị (fusion) Panum:
Trên thực tế một điểm võng mạc của một mắt không chỉ tương ứng với
một điểm mà là một vùng võng mạc của mắt bên kia. Vùng Panum là vùng
võng mạc xung quanh các điểm võng mạc tương ứng mà trong đó thị giác hai
mắt được duy trì. Khoảng không Panum: khoảng hẹp xung quanh đường đồng
cảm mà trong đó cá thể cố gắng để có thị giác hai mắt. Vì vậy các vật tiêu
nằm hơi ngoài đường đồng cảm vẫn có thể duy trì được hình ảnh đơn thị, cá
thể kích thích các điểm không tương ứng võng mạc nhẹ. Kích thước của vùng
Panum: tăng theo độ lệch tâm của võng mạc: tại hoàng điểm là 6-10 phút
cung, lệch tâm 120 là 30-40 phút cung [3],[4].


16

Hình 1.7: Vùng hợp thị Panum
1.10. Song thị sinh lý
Tất cả các điểm vật tiêu nằm trên đường đồng cảm (horopter) kích thích
các điểm võng mạc tương ứng. Với định nghĩa này thì tất cả các điểm nằm
trên đường đồng cảm được thấy một hình. Vì vậy các điểm nằm không nằm
trên đường đồng cảm (ngoài vùng hợp thị Pannum) sẽ bị thấy hai hình. Hiện
tượng song thị gây ra do các điểm nằm ngoài đường đồng đẳng được gọi là
song thị sinh lý. Song thị sinh lý có thể xảy ra trên người có thị giác hai mắt
hình thường. Cầm một cây bút chì ở khoảng cách đọc sách trước đầu theo mặt
phẳng giữa, và chọn một vật tiêu cách biệt trên đường nhìn với cây bút. Nếu
nhìn vật tiêu ở xa hơn, thì bút chì sẽ bị nhìn thấy hai hình, nhắm luân phiên
từng mắt một, thì hình ảnh đôi phía đối diện của bút chhif sẽ bị biến mất, bởi
vì, hình ảnh ở bên trái sẽ bị biến mất nếu nhắm mắt phải và hình ảnh phải bên
phải sẽ biến mất nếu nhắm mắt trái. Các loại: A. song thị chéo
(Heteronymous): sự phân biệt ngang qua thái dương. Khi định thị vật tiêu ở
xa, thì vật ở gần được thấy hai hình chéo nhau. Song thị chéo được giải thích


17

là do các vật ở gần được nhìn về phía (chéo) về phía thái dương so với hướng
chính là hoàng điểm ( hoặc với điểm tương ứng trong thị trường chu biên nếu
vật tiêu gần hơn được nằm ở chu biên của thị trường) B. song thị không chéo
(homonymous): sự khác biệt (không bắt chéo) ở phía mũi. Bây giờ nếu định
thị hai mắt vào cây bút chì lúc này bút chì sẽ được nhìn thấy một hình nhưng
vật tiêu ở xa sẽ bị nhìn thấy hai hình. Lúc này cũng nhắm từng mắt, thì hình
ảnh song thị cùng bên sẽ bị biến mất. Hiện tượng song thị không bắt chéo xảy
ra do hình ảnh vật tiêu ở xa được nằm về phía mũi (không bắt chéo) [3],[4].

Hình 1.8: Hiện tượng song thị
sinh lý

Hình 1.9: A: song thị bắt chéo B:
song thị không bắt chéo

1.11. Sự khác biệt định thị (Fixation Disparity)


18

Đó là sự thay đổi hình ảnh nhỏ, hiếm khi đạt đến vài phút cung của góc,
xảy ra trong khoảng không Pannum mà trong đó hợp thị vẫn được duy trì. Do
sự xuất hiện của vùng hợp thị Pannum. Sự đa dạng sinh lý trong sự thay đổi
hình ảnh võng mạc của các điểm võng mạc tương ứng: vẫn cho hợp thị và
thay đổi hình ảnh của cả hai mắt: thay đổi võng mạc.

Hình 1.10: Sự khác biệt định thị

1.12. Các bậc của thị giác hai mắt
Các bậc của thị giác hai mắt: phân loại của Worth. 3 bậc: đồng thị, hợp
thị, phù thị.
Bậc 1: Đồng thị (simultaneous perception) là khả năng thấy cùng lúc
hai ảnh khác nhau hoàn toàn, mỗi ảnh được tạo trên mỗi võng mạc. Đồng thị
là một đòi hỏi cần thiết, rất căn bản của thị giác hai mắt. Đồng thị xảy ra khi
các tín hiệu được truyền vào hai mắt đến võ não được nhận đồng thời cùng
một lúc; bao gồm cả khả năng nhìn thấy hai vật khác nhau cùng một lúc.


19

Hình 2.1: Đồng thị

Bậc 2: Hợp thị (Fusion) là khả năng hai mắt nhìn thấy hai hình giống
nhau ngoại trừ một vài chi tiết thay đổi, mỗi hình được tạo trên mỗi võng mạc
và nhập chúng thành một hình hoàn chỉnh. Hợp thị được định nghĩa là sự hợp
nhất của vỏ não của vật tiêu thị giác thành một hình đơn do sự kích thích đồng
thời vào vùng võng mạc tương ứng. Nói đơn giản là hai mắt tạo ra một bức
tranh tổng thể từ hai hình giống nhau ngoại trừ một vài chi tiết thay đổi.


20

Hình 2.2: Hợp thị

Các thành phần của hợp thị: gồm hợp thị vận động và hợp thị cảm thụ. Hợp
thị cảm thụ là khả năng hợp nhất các kích thích thị giác từ hình ảnh võng mạc
tương ứng thành một hình ảnh đơn duy nhất; khả năng hợp nhất các hình ảnh
rơi trên vùng võng mạc tương ứng. Hợp thị vận động là các vận động qui tụ
giúp cho các hình ảnh võng mạc tương đồng nhau được nằm và duy trì trên
vùng võng mạc tương ứng; khả năng canh chỉnh mắt ở vị trí mà hợp thị cảm
thụ có thể được duy trì, hiện tượng song thị có thể ngăn ngừa cơ chế này. Biên
độ hợp thị bình thường là 35/40 PD đáy ngoài và 16 PD đáy trong khi nhìn
gần; 16 PD đáy ngoài và 8 PD đáy trong khi nhìn xa.
Bậc 3: Phù thị (Stereopsis) là khả năng nhận thức hai ảnh khác nhau ít,


21

mỗi ảnh được tạo trên mỗi võng mạc và kết hợp chúng lại thành một ảnh duy
nhất với sự nhận thức chiều sâu tương đối trên cơ sở của tình trạng ẩn không
giống nhau ở hai mắt này ví dụ như hình ảnh 3D. Phù thị thường được xem là
một sự hoàn chỉnh của hợp thị. Phù thị là hiện tượng hợp nhất các hình ảnh
mà kích thích các yếu tố võng mạc khác biệt nằm trong vùng Panum dẫn đến
nhận thị giác hai mắt của vật thể theo chiều sâu. Sự chênh lệch (khác nhau)
hình ảnh võng mạc là nguyên tắc cơ bản của nhận thức 3D. Hiện tượng hình
nổi xảy ra khi chênh lệch hình ảnh võng mạc đủ lớn để có hiện tượng hợp thị
đơn giản. Hình nổi và nhận thức chiều sâu không phải là hai khái niệm tương
đồng. Không phải là một dạng hợp thị đơn giản. Thị lực hình nổi bình thường
là 40 phút cung [3],[4].

Hình 2.3: Phù thị


22

Thị giác hai mắt có các ưu điểm như: hình nổi, tổng hợp của thị giác hai
mắt (sắc nét, rõ ràng và tăng độ nhạy cảm), thị trường rộng hơn, mắt để dành
(spare eye) . Tuy nhiên cũng có những nhược điểm như: Song thị, lẫn lộn,
Hiện tượng ức chế, định thị cạnh tâm, tương ứng võng mạc bất thường, nhược
thị.
1.13. Các bất thường của thị giác hai mắt
Các bất thường của thị giác hai mắt:
1.13.1 Nhầm lẫn
Khi các yếu tố võng mạc tương ứng được kích thích bởi hai vật tiêu khác
nhau thì dẫn đến hiện tượng nhầm hình. Điều này dẫn tới hiện tượng nhầm
lẫn.

Hình 3.1: HIện tượng nhầm lẫn


23

1.13.2. Song thị
Khi lệch mắt xảy ra khi một vật tiêu trong
không gian được nhận biết bởi hoàng điểm
của mắt này và với một điểm ngoài võng
mạc của mắt kia, mà có giá trị hướng hoặc vị
trí khác nhau trong không gian. Vì vậy mà
một vật tiêu có thể được định khu hai lần
trong không gian mà dẫn đến song thị. Khi
các yếu tố võng mạc không tương ứng được
kích thích bởi một vật tiêu và hình ảnh ở mắt không định thị rơi ở ngoài
hoàng
điểm và nó nằm ở một điểm khác ngoài không gian. Hình ảnh ở mắt không
định thị nhạt hơn ở mắt định thị.

Hình 3.3: A. Hiện tượng nhầm hình

B. Hiện tượng song thị

Hình 3.2: Hiện tượng song thị


24

1.13.3. Tương ứng võng mạc bất thường
Các điều chỉnh vỏ não trong hướng nhìn của hai mắt xảy ra ở trẻ với khởi
phát lác sớm. Nỗ lực này nhằm khôi phục thị giác hai mắt càng nhanh càng
tốt và tránh hiện tượng song thị và nhầm hình. Lúc này hai hoàng điểm không
còn có chung một hướng nhìn: hoàng điểm của mắt này chia sẽ trục thị giác
với điểm võng mạc chu biên mắt kia và sẽ tạo thành giả hoàng điểm.
Tương ứng võng mạc bất thường (ARC) xảy ra thường xuyên và nặng
hơn khi trẻ còn nhỏ với độ lác nhỏ. Thời gian bị lác càng lâu thị tương ứng
võng mạc bất thường càng nặng. Nặng hơn ở lác trong so với lác ngoài. Ít xảy
ra ở lác đứng. Có 2 loại tương ứng võng mạc bất thường: Harmonious: góc
bất thường = góc lác, ví dụ góc lác chủ quan là 0, Unharmonious: góc lác chủ
quan < góc lác khách quan.

Hình 3.4: Tương ứng võng mạc bất thường


25

1.13.4. Hiện tượng ức chế
Phát triển ở vùng vỏ não chưa trưởng thành (ở trẻ em) vì chịu trách nhiệm
cho những tín hiệu đầu vào khác nhau từ mỗi mắt và là rào cản cho sự phát
triển của hợp thị. Nó loại trừ hiện tượng nhầm hình và song thị do loại bỏ
những hình ảnh không mong muốn. Cũng có thể loại bỏ hiện tượng hợp thị và
thị lực nổi ở hệ thống thị giác trưởng thành ở người lớn ví dụ bị đục thủy tinh
thể một bên lâu ngày. Đây là một giác trị quan trọng trong đánh giá phẫu
thuật, nếu có hiện tượng ức chế, thì không có song thị; tuy nhiên nếu điều
chỉnh lác quá mức cũng kích thích song thị [3].
1.14. Thị giác một mắt
Các dấu hiệu một mắt cho nhận thức chiều sâu:+ kích thước tương đối
Điều này giảm kích thước ở mắt là một phần của lý do mà mọi người trông
giống như kiến khi bạn bay trong một máy bay và các ngôi sao xuất hiện như
là dấu chấm mặc dù chúng rất lớn. Kích thước một vật thể nhỏ hơn trên võng
mạc của bạn khi nó xa bạn được gọi là kích thước tương đối; + đặt vào giữa
(giao hoán) (interposition) Interposition là một tín hiệu thị giác rằng một vật
thể gần hơn những gì phía sau nó bởi vì các đối tượng gần hơn bao gồm một
phần của các đối tượng xa hơn. Ví dụ: bạn biết rằng bàn phím của bạn ở gần
bàn hơn vì bạn thấy bàn làm việc xung quanh bàn phím; + quan điểm tuyến
tính (linear perspective), + Quan điểm trên không hay quan điểm khí quyển
(Aerial perspective) liên quan đến ảnh hưởng của khí quyển đối với sự xuất
hiện của một vật thể khi nó nhìn từ xa.Khi khoảng cách giữa một đối tượng và
người xem gia tăng, sự tương phản giữa đối tượng và nền của nó giảm, và sự
tương phản của bất kỳ dấu hiệu hoặc chi tiết nào bên trong đối tượng cũng
giảm. Màu sắc của vật cũng trở nên ít bão hòa hơn và chuyển sang màu nền,
thường là màu xanh lam, nhưng trong một số điều kiện có thể là một số màu


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×