Tải bản đầy đủ

Đánh giá tác dụng của tri bá địa hoàng thang trong phục hồi chức năng tâm trí vận động ở bệnh nhi viêm não sau giai đoạn cấp

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm trùng thần kinh là bệnh thường gặp trong các bệnh lý thần kinh ở trẻ
em, hay gặp nhất là viêm não và viêm màng não nhiễm khuẩn. Ở Việt Nam, theo
những nghiên cứu trước đây, mỗi năm cả nước có từ 2.500 đến 3.000 trường hợp
viêm não, hay gặp ở trẻ em với nhiều độ tuổi khác nhau tùy căn nguyên [1]. Dù có
những tiến bộ về chẩn đoán và điều trị, nhưng tỷ lệ di chứng và tử vong của bệnh
còn cao. Và vấn đề nan giải là tình trạng di chứng sau viêm não cũng rất nặng, chủ
yếu là các di chứng vận động và tâm trí. Di chứng vận động gây trở ngại cho sinh
hoạt hàng ngày của trẻ. Di chứng tâm trí ảnh hưởng đến quá trình học tập, tái hòa
nhập xã hội của trẻ.
Viêm não có nhiều nguyên nhân: virút, vi khuẩn, nấm, kí sinh trùng, giun sán,
các bệnh lý chuyển hóa,…nhưng hay gặp nhất là do virút, thường là VNNB, HSV,
Entrovirus, thủy đậu,....[2]. Chỉ tính riêng VNNB, tỷ lệ di chứng tới 50% theo nghiên
cứu của Lê Đức Hinh [3], 43,46% trong nghiên cứu của Nguyễn Trung Hà, Phạm Thị
Sửu và cộng sự [4]. Mặc dù VNNB đã giảm đi nhiều trong thời gian qua nhờ thành
công của chương trình tiêm chủng mở rộng vắc xin phòng VNNB, nhưng lại gia tăng
nhiều loại viêm não virút khác mà tỷ lệ tử vong cũng như tỷ lệ di chứng rất cao.
Từ trước tới nay, YHHĐ thường dùng các phương pháp xoa bóp trị liệu, vận
động trị liệu, hoạt động trị liệu,...phục hồi vận động cho trẻ sau viêm não, kết hợp

với thuốc điều trị triệu chứng, nhưng kết quả còn hạn chế. Phát huy thế mạnh của
mình, YHCT đã sử dụng các phương pháp không dùng thuốc như hào châm, châm
cứu, mai hoa châm, xoa bóp bấm huyệt, cấy chỉ,...để thúc đẩy phục hồi di chứng
vận động. Tuy nhiên, số nghiên cứu đánh giá về hiệu quả phục hồi di chứng tâm trí
của trẻ sau viêm não còn rất ít, do đây là một lĩnh vực khó trong thần kinh nhi. Di
chứng nhiều, ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe và sự tái hòa nhập cộng đồng, nên kết
hợp phục hồi di chứng vận động - tâm trí là nhu cầu vô cùng bức thiết cho bệnh nhi
sau viêm não.


2

Trong thực hành lâm sàng, giai đoạn sau của viêm não (YHHĐ) - Ôn bệnh
(YHCT) thường gặp hai thể là “âm hư” và “âm huyết hư sinh phong”. Nhiều thầy
thuốc đã sử dụng hiệu quả các thuốc “tư âm” YHCT để phục hồi di chứng bệnh.
Nhưng số nghiên cứu về tác dụng cụ thể của các bài thuốc, đặc biệt các bài thuốc cổ
phương còn rất ít.
“Tri bá địa hoàng thang” có nguồn gốc từ “Y tông kim giám” của danh y
Ngô Khiêm (1723-1795). Với tác dụng “tư âm giáng hỏa”, bài thuốc được dùng
hiệu quả trong các trường hợp “âm hư hỏa vượng”, rất phù hợp với lý luận YHCT
về pháp điều trị trong giai đoạn sau cấp của viêm não “dưỡng âm thấu nhiệt, chỉ
kinh, bổ dưỡng khí huyết”. Bài thuốc cổ phương này đã được đưa vào cuốn Nhi
khoa Y học cổ truyền [5]. Tuy vậy, chưa có nghiên cứu nào khẳng định tác dụng
trên lâm sàng. Lấy ý tưởng đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
tác dụng của Tri bá địa hoàng thang trong phục hồi chức năng tâm trí - vận
động ở bệnh nhi viêm não sau giai đoạn cấp”. Đề tài tiến hành với 2 mục tiêu sau:
1

Đánh giá tác dụng của Tri bá địa hoàng thang trong phục hồi chức năng
tâm trí - vận động ở bệnh nhi viêm não sau giai đoạn cấp.

2

Đánh giá hiệu quả điều trị với thể âm hư và âm huyết hư sinh phong của
Tri bá địa hoàng thang.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Dịch tễ học viêm não trên thế giới và Việt Nam
Viêm não là quá trình bệnh lý viêm xảy ra ở tổ chức nhu mô não. Bệnh do
hai nhóm nguyên nhân gây ra: nguyên nhân nhiễm trùng và nguyên nhân không
nhiễm trùng. Nhóm viêm não do nguyên nhân nhiễm trùng gồm: virút, vi khuẩn, kí
sinh trùng, đơn bào,…Nhóm nguyên nhân không nhiễm trùng như tác dụng phụ của
thuốc, các bệnh hệ thống,…Tuy nhiên, theo các thống kê thì nhóm nguyên nhân
nhiễm trùng là chủ yếu, đặc biệt viêm não do virút chiếm đa số. Bệnh thường khởi
phát cấp tính, diễn biến nặng và có thể dẫn đến tử vong nhanh hoặc để lại di chứng
nặng nề [6].
Theo nghiên cứu có hơn 100 virút được xem là nguyên nhân gây viêm não.
Virút Herpes simplex typ I là phổ biến nhất trong số các nhân tố gây viêm não virút
trên thế giới. Đồng thời, đây cũng là nguyên nhân chiếm đại đa số trong tất cả các
trường hợp viêm não nghiêm trọng ở mọi lứa tuổi. Ngoài ra, nhiều loại virút khác
cũng gây viêm não như: VNNB, EV, sởi, quai bị, bại liệt, dại, rubella và ho gà,…
Các virút này gây hủy hoại các tế bào thần kinh để lại di chứng nghiêm trọng, thậm
chí tử vong [7].
1.1.1. Dịch tễ học viêm não virút trên thế giới
Nghiên cứu tại Mỹ giai đoạn 1988 – 1997 thấy tỷ lệ mắc viêm não là 7,3/
100.000 dân, thường gặp ở đối tượng trẻ em dưới 1 tuổi và người già trên 65 tuổi, tỷ
lệ tử vong lên tới 7,4% [8],[9].
Nghiên cứu trên 791.712 trẻ em từ 1 tháng đến 15 tuổi tại nhiều quốc gia của
M.Koskiniemi và cộng sự, thấy tần suất viêm não là 10,5/100.000 dân/năm, hay gặp
nhất ở trẻ dưới 1 tuổi với tỷ lệ là 18,4/100.000 trẻ/năm [10].
Tại Heraklion - Hy Lạp (2000 – 2004), tỷ lệ viêm não cấp tính là 13,8/100.000
dân, trong đó nguyên nhân do virút chiếm 44%, do vi khuẩn chiếm 17%, còn lại là


4

không rõ nguyên nhân [11]. Một nghiên cứu đa trung tâm khác đã thống kê 42 trường
hợp viêm não trong 3 năm, thì 24 ca (57,1%) tìm thấy nguyên nhân. Trong đó có 10
ca do HSV (41,7 %), 6 ca do EV và 2 ca do phế cầu khuẩn [12].
Ở Pháp (2000 – 2002), tỷ lệ viêm não cấp tính là 1,9/100.000 dân. Tỷ lệ tử
vong là 6% sau 6 tháng, tỷ lệ di chứng lên tới 71% [13].
Trường Y học nhiệt đới, Vương quốc Anh (2008) kết hợp với trung tâm kiểm
soát dịch bệnh USA, Atlanta, Georgia đã tổng hợp từ 12.436 báo cáo trên thế giới đưa
đến kết luận về tỷ lệ mắc viêm não cấp tính ở các nước phương Tây công nghiệp hóa
và các nước nhiệt đới. Theo đó, tỷ lệ mắc ở trẻ em là 10,5/100.000 dân, người lớn là
2,2/100.000 dân và chung ở mọi lứa tuổi là 6,3/100.000 dân [8]. Riêng nước Anh là
quốc gia có tỷ lệ bệnh viêm não thấp nhất thế giới 1,5/100.000 dân [14].
Thống kê tại Ba Lan, mỗi năm có khoảng 2.000 - 3.000 ca viêm não, viêm
màng não do cả vi khuẩn và virút. Hai tác giả Lipke M và Karasek đã tiến hành một
nghiên cứu dịch tễ học năm 2011 tại quốc gia này, kết quả là 2.915 trường hợp viêm
màng não và viêm não. Trong đó có 1.438 ca bệnh do nhiễm virút, 888 ca bệnh do
nhiễm khuẩn và 589 trường hợp do các nguyên nhân khác. Trong các trường hợp được
thống kê thì viêm não hay viêm màng não do não mô cầu, phế cầu, và virút Herpes
chiếm chủ yếu [15].
VNNB là nguyên nhân hàng đầu gây viêm não virút ở khu vực châu Á, số ca
mắc của trẻ em dưới 15 tuổi lên tới 50.000 trong đó 10.000 trường hợp tử vong mỗi
năm [16].
1.1.2. Dịch tễ học viêm não virút tại Việt Nam
Ở nước ta, bệnh xuất hiện rải rác quanh năm, tại nhiều địa phương khác
nhau. Số người mắc bệnh có xu hướng tăng vào thời gian nắng nóng từ tháng 3 đến
tháng 8 hàng năm. Theo kết quả Viện Vệ sinh dịch tễ học Hà Nội (2001) công bố số
người mắc viêm não là 2.200 ca, trong đó có 60 ca tử vong chiếm 2,7% [17]. Số
liệu từ năm 2000 đến nay của Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương, hàng năm cả nước
có khoảng 2500 – 3000 ca mắc viêm não cấp do vi-rút, tập trung nhiều ở các tỉnh


5

miền Bắc, chiếm khoảng 65%. Trong số các căn nguyên này thì VNNB vẫn là
nguyên nhân hàng đầu [18].
Khoa Truyền nhiễm Bệnh viện Nhi Trung ương (2003 – 2004) có 374 trẻ
viêm não phải nhập viện, tỷ lệ tử vong là 8,8% [1].
Phạm Ngọc Đính (2005) tiến hành nghiên cứu 552 trường hợp viêm não dưới
15 tuổi của Bệnh viện Nhi Trung ương và 2 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang và
Thanh Hoá từ năm 2003 đến 2005. Tỷ lệ mắc viêm não virút trên tổng số ca viêm
não cấp là 57,9%, tỷ lệ chết lên tới 13,6%. Nhóm bệnh nhi dưới 5 tuổi có tỷ lệ mắc
và chết cao hơn so với nhóm trẻ trên 5 tuổi. Bệnh hay xảy ra nhất vào mùa hè và
đỉnh cao là tháng 6. Tác giả này cũng thống kê số bệnh nhân khỏi hoàn toàn chiếm
68%, 15,6% di chứng nhẹ và 3,2% có di chứng nặng khi xuất viện [19].
Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, từ tháng 1/2011 đến tháng 6/2012 đã có 849 trẻ
nhập viện vì viêm não, tỷ lệ xác định được căn nguyên là 29,9%. Các nguyên nhân hay
gặp là VNNB, HSV, EV, quai bị, thủy đậu,….Trong số 134 bệnh nhi xác định được
nguyên nhân, VNNB gặp nhiều nhất (52,4%), tiếp theo là HSV (27,62%), EV
(14,93%) [2]. Nghiên cứu khác tiến hành từ tháng 7/2012 đến tháng 6/2013, có
239/520 bệnh nhi viêm não xác định được căn nguyên chiếm 46 %, trong đó 94,6% các
ca bệnh là do virút, đứng đầu là virút VNNB (41,8%), tiếp theo là HSV và EV lần lượt
chiếm 24,3% và 17,6% [20].
1.2. Viêm não theo YHHĐ
1.2.1. Triệu chứng lâm sàng
1.2.1.1. Giai đoạn khởi phát
- Sốt là triệu chứng phổ biến, thường sốt cao liên tục 39 – 400C.
- Nhức đầu, kích thích, quấy khóc, kém linh hoạt.
- Buồn nôn hoặc nôn.
- Các triệu chứng khác như tiêu chảy, ho, chảy nước mũi, phát ban,…[21].


6

1.2.1.2. Giai đoạn toàn phát
- Bệnh nhi rối loạn tri giác từ nhẹ đến nặng như ngủ gà, li bì, lơ mơ đến hôn
mê, trẻ thường co giật.
- Có thể có dấu hiệu thần kinh khác như hội chứng màng não (cứng gáy, vạch
màng não, thóp phồng ở trẻ còn thóp,…).
- Có dấu hiệu thần kinh khu trú, tăng hoặc giảm trương lực cơ,…
- Có thể có suy hô hấp hoặc sốc [21].
1.2.2. Chẩn đoán
Dựa vào:
- Yếu tố dịch tễ học: tuổi, mùa, nơi cư trú, số người mắc trong cùng thời gian.
- Các triệu chứng và diễn biến lâm sàng (như trình bày ở trên).
- Cận lâm sàng:
+ Dịch não tủy có thay đổi về sinh hóa và tế bào theo hướng viêm não: Dịch não
tủy trong, áp lực bình thường hoặc tăng. Tế bào bình thường hoặc tăng từ vài
chục đến vài trăm/ml, chủ yếu bạch cầu đơn nhân. Protein bình thường hoặc tăng
nhẹ dưới 1g/l, glucose và Cl – bình thường, phản ứng Pandy (+).
+ Công thức máu: Số lượng bạch cầu tăng nhẹ hay bình thường. Kí sinh trùng
sốt rét âm tính.
+ Điện giải đồ và đường huyết trong giới hạn bình thường [21].
+ Các xét nghiệm xác định nguyên nhân




Phản ứng Elisa dịch não tủy hoặc huyết thanh tìm kháng thể IgM.
Phản ứng khuyếch đại chuỗi gen PCR trong dịch não tủy.
Phân lập virus từ dịch não tủy, máu, bọng nước ở da, dịch mũi

họng, phân.
• Điện não đồ.
• Chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ sọ não [22].
1.2.3. Nguyên tắc điều trị giai đoạn cấp
+ Bảo đảm các chức năng sống: đảm bảo thông khí tốt, chống suy hô hấp,
chống các rối loạn tuần hoàn, chống sốc, chống truỵ mạch, chống phù não.
+ Điều trị triệu chứng


7





Hạ nhiệt.
Chống co giật.
Điều chỉnh rối loạn nước, điện giải, đường huyết (nếu có).

+ Chăm sóc và điều trị hỗ trợ



Đảm bảo chăm sóc và dinh dưỡng tốt.
Phục hồi chức năng sớm.



Phòng và chống bội nhiễm, nhiễm khuẩn bệnh viện.

+ Điều trị nguyên nhân bằng thuốc kháng sinh, thuốc kháng virút,...[21].
1.2.4. Những di chứng thường gặp sau viêm não
Nghiên cứu của nhóm tác giả Tommy Stödberg, Margareta Eriksson, Ronny
Wickström (2010) tiến hành trên 93 trẻ được chẩn đoán viêm não cấp trong 5 năm từ
năm 2000 đến 2004, với mục tiêu là thống kê các di chứng viêm não, từ đó đánh giá
các yếu tố có giá trị tiên lượng bệnh. Kết quả cho thấy 54% số trẻ còn các di chứng
viêm não, chủ yếu là những thay đổi nhân cách, hành vi và các vấn đề về nhận thức.
Trong nhóm trẻ phục hồi hoàn toàn, các chỉ số trở về bình thường sau 6 đến 12 tháng,
do đó khuyến cáo tất cả các bệnh nhi sau giai đoạn cấp 1 năm nên được khám lại.
Nghiên cứu cũng thấy rằng những trẻ xuất hiện cơn động kinh tái phát thường có triệu
chứng co giật trong giai đoạn cấp. Nhóm tác giả nhận định trẻ bị viêm não phản ứng có
xu hướng chậm hơn so với trẻ khác cùng lứa tuổi không bị bệnh [23].
Trong một nghiên cứu về động kinh ở trẻ em sau viêm não virút của nhóm 3
tác giả Usha Kant Misra, Chong Tin Tan and Jayantee Kalita đã chỉ ra rằng co giật
không chỉ là một triệu chứng trong giai đoạn cấp của bệnh mà còn là yếu tố giúp tiên
lượng nguy cơ di chứng động kinh và các cơn co giật không có yếu tố khởi phát sau
này. Các tác giả cũng thấy rằng virút Herpes simplex thường gây động kinh và các
thể động kinh nặng ở bệnh nhi viêm não. 50% số bệnh nhi bị viêm não do virút này
có triệu chứng co giật do tổn thương hay gặp ở thùy trán. Cũng như vậy, nhóm bệnh
nhi có triệu chứng co giật chiếm từ 7% đến 46% trong tổng số các ca VNNB [24].


8

Tác giả Goto (1963) đã nghiên cứu rất toàn diện và kinh điển về các di chứng
vận động và tâm trí trên đối tượng bệnh nhi sau mắc viêm não Nhật Bản. Tác giả
này chia thành các nhóm di chứng như sau:
- Nhóm di chứng về thần kinh thường gặp tăng trương lực cơ, liệt vận động,
tăng hay giảm phản xạ gân xương, co cứng, run rẩy, vẻ mặt sững sờ, rối loạn vận
nhãn, rối loạn cảm giác, cơn rối loạn ý thức, vắng ý thức, khó nói, trạng thái
Parkinson,…Các di chứng thường nặng ở nhóm trẻ trước tuổi dậy thì và trẻ nhỏ.
- Nhóm vận động dị thường, xung động dị thường và ý chí dị thường chia
thành 2 nhóm chính là tăng động (uốn éo, lắc lư, múa giật, múa vờn,…) và giảm
động (bất động, giảm động, giảm ý chí và mất ý chí,…). Các di chứng này có nguồn
gốc từ di chứng tâm trí - vận động.
- Nhóm rối loạn cảm xúc như hung dữ, khóc cười vô cớ, buồn rầu, lo âu,…
- Nhóm rối loạn trí tuệ thể hiện là giảm chức năng trí tuệ, giảm hay mất trí
nhớ, rối loạn ý thức, nhi tính hóa,…
- Biến đổi nhân cách gồm rối loạn nhân cách kiểu nhi tính hóa (thường gặp ở
người lớn), lú lẫn, nói luôn miệng và các thái độ hung dữ, tự kỷ, suồng sã. Những
bệnh nhân bị di chứng này vừa không kiềm chế, vừa không ổn định cảm xúc,
thường quan tâm đến ngoại cảnh một cách nhi tính [25].
Các di chứng của VNNB rất đa dạng, phong phú ở giai đoạn cấp cũng như bán
cấp, sẽ thuyên giảm dần và trở thành di chứng vĩnh viễn sau 3 năm. Những di chứng
này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, sự phát triển vận động và tâm trí
của trẻ. Trẻ trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Ở Việt Nam, VNNB được tập trung nghiên cứu nhiều nhất. Trong nghiên cứu
của Bùi Vũ Huy và cộng sự (1993) trên nhóm đối tượng là 50 bệnh nhi, thấy tỷ lệ di
chứng thần kinh, tâm thần tới 96% [26]. Trong nghiên cứu của Phạm Thị Sửu và
Bùi Vũ Huy (1999) di chứng thần kinh, tâm thần là hay gặp nhất (58%) [27]. Tác
giả Nguyễn Thị Thanh Vân (2001) nhận thấy giai đoạn sau cấp tỷ lệ di chứng rất


9

cao (94,1%), giai đoạn muộn sau ba năm khỏi bệnh là 62,5%, di chứng thần kinh
chiếm 8,3%, di chứng tâm trí là 16,7%, di chứng kết hợp là 12,5% [28]. Nguyễn Thị
Tú Anh (2001) thống kê 100% có liệt vận động, 68,1% rối loạn ý thức [29]. Đặng
Minh Hằng (2003) tổng hợp 62 trường hợp VNNB thấy 96,8% có rối loạn ý thức,
100% liệt vận động, tỷ lệ rối loạn trí nhớ chiếm tới 75% [30]. Khám lại cho các bệnh
nhi mắc VNNB sau 3 năm, Hoàng Thế Kiêm (2009) tổng kết 48,6% bệnh nhi còn liệt
vận động, 48,6% còn rối loạn cảm xúc và 18,9% có rối loạn hành vi tác phong [31].
1.2.5. Phục hồi chức năng di chứng viêm não theo YHHĐ
Viêm não trẻ em thường nặng, tỷ lệ tử vong cao, để lại di chứng nặng nề, do
đó việc phục hồi chức năng là rất cần thiết. Hiện tại vẫn chưa có thuốc điều trị đặc
hiệu, việc điều trị di chứng chỉ dừng lại ở điều trị triệu chứng và hỗ trợ chăm sóc và
tập phục hồi chức năng.
- Thuốc điều trị triệu chứng gồm:
+

Thuốc giãn cơ và thuốc chống Parkinson để chống rối loạn trương lực

cơ và các động tác bất thường.
+ Thuốc an thần và thuốc chống động kinh sử dụng để chống co giật,
động kinh và các trạng thái kích động.
+ Chống bội nhiễm bằng kháng sinh thích hợp.
- PHCN là biện pháp điều trị quan trọng nhất giai đoạn này.
+

Nguyên tắc PHCN cần phải càng sớm càng tốt, phối hợp nhiều kỹ thuật

PHCN và theo mốc phát triển của trẻ.
+ Mục đích của PHCN nhằm kiểm soát trương lực cơ và giữ tư thế đúng, tạo
các mẫu vận động chủ yếu (kiểm soát đầu, ngồi dậy, quỳ, đứng, phản xạ
thăng bằng) phối hợp phòng ngừa co rút và biến dạng đồng thời dạy các
hoạt động sinh hoạt hàng ngày, vui chơi và các hoạt động khác.
+ PHCN vận động bằng châm cứu, xoa bóp trị liệu, vận động trị liệu, hoạt
+

động trị liệu, dụng cụ hỗ trợ và chỉnh hình.
PHCN còn bao gồm các biện pháp y học, xã hội học, giáo dục và kĩ
thuật phục hồi nhằm giảm tối đa các di chứng bệnh, nhờ đó người bệnh


10

được hoàn toàn trả lại sức khỏe và khả năng tự hoạt động trong cuộc
sống của mình.
+ Các phương pháp phục hồi chức năng cho trẻ di chứng viêm não gồm:
Vận động trị liệu là phương pháp vận động để PHCN cho trẻ sau viêm
não (tập theo tầm vận động thụ động, tập tích cực chủ động, tập theo phương
pháp Bobath,…). Trong đó, các kỹ thuật tạo thuận vận động là hệ thống các
bài tập dựa trên các mốc phát triển về vận động thô (kiểm soát đầu, cổ, lẫy,
ngồi, bò, đứng, đi, chạy,…)
Hoạt động trị liệu với mục tiêu là giúp trẻ độc lập tối đa trong sinh
hoạt cũng như trong cuộc sống. Các kỹ thuật cơ bản gồm huấn luyện khả năng
sử dụng hai tay (kỹ năng cầm nắm đồ vật,…) và khả năng sinh hoạt hàng ngày
(kỹ năng ăn uống, mặc quần áo, đi giày dép, vệ sinh cá nhân,…)
Xoa bóp trị liệu là các thao tác bằng tay có tác dụng thư giãn cơ, tạo
thuận cho vận động dễ dàng hơn.
Vật lý trị liệu gồm ánh sáng trị liệu, điện trị liệu, vận động trị liệu,
dụng cụ trợ giúp và chỉnh hình, kéo giãn và xoa bóp. Vật lý trị liệu có tác dụng
phòng các biến chứng thứ phát về thần kinh cơ, cải thiện và nâng cao vận
động. Mục tiêu của vật lý trị liệu là giảm tối thiểu khiếm khuyết, giảm tàn tật
và tăng cường chức năng ở mức tốt nhất.
Ngôn ngữ trị liệu áp dụng tùy từng trẻ. Đối với những trẻ thất ngôn
nặng, mục tiêu chính là giúp trẻ và gia đình có một cách giao tiếp hiệu quả
nhất. Đối với những trẻ thất ngôn vừa phải, mục tiêu điều trị là giúp trẻ lấy ra,
chọn từ và kết nối chúng lại.
Dụng cụ trợ giúp và chỉnh hình gồm dụng cụ trợ giúp (ghế ngồi,
khung xe tập đi, xe lăn,…) và dụng cụ chỉnh hình (nẹp, đai, áo cột sống…)
[32], [33], [34].
1.3. Viêm não theo YHCT
1.3.1. Bệnh danh
Viêm não không có bệnh danh riêng theo YHCT. Đối chiếu, so sánh bệnh cảnh lâm
sàng giữa 2 nền y học thấy bệnh thuộc phạm vi của Ôn bệnh, dịch lệ của YHCT [5].


11

1.3.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Nhân khi chính khí suy yếu, cảm phải tà khí ôn nhiệt làm tổn thương âm dịch
rất mạnh, vào đến phần huyết làm can phong nội động sinh ra co giật, mê sảng, ảnh
hưởng đến sự tuần hành khí huyết. Khi có các triệu chứng này được quy vào thể
phong hoặc kinh phong. Đàm làm tắc các khiếu gây hôn mê, chứng nội bế ngoại
thoát (trụy tim mạch). Nhiệt vào huyết phận ảnh hưởng đến dinh dưỡng của cân cơ
và các khiếu sẽ để lại di chứng liệt tứ chi, câm, điếc, thần trí bất minh,…Khi nhiệt
nhập tâm bào gây bế tâm khiếu, sinh ra mê man, ý thức chậm chạp, tay chân giá
lạnh. Nhiệt thịnh làm bệnh nhi sốt cao, nhiệt cực sinh hàn, bệnh nhi có biểu hiện
chân tay lạnh, tím tái gọi là thể quyết. Bệnh diễn ra rất nhanh. Giai đoạn của bệnh ở
vệ phận hay ở thượng tiêu chỉ diễn ra trong thời gian rất ngắn rồi chuyển sang phần
khí, dinh, huyết hoặc trung tiêu, hạ tiêu. Khi dinh huyết cùng bị, hay trung tiêu cùng
bị thường với những thể bệnh nặng và rất nặng. Giai đoạn bệnh ở phần huyết và hạ
tiêu kéo dài, do thử tà làm tân dịch và khí đều hư tổn nặng nên nếu bệnh nhi qua
được cũng để lại nhiều di chứng [5],[35],[36],[37].
1.3.3. Các thể lâm sàng
1.3.3.1. Ôn bệnh vào phần vệ
- Triệu chứng: sốt, sợ gió, đau đầu, hơi khát, ho, đầu lưỡi đỏ, rêu mỏng, mạch
phù sác.
- Pháp điều trị: thanh nhiệt, giải biểu.
1.3.3.2. Ôn bệnh vào phần khí
- Triệu chứng: sốt cao, ra mồ hôi nhiều, đau đầu, choáng váng, gáy cứng, buồn nôn,
nôn, mặt đỏ, tâm phiền, đại tiện bí kết, mặt bẩn, răng khô, miệng khát, thích uống
nước mát, mạch hồng đại.
- Pháp điều trị: thanh nhiệt tả hỏa.
1.3.3.3. Ôn bệnh vào phần dinh
- Triệu chứng: sốt cao gây co giật, mê sảng, hôn mê, mặt đỏ, khát, thích uống
nước lạnh, uống vào vẫn không hết khát, tiểu tiện ngắn đỏ, đại tiện bí, rêu lưỡi vàng
khô, mạch hồng hoạt sác.


12

- Pháp điều trị: thanh thiệt tả hỏa, khai khiếu tỉnh thần, bình can tức phong, lưu
thông kinh mạch.
1.3.3.4. Ôn bệnh vào phần huyết
- Triệu chứng: sốt cao, co giật, hôn mê, chân tay co cứng, xuất huyết (chảy
máu cam, nôn ra máu, đại tiện ra máu, ban chẩn xuất huyết dưới da), đại tiểu tiện
không tự chủ, chất lưỡi đỏ tím, mạch tế sác.
- Pháp điều trị: thanh nhiệt tả hỏa, dưỡng âm, lương huyết chỉ huyết.
1.3.3.5. Thời kỳ thương âm và di chứng
- Nhiệt vào phần huyết kéo dài làm tân dịch bị hao tổn, không nuôi dưỡng được
cân cơ, kinh lạc bế tắc, các khiếu không thông gây liệt tứ chi, suy giảm trí tuệ,…
- Giai đoạn này bệnh diễn biến rất phức tạp. Có thể chia thành 3 thể:
+ Thể âm hư: trẻ da thịt gầy róc, miệng họng khô, lòng bàn tay bàn chân nóng và
đỏ, đại tiện táo, tiểu vàng, lưỡi đỏ, mạch tế sác. Pháp điều trị là dưỡng âm thanh nhiệt.
+ Thể âm huyết hư sinh phong: trẻ quấy khóc, la hét, vật vã, phiền nhiệt, mất ngủ,
chân tay co cứng. Pháp điều trị phải tư âm dưỡng huyết, chỉ kinh phong.
+ Thể khí huyết hư: đần độn, không nói, chân tay co cứng hoặc liệt, sắc mặt
trắng nhợt, lưỡi nhợt, mạch tế sáp. Pháp điều trị cần bổ khí dưỡng huyết [5], [35].
1.4. Phục hồi di chứng viêm não theo YHCT
1.4.1. Một số nghiên cứu về PHCN cho trẻ sau viêm não theo YHCT
1.4.1.1. Trung Y
Trong những năm gần đây các thầy thuốc Trung y Trung Quốc đã có nhiều
nghiên cứu điều trị di chứng viêm não
Tác giả Trương Hiểu Luy và cộng sự (2001) đã tiến hành đánh giá tác dụng
phục hồi di chứng sau VNNB ở 41 bệnh nhi tại tỉnh Hồ Bắc Trung Quốc. 19 trường
hợp được điều trị bằng thể châm, đầu châm kết hợp với xoa bóp với các huyệt kiện
não, tỉnh thần, ích trí. Các bệnh nhi còn lại điều trị PHCN kết hợp với châm cứu và


13

luyện tập tại nhà nhằm cải thiện chức năng vận động và ngôn ngữ. Sau điều trị
nhóm kết hợp tập PHCN cải thiện về vận động tốt hơn, thời gian hồi phục rút ngắn
hơn so với nhóm điều trị bằng Trung y đơn thuần [38].
Tại Bệnh viện Đại học Bắc Hoa, Cát Lâm, Trung Quốc, Hồ Lâm Xuân và
cộng sự (2013) theo dõi hiệu quả phối hợp Tây y và Trung y (đầu châm) trong điều
trị di chứng viêm não virút cho 80 bệnh nhi từ tháng 1/2010 đến tháng 5/2012. Sau
điều trị nhóm kết hợp hiệu quả đạt 90%. Trong khi sử dụng Tây y đơn thuần hiệu
quả chỉ đạt 77,5% [39].
Trương Thúy Hoa kết hợp Trung y và Tây y điều trị di chứng viêm não
virút (2013). Hai nhóm đối tượng của nghiên cứu đều được điều trị nền với các
thuốc kháng virút và thuốc điều trị triệu chứng của Tây y. Nhóm nghiên cứu gồm 80
bệnh nhi được dùng thêm Thanh não thang gồm chủ yếu các vị thanh nhiệt, tư âm
sắc uống hàng ngày, kết hợp đầu châm và thể châm. Nhóm chứng chỉ dùng Tây y
đơn thuần gồm 90 bệnh nhi. Sau điều trị thấy nhóm kết hợp Trung y có tỷ lệ khỏi là
93,7%, cao hơn nhóm chứng chỉ dùng Tây y đơn thuần (khỏi 77,7%) [40].
Lý Trung Thành (2007) dùng bài Thanh nhiệt lương huyết giải độc thang
thành phần là các vị thuốc tác dụng thanh nhiệt lương huyết kết hợp Tây y, điều trị
cho 86 ca viêm não thấy 100% hiệu quả tốt, so với nhóm điều trị đơn thuần bằng
YHHĐ cho 89 bệnh nhân có hiệu quả là 74 ca (83%) [41].
Lý Lệ Hoa, Tống Lê Vĩ (2008) dùng bài Thanh khai linh với các vị tác dụng
thanh nhiệt là chính kết hợp Tây y điều trị cho 41 ca bị viêm não thấy có hiệu quả tốt là
37 ca (90%) [42].
Châu Hải Lan, Lý Hóa Đông (2011) nghiên cứu 90 ca bị viêm não, chia làm
ba nhóm, nhóm một dùng bài Tỉnh não thang điều trị 30 ca, nhóm hai dùng An
cung ngưu hoàng hoàn điều trị 30 ca, còn 30 ca xếp vào nhóm ba dùng đơn thuần
Tây y. Kết quả điều trị cho thấy ở nhóm một và hai đạt kết quả tốt 100%, ở nhóm
3 đạt kết quả tốt ít hơn (83%) [43].


14

Các nghiên cứu này đều cho thấy điều trị viêm não và di chứng viêm não bằng
kết hợp Tây y với Trung y cho hiệu quả tốt hơn so với sử dụng Tây y đơn thuần.
1.4.1.2. Y học cổ truyền Việt Nam
Viêm não được nhiều danh y, lương y, cũng như các bác sỹ YHCT nghiên cứu
nhiều năm nay. Giai đoạn 1961 - 1965, nhiều nghiên cứu kết hợp dùng Tư âm hoàn,
Tức phong hoàn, Thanh tâm hoàn với hào châm các huyệt theo triệu chứng lâm
sàng được tiến hành. Thuốc hoàn sử dùng gồm các vị thuốc thanh nhiệt dưỡng âm
như Sinh địa, Mạch môn,… trừ đàm khai khiếu như Uất kim, Thạch xương bồ,….
Tuy nhiên thành công của các nghiên cứu này còn hạn chế [44],[45],[46].
Năm 1969, nhóm nghiên cứu Đỗ Hữu Định, Đinh Thái Bảo, Vũ Duy Tường
chữa 15 trường hợp di chứng viêm não bằng thuốc nam kết hợp châm cứu, kết quả
có 90% phục hồi hoàn toàn [47].
Trịnh Thị Nhã (1983), điều trị 30 trẻ di chứng viêm não ở Bệnh viện YHCT
Hà Nội bằng hào châm và một số thuốc tư âm dạng hoàn do Bệnh viện sản xuất. Bài
thuốc gồm các vị có tác dụng dưỡng âm thấu nhiệt như Huyền sâm, Chi tử, Sinh
địa,…kết quả khỏi di chứng 4 trẻ, đỡ 20 trẻ [48].
Sau một thời gian dài, các nghiên cứu chủ yếu chỉ tập trung vào các phương
pháp không dùng thuốc thì đến năm 2013, Nguyễn Kim Ngọc đã sử dụng Lục vị
hoàn phối hợp hào châm trên đối tượng bệnh nhi viêm não từ 1 đến 6 tuổi nhằm
phục hồi rối loạn tâm thần – vận động. Sau điều trị 16,7% số bệnh nhi cải thiện
chức năng vận động trở về bình thường, tăng chỉ số phát triển theo test Denver II cả
bốn khu vực: vận động thô, ngôn ngữ, vận động tinh tế - thích ứng và cá nhân – xã
hội [49] tốt hơn so với nhóm chỉ dùng hào châm đơn thuần.
Bên cạnh đó, có rất nhiều nghiên cứu đánh giá tác dụng của các phương
pháp không dùng thuốc YHCT điều trị di chứng bệnh. Sử dụng điện châm kết
hợp thủy châm Methycobal, nghiên cứu của Bùi Việt Chung thu được kết quả
53,3% phục hồi vận động hoàn toàn hoặc chỉ còn liệt nhẹ, các rối loạn ngoại tháp
phục hồi tốt, tăng khả năng vận động chủ động thông qua đánh giá sự tăng lên
của thang điểm Orgogozo [50]. Cùng trên nhóm đối tượng bệnh nhi di chứng


15

VNNB, Nguyễn Khắc Hữu sử dụng hào châm đơn thuần [51], Nguyễn Tài Thu
dùng châm cứu [52], [53], Nguyễn Thị Tú Anh áp dụng phác đồ điện châm [29],
Đặng Minh Hằng phối hợp hào châm với xoa bóp bấm huyệt [ 30], Lê Thị Hồng
Anh sử dụng điện mãng châm [54]. Tất cả các phương pháp đều thu được kết quả
khá tốt, giúp phục hồi chức năng cho bệnh nhi.
Như vậy, cho đến nay, số nghiên cứu sử dụng bài thuốc cổ phương trong
điều trị di chứng viêm não còn ít, trong khi trên thực tế lâm sàng các bài thuốc
này cho hiệu quả điều trị rất tốt.
1.4.2. Điều trị viêm não sau giai đoạn cấp bằng YHCT
Viêm não thuộc Ôn bệnh, nguyên nhân do nhiệt độc xâm nhập vào cơ thể. Sau
giai đoạn cấp, mặc dù tà nhiệt đã được đẩy lui nhưng âm dịch đã tổn thương nặng
nề gây âm hư nội nhiệt, thủy hỏa bất điều, cân mạch suy tổn, kinh lạc bế tắc, thanh
khiếu chưa khai thông được. Vì vậy, pháp điều trị phải dưỡng âm thấu nhiệt, chỉ
kinh, bổ khí dưỡng huyết, khai khiếu tỉnh thần, trừ đàm thông lạc.
Phương pháp không dùng thuốc
+ Châm cứu thường sử dụng các huyệt khu phong (Phong trì, Phong môn,
Hợp cốc), thanh nhiệt (Đại chùy, Khúc trì, Hợp cốc), khai khiếu (Á môn, Thượng
liêm tuyền), khai thông kinh lạc (Phong trì, Đại chùy, Giáp tích C3 – C6, Kiên
ngung, Khúc trì, Thủ tam lý, Hoàn khiêu, Dương lăng tuyền,…), bổ dưỡng khí
huyết (Huyết hải, Túc tam lý, Tam âm giao,…).
+ Xoa bóp bấm huyệt cần dùng các động tác nhẹ nhàng phù hợp với thể trạng
suy kiệt ở trẻ mắc bệnh (xoa, xát, day, bóp,…) mục đích làm mềm cơ. Sau đó tiến
hành vận động các đoạn chi theo nguyên tắc từ từ, tăng dần, vừa sức chịu đựng của
trẻ và trong tầm vận động của khớp.
Phương pháp dùng thuốc thường sử dụng các vị có tác dụng tư âm dưỡng
huyết (Sinh địa, Thục địa, Đương quy, Bạch thược, Mạch môn,…), bổ khí dưỡng
huyết (Hoàng kỳ, Đại táo, Đảng sâm,…), trừ đàm, khai khiếu tỉnh thần (Thạch


16

xương bồ, Viễn trí, Uất kim,…), thanh nhiệt (Tri mẫu, Hoàng bá,...). Trong đó, các
vị thuốc tư âm dưỡng huyết, bổ khí dưỡng huyết là những vị thuốc chính.
1.5. Tổng quan về thuốc “Tri bá địa hoàng thang”
1.5.1. Nguồn gốc
Tri bá địa hoàng thang hay còn gọi Bát vị tri bá thang, Tư âm bát vị thang,
Lương bát vị thang là bài thuốc cổ phương của YHCT có nguồn gốc từ Y TÔNG
KIM GIÁM của tác giả Ngô Khiêm. Bộ sách này có tính tổng hợp cao, đã được sử
dụng làm giáo tài của Thái y viện thời nhà Thanh (1742). Các phương thuốc trong
sách chú trọng “hàn nhiệt bất chấp thành kiến, công bổ vô sở thiên thi” (không câu
nệ hàn nhiệt, không riêng trị, bổ mà phối hợp cả hai), phối hợp chặt chẽ lý luận và
thực tiễn. Sách được lưu truyền rộng rãi và có giá trị tham khảo cao trong cả nghiên
cứu lẫn lâm sàng.
1.5.2. Thành phần
Thục địa
Sơn thù
Hoài sơn
Tri mẫu

16g
08g
08g
12g

Trạch tả
Đan bì
Bạch linh
Hoàng bá

06g
06g
06g
12g

1.5.3. Cách dùng
Thang thuốc được sắc lấy nước thuốc, chia uống sáng chiều theo liều lượng
cụ thể.
1.5.4. Tác dụng
Tư âm giáng hỏa.
Dùng trong các trường hợp âm hư hỏa vượng đến nỗi lao nhiệt cốt chưng
(cảm giác nóng trong xương, tự hãn, họng đau, hỏa bốc), hư phiền, đạo hãn, lưng eo
đau mỏi.
1.5.5. Phân tích bài thuốc
Trong bài thuốc này
Thục địa đóng vai trò làm Quân dược, có tác dụng tư âm, bổ thận trấn kinh,


17

ích thủy mà sinh huyết, lấy ích thủy làm chủ.
Sơn thù để ôn bổ can thận, thu liễm tinh khí cho can thận ở hạ tiêu. Bài thuốc
dùng Sơn thù mượn chất chua chát để thu liễm cùng Hoài sơn dẫn hỏa đi xuống,
vào trong đến can thận, lấy tráng thủy làm chủ. Hoài sơn có tác dụng kiện tỳ liễm
tinh và sáp niệu cùng với Sơn thù bảo đảm thủy thổ hợp thành đưa xuống dưới, nên
lấy bội thủy làm nguồn (Thần).
Như vậy, Thục địa bổ thận để ích thủy, Sơn thù bổ can để tráng thủy, Hoài sơn
bổ tỳ cho nên gọi là tam bổ ở phần âm của ba tạng. Nhưng Thục địa bổ thận làm chủ,
Sơn thù, Hoài sơn làm bổ trợ cho nên liều Thục địa gấp đôi Sơn thù, Hoài sơn.
Đan bì để lương huyết thanh nhiệt có tác dụng tả hỏa ở can do âm hư sinh ra
và ức chế tính ôn và tính thu liễm của Sơn thù để điều hòa dẫn thủy xuống bàng
quang, có tác dụng thông thủy. Đây là trong bổ có tả và trong tả có bổ ở tạng can.
Phục linh tính nhạt để kiện tỳ thẩm thấp lợi thủy, hạn chế cố tinh sáp niệu và
tăng tính kiện vận của Hoài sơn, có tác dụng điều thủy vừa phải. Đây là trong bổ có
tả, trong tả có bổ ở tạng tỳ.
Trạch tả thanh tiết thận hỏa và thẩm thấp lợi thủy nên phòng và hạn chế tính
nê trệ quá của Thục địa, đồng thời cũng dẫn thủy xuống bể của nó là thận thủy và
bàng quang. Đây là trong bổ có tả, trong tả có bổ ở tạng thận.
Các vị thuốc trên thêm Tri mẫu, Hoàng bá để tăng tác dụng giáng tướng hỏa,
tả thận hỏa. Cả bài phối hợp lại được tác dụng tư âm giáng hỏa [55],[56].

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Chất liệu nghiên cứu
- Thuốc nghiên cứu: Bài thuốc “Tri bá địa hoàng thang”


18

Thục địa
16g
Trạch tả
06g
Sơn thù
08g
Đan bì
06g
Hoài sơn
08g
Bạch linh
06g
Tri mẫu
12g
Hoàng bá
12g
Bài thuốc được kê đơn tại khoa Nội - Nhi, bốc thuốc và sắc tại khoa Dược Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương, sắc mỗi thang đóng thành 2 túi, mỗi túi 150
ml. Bệnh nhi uống sau ăn 1 giờ, theo liều lượng cụ thể.
- Máy sắc thuốc Pressure Herb Extractor do công ty Kyungseo Machine co.
của Hàn Quốc sản xuất năm 2011, Model KSNP - B1130 - 240 L, S/N 11000892.
- Kim châm cứu làm bằng thép không gỉ, dài 5 cm, đường kính 0,1 mm, đầu
nhọn, xuất xứ hãng Đông Á, Việt Nam.
- Pince và bông vô khuẩn.
- Ống đựng kim vô khuẩn.
- Cồn 70% ethanol.
- Test Denver II (phụ lục 2)
- Test Raven (phụ lục 3)
2.2. Đối tượng nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 60 bệnh nhi không phân biệt giới tính, được chẩn đoán viêm não
sau giai đoạn cấp, điều trị nội trú tại khoa Nội - Nhi Bệnh viện Y học cổ truyền
Trung ương từ tháng 1/2014 đến tháng 10/2014, đáp ứng tiêu chuẩn chọn bệnh nhi
nghiên cứu.

2.2.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhi theo YHHĐ
 Tiêu chuẩn lựa chọn

Bệnh nhi từ 6 tháng tuổi đến 16 tuổi:


Điều trị nội trú tại khoa Nội - Nhi Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương 6 tuần.


19



Đã được chẩn đoán xác định là viêm não nhiễm trùng sau giai đoạn cấp tại
Bệnh viện Nhi Trung ương và các Bệnh viện tuyến Tỉnh khác.



Hiện tại có biểu hiện rối loạn vận động kiểu tháp hay ngoại tháp kết hợp
hoặc không với các rối loạn tâm trí.
+

Liệt vận động: liệt một chi, hai chi dưới, hay nửa người hoặc tứ chi.

+

Rối loạn trương lực cơ: tăng hoặc giảm

+

Có dấu hiệu ngoại tháp: tăng trương lực cơ kiểu ngoại tháp, run, múa
giật, múa vờn, hay có các động tác tự động khác.

+

Rối loạn tâm trí: rối loạn trí nhớ, thay đổi tính tình, rối loạn hành vi,
tác phong,…



Đã qua khỏi giai đoạn cấp, mắc bệnh trong vòng 3 tháng sau ngày đầu tiên
có triệu chứng viêm não hoặc bệnh não cấp tính lúc này bệnh nhi đã thoát
hôn mê, mạch, huyết áp, nhịp thở và thân nhiệt tạm ổn định.



Gia đình hoặc người giám hộ và bệnh nhi tình nguyện tham gia nghiên cứu
và tuân thủ liệu trình điều trị.



Bệnh nhi ở thể âm hư và âm huyết hư sinh phong theo YHCT.

 Tiêu chuẩn loại trừ


Bệnh nhi di chứng viêm não nghi ngờ do bệnh chuyển hóa tiến triển, viêm
màng não tiến triển, xuất huyết não hay bệnh não cận nhiễm khuẩn hay sau
nhiễm khuẩn hoặc viêm não do tác dụng phụ của thuốc.



Bệnh nhi không tuân thủ liệu trình điều trị.



Thời gian điều trị nội trú tại khoa dưới 6 tuần.



Bệnh nhi ở thể khí huyết hư theo YHCT.

2.2.3. Tiêu chuẩn phân thể bệnh nhi theo YHCT
Giai đoạn sau của viêm não trong YHCT gặp ba thể là: âm hư, âm huyết hư
sinh phong và khí huyết hư. Nghiên cứu chỉ chọn bệnh nhi ở hai thể âm hư và âm
huyết hư sinh phong, thỏa mãn tiêu chuẩn phân thể như sau:


20

 Thể âm hư


Vọng: Người gầy, tinh thần mờ tối, nằm yên ít cử động, sắc mặt hồng hoặc
đỏ, lòng bàn tay bàn chân đỏ, chất lưỡi đỏ, ít rêu, môi khô, đỏ.



Văn: Tiếng khóc nhỏ yếu hoặc không thành tiếng, hơi thở hôi.



Vấn: Sốt âm ỉ kéo dài, đại tiện táo, tiểu vàng sẫm màu



Thiết: Lòng bàn tay, bàn chân nóng, mạch tế đới sác hoặc sác.
 Thể âm huyết hư sinh phong



Ngoài các biểu hiện của thể âm hư, còn kèm theo các triệu chứng của nội
phong: Bệnh nhi kích thích, quấy khóc, vật vã, la hét, mất ngủ nhất là về
đêm, có các cơn duỗi cứng, co vặn, run giật.



Trong nhiều ca bệnh thể âm huyết hư sinh phong là giai đoạn sau của thể âm hư.
Bệnh nhi ban đầu có các chứng trạng của thể âm hư, sau một thời gian bệnh tiến
triển nặng hơn biểu hiện thể huyết hư sinh phong.

2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp tiến cứu, thử nghiệm lâm sàng
mở, có đối chứng, có so sánh trước - sau điều trị.
2.3.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu có chủ đích là 60 bệnh nhi đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn theo YHHĐ
và tiêu chuẩn phân thể theo YHCT.
2.3.3. Quy trình nghiên cứu
2.3.3.1. Tuyển chọn bệnh nhi và chia nhóm nghiên cứu
- Tiếp nhận bệnh nhi đáp ứng đủ tiêu chuẩn lựa chọn.
- Khám lâm sàng YHHĐ và YHCT theo mẫu bệnh án nghiên cứu.
- Làm các xét nghiêm cơ bản trước khi tiến hành điều trị và kết thúc điều trị
+ Công thức máu: bạch cầu, hồng cầu, hemoglobin, hematocrit, tiểu cầu.
+ Sinh hóa máu: ure, creatinin, glucose, protein toàn phần, albumin, AST, ALT.


21

2.3.3.2. Quy trình điều trị
- Bệnh nhi được chia thành 2 nhóm, đảm bảo sự tương đồng về tuổi, giới, thời gian
mắc bệnh, nguyên nhân gây bệnh và mức độ liệt vận động.
- Áp dụng phương pháp điều trị đối với từng nhóm
+ Nhóm nghiên cứu: uống thuốc sắc “Tri bá địa hoàng thang” kết hợp với
phác đồ điều trị nền.
+ Nhóm chứng: điều trị bằng phác đồ nền đơn thuần.
- Phác đồ nền gồm hào châm và vitamin B1, vitamin B6, Piracemtam dạng thuốc
uống, liều lượng từng thuốc được kê theo lứa tuổi bệnh nhi.
- Phác đồ hào châm: công thức huyệt và thủ thuật châm của khoa Nội - Nhi Bệnh
viện Y học cổ truyền Trung ương hiện đang sử dụng như sau:
+ Rối loạn vận động cổ và lưng: châm các huyệt
o Đại chùy, Đại trữ, Giáp tích C3-C6, Giáp tích từ L2-L5.

Thủ thuật: châm bình bổ, bình tả.
o Thận du, Can du. Thủ thuật: châm bổ.

+ Rối loạn vận động chi trên: châm các huyệt
o

Kiên ngung, Kiên tỉnh, Kiên trinh, Khúc trì, Thủ tam lý, Hợp cốc,Ngoại
quan. Thủ thuật: châm bình bổ, bình tả.

+ Rối loạn vận động chi dưới: châm các huyệt
o

Hoàn khiêu, Phong thị, Lương khâu, Huyết hải, Côn lôn, Giải khê.
Thủ thuật: châm bình bổ, bình tả.

o

Túc tam lý, Tam âm giao. Thủ thuật: châm bổ

+ Nói khó: châm các huyệt
o Thượng liêm tuyền, Bàng liêm tuyền. Thủ thuật: châm bình bổ, bình tả.

+ Rối loạn tâm thần: châm các huyệt
o Nội quan, Thần môn, Tam âm giao. Thủ thuật: châm bổ.

+ Vị trí và cách xác định các huyệt: theo phụ lục 6


22

+ Kĩ thuật hào châm
o Bước 1: chuẩn bị BN (lựa chọn tư thế châm).
o Bước 2: xác định huyệt cần châm.
o Bước 3: sát khuẩn vị trí châm.
o Bước 4: châm kim vào huyệt đã xác định và thực hiện các thủ thuật sau
o Nếu bệnh nhi hợp tác với thầy thuốc thì châm lưu kim, tiến hành thủ

thuật châm bổ và bình bổ bình tả :
Châm bổ: châm xuôi đường kinh, lưu kim 25-30 phút.
Châm bình bổ, bình tả: châm kim vuông góc với mặt da, lưu kim 20 – 25 phút.
o Nếu bệnh nhi không hợp tác: sau khi châm đắc khí tiến hành thủ thuật

bổ, bình bổ bình tả như trên nhưng rút kim ngay.
Hào châm ngày 1 lần, châm 5 ngày nghỉ 2 ngày, mỗi lần 8 - 10 huyệt.
 Thuốc “Tri bá địa hoàng thang”: Thuốc được kê đơn thống nhất tại khoa

Nội - Nhi và được sắc tại khoa Dược - Bệnh viện Y học cổ truyền Trung
ương, sắc mỗi thang đóng thành 2 túi, mỗi túi 150 ml, bệnh nhi uống theo
liều lượng chỉ định, uống sau ăn 1 giờ.
- Quy trình sắc thuốc
Nhận thuốc: ghi tên bệnh nhân, số thang thuốc, kiểm tra số giường nội trú
và đeo thẻ số vào túi thuốc
Sắc thuốc: Trước tiên đổ thuốc vào túi vải, cho lượng nước phù hợp với số
thang thuốc (đảm bảo dược liệu được ngập nước) và cho vào máy sắc (treo thẻ số của
từng bệnh nhân cạnh máy sắc. Đối với các thuốc có thành phần chủ yếu là thân, rễ,
củ (khoảng 70%) thì thời gian sắc 3 thang là 1 giờ, 6 thang là 1 giờ 30 phút, 10
thang là 2 giờ. Đối với các thuốc có thành phần chủ yếu (khoảng 70%) là hoa, lá
thời gian sắc là 1 giờ. Khi được thì tắt máy sắc, ép nước sang máy cô, cô đến lượng
thuốc đủ để đóng 2 gói thuốc cho 1 thang thuốc.
Giao thuốc: Khi giao thuốc chú ý đối chiếu số thẻ, tên bệnh nhân, số thang
thuốc và số giường.


23

- Liều lượng thuốc được chia theo lứa tuổi như sau
0,5 – 5 tuổi : 150 ml (1 túi)
5 – 12 tuổi : 225 ml (1,5 túi)
12 – 16 tuổi : 300 ml (2 túi)
 Phương pháp đánh giá kết quả
+ Tất cả bệnh nhi được khám và ghi vào một mẫu bệnh án thống nhất.
+ Các bệnh nhi điều trị nội trú được theo dõi đầy đủ, chặt chẽ diễn biến bệnh
hàng ngày cũng như sụ tuân thủ điều trị trong suốt thời gian nghiên cứu.
+ Bệnh nhân được đánh giá đầy đủ các chỉ tiêu nghiên cứu tại các thời điểm:
Trước điều trị:

T0

Sau điều trị 6 tuần: T6
2.3.3.3. Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp đánh giá kết quả
Chỉ tiêu theo dõi lâm sàng và đánh giá kết quả theo YHHĐ
 Triệu chứng toàn thân

- Rối loạn ý thức: trên trẻ di chứng viêm não thường gặp các mức độ:
+ Thức chưa tiếp xúc được
+ Tỉnh, biết lạ quen.
+ Tỉnh tiếp xúc chậm.
+ Tỉnh táo, tiếp xúc tốt.
- Rối loạn nuốt
+ Nuôi ăn qua sonde dạ dày
+ Nuốt chậm, hay nghẹn sặc.
+ Nuốt chậm, không nghẹ sặc.
+ Ăn uống bình thường.
- Rối loạn cơ tròn
+ Đại tiểu tiện không tự chủ.
+ Đại tiểu tiện lúc tự chủ lúc không.


24

+ Đại tiểu tiện tự chủ.
- Rối loạn thần kinh thực vật
+ Tăng tiết đờm dãi
+ Tăng tiết mồ hôi.
- Tình trạng dinh dưỡng: dựa vào chỉ số Zscore cân nặng theo tuổi với ở trẻ dưới
10 tuổi và chỉ số Zscore BMI theo tuổi với trẻ từ 10 tuổi trở lên [57]
< - 3SD
< - 2SD
- 2 SD ≤ Zscore ≤ 1 SD
> 1 SD
> 2 SD


: Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân nặng/thể gầy còm nặng
: Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân/thể gầy còm
: Trẻ bình thường
: Trẻ thừa cân
: Trẻ béo phì

Triệu chứng rối loạn vận động

- Đánh giá mức độ liệt vận động theo thang Henry [58]
Mức độ liệt
Không liệt
Liệt độ I
Liệt độ II
Liệt độ III
Liệt độ IV

Triệu chứng
Vận động bình thường
Biên độ vận động bình thường, có chống lại sức cản nhưng sức cơ giảm
Biên độ vận động bình thường, chống lại sức cản yếu
Biên độ vận động hạn chế, có chống lại sức cản nhưng sức cơ giảm nhiều
Biên độ vận động rất hạn chế hoặc bằng không, không thể chống lại

Liệt độ V

sức cản
Không còn biểu hiện co cơ

- Đánh giá mức độ liệt theo thang điểm Orgogozo (1985) [59] trước và sau điều trị
bằng cách tính tổng điểm tất cả các mục
Tình trạng
Bình thường
Ngủ gà
Sững sờ
Hôn mê
Tiếp xúc bằng lời nói Bình thường
Ý thức

Mức độ

Điểm chuẩn
15
10
5
0
10


25

Khó khăn
Vô cùng khó khăn hoặc không thể được
Không có gì bất thường
Quay mắt quay đầu Quay mắt
Quay quá mức cả mắt và đầu
Bại nhẹ
Cử động mặt
Liệt hoặc bại rõ
Có thể được
Tay nâng lên
Không hoàn toàn
Không thể được
Bình thường
Có thể làm các động tác tinh xảo
Cử động bàn tay
Chỉ làm được các động tác thô sơ
Không sử dụng được
Trương lực cơ chi
Bình thường
trên
Co cứng hoặc mềm nhẽo
Bình thường
Có lực cản vẫn nâng được
Chân nâng lên
Chân tự nâng được không bị rơi
Không nâng được
Có lực cảm vẫn gấp được
Gấp bàn chân
Chân tự gấp được không bị đổ
Bàn chân rũ
Trương lực cơ chi
Bình thường
dưới
Cơ cứng hoặc mềm nhẽo
1 – Cùng mức thang với chữ "bình thường"
2 – Nếu phản xạ nhạy

5
0
10
5
0
51
0
101
5
0
15
10
5
0
52
0
15
10
5
0
101
5
0
52
0


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×