Tải bản đầy đủ

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA điện CHÂM điều TRỊ CHỨNG THẤT NGÔN DO XUẤT HUYẾT ở BÁN cầu đại NÃO SAU GIAI ĐOẠN cấp

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não (TBMMN) là nguyên nhân hàng đầu gây tàn
phế và đứng hàng thứ ba trong các bệnh gây tử vong, sau ung thư và bệnh tim
mạch, đứng hàng thứ nhất trong các bệnh lý thần kinh [1], [2], [3].
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), trên thế giới mỗi năm co
khoảng 15 triệu người mắc TBMMN [4]. Nhồi máu não (NMN) chiếm 80 –
85% trong TBMMN, còn lại là xuất huyết não (XHN) [3].
Tại Hoa Kỳ (2009), mỗi năm co 130.000 người tử vong do TBMMN và
TBMMN là nguyên nhân chính gây ra một lượng lớn người tàn phế [5]. Trong
những năm gần đây ở nước ta, TBMMN đang co chiều hướng gia tăng, cướp
đi sinh mạng của nhiều người hoặc để lại di chứng, gây thiệt hại to lớn cho
gia đình và xã hội [1]. Di chứng của bệnh nhân (BN) sau TBMMN bao gồm
di chứng về vận động, cảm giác, các rối loạn chức năng cao cấp của vỏ não,
trong đo co chứng thất ngôn. Thất ngôn là tình trạng rối loạn ngôn ngữ do tổn
thương bán cầu não, gây ra rối loạn chức năng hiểu lời noi, hiểu chữ viết, biểu
đạt bằng lời noi và chữ viết [6].
Từ năm 1980, nhờ sự tiến bộ vượt bậc của y học trong chẩn đoán sớm,
phương tiện hồi sức cấp cứu tốt hơn và ứng dụng cơ chế bệnh sinh vào điều tri
và dự phòng, tỷ lệ tử vong do TBMMN ngày càng giảm đi [2], đồng nghĩa với

tỷ lệ sống sot và tàn phế ngày càng tăng cao. Chi phí chăm soc sức khỏe và phí
tổn của việc mất khả năng lao động do đột quỵ là khá lớn. Theo TCYTTG
(2007), chi phí này là 62,7 tỷ USD/năm [7]. Riêng ở Hoa Kỳ (2012), chi phí
này đã là 54 tỷ USD mỗi năm [8]. Chính vì vậy, điều tri di chứng TBMMN
ngày nay không chỉ chú trọng vào phục hồi chức năng (PHCN) vận động mà
cần đặc biệt quan tâm đến PHCN ngôn ngữ giúp BN tái hòa nhập xã hội, đồng
thời điều tri các yếu tố nguy cơ đề phòng TBMMN tái phát.


2

Trên thế giới, ngôn ngữ tri liệu phát triển mạnh, đã đạt được những tiến
bộ lớn trong phục hồi ngôn ngữ cho BN thất ngôn do TBMMN. Nền y học cổ
truyền cũng co những đong gop tích cực trong phòng và điều tri di chứng
TBMMN, trong đo đã co nhiều nghiên cứu phục hồi ngôn ngữ bằng cả hai
phương pháp không dùng thuốc và phương pháp dùng thuốc. Nhiều bài thuốc
điều tri thất ngôn đã được nghiên cứu như “Lợi ngôn thang”, “Khai ngữ
thang”, “Giải ngữ thang”, “Thần tiên giải ngữ thang”... áp dụng cho kết quả
tốt [9]. Ở Việt Nam, các phương pháp hào châm, mãng châm, điện châm... đã
được áp dụng điều tri thất ngôn từ những năm 1970. Biện pháp điều tri chứng
thất ngôn sau TBMMN hiệu quả nhất đến nay vẫn còn nhiều bàn cãi, song các
nhà nghiên cứu cho rằng việc đánh giá sớm để tiến hành tri liệu ngôn ngữ kip
thời trong vòng 3 tháng sau TBMMN là điều kiện rất quan trọng để đem lại
cơ hội phục hồi tối đa cho BN [10]. Điện châm chính là phương pháp phổ
biến, dễ áp dụng nhất và co thể áp dụng sớm, kip thời ngay ở tuyến y tế cơ sở,
đem lại hiệu quả tốt.
Gần đây, tác giả Trần Thi Tiến nghiên cứu tác dụng điện châm phục
hồi chứng thất ngôn ở bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp cho thấy
hiệu quả tốt [11]. Chính vì vậy, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá tác dụng của điện châm điều trị chứng thất ngôn do xuất huyết ở bán
cầu đại não sau giai đoạn cấp” với 2 mục tiêu sau:
1) Đánh giá hiệu quả của điện châm điều trị chứng thất ngôn do
xuất huyết ở bán cầu đại não sau giai đoạn cấp.
2) Khảo sát tác dụng không mong muốn của phương pháp.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TÌNH HÌNH TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO VÀ RỐI LOẠN NGÔN
NGỮ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.1.1. Tình hình TBMMN và rối loạn ngôn ngữ trên thế giới
Theo TCYTTG, trên thế giới mỗi năm co khoảng 15 triệu người
TBMMN [4]. Nghiên cứu dich tễ về bệnh TBMMN tại Ấn Độ (2007), tỷ lệ hiện
mắc là 900/100.000 dân [7]. Tại Hoa Kỳ (2012), mỗi năm co hơn 795.000 BN
TBMMN, trong đo khoảng 610.000 BN mới mắc và 25% BN tái phát [8].
Nhồi máu não chiếm 80 – 85% trong TBMMN [1], [2], XHN chỉ chiếm
15 – 20% TBMMN.
Theo thống kê của TCYTTG (2000), mỗi năm co 5,5 triệu người tử
vong do TBMMN, trong đo ước tính khoảng 3,5 triệu người tử vong là ở các nước
phát triển. Ở các nước phát triển với chủ yếu là người da trắng, tỷ lệ tử vong là 50 –
100/100.000 mỗi năm [12]. Những thập kỷ gần đây, theo TCYTTG, tỷ lệ tử vong
của TBMMN co chiều hướng giảm; giảm nhanh nhất là Nhật Bản với 7%/năm và
Hoa Kỳ 5%/năm. Những BN TBMMN sống sot để lại di chứng nặng nề lâu dài về
vận động và nhận thức, trong đo co rối loạn ngôn ngữ [5], [13], [14].
Ở Trung Quốc, co khoảng 1/3 BN TBMMN co rối loạn ngôn ngữ ở các
mức độ khác nhau [15]. Tương tự, ở Canada, 35% BN TBMMN nhập viện co
rối loạn ngôn ngữ [16]. Theo thống kê của TCYTTG, tỷ lệ co rối loạn về ngôn
ngữ mà điển hình là chứng thất ngôn chiếm khoảng 30 - 40% BN liệt nửa
người do TBMMN, trong đo co 85% - 90% BN thất ngôn là do TBMMN bán
cầu ưu thế trái [13]. Tác giả Held và cộng sự nghiên cứu 218 BN liệt nửa
người phải do tổn thương vùng bán cầu não trái co rối loạn ngôn ngữ trên
90%, bao gồm: 40% thất ngôn kiểu Broca, 36% thất ngôn kiểu Wernick, 24%
thất ngôn toàn bộ [13], [17].


4

1.1.2. Tình hình TBMMN và rối loạn ngôn ngữ ở Việt Nam
Những năm gần đây, ở nước ta TBMMN đang co chiều hướng gia tăng
ở mức đáng lo ngại ở cả hai giới và các lứa tuổi. Thống kê ở các bệnh viện
tuyến tỉnh, thành từng thời kỳ 3 – 5 năm thấy tỷ lệ vào điều tri nội trú tăng 1,7
– 2,5 lần [2].
Nguyễn Văn Đăng nghiên cứu dich tễ học TBMMN (1989 – 1994) điều
tra 1.677.933 người ở một số tỉnh miền Bắc và miền Trung cho kết quả tỷ lệ
hiện mắc là 115,92/100.000 dân, tỷ lệ mới mắc là 28,25/100.000 [1].
Lê Văn Thành (2003) điều tra TBMMN ở thành phố Hồ Chí Minh năm
2003 thấy tỷ lệ hiện mắc là 6060/1.000.000 dân, tăng hơn năm 1993 với tỷ lệ
4160/1.000.000 dân [18].
Đinh Văn Thắng (2003) theo dõi TBMMN tại bệnh viện Thanh Nhàn
từ 1999 – 2003, cho thấy năm 2003 tăng 1,58 lần so với năm 1990 [19].
Đặng Quang Tâm (2005) nghiên cứu dich tễ học TBMMN tại Cần
Thơ, kết quả cho thấy tỷ lệ mới mắc là 294/1.000.000 dân và co khuynh
hướng tăng hàng năm; tỷ lệ mắc cũng tăng (năm 2002 co 75,57 BN/100.000
dân; 2003 co 100,1 BN/100.000 dân; 2004 co 129,56 BN/100.000 dân ) [20].
Những thống kê về tình trạng rối loạn ngôn ngữ sau TBMMN tại Việt
Nam không nhiều và chỉ tập trung ở một số trung tâm lớn. Tuy nhiên, các
nghiên cứu của Nguyễn Văn Đăng ở Hà Nội và Lê Văn Thành ở thành phố
Hồ Chí Minh cũng cho thấy tỷ lệ gần giống y văn thế giới [17]. Nghiên cứu
tại các bệnh viện tuyến trung ương cho kết quả tỷ lệ BN thất ngôn sau
TBMMN khác nhau.
Nguyễn Tài Thu, Vũ Thường Sơn (1994) thấy 120 BN TBMMN điều
tri tại Viện Châm cứu Trung ương, kết quả 68% rối loạn ngôn ngữ [14].
Phạm Chí Thành (2002) nghiên cứu 115 BN TBMMN tại bệnh viện
Bạch Mai, trong đo co 54 BN XHN, 61 BN NMN, kết quả cho thấy tỷ lệ rối
loạn ngôn ngữ ở BN XHN là 52%, BN NMN là 46% [21].


5

Đào Hữu Đường (2003) nghiên cứu BN TBMMN tại viện Lão khoa
bệnh viện Bạch Mai cho thấy tỷ lệ rối loạn rối ngôn ngữ chiếm 42,2% [22].
Hoàng Diệp (2005) tiến hành trắc nghiệm ngôn ngữ trên 120 bệnh nhân
TBMMN và co 35 BN co thất ngôn, chiếm tỷ lệ 29,2% [13].
Vũ Viết Lanh, Dương Huy Hoàng (2010) nghiên cứu 206 BN TBMMN
tại Bệnh viện đa khoa Thái Bình, kết quả 31% BN rối loạn ngôn ngữ [23].
Nguyễn Thế Hào (2011) nghiên cứu 79 BN XHN do vỡ khối di dạng động
– tĩnh mạch não tại Bệnh viện Việt Đức, kết quả 23% BN thất ngôn [24].
1.2. GIẢI PHẪU SINH LÝ CÁC CẤU TRÚC BÁN CẦU ĐẠI NÃO LIÊN
QUAN ĐẾN CHỨC NĂNG NGÔN NGỮ
1.2.1. Khái niệm bán cầu ưu thế và chức năng hai bán cầu não
Co ba vùng liên quan chặt chẽ nhất với hoạt động trí tuệ là vùng nhận
thức tổng hợp Wernicke, vùng lời noi Broca và vùng nhận thức chữ viết ở hồi
goc. Cả ba vùng đều co đặc điểm chung là phát triển ở một bên bán cầu rất rộng
hơn hẳn bên bán cầu kia. Bên phát triển rộng đo gọi là bán cầu ưu thế. Khoảng
95% số người là thuận tay phải và bán cầu trái là ưu thế, do bo tháp bắt chéo nên
vỏ não bên trái điều khiển tay phải; còn lại 5% số người hoặc là cả hai bán cầu
đều ưu thế như nhau hay hiếm hơn là chỉ bán cầu phải ưu thế [13].
Hai bán cầu não được biệt hoá về chức năng. Bán cầu trái đặc trách về
chuỗi chức năng theo trật tự. Bán cầu phải co xu hướng về quá trình toàn thể.
Chức năng ngôn ngữ và lời noi mang tính quy trình chặt chẽ, do vậy bán cầu
trái co vai trò ưu thế hơn trong chức năng giao tiếp. Bán cầu phải thiên về quá
trình tổng thể nên chuyên hơn về nhận biết mặt, hiểu và thể hiện cảm xúc, âm
nhạc [13], [17].
1.2.2. Giải phẫu sinh lý chức năng nhận thức ngôn ngữ của não
Nhận thức ở não là quá trình xử lý và tích hợp thông tin, nâng cấp dần
từ cảm giác giác quan lên mức nhận thức ngày càng cao hơn; sự nâng cấp
nhận thức này liên quan đến các vùng chức năng của vỏ não [25].


6

Trước hết, hệ thần kinh tiếp nhận những tín hiệu của môi trường tác động
lên cơ thể; rồi sự tập hợp phân tích, xử lý các loại thông tin đo dẫn đến nhận thức
về môi trường xung quanh. Từ đo co ý thức về cái tôi đang sống, đang tồn tại.
Tiếp đo hình thành tư duy đưa đến kế hoạch tạo hành vi co mục tiêu bảo tồn sự
sống và được thể hiện – giao tiếp với môi trường xung quanh bằng ngôn ngữ [13].
Những vùng rộng trên vỏ não là các vùng liên hợp (nơi giao tiếp giữa
hai hoặc nhiều vùng cấp 2); mỗi vùng tập hợp và phân tích tín hiệu từ rất
nhiều vùng của vỏ não và cả từ các cấu trúc thần kinh dưới vỏ não đưa đến.
Co nhiều vùng liên hợp tuỳ theo quan điểm phân chia của từng tác giả.
Sau đây là một số vùng liên hợp và các phân vùng quan trọng [13], [25]:
- Vùng liên hợp đỉnh – chẩm – thái dương: Vùng này rất rộng nằm trong
khoảng giữa vùng vỏ não cảm giác thân thể, vùng vỏ não nhìn và vùng vỏ não
nghe (chữ A). Vùng này co mức độ nhận thức cao vì nhận các loại tín hiệu
quan trọng từ ba vùng cảm giác xung quanh, được chia thành các phân vùng
chức năng nhỏ hơn từ trên xuống dưới là: vùng toạ độ thân thể, vùng
Wernicke, vùng xử lý chữ viết, vùng tên gọi các vật.
- Vùng nhận thức tổng hợp Wernicke: vùng rất quan trọng, vùng nhận
cảm giác cuối cùng. Tại đây các loại cảm giác đặc hiệu sau nhiều lần nâng cấp
đã trở thành nhận thức tổng hợp, tức là nhận biết toàn diện về một vật thể
(hình). Vùng Wernicke là nơi hợp lưu ít nhất ba dòng thông tin chủ yếu (dòng
cảm giác đụng chạm từ vùng cảm giác thân phía trên đổ xuống, dòng cảm
giác nhìn từ thuỳ chẩm phía sau chảy ra và dòng cảm giác nghe từ thuỳ thái
dương chảy về), mỗi dòng thông tin này trước khi đến đây đã được xử lý sơ
bộ và trở thành nhận thức bước đầu qua các vùng cấp 2.
- Vùng xử lý chữ viết: Vùng này nằm chủ yếu ở hồi goc. Đây là vùng xử
lý hình ảnh nhìn do thuỳ chẩm thu được từ trang sách đọc, rút ra ý nghĩa của
chữ, rồi đưa thông tin đo sang vùng Wernicke. Tổn thương vùng này thì vẫn
hiểu tiếng noi nhưng chữ đọc thì không hiểu.


7

- Vùng tên gọi các vật: Vùng này nằm dưới nhất. Khi não đứa bé phát
triển trong quá trình giao tiếp xã hội (với mẹ) thì nghe noi tên các vật, đồng
thời hiểu bản chất vật thông qua tín hiệu nhìn. Vì vậy vùng này nằm trên đoạn
đường từ vùng nghe đến vùng nhìn và tiếp giáp dưới vùng Wernicke.
- Vùng liên hợp trước trán: Co vai trò quan trọng trong việc hình thành
tư duy với khả năng theo dõi nhiều thông tin cùng lúc, lưu giữ các thông tin
đo vào kho nhớ và co khả năng gọi ra khi cần.
- Vùng lời nói Broca: Đây là một vùng nhỏ co một mạng nơron co chức
năng tạo lời noi và do đo co nhiều liên lạc thần kinh với các vùng tiếp giáp là
vùng hiệp điều vận động, vùng kế hoạch (trước trán) và vùng Wernicke.
- Vùng liên hiệp viền hoặc vỏ não viền: Vùng này co chức năng hành vi,
xúc cảm và động cơ, và là bộ phận của hệ viền.
- Vùng nhận mặt: Vùng này nằm ở mặt dưới của não. Bi huỷ hoại vùng
này thì không nhận diện được người đã quen biết nhưng các chức năng khác
của não hầu như vẫn bình thường.
1.2.3. Vai trò quan trọng của một số vùng bán cầu ưu thế đối với chức
năng ngôn ngữ
Vùng Broca (vùng Broadmann 44) và phần sau của hồi trán dưới co
chức năng lập trình và thực hiện các cử động noi.
Vùng Wernicke (vùng 42) nằm ở phần sau của hồi thái dương trên co
vai trò quan trọng trong hiểu những âm thanh nghe thấy. No liên hệ với hồi
trên viền và hồi goc, đong vai trò quan trọng trong giải mã ngôn ngữ. Ngoài
ra còn một số vùng khác của thuỳ thái dương co liên quan với việc đọc [13].
Một số cấu trúc quan trọng khác co vai trò nối và liên hệ các vùng chức
năng ngôn ngữ. Đặc biệt quan trọng là dải hình cung nối vùng Broca với vùng
Wernicke. Tổn thương dải hình cung sẽ làm BN kho khăn khi nhắc lại những
điều vừa nghe thấy do thông tin kho luân chuyển giữa vùng Broca và


8

Wernicke. Phức hợp vùng Broca – dải hình cung – vùng Wernicke đặc biệt
quan trọng đối với chức năng ngôn ngữ và lời noi. Chính sự tổn thương phức
hợp này dẫn tới tình trạng thất ngôn [17].

Hình 1.1. Các vùng ngôn ngữ ở não [11]
1.3. XUẤT HUYẾT NÃO VÀ THẤT NGÔN THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
1.3.1. Định nghĩa TBMMN và xuất huyết não
Đinh nghĩa của TCYTTG: “Tai biến mạch máu não là sự xảy ra đột
ngột các rối loạn chức năng khu trú của não, kéo dài trên 24 giờ và thường do
nguyên nhân mạch máu” [1], [2], [3].
Tùy thuộc vào bản chất tổn thương, trong thực hành lâm sàng TBMMN
được chia làm 2 thể lớn [1],[2], [3]:
- Nhồi máu não: nhu mô não bi thiếu máu và hoại tử.
- Xuất huyết não: máu thoát khỏi thành mạch và chảy vào nhu mô não.
Theo Bảng Phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ 10 (ICD - X, 1992) các bệnh
mạch máu não được phân loại từ số I60 đến I69. Dựa trên bảng phân loại này,
diện nghiên cứu của chúng tôi thuộc mã bệnh I61.0 đến I61.8 [26].


9

1.3.2. Chẩn đoán xuất huyết não
Chẩn đoán XHN giai đoạn cấp dựa trên một số cơ sở triệu chứng lâm
sàng và cận lâm sàng như sau [2], [3]:
 Lâm sàng
 Thời kỳ khởi phát: khởi phát đột ngột, nhưng cũng co thể khởi bệnh tăng
dần trong một vài giờ với triệu chứng nhức đầu, nôn, chong mặt, rối loạn ý
thức, cơn động kinh, rối loạn ngôn ngữ...
 Thời kỳ toàn phát: liệt nửa người, triệu chứng thần kinh khu trú khác tùy
thuộc vi trí tổn thương và mức độ lan tràn máu như sau:
* Chảy máu ở trong sâu: chiếm khoảng 50% tổng số XHN.
- Chảy máu nhân bèo gây thiếu sot vận động thuần túy; nếu lan ra sau sẽ
co các triệu chứng cảm giác, nếu lan ra bên co thể gây rối loạn ngôn ngữ…
- Chảy máu xâm phạm cuống não gây rối loạn ý thức, các rối loạn vận
nhãn phức tạp (liệt chức năng liếc dọc, liệt quy tụ, co đồng tử cả hai bên hoặc
liệt dây III). Nếu chảy máu co kích thước lớn sẽ gây ra hiện tượng mặt nhìn
về bên tổn thương.
- Chảy máu đồi thi: thiếu sát vận động, rối loạn cảm giác phân ly, rối
loạn ngôn ngữ và trí nhớ (thường bi che khuất bởi rối loạn ý thức).
- Chảy máu ở các nhân xám trung ương: nhân đuôi, thể Luys gây ra các
triệu chứng ngoại tháp: múa giật, múa vờn nửa người.
* Chảy máu thùy não: chiếm 30-40% tổng số XHN. Triệu chứng thường
gặp là nhức đầu nhiều, liệt nửa người thường nhẹ, co thể co cơn động kinh,
không co tăng huyết áp. Co thể xuất huyết ở một hay nhiều thùy, tùy theo vi
trí co các triệu chứng riêng: XHN ở thùy chẩm gây các rối loạn thi trường, ở
thùy trán co liệt nửa người, đôi khi co rối loạn hành vi …
* Chảy máu dưới lều: Chiếm khoảng 10 – 20% tổng số XHN.


10

- Chảy máu ở cầu não: hay co triệu chứng ở hai bên. Chảy máu co kích
thước lớn: thường gây tử vong nhanh, liệt tứ chi, các rối loạn nhip thở
(Cheynes stokes), nhiệt độ, nhip tim, đồng tử. Chảy máu ở bên: co hội chứng
giao bên cầu não kèm liệt liếc ngang. Chảy máu rất nhỏ: co thể rối loạn cảm
giác hoặc vận động thuần túy.
- Chảy máu ở tiểu não: thường chảy máu ở một bên bán cầu tiểu não, ít
gặp ở thùy giun. Triệu chứng nghèo nàn: đau đầu, nôn, loạng choạng, rất ít
khi rối loạn vận động, cảm giác và rối loạn ý thức, co thể noi hoặc song thi.
* Chảy máu ở trong não thất thuần túy (5%): Mất ý thức là triệu chứng duy
nhất hay gặp. Đôi khi liệt chức năng liếc dọc hoặc rối loạn trí nhớ.
 Cận lâm sàng
Chẩn đoán xác đinh XHN dựa trên phim chụp CT – Scanner hoặc MRI
sọ não. Tùy thuộc vào thời gian chụp tính từ khi phát bệnh mà hình ảnh khối
máu tụ trên phim như sau:
Bảng 1.1. Đặc điểm khối máu tụ trên phim chụp CT – Scanner sọ não
và MRI sọ não [3]
MRI

Tiến triển theo

CT- Scanner

T1: giảm hoặc đồng tín hiệu

thời gian
Từ 1 – 7 ngày

Tăng tỷ trọng

T2: giảm tín hiệu
T1: - giảm tín hiệu ở trung tâm

Từ 7 – 15 ngày

Mức độ tăng tỷ

- tăng tín hiệu ở ngoại vi
T2: giảm tín hiệu ở ngoại vi
T1 và T2: tăng tín hiệu
T1 và T2: tăng tín hiệu trung

trọng giảm dần
Từ 15 – 21 ngày
> 21 ngày

Đồng tỷ trọng
Giảm tỷ trọng

tâm, giảm tín hiệu ở ngoại vi
BN được chẩn đoán xác đinh XHN sau giai đoạn cấp là sau khi khởi phát 15
ngày và BN ổn đinh về tuần hoàn, hô hấp, thần kinh. Sau giai đoạn cấp tính, BN bắt
đầu phục hồi dần nhưng thường để lại di chứng về vận động, cảm giác, ngôn ngữ ...


11

1.3.3. Khái niệm ngôn ngữ, thất ngôn và phân loại
1.3.3.1. Khái niệm ngôn ngữ
Theo Enghen, ngôn ngữ là sản phẩm của lao động trong quá trình vượn
biến thành người, no là phương tiện giao tiếp và tư duy, là nền tảng xã hội của
con người. Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ noi, viết và các hình thức ngôn ngữ
không lời như giao tiếp bằng hình vẽ, bằng cử chỉ, điệu bộ [27].
Ngôn ngữ noi là hệ thống mã võ đoán các ký hiệu âm thanh gắn với
nghĩa theo những chuẩn mực do một cộng đồng tạo ra và sử dụng. No gồm
các lĩnh vực như: âm vi học, ngữ nghĩa học, nối kết học và dụng học [6], [28].
- Âm vi học là lĩnh vực nghiên cứu mối liên quan giữa các âm.
- Ngữ nghĩa (hình thái) học nghiên cứu các đơn vi ngữ nghĩa của ngôn ngữ.
- Nối kết (ngữ pháp) học nghiên cứu luật thiết lập mối liên hệ giữa các từ
để tạo thành ngữ hay câu.
- Dụng học nghiên cứu các luật dùng ngôn ngữ trong bối cảnh xã hội.
1.3.3.2. Khái niệm thất ngôn và phân loại
 Khái niệm thất ngôn
Theo Darley đinh nghĩa: Thất ngôn là tình trạng do tổn thương não gây
ra những khiếm khuyết về khả năng diễn giải và hình thành các ký hiệu ngôn
ngữ, sự giảm hoặc mất nhiều kiểu trong việc giải mã một cách đầy đủ theo
quy ước các thành phần của ngôn ngữ (hình vi hoặc các đơn vi cú pháp lớn
hơn); mà không co liên quan đến các khiếm khuyết chức năng trí tuệ khác,
không do suy giảm trí nhớ, mất cảm giác hoặc các rối loạn vận động; thể
hiện rõ trong sự suy giảm đáng kể vốn từ vựng, sự sử dụng các quy tắc cú
pháp và khoảng thời gian lưu giữ các thông tin nghe được, và khiếm khuyết
rõ rệt trong việc chọn lọc kênh thông tin vào – ra [13].


12

Trên lâm sàng, đinh nghĩa thất ngôn là khi 1 trong 4 hình thái ngôn ngữ
trong trắc nghiệm BDAE (Boston Diagnostic Aphasia Examination) gồm:
hiểu, biểu đạt bằng lời noi; hiểu, biểu đạt bằng chữ viết bi khiếm khuyết [27].
85% các trường hợp thất ngôn là do tai biến mạch não bán cầu trái. Tổn
thương các hình thức và lĩnh vực của ngôn ngữ đều co liên quan đến khu vực
tổn thương của não [28].
 Phân loại thất ngôn
Dựa trên kết quả của trắc nghiệm ngôn ngữ, theo sơ đồ chẩn đoán thất
ngôn của K.M. Yorkston và D.R. Beukelman 1979 ta co thể xác đinh từng thể
thất ngôn của người bệnh theo sơ đồ 1.1 [29].
THẤT NGÔN
Lưu
Lưuloát
loát

(-)(-)
Toàn bộ
Broca
Liên vỏ vận động
(-)(-)

(+)
(+)Nhắc
Nhắclại
lại
Liên vỏ
vận động

(-)(-)

Nghe
Nghehiểu
hiểu

Broca
Liên vỏ vận động
(-)(-)

Broca

Wernick
Liên vỏ giác quan
Dẫn truyền Quên từ

(+)
(+)

Toàn bộ

(+)
(+)

(+)
(+)

Wernick
Liên vỏ giác quan
(-)(-)

Wernicke

(+)
(+)
Liên vỏ
Giác quan

Dẫn truyền
Quên từ
(-)(-)
Dẫn
truyền

(+)
(+)
Quên từ

Sơ đồ 1.1. Phân loại các dạng thất ngôn theo K.M. Yorkston
và D.R. Beukelman 1979 [29]
Noi lưu loát là khi các âm tiết được tạo ra một cách đều đặn, và lời noi
lên bổng xuống trầm phù hợp với ý nghĩa của phát ngôn. Noi kém lưu loát
trong thất ngôn là khi lời noi được phát ra một cách ngập ngừng, do dự, dừng
rồi lại bắt đầu, không thay đổi âm sắc và ngữ điệu như bình thường.


13

Như vậy, tuỳ theo mức độ, hình thái khiếm khuyết ngôn ngữ, các vi trí tổn
thương trên bán cầu đại não mà các thể thất ngôn co các đặc điểm khác nhau:
Bảng 1.2. Đặc điểm thất ngôn theo các thể [11], [13]
Thể
Broca

Vị trí tổn thương
Đặc Điểm
Vùng Broca ở sau Noi cực kỳ kho khăn, phải cố gắng hết sức, khiếm
dưới thuỳ trán

khuyết về cấu âm, không co ngữ pháp, rối loạn

bên trái

nhip điệu. Hiểu lời noi tương đối bình thường.

Wernicke Vùng Wernicke

Nghe hiểu kém, thể hiện bằng lời noi lưu loát

bên trái phía sau

kèm theo noi nhiu. Đọc và viết bi khiếm

thái dương trên

khuyết nặng.

Dẫn

Hồi trên viền, sâu Không nhắc lại được liên quan đến nghe hiểu và

truyền

tới dải hình cung

noi lưu loát. Đinh danh vòng vo, nhiều lỗi noi nhiu

Quên từ

Vùng đỉnh

Noi được cấu âm một cách rõ ràng, đúng ngữ

dưới/thái dương

pháp, lưu loát, nhưng tìm từ kho khăn trong khi

dưới

noi lưu loát và nghe hiểu tương đối bình thường

Liên

vỏ Vùng đỉnh/Vùng

Nghe hiểu bi khiếm khuyết nặng, đọc bi lập lại

giác quan Wernicke nguyên

quá nhiều. Noi lưu loát nhưng bi nhiu và sáng

vẹn
Liên

vỏ Thuỳ trán trên,

vận động vùng Broca

tạo từ. Đinh danh bi khiếm khuyết nặng
Noi tự nhiên, viết kho khăn. Nhắc lại, nghe
hiểu bình thường

nguyên vẹn
Toàn bộ

Vùng rộng, từ

Gọi tên, nhắc lại, nghe hiểu bi khiếm khuyết

thuỳ trán tới thái

nặng. Noi kém lưu loát thậm chí chỉ vài biệt

dương

ngữ hoặc vài từ


14

1.3.4. Tiến triển của xuất huyết não và thất ngôn
Qua giai đoạn XHN cấp tính, BN bắt đầu phục hồi dần nhưng thường để lại
di chứng.
Mức độ liệt không phụ thuộc hoàn toàn vào tình trạng ban đầu mà phụ thuộc
vào vi trí, mức độ và chức năng vùng bi tổn thương: ổ tổn thương càng to, mức
độ chèn càng nhiều thì khả năng phục hồi càng lâu [2].
Chức năng vận động: phần ngọn chi liệt nặng hơn gốc chi, tay thường
nặng hơn chân. Nhom cơ duỗi và dạng thường nặng hơn nhom cơ gấp và
khép, tạo cơ thể thành một tư thế đặc biệt. Tính chất liệt: lúc đầu liệt mềm,
thời gian co thể ngắn hoặc dài, đinh khu chưa rõ ràng, sau chuyển thành liệt
cứng và đinh khu ngày càng rõ [1].
Liệt mặt xuất hiện sớm nhưng chong phục hồi. Rối loạn cơ tròn co thể
xuất hiện sớm nhưng khả năng tự phục hồi ít. Rối loạn tinh thần thể hưng
phấn hoặc bi quan ảnh hưởng tới đời sống và hòa nhập xã hội.
Chứng thất ngôn xuất hiện sớm. Kết quả phục hồi ngôn ngữ tùy thuộc
vào loại thất ngôn [10]. Thất ngôn Broca và dẫn truyền co khả năng phục hồi
rất tốt. Thất ngôn quên từ co tiên lượng tốt nhất. Riêng thất ngôn Wernick tiên
lượng co thể tốt, co thể xấu. Thể thất ngôn toàn bộ hồi phục kém về diễn đạt
bằng lời; khả năng hiểu sẽ được hồi phục muộn hơn, sau 6 - 12 tháng [28].
1.3.5. Nguyên tắc điều trị xuất huyết não và thất ngôn
1.3.5.1. Nguyên tắc điều trị xuất huyết não giai đoạn cấp
 Điều trị nội khoa [1], [2], [30], [31]
Xuất huyết não là một cấp cứu nội khoa, cần được xử trí cấp cứu kip
thời và toàn diện theo các nguyên tắc sau:
- Điều tri toàn diện tình trạng thần kinh và các chức năng sống.
- Dự phòng và điều tri các biến chứng thần kinh hoặc biến chứng khác.
- Dự phòng thứ phát sớm để giảm tỷ lệ tái phát XHN sớm.


15

- Phục hồi chức năng sớm.
- Điều tri đặc hiệu là ngăn chặn trực tiếp sự tiến triển của khối máu tụ.
 Điều trị ngoại khoa [1], [31]
 XHN trên lều: đường kính trên 5cm, hoặc di lệch đường giữa trên 1cm.
 XHN dưới lều cần phẫu thuật sớm trừ khi ổ xuất huyết nhỏ.
Hội Đột quỵ Châu Âu khuyến cáo cho điều tri đặc hiệu của XHN
không do phình mạch như sau [31]:
- Xem xét phẫu thuật mở sọ nếu ý thức xấu (điểm Glasgow từ mức 12 đến
9 xuống ≤ 8), nếu khối máu tụ ở nông bề mặt hoặc khu trú ở tiểu não.
- Máu tụ ở sâu nếu không co lợi khi phẫu thuật mở sọ, xem xét hút máu
tụ, đặc biệt nếu biểu hiện hiệu ứng khối.
Các yếu tố co giá tri tiên lượng nặng đối với tiến triển ở BN XHN do
tăng huyết áp là: Kích thước khối máu tụ trên lều ≥ 5 cm; điểm Glasgow ≤ 8
điểm; thể tích khối máu tụ trên lều ≥ 60 cm 3; máu vào não thất IV; liệt hoàn
toàn; thân nhiệt ≥ 380C; dấu hiệu co giật [32].
1.3.5.2. Nguyên tắc điều trị xuất huyết não sau giai đoạn cấp
BN XHN qua giai đoạn cấp sẽ dần phục hồi nhưng thường để lại di chứng
vận động và ngôn ngữ. Nguyên tắc điều tri XHN sau giai đoạn cấp [33]:
- Phục hồi chức năng sớm: BN TBMMN thường phục hồi đạt tối đa

trong năm đầu nếu được hướng dẫn luyện tập và điều tri tích cực.
Một số mục tiêu cần lưu ý [33]: Duy trì sức khỏe ổn đinh, tạo điều kiện
cho việc tập luyện, vận động; tăng cường sức mạnh cơ bên liệt; tạo thuận và
khuyến khích các hoạt động chức năng; kiểm soát các rối loạn tri giác, nhận
thức, giác quan, ngôn ngữ; hạn chế và kiểm soát các thương tật thứ cấp; giáo
dục và hướng dẫn gia đình cùng tham gia phục hồi chức năng.
- Điều tri phòng biến chứng kèm theo: loét tỳ đè, bội nhiễm...


16

- Điều tri dự phòng chảy máu não thứ phát: điều tri nguyên nhân tăng
huyết áp hay di dạng mạch máu não...
1.3.5.3. Nguyên tắc điều trị thất ngôn
Lượng giá chức năng ngôn ngữ cho BN TBMMN được tiến hành một
cách chính thức khi tình trạng tri giác của BN ổn đinh. BN cần được lượng giá
đầy đủ về rối loạn ngôn ngữ, và các rối loạn chức năng vận động, tư duy, nhận thức,
cảm xúc kèm theo.
Mục tiêu điều tri được xác đinh tùy theo thể và mức độ nặng của người
bệnh. Đối với bệnh nhân bi thất ngôn nặng, mục tiêu chính là chọn cho họ và
gia đình một cách giao tiếp hiệu quả nhất. Nguyên tắc ở đây là giao tiếp tối đa
và co hiệu quả với người bệnh dựa trên các kỹ năng ngôn ngữ còn lại, cải
thiện và tái hồi phục các hình thức ngôn ngữ bi tổn thương sau TBMMN.
Giao tiếp hiệu quả cho bệnh nhân bi thất ngôn “bằng cách nhắc” và “theo
chương trình” [6] ,[28].
1.4. TBMMN VÀ THẤT NGÔN THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
Trong YHCT không co bệnh danh TBMMN noi chung và XHN noi
riêng. Căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng và tính chất xuất hiện đột ngột
như trong giai đoạn cấp của YHHĐ thì YHCT xếp TBMMN vào chứng Trúng
phong, giai đoạn sau cấp của YHHĐ với triệu chứng liệt nửa người nổi bật thì
YHCT xếp vào chứng bán thân bất toại, với triệu chứng noi kho nổi bật thì
xếp vào chứng thất ngôn [34], [35], [36], [37].
1.4.1. Chứng Trúng phong
1.4.1.1. Bệnh danh Trúng phong
Chính thức gọi tên bệnh danh Trúng phong, bắt đầu từ “Kim quỹ yếu
lược” của Trương Trọng Cảnh đời Hán. Kim quỹ yếu lược chia ra trúng lạc,
trúng kinh, trúng phủ, trúng tạng. Ngày nay chủ yếu dùng bệnh danh trúng
phong, bán thân bất toại và được chia ra trúng phong kinh lạc (TPKL) và
trúng phong tạng phủ (TPTP) [37], [38], [39].


17

Trong quyển “Danh từ đông y”, trúng phong được đinh nghĩa như sau
“phong tà xâm nhập vào cơ thể một cách vừa nhanh, vừa mạnh như mũi tên
bắn vào, nên gọi là “trúng phong” co mức độ nặng nhẹ khác nhau; trúng tạng,
trúng phủ là bệnh nặng; trúng kinh, trúng lạc là bệnh tương đối nhẹ” [40].
1.4.1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Các Y gia Trung quốc qua các thời đại đều đưa ra học thuyết cho rằng
nguyên nhân gây bệnh là do phong nhưng quan điểm thì khác nhau [17], [39].
 Từ thời Hán, Đường về trước
Trong Linh khu noi: hư tà xâm nhập nửa người, khu trú ở dinh vệ, dinh
vệ yếu thì chân khí mất, tà khí ở lại trở thành khô cứng nửa người.
Kim quỹ yếu lược co viết: “kinh mạch hư không phong tà thừa cơ xâm
nhập gây chứng trúng phong, tùy theo bệnh nặng nhẹ mà biểu hiện chứng hậu
ở kinh lạc hay tạng phủ”.
 Từ thời Hán, Đường về sau
Lưu Hà Gian cho rằng: “người bi bệnh tê liệt do trúng phong do hô hấp
không tốt, tâm tính nong nảy, thận thuỷ hư nhược, không thể kiềm chế, mà
gây ra đột quỵ. Do năm nguyên nhân đã được biết là hỷ, nộ, tư, bi, khủng xảy
ra ở quá mức, mà dẫn đến đột quỵ”.
Lý Đông Viên cho rằng “Con người khi ở độ tứ tuần, khí huyết co phần
suy nhược, hoặc do ưu phiền, phẫn nộ làm tổn thương phần khí , thường thấy
xuất hiện bệnh này”, nguyên nhân gây bệnh là “ Chính khí tự hư”.
Chu Đan Khê chủ trương ở những người ăn quá nhiều chất béo bổ, ít
vận động lâu ngày sinh ra thấp trong cơ thể “thấp đàm sinh nhiệt”, “Thấp thổ
sinh đờm, đờm sinh nhiệt, nhiệt sinh phong”.
Diệp Thiên Sỹ đời Thanh thiên về phong dương: do huyết kém, thủy
yếu không nuôi dưỡng được can mộc, can dương quá mạnh sinh nội phong,


18

nội phong nổi nên gây ra trúng phong hoặc do huyết táo sinh nhiệt, nhiệt được
phong khí đưa lên thành trúng phong.
Tom lại, nguyên nhân của trúng phong theo YHCT do ngoại phong và
nội phong kết hợp với nhau nhưng chủ yếu do nội phong [36], [41].
Cơ chế bệnh sinh chứng trúng phong được tom tắt theo sơ đồ sau:
Tình chí
thương tổn

Hỏa tâm can
thinh (Lưu Hà
Gian)

Tuổi cao
thận thủy
suy

Can Thận âm hư
(Diệp Thiên Sỹ)

Ẩm thực
bất tiết

Đàm thấp trở trệ
(Chu Đan Khê)

Lao dục
quá độ

Nội
nhiệt

Nội
phong

Khí hư, huyết hư
(Lý Đông Viên)

Trúng
phong

Ngoại
phong

Sơ đồ 1.2. Cơ chế bệnh sinh chứng trúng phong [39]
1.4.1.3. Triệu chứng lâm sàng
Các thể lâm sàng ở giai đoạn cấp tùy theo tà khí xâm phạm ở phần nông
là TPKL, hay sâu co hôn mê là TPTP.
- Trúng phong kinh lạc [36], [37], [41]: thuộc về chứng trúng phong nhẹ,
co biểu hiện bán thân bất toại, không co hôn mê, kèm co cảm giác tê dại, mắt
miệng méo, mạch huyền tế sác; hoặc chân tay co quắp, miệng sùi bọt, cử
động kho khăn, rêu lưỡi dày, mạch phù hoạt hoặc huyền hoạt.
- Trúng phong tạng phủ [36], [37]: chủ yếu do nội phong, co biểu hiện
bán thân bất toại đột ngột kèm theo co hôn mê và được chia làm hai chứng:
Chứng bế: bất tỉnh, răng cắn chặt, miệng mím chặt, hai bàn tay nắm chặt, da
mặt đỏ, chân tay ấm, không co rối loạn cơ tròn, mạch huyền hữu lực.


19

Chứng thoát: bất tỉnh, mắt nhắm, miệng há, tay duỗi, chân tay lạnh, co rối
loạn cơ tròn, mạch trầm huyền vô lực.
Phân biệt tính chất hàn, nhiệt và trạng thái hư thực của bệnh [41]: Trạng
thái hư hàn biểu hiện bán thân bất toại, noi kho hoặc noi ngọng, chất lưỡi
nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng, thích ăn đồ ấm, đại tiện lỏng, chân tay lạnh, mạch
trầm huyền vô lực. Trạng thái thực nhiệt biểu hiện bán thân bất toại, noi kho
hoặc noi ngọng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dày, thích ăn đồ mát, đại tiện táo,
tiểu tiện vàng, chân tay ấm, mạch phù huyền hữu lực.
1.4.1.4. Điều trị
Nguyên tắc chung điều tri chứng trúng phong của YHCT là cân bằng âm
dương, điều hoà chức năng tạng phủ, bổ âm (can, tâm, thận), tả dương, thông
kinh hoạt lạc, khai khiếu.
 Trúng phong kinh lạc [36], [37], [38]:
Pháp điều tri: tư âm tiềm dương (nếu do âm hư hỏa vượng), tức phong
thông lạc hoặc trừ đàm thông lạc (nếu do phong đàm).
 Trúng phong tạng phủ [35], [36], [37], [38]:
Pháp điều tri: Chứng bế: khai khiếu, thanh hỏa, tiêu đàm, tức phong.
Chứng thoát: hồi dương, hồi âm, cứu thoát.
1.4.2. Chứng thất ngôn
Sau khi bi trúng phong, BN thường để lại di chứng bán thân bất toại,
miệng mắt méo xếch và chứng thất ngôn.
1.4.2.1. Bệnh danh thất ngôn
Chứng thất ngôn hậu trúng phong thuộc phạm vi chứng: “thiệt cương”,
“thiệt ám”, “bất ngữ”... Bệnh nguyên là do phong đàm trở ngại kinh lạc, kinh
lạc bất thông, khí huyết trở trệ, kinh mạch không nuôi dưỡng mà dẫn tới lưỡi
cứng, không noi được [15].
1.4.2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh


20

Lời noi của con người liên quan mật thiết đến lục phủ ngũ tạng. Chức
năng tạng phủ bình thường, khí huyết điều hòa, âm dương cân bằng, thì ý
thức rõ ràng, tư duy nhạy bén, phát âm lưu loát.
Lời noi liên quan mật thiết nhất với Tâm, Phế, Thận. Phế chủ khí, phế
khí tốt thì tiếng noi sang sảng, phế khí yếu thì tiếng noi thều thào yếu ớt. Tâm
khai khiếu ra lưỡi, nên khi tâm khí bi rối loạn, lưỡi của người bệnh bi rụt lại
không đẩy ra được hoặc lưỡi kém linh hoạt gây nên chứng thất ngôn, như vậy
khi điều tri cần sử dụng những cả những huyệt xung quanh lưỡi giúp cho lưỡi
đẩy ra được và linh hoạt. Tâm bào là khung thành bảo vệ cho Tâm, nên khi
tâm bi bệnh thì trước đo Tâm bào cũng đã bi bệnh. Thận tàng tinh, kinh của
túc thiếu âm thận ở gốc lưỡi. Thận sinh tủy – sinh não và thận còn sinh huyết
hỗ trợ tâm dư thiệt, thận khí tốt thì não tủy phát triển đầy đủ, lời noi rõ ràng
minh mẫn. Nếu thận tinh suy nhược, tân dich không thể đi lên được, hoặc
đàm huyết kết với nhau, che mất tâm khiếu, thiệt khiếu không còn tác dụng
hoặc huyết ứ ở não, thần không chủ trì được, thì đều co thể dẫn đến thất vận
ngôn, nhẹ thì noi không lưu loát, nặng thì mất ngôn ngữ, không noi được [11].
“Trung tạng kinh” co noi: “tâm tỳ đều trúng phong mà lưỡi cứng không
thể noi, tỳ thông vi, liên lạc với lưỡi, hai tạng bi trúng phong, lưỡi cứng mà
không noi được”. Tỳ thống, nhiếp huyết, lại chủ về cơ nhục, tỳ khí kém thì cơ
nhục toàn thân cũng như vùng lưỡi mềm yếu, sinh noi kho [17].
Nhâm mạch nhiệm lục âm kinh, muốn làm cho khí huyết đầy đủ ở các
tạng Tâm – Tỳ – Phế – Thận thì cần phải tác động vào nhâm mạch.
Do vậy khi điều tri, ngoài các kinh mạch co tác dụng điều tri căn
nguyên để PHCN ngôn ngữ cần chọn kinh thủ Thiếu âm Tâm, kinh thủ thiếu
âm Phế, kinh túc Thiếu âm Thận, kinh túc thái âm tỳ và hai mạch nhâm và
đốc, để giúp cho việc điều chỉnh khí huyết được đầy đủ, tinh thần mới minh
mẫn, noi năng rõ ràng.
1.4.2.3. Triệu chứng lâm sàng và thể bệnh


21

Tùy theo chứng trạng trên lâm sàng phân ra làm 3 thể [17]:
- Phong đàm trở lạc: lưỡi cứng, noi ngọng, chân tay tê dại, lưỡi bệu, rêu
lưỡi trắng nhớt, mạch huyền hoạt.
- Can dương thượng cang, đàm tà trở khiếu: không noi được, chong mặt
hoa mắt, mắt đỏ mặt đỏ, mạch huyền hoạt.
- Thận hư tinh suy: thanh âm yếu, không noi được, tâm quý, đoản khí, eo
lưng đầu gối đau mỏi, mạch trầm.
Trong đo, thể phong đàm trở lạc và can dương thượng cang, đàm tà trở
khiếu thuộc thực chứng, thể thận hư tinh suy thuộc hư chứng.
1.4.2.4. Điều trị
YHCT co hai phương pháp là dùng thuốc và không dùng thuốc [36], [37]:
 Phương pháp dùng thuốc
- Phương thuốc “Giải ngữ đan”, “Thần tiên giải ngữ đan” điều tri thể
phong đàm trở lạc [17].
- Phương thuốc “Thiên ma câu đằng ẩm”, “Trấn can tức phong thang”
điều tri thể can dương thượng cang, đàm tà trở khiếu.
- Phương thuốc “Đia hoàng ẩm tử” điều tri thận hư tinh suy.
 Phương pháp không dùng thuốc [38]
Các phương pháp hào châm, điện châm, mãng châm, đầu châm, thiệt
châm… ở Việt Nam đều đã được nghiên cứu và ứng dụng trên lâm sàng cho
kết quả điều tri tốt.
- Thể thực: Pháp điều tri: Khai khiếu, khu tà, thông kinh lạc.
- Thể hư: Pháp điều tri: Khai khiếu, bổ hư, thông kinh lạc.
Chọn các huyệt tại chỗ và huyệt theo đường kinh, kích thích phù hợp
theo nguyên tắc “hư thì bổ, thực thì tả” [38], [42].
1.5. PHƯƠNG PHÁP ĐIỆN CHÂM ĐIỀU TRỊ THẤT NGÔN
1.5.1. Một số nghiên cứu về điều trị thất ngôn sau trúng phong bằng YHCT


22

Tại Trung Quốc, châm và điện châm đã được sử dụng từ rất sớm và phổ
biến trong điều tri di chứng về rối loạn ngôn ngữ do TBMMN. Ba phương pháp
thường dùng là: thể châm (dùng kim châm kích thích huyệt toàn thân); đầu châm
(kích thích đinh khu đặc biệt trên da đầu để kích thích chức năng hoạt động vỏ
não); thiệt châm (kích thích hệ thống kinh lạc của lưỡi) [43].
Hàn Bảo Kiệt (2000) nghiên cứu đầu châm và điện châm điều tri 52 BN
thất ngôn do TBMMN thấy hiệu quả 96,15% [44].
Giang Cương Huy, Lý Diễm Tuệ (2001) dùng thể châm điều tri 30BN
thất ngôn do TBMMN cho kết quả 86,67% [45].
Đào Hữu Minh và Triệu Kim Sinh (2004) dùng đầu châm và thiệt châm
cho 45BN thất ngôn do TBMMN cho kết quả cải thiện 76,93% [46].
Mễ Kiến Bình, Chu Hiểu Bình (2004) dùng thiệt châm điều tri 46 BN
thất ngôn do TBMMN, tỷ lệ co hiệu quả đạt 80,4% [47].
Lý Trí dùng thể châm và đầu châm với 30 BN, hiệu quả 93,33% [48].
Ở Việt Nam, điện châm được sử dụng từ những năm 1970 để điều tri di
chứng thất vận ngôn do TBMMN và đã thu được những hiệu quả đáng kể.
Những người co công lớn trong lĩnh vực này là Nguyễn Tài Thu, Trần Thúy,
Hoàng Bảo Châu. Một số kết quả nghiên cứu dùng điện châm phục hồi tiếng
noi cho BN TBMMN đã được đăng trên tạp chí Châm cứu Việt Nam, báo chí
Pháp và tạp chí Đông Nam Á tại Paris [29].
Nguyễn Tài Thu và Vũ Thường Sơn (1994) nghiên cứu “Phục hồi vận
ngôn bằng châm cứu trên BN TBMMN” thu được 93,9% BN co tiến bộ [14].
Lê Văn Hải (2001) nghiên cứu điều tri các rối loạn phát âm ở BN bi
TBMMN bằng điện châm cho kết quả rất khả quan: 41,2% hồi phục tốt,
37,2% hồi phục khá [29].
Trần Thi Tiến (2012) đánh giá tác dụng của điện châm trong điều tri
thất vận ngôn trên BN NMN sau giai đoạn cấp thấy tỷ lệ hồi phục là 97,7%
(tốt 55,5%; khá 42,2%) [11].


23

1.5.2. Điện châm
1.5.2.1. Định nghĩa điện châm và cơ chế tác dụng của châm cứu
Điện châm là phương pháp chữa bệnh phối hợp tác dụng chữa bệnh
của châm cứu với tác dụng các dòng điện qua một máy điện châm (dòng điện
một chiều hoặc dòng điện xung) [38].
Cơ chế tác dụng của châm cứu: phản ứng tại chỗ thông qua cung phản xạ;
phản ứng tiết đoạn thông qua tiết đoạn thần kinh của nội tạng và phản ứng toàn
thân thông qua cơ chế thần kinh, thể dich [38]. Nhiều công trình nghiên cứu cho
thấy châm cứu co ảnh hưởng đến nhiều chức năng khác nhau của cơ thể [11].
Khi tác động vào huyệt, vỏ não chuyển sang trạng thái hưng phấn hay
ức chế tùy thuộc vào thời gian tác động và trạng thái chức năng ban đầu của
hệ thần kinh trung ương. Noi cách khác, no tác động vào một số huyệt gây
biến động hoạt tính điện trong nhiều cấu trúc thuộc não bộ, tạo điều kiện
thuận lợi cho các tế bào thần kinh hoạt động đồng bộ ở mức cao hơn. Đặc biệt
co sự cải thiện chức năng của vỏ não trong và sau khi tác động lên huyệt.
Ảnh hưởng của tác động lên huyệt đối với hệ nội tiết được xem như cơ
chế tác dụng của tác động lên huyệt theo con đường thể dich. Các công trình
nghiên cứu cho thấy tùy từng huyệt được kích thích mà co những đáp ứng
khác nhau lên trục dưới đồi – tuyến yên – các tuyến nội tiết nhằm điều hòa
đối với việc bài tiết từng hormon cụ thể.
1.5.2.2. Phác đồ huyệt nghiên cứu
 Công thức huyệt:
Phác đồ điều trị di chứng thất ngôn ở bệnh nhân XHN bằng điện
châm tại Khoa Y học cổ truyền Bệnh viện Bạch Mai:
- Tại chỗ: Thượng liêm tuyền (ngoài kinh), Ngoại kim tân (ngoài
kinh), Ngoại ngọc dich (ngoài kinh); Nhân nghinh (III.9), Thủy đột (III.10),
Khí xá (III.11).


24

- Toàn thân: Bách hội (XIII.20); Phong trì (XI.20), Hợp cốc (II.4), Âm
khích (V.6), Thần môn (V.7), Nội quan (IX.6), Thái khê (VIII.3), Tam âm giao
(IV.6), Thái xung (XII.3), Huyết hải (IV.10) hai bên.
Ngoài ra, để phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân, cần châm
các huyệt để thông kinh hoạt lạc nửa người bên liệt:
- Chi trên bên liệt: Kiên ngung (II.15), Khúc trì (II.11), Thủ tam lý
(II.10), Ngoại quan (X.5), Hợp cốc (II.4), Bát tà (ngoài kinh).
- Chi dưới bên liệt: Hoàn khiêu (XI.30), Phong thi (XI.31), Túc tam lý
(III.36), Dương lăng tuyền (XI.34), Huyền chung (XI.39), Giải khê (III.41),
Bát phong (ngoài kinh).
- Mặt bên liệt (liệt VII Trung ương): Đia thương (III.4), Giáp xa (III.6),
Nghinh hương (II.20), Ế phong (X.17).
Các huyệt dùng luân lưu trong phác đồ điều tri.
 Vị trí và tác dụng của các huyệt [38]: ( Phụ lục 3).
 Tác dụng chung:
Công thức huyệt đã chọn nhom huyệt tại chỗ thường dùng trong điều tri
mất tiếng noi. Theo lý luận của YHCT, điều tri bệnh nhằm mục đích điều hòa
cân bằng âm dương, thông kinh lạc tại vùng bi bệnh theo nguyên tắc: “kinh
lạc sở quá, chủ tri sở cập” tức là kinh lạc đi qua vùng nào bi bệnh thì chọn
huyệt vùng đo. Ngoài ra, công thức huyệt trên còn sử dụng nhom huyệt toàn
thân gồm các huyệt nằm trên các kinh: Tâm, Can, Đởm, Tỳ, Vi, Thận, 2 mạch
Nhâm, Đốc là các kinh co liên quan đến tiếng noi.
Phác đồ huyệt trên hiện đang sử dụng tại Khoa Y học cổ truyền Bệnh
viện Bạch Mai được xây dựng dựa trên lý luận về YHCT và quy trình kỹ thuật
YHCT được Bộ Y tế ban hành số 26/2008/QĐ - BYT (Quy trình số 10 – Điện
châm điều tri mất tiếng) [49].


25

 Phương pháp bổ tả:
- Thể hư:
+ Châm tả các huyệt: Ngoại kim tân, Ngoại ngọc dich, Thượng liêm tuyền,
Nhân nghinh, Thủy đột, Khí xá, Hợp cốc, Bách hội, Phong trì, Huyết Hải.
+ Châm bổ các huyệt: Nội quan, Thái khê, Tam âm giao, Thái xung, Âm
khích, Thần môn.
- Thể thực:
+ Châm tả các huyệt: Thượng liêm tuyền, Ngoại kim tân, Ngoại ngọc
dich, Nhân nghinh, Thủy đột, Khí xá, Bách hội, Phong trì, Hợp cốc, Nội quan,
Âm khích, Thần môn, Huyết hải, Thái xung.
+ Châm bổ các huyệt: Tam âm giao, Thái khê.
1.5.2.3. Kỹ thuật châm và điện châm
Kỹ thuật châm phải đúng, đạt yêu cầu về “đắc khí”, “bổ tả”. Kỹ thuật
châm cơ bản như sau [38]:
Bước 1: Chuẩn bi bệnh nhân (giải thích, động viên, lựa chọn tư thế
châm nằm ngửa hoặc nằm nghiêng).
Bước 2: Xác đinh huyệt, vi trí huyệt cần châm và chọn kim châm phù hợp.
Bước 3: Sát trùng chỗ châm theo đúng kỹ thuật.
Bước 4: Châm kim theo 2 thì:
- Thì qua da: Châm kim qua da vùng huyệt nhanh và dứt khoát.
- Thì vào cơ: Đẩy kim vào huyệt, goc châm và độ nông sâu tùy thuộc vào
vùng châm. Châm đạt đắc khí; căn cứ tình trạng bệnh và theo nguyên tắc “hư
thì bổ, thực thì tả” làm thủ thuật bổ tả [38].
 Kỹ thuật châm các huyệt
- Thượng liêm tuyền (ngoài kinh): Dùng kim 6 cm châm xiên, hướng mũi kim
về phía gốc lưỡi. Sau khi mắc điện, lưỡi bệnh nhân rung theo xung điện là đạt.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×