Tải bản đầy đủ

Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên các module THCS đầy đủ có ví dụ phân tích

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN . . .
TRƯỜNG THCS . . ..

BÀI THU HOẠCH NỘI DUNG 3, HỌC KÌ II
NĂM HỌC 2018 – 2019

HỌ VÀ TÊN: .. . . . .
CHỨC VỤ: GIÁO VIÊN
CHUYÊN NGÀNH: . . . .
TỔ CM: . . . . . . . .

. . . . , tháng 5 năm 2019

Phần I. MODULE SP THCS 2


ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY HỌC TÍCH CỰC
TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH.
I. Trình chiếu.
1. Tìm hiểu chung.
- Trình chiếu là công cụ cho xem và giải thích nội dung của một chủ đề

nào đó cho khán giả hay người học. Trình chiếu là công cụ hỗ trợ giáo viên
chuyển tải thông điệp. Trình chiếu là một trong những thiết kế hướng dẫn thúc
đẩy công nghệ phổ biến nhất bởi vì thiết kế này có thể hỗ trợ hướng dẫn trực
tiếp và các phương pháp giảng dạy. Chương trình Trình chiếu hỗ trợ người nói
cũng như người nghe dễ dàng tiếp cận ý tưởng mới qua thông tin trực quan.
- Thu hút sự chú ý của người học tới nội dung bài học: Giáo viên sử dụng
phần mềm Trình chiếu để tạo các bài Trình chiếu trực quan có thể được hiển thị
trên màn hình hoặc chiếu lên màn hình.
- Xây dựng kiến thức theo chuỗi: Hầu hết phần mềm Trình chiếu cho phép
tạo ra các trang trình chiếu riêng biệt và được trình bày một cách tuần tự. Một
bài Trình chiếu tốt sẽ “dẫn dắt” người học đi qua một lượng kiến thức và / hoặc
để xây dựng kiến thức trong quá trình tương tác giữa người trình bày và khán
giả.
- Để giới thiệu các bài học mới: Các bài Trình chiếu có thể được sử dụng
như là một hoạt động khởi động, để thu hút sự chú ý của người học, để thông
báo cho người học về mục tiêu của bài học, để nhớ lại bài cũ.
- Giúp người học đạt được kiến thức mới: Các bài Trình chiếu có thể được
dùng để giới thiệu các khái niệm mới. Trình chiếu có thể được sử dụng để hướng
dẫn học tập, để làm rõ nhiệm vụ hoặc cung cấp thông tin phản hồi.
- Ôn tập và đánh giá kết quả học tập: Giáo viên sử dụng bài Trình chiếu
để củng cố kiến thức của người học, để tổng quan hóa bài học và để tổng kết.
2. Một số lưu ý lưu ý khi sử dụng trình chiếu trong lớp học phục vụ
cho giảng dạy và học tập:
- Cần phải chú ý đến yếu tố cơ sở vật chất phòng học như độ sáng, không
gian, vị trí màn chiếu.
- Màu sắc cho trang trình chiếu rất quan trọng. Màu sắc lòe loẹt sẽ gây
khó chịu cho người xem. Nên chọn phông màu đơn, hơi tối, vừa không chói
mắt, vừa làm nổi bật màu chữ.
- Chú ý đến thời gian trình chiếu.
- Nếu sử dụng âm thanh, video, nên chuyển các file âm thanh, video về
chế độ mặc định có thể chạy trong Power Point là tốt nhất.
- Font chữ phải phù hợp để tránh lỗi font khi trình chiếu ở máy khác. Nên
dùng font Arial hoặc Times New Roman với bảng mã Unicode.
- Kích cỡ font chữ phù hợp (nên trong giới hạn từ 20-44 pt), tùy thuộc vào
cách thức trình bày và số lượng khán giả.
- Hạn chế số lượng chữ trên mỗi trang trình chiếu vì các trang trình chiếu
chỉ có mục đích hỗ trợ cho giáo viên trình bày ý tưởng.


- Trang trình chiếu chủ yếu chứa hình ảnh, video minh họa. Hình ảnh,
video phù hợp sẽ tăng hiệu quả cho nội dung muốn chuyển tải.
- Việc tạo hiệu ứng sẽ làm tăng thêm tính hấp dẫn lôi cuốn người xem.
Tuy nhiên, không nên sử dụng quá nhiều hiệu ứng để tránh làm xao lãng sự tập
trung của người học vào nội dung chính.
- Trang trình chiếu không nên lặp lại nội dung trong bài thuyết trình. Một
bài Trình chiếu nên chứa các dấu đầu hàng về một vấn đề. Hình ảnh có thể kích
thích người học suy nghĩ và giúp họ động não ý tưởng trước khi đưa ra đáp án.
Bài Trình chiếu nên thiết kế sao cho lôi cuốn người học
VD: Hình ảnh minh họa tiết học môn GDCD lớp 8 bài 17 Nghĩa vụ tôn
trọng, bảo vệ tài sản nhà nước và lợi tích công cộng.

Đặc biệt với máy chiếu có thể ứng dụng nhiều trong các bài giảng liên
quan đế thực tế như trong bài Bảo về môi trường và tài nguyên thiên nhiên
(chiếu video về ô nhiễm môi trường, hình ảnh),bài Bảo vệ di sản văn hóa
(Chiếu hình ảnh về áo dài, video về hát sẩm, nhac nhạc cung đình Huế)…
II. Bản đồ tư duy.
1. Tìm hiểu chung.
Bản đồ tư duy là một biểu đồ được sử dụng để thể hiện từ ngữ, ý tưởng,
nhiệm vụ, hay các mục được liên kết và sắp xếp toả tròn quanh từ khóa hay ý
trung tâm. Bản đồ tư duy là một phương pháp đồ họa thể hiện ý tưởng và khái
niệm. Trong Bản đồ tư duy, thông tin được cấu trúc hóa theo cách giống như bộ
não hoạt động. Bản đồ tư duy có thể được tạo ra bằng nhiều cách khác nhau:
trên giấy, trên bảng hoặc trên máy tính. Bản đồ tư duy số có thể được tạo bằng


các phần mềm ứng dụng như MS PowerPoint hay MS Word, hay bằng các phần
mềm tạo Bản đồ tư duy nâng cao và chuyên biệt. Bản đồ khái niệm là một ý
tưởng tương tự, nhưng chú trọng đến mối liên kết giữa các khái niệm qua từng
cấu trúc đa dạng, trong khi đó Bản đồ tư duy được sắp xếp theo hướng phân cấp
các nhánh thể hiện mỗi quan hệ quanh ý trung tâm.
Trong bộ công cụ này, cả hai khái niệm này có thể hoán đổi cho nhau.
Bản đồ tư duy- một thiết kế hướng dẫn, là một khái niệm rất có ý nghĩa trong
giáo dục vì nó đem lại một cách tiếp cận mới, phi tuyến trong việc kiến tạo ý
tưởng, kiến thức và suy nghĩ, và vì vậy nó đổi mới và làm chuyển biến mối
tương tác giữa giáo viên và người học
2. Mục đích giáo dục Bản đồ tư duy:
- Động não ý tưởng: Người học xác định ý tưởng quanh những chủ đề cho
trước và liệt kê các ý tưởng liên quan đến chủ đề đó.
- Phân loại ý tưởng: Sau khi liệt kê một loạt ý tưởng, người học bắt đầu
tìm mối liên kết giữa các ý tưởng và phân loại chúng sao cho Bản đồ tư duy trở
nên có hệ thống và dễ dàng phân tích.
- Xác định vấn đề và giải pháp: Trong một số trường hợp, Bản đồ tư duy
có thể giúp xác định những vấn đề để người học có thể đưa ra những cách giải
quyết phù hợp.
- Ghi chép và trình bày ý tưởng: Người học có thể sử dụng Bản đồ tư duy
để ghi lại và trình bày ý tưởng một cách trực quan. Giảng dạy trong lớp học Bản
đồ tư duy có thể được sử dụng ở các thời điểm khác nhau trong giờ học cho các
mục đích khác nhau:
- Tìm hiểu nội dung một chủ đề mới: Giáo viên cung cấp chủ đề cho
người học, yêu cầu họ liệt kê các ý tưởng quanh chủ đề đó.
- Để người học lĩnh hội tri thức mới: Giáo viên yêu cầu người học tạo Bản
đồ tư duy để tổng kết, hệ thống lại những vấn đề cơ bản vừa mới được lĩnh hội
giúp các em củng cố bước đầu, khắc sâu trọng tâm. Giáo viên cũng có thể kết
hợp sử dụng Bản đồ tư duy với các câu hỏi làm rõ các chủ đề, qua đó sẽ giúp các
em hiểu rõ hơn và nắm kiến thức một cách có hệ thống.
- Để kiểm tra đánh giá kết quả học tập: Giáo viên yêu cầu người học vẽ
Bản đồ tư duy về một chủ đề học tập, qua đó giúp giáo viên đánh giá được mức
độ lĩnh hội kiến thức của các em.
VD: Văn học: Tóm tắt một câu chuyện (nhân vật, hoàn cảnh, cao trào,
hành động)
4. Một số lưu ý khi tạo Bản đồ tư duy:
- Bắt đầu ở trung tâm với một bức ảnh hay tên chủ đề.
- Sử dụng màu sắc, hình ảnh, ký hiệu, mật mã, mũi tên trong Bản đồ tư
duy một cách phù hợp (vd. màu sắc khác nhau để tách các ý khác nhau). Mỗi
từ/hình ảnh phải đứng một mình và được nằm trên một dòng riêng.
- Chọn những từ khoá và viết chúng ra bằng chữ viết hoa. Lưu ý nên sử
dụng những từ ngữ cô đọng thể hiện thông tin. Những đường thẳng cần phải
được kết nối, bắt đầu từ từ khóa ở trung tâm. Các nhánh chính, nhánh phụ được
nối với nhau bằng các đường kẻ.


- Làm cho Bản đồ rõ ràng bằng cách phân cấp các nhánh, sử dụng số thứ
tự hoặc dàn ý để bao quát các nhánh của Bản đồ.
- Sử dụng liên kết đan chéo: Thông tin trong một phần của Bản đồ có thể
liên quan đến phần khác. Khi đó, người sử dụng có thể tạo những đường thẳng
để chỉ ra sự liên quan đan chéo.
VD về sử dụng sơ đồ tư duy trong môn Ngữ Văn lớp 8 bài NƯỚC ĐẠI
VIỆT TA.

Phần I. MODULE 35
GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THCS
I. Kỹ năng sống là gì?
Kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng
sử phù hợp với những người khác, với xã hội với thiên nhiên, khả năng ứng phó
tích cực trước các tình huống của cuộc sống.
II. Mục tiêu GD KNS cho HS THCS
Việc GD KNS cho HS THCS nhằm hướng tới 3 mục tiêu chính như sau:
1. Giúp cho HS làm chủ bản thân, có khả năng thích ứng, biết cách
ứng phó trước những tình huống khó khăn trong giao tiếp hàng ngày: Giúp HS
hiểu được sự cần thiết của các KNS để giúp cho bản thân có thể sống tự tin, lành
mạnh, phòng tránh được các nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sự phát triễn thể chất,
tinh thần và đạo đức của các em.
2. Giúp HS rèn cách sống có trách nhiệm với bản thân , gia đình, cộng
đồng: Giúp cho các em cókĩ năng làm chủ được bản thân, biết xữ lí linh hoạt
trong các tình huống giao tiếp hằng ngày thể hiện lối sốngVăn minh: có đạo đức,
có văn hóa. Có kĩ năng tự bảo vệ mình trước những vấn đề xã hội có nguy cơ
ảnh hưởng đến cuộc sống an toàn và lành mạnh của bản thân.


3. Giúp HS mở ra cơ hội, hướng suy nghĩ tích cực và tự tin , tự quyết
định lựa chọn đúng đắn: giúp cho HS có lối sống lành mạnh, có thái độ phê
phán đối với những biểu hiện thiếu lành mạnh, tích cực tham gia các hoạt động
của xã hội và thực hiện tốt quyền-bổn phận công dân của mình.
III. Nội dung cơ bản của từng KNS cụ thể
Giáo dục KNS cho HS THCS là GD những kĩ năng cốt lõi cần hình thành
và phát triễn ở các em. Đó là các kĩ năng sau:
1. Kĩ năng Tự nhận thức:
KN tự nhận thức là khả năng của con người hiểu về chính bản thân mình,
như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận, đánh
giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu,...
của bản thân mình; quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận
ra lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng.
2. Kĩ năng Giao tiếp:
Kĩ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình
thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh và
văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất
đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu,
mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn khi cần thiết.
Kĩ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và
điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả; cởi mở bày tỏ suy nghĩ,
cảm xúc nhưng không làm hại hay gây tổn thương cho người khác. Kĩ năng này
giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với nguời khác, bao gồm biết gìn giữ mối
quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình - là nguồn hỗ trợ quan trong
cho mỗi chúng ta; đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới và
đây là yếu tố rất quan trọng đối với niềm vui cuộc sống. Kĩ năng này cũng giúp
kết thúc các mối quan hệ khi cần thiết một cách xây dựng.
3. Kĩ năng lắng nghe tích cực:
Kĩ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình
thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh và
văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất
đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu,
mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn khi cần thiết.
Kĩ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kĩ năng khác như bày tỏ sự
cảm thông, thương lượng, hợp tác, tìm kiếm sự giúp đỡ, giải quyết mâu thuẫn,
kiểm soát cảm xúc. Người có kĩ năng giao tiếp tốt tốt biết dung hòa đối với
mong đợi của những người khác; có cách ứng xử phù hợp khi làm việc cùng và
ở cùng với những người khác trong một môi trường tập thể, quan tâm đến những
điều người khác quan tâm và giúp họ có thể đạt được những điều họ mong muốn
một cách chính đáng.
4. Kĩ năng xác định giá trị:
Giá trị là những gì con người cho là quan trọng, là có ý nghĩa đối với bản
thân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bản


thân trong cuộc sống. Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chính
kiến, thái độ, và thậm chí là thành kiến đối với một điều gì đó…
Giá trị có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần, có thể thuộc các lĩnh
vực văn hoá, nghệ thuật, đạo đức, kinh tế,...
Mỗi người đều có một hệ thống giá trị riêng. Kĩ năng xác định giá trị là
khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình. Kĩ năng xác
định giá trị có ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định của mỗi người. Kĩ
năng này còn giúp ngưòi ta biết tôn trọng người khác, biết chấp nhận rằng người
khác có những giá trị và niềm tin khác.
\
5. Kĩ năng kiên định:
Kĩ năng kiên định là khả năng con người nhận thức được những gì mình
muốn và lý do dẫn đến sự mong muốn đó. Kiên định còn là khả năng tiến hành
các bước cần thiết để đạt được những gì mình muốn trong những hoàn cảnh cụ
thể, dung hồ được giữa quyền, nhu cầu của mình với quyền, nhu cầu của người
khác.
Kĩ năng kiên định sẽ giúp chúng ta tự bảo vệ được chính kiến, quan điểm,
thái độ và những quyết định của bản thân, đứng vững trước những áp lực tiêu
cực của những người xung quanh. Ngược lại, nếu không có kĩ năng kiên định,
con người sẽ bị mất tự chủ, bị xúc phạm, mất lòng tin, luôn bị người khác điều
khiển hoặc luôn cảm thấy tức giận và thất vọng. Kĩ năng kiên định cũng giúp cá
nhân giải quyết vấn đề và thương lượng có hiệu quả.
6. Kĩ năng ra quyết định:
Kĩ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn
phương án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống
một cách kịp thời.
Kĩ năng ra quyết định rất cần thiết trong cuộc sống, giúp cho con người có
được sự lựa chọn phù hợp và kịp thời, đem lại thành công trong cuộc sống.
Ngược lại, nếu không có kĩ năng ra quyết định, con người ta có thể có những
quyết định sai lầm hoặc chậm trễ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến các mối quan hệ,
đến công việc và tương lai cuộc sống của bản thân; đồng thời còn có thể làm ảnh
hưởng đến gia đình, bạn bè và những người có liên quan.
7. Kĩ năng Hợp tác:
Kĩ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết
và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm.
8. Kĩ năng ứng phó với căng thẳng:
Kĩ năng ứng phó với căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng
đón nhận những tình huống căng thẳng như là một phần tất yếu của cuộc sống,
là khả năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng
thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi bị căng
thẳng.
Chúng ta cũng có thể hạn chế những tình huống căng thẳng bằng cách
sống và làm việc điều độ, có kế hoạch, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao,
sống vui vẻ, chan hòa, tránh gây mâu thuẫn không cần thiết với mọi người xung
quanh, không đặt ra cho mình những mục tiêu quá cao so với điều kiện và khả
năng của bản thân,...


9. Kĩ năng Tìm kiếm sự hỗ trợ:
Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ giúp chúng ta có thể nhận được
những lời khuyên, sự can thiệp cần thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề,
tình huông của mình; đồng thời là cơ hội để chúng ta chia sẻ, giãi bày khó khăn,
giảm bớt được căng thẳng tâm lý do bị dồn nén cảm xúc. Biết tìm kiếm sự giúp
đỡ kịp thời sẽ giúp cá nhân không cảm thấy đơn độc, bi quan, và trong nhiều
trường hợp, giúp chúng ta có cách nhìn mới và hướng đi mới.
Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ rất cần thiết để giải quyết vấn đề,
giải quyết mâu thuẫn và ứng phó với căng thẳng. Đồng thời, để phát huy hiệu
quả của kĩ năng này, cần kĩ năng lắng nghe, khả năng phân tích thấu đáo ý kiến
tư vấn, kĩ năng ra quyết định.
10. Kĩ năng Thể hiện sự tự tin:
Tự tin là có niềm tin vào bản thân; tự hài lòng với bản thân; tin rằng mình
có thể trở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy
có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ.
Kĩ năng thể hiện sự tự tin giúp cá nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn
bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định và giải
quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ
tích cực và lạc quan trong cuộc sống.
Kĩ năng thể hiện sự tự tin là yếu tố cần thiết trong giao tiếp, thương
lượng, ra quyết định, đảm nhận trách nhiệm.
11. Kĩ năng Thể hiện sự cảm thông:
Thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong
hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là
những người rất khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm
của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ.
Kĩ năng thể hiện sự cảm thông được dựa trên kĩ năng tự nhận thức và kĩ
năng xác định giá trị, đồng thời là yếu tố cần thiết trong kĩ năng giao tiếp, giải
quyết vấn đề, giải quyết mâu thuẩn, thương lượng, kiên định và kiềm chế cảm
xúc.

. MODULE SP – THCS 3.b: KĨ NĂNG ÔN THI HSG MÔN NGỮ VĂN
THCS


A. Tìm hiểu chung về văn nghị luận.
I. Khái niệm.
1. Nghị luận là bàn bạc cho ra phải trái, đánh giá cho thật rõ đúng sai.
2. Văn nghị luận: Là loại văn xuôi dùng lí lẽ, dẫn chứng để bàn bạc và
đánh giá một vấn đề nào đó, thể hiện cách hiểu và bày tỏ quan điểm của mình.
II. Phân loại.
1. Nghị luận xã hội.
Là bài văn bàn về các vấn đề xã hội, chính trị, lịch sử, văn hóa, đạo đức, môi
trường…
2. Nghị luận văn học.
Là những bài văn bàn về các vấn đề văn chương, nghệ thuật như phân tích, cảm
thụ một tác phẩm thơ, bình luận một vấn đề lí luận văn học.
III. Bố cục bài văn nghị luận.
1. Mở bài: Nêu luận điệm tổng quát của bài viết.
- Lời dẫn vào đề: Nêu xuất xứ của đề , xuất xứ một ý kiến, một nhận định,
hoặc dẫn nguyên văn đoạn trích tác phẩm)
- Nêu vấn đề: Xác định vấn đề nghị luận yêu cầu cần giải quyết
- Giới hạn vấn đề: Xác định phương hướng, phạm vi mức độ, giới hạn của
vấn đề cần giải quyết.
2. Thân bài: Triển khai hệ thống ý lớn, ý nhỏ để làm sáng tỏ luận điểm.
- Luận điểm 1: Luận cứ 1, luận cứ 2 …
- Luận điểm 2: Luận cứ 1, luận cứ 2 …
3. Kết bài.
- Tổng kết.
- Nêu hướng mở rộng luận điểm.
- Nêu lên những nhận định, bình luận nhằm cho người đọc suy nghĩ về
vấn đề bàn luận trong bài.
B. Các dạng đề nghị luận xã hội trong đề thi học sinh giỏi.
I. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
Vấn đề được yêu cầu nghị luận là những vấn đề về tư tưởng, đạo lí vô
cùng phong phú. Các vấn đề thường gặp là:
- Nhận thức: Lí tưởng, hoài bão, mục đích sống…
- Tính cách, phẩm chất: Lòng yêu nước, nhân ái, tính trung thực, dũng
cảm, chăm chỉ cần cù, thái độ hòa nhã, khiêm tốn, nghị lực, ý chí, thói vô cảm,
ích kỉ, lười biếng…
- Quan hệ gia đình : Tình mẫu tử, phụ tử, tình anh em…
- Quan hệ xã hội : Tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…
II. Nghị luận về một hiện tượng đời sống:


Vấn đề được yêu cầu nghị luận là những hiện tượng thường xảy ra, thường
gặp trong đời sống. Hiện tượng được đưa ra để bàn bạc khá gần gũi với đời sống
và vừa trình độ nhận biết xã hội của học sinh như:
- Văn hóa giao thông, tai nạn giao thông.
- Bạo lực học đường.
- Ô nhiễm môi trường.
- Những tiêu cực trong thi cử.
- Học tủ, học vẹt.
- Cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn…
Hiện tượng được nêu trong đề có thể tích cực hoặc tiêu cực. Nếu đề bài
đưa ra vấn đề tích cực, thì phải bộc lộ quan điểm đồng tình, công nhận, biểu
dương. Ngược lại đề ra về hiện tượng tiêu cực thì bộc lộ quan điểm phê phán,
lên án.
Trường hợp nếu vấn đề đưa ra có cả mặt tích cực và tiêu cực thì phải chỉ
rõ được cả hai mặt, ca ngợi mặt tốt, phê phán mặt xấu và đưa ra được cách giải
quyết để hạn chế mặt tiêu cực.
C. Hướng dẫn học sinh lập dàn ý bài nghị luận xã hội.
1. Nghị luận về một hiện tượng xã hội.
a. Mở bài: Nêu được tính cấp thiết của vấn đề cần nghị luận.
b. Thân bài
- Thực trạng của vấn đề cần nghị luận. Biểu hiện thực tế của vấn đề như
thế nào? (Trả lời câu hỏi ra sao, thế nào).
- Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên (khách quan và chủ quan). Trả lời
câu hỏi vì sao.
- Hậu quả hoặc kết quả, lợi ích, tác dụng.
- Đề xuất biện pháp khắc phục hậu quả hoặc phát huy kết quả. Trả lời câu
hỏi làm thế nào.
- Liên hệ thực tế, bài học nhận thức, hành động của bản thân.
c. Kết bài.
- Nêu suy nghĩ về tầm quan trọng của vấn đề đã nghị luận.
- Đưa ra một thông điệp, hay lời khuyên cho mọi người (tránh hô hào
chung chung, sáo rỗng, lối mòn).
2. Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.
a. Mở bài: Nêu được tính cấp thiết của vấn đề cần nghị luận.
b. Thân bài:
- Giải thích để chỉ ra vấn đề cần nghị luận là gì.
- Bình luận (nêu quan điểm của mình về vấn đề nghị luận).
+ Bình: Khẳng định vấn đề vừa xác định ở phần giải thích là đúng hay
sai hoặc có ý đúng, đồng thời cũng có ý sai theo quan điểm của mình; nêu những
biểu hiện về vấn đề trong thực tế để chứng minh.
+ Luận: bàn bạc và bày tỏ ý kiến của người viết đối với vấn đề (phê phán
cái xấu, tiêu cực và bênh vực ca ngợi cái tốt, tích cực).


- Liên hệ thực tế (chọn và đưa dẫn chứng phù hợp để chứng minh), bài
học nhận thức, hành động của bản thân.
c. Kết bài:
- Nêu suy nghĩ về tầm quan trọng của vấn đề đã nghị luận.
- Đưa ra một thông điệp, hay lời khuyên cho mọi người.
D. Hướng dẫn HS viết bài
I. Bài văn NL về một hiện tượng xã hội
1. Mở bài:
* Yêu cầu: Nêu lên được tính cấp thiết của vấn đề cần nghị luận.
* HS trả lời các câu hỏi:
- Hiện tượng này xuất hiện từ bao giờ ở đâu?
(Những năm gần đây, những tháng gần đây, hiện nay, tại Việt nam, thế
giới, Đông nam Á, …)
- Hiện tượng này tạo nên ảnh hưởng gì cho xã hội con người?
(Anh hưởng nghiêm trọng đến đời sống…)
- Tính cấp thiết của vấn đề ở chỗ nào?
(Vấn đề đã thành mối quan tâm của mọi người, thành bức xúc của con người,
tất cả đang tìm mọi biện pháp để khắc phục để xây dựng một xã hội lành mạnh…)
2. Thân bài.
a. Thực trạng của vấn đề cần nghị luận: Trình bày được biểu hiện của
hiện tượng trong thực tế.
- Nhờ đâu em biết những biểu hiện này? (Thông qua báo chí, truyền hình,
qua bài giảng của cô giáo, qua chứng kiến thực tế…).
- Hiện tượng diễn ra trên quy mô nào? (Diễn ra quy mô rộng hay hẹp)
trên địa bàn toàn quốc, các tỉnh thành phố, thôn xóm, hay nhà trường, có thể
nêu rõ các số liệu về người, thiệt hại… em biết).
- Mức độ diễn ra? (Diễn ra thường xuyên hay trong thời gian ngắn?)
- Đối tượng tham gia thực hiện các hành vi này? (Mọi người, thanh thiếu
niên, học sinh…; có thể nêu rõ số liệu về người, vụ việc… em biết).
- Hãy kể hoặc miêu tả một vài thực tế về con người vi phạm những hành
vi bị cấm em chứng kiến hoặc biết? (Kể 1 chuyện em biết/chứng kiến. Thời gian
địa điểm chứng kiến? nhân vật làm gì? Hậu quả/ kết quả?).
b. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên (khách quan và chủ quan).
- Những nguyên nhân khách quan nào dẫn đến hiện tượng? (Đất nước hội
nhập khiến nhiều phong cách sống xa lạ, văn hóa tiêu cực tràn; đất nước còn
nghèo, đời sống khó khăn…)
- Những nguyên nhân chủ quan nào dẫn đến tình trạng trên? (Nhận thức
của con người còn hạn chế/ Suy nghĩ nông cạn, tham lợi trước mắt/Thói quen
sống buông thả, tùy tiện dễ bị lôi kéo/ Ý thức công dân mình vì mọi người, cống
hiến cho XH…còn hạn chế).
c. Hậu quả hoặc kết quả, lợi ích, tác dụng.
- Hiện tượng làm ảnh hưởng đến đời sống XH? (Làm cho hình ảnh đất
nước xấu đi trong con mắt bạn bè thế giới/ Nền kinh tế, chậm phát triển/ an ninh


đất nước trở nên phức tạp, gây khó khăn cho quản lý/ Để lại hàng loạt những
vấn đề khác cho XH phải giải quyết : bảo hiểm thất nghiệp, y tế, trợ giúp nhân
đạo phải hỗ trợ cho hậu quả gây ra…)
- Hiện tượng làm ảnh hưởng đến con người (đặc biệt học sinh) như thế
nào? (Ảnh hưởng dến học tập tu dưỡng? Đến kinh tế gia đình? Đến đời sống
tình cảm quan hệ với mọi người? Đến sức khỏe? uy tín và tương lai bản
thân?...)
d. Biện pháp khắc phục hậu quả hoặc phát huy kết quả.
- Biện pháp chung: tuyên truyền nâng cao nhận thức về tác dụng, tác hại/
Giáo dục cho mọi người hiểu sâu sắc và tự tuyên truyền cho nhau/ Xây dựng hành
động và hành động thực tế ứng xử trong cuộc sống sao cho đúng.
- Biện pháp cá nhân: tự học tập nâng cao nhận thức về cuộc sống/ tìm
hiểu sâu sắc về vấn đề và kêu gọi bè bạn và cộng đồng tham gia/ xây dựng và
thực hiện những hành động đúng trước (vấn đề đó) trong cuộc sống/ phê phán,
đấu tranh chống hành vi xấu/ học tập tấm gương tốt.
- Đề nghị: Nhà nước hỗ trợ về luật pháp, về môi trường, về cơ sở vật chất
và con người có năng lực nhiệt tình tham gia các chương trình hoạt động…
3. Kết bài.
- Nêu suy nghĩ về tầm quan trọng của vấn đề đã nghị luận. (Vấn đề đặt ra
ở đây luôn là vấn đề thời sự, nóng bỏng/ nó tác dộng mạnh mẽ tới xã hội cuộc
sống và mỗi con người/ nếu loại trừ (tiêu cực)/ phát huy tích cực thì xã hội,
cuộc sống, con người như thế nào?)
- Đưa ra một thông điệp, hay lời khuyên cho mọi người.
(Từ đó, mỗi con người hãy nhận thức và hành động đúng (về vấn đề… )
chúng ta sẽ có cuộc sống hạnh phúc hơn, xã hội tốt đẹp hơn.
II. Bài văn về vấn đề tư tưởng, đạo lí
1. Mở bài: Nêu lên được tính cấp thiết của vấn đề cần nghị luận.
2. Thân bài.
a. Giải thích để chỉ ra vấn đề cần nghị luận
Những từ ngữ nào quan trọng trong đề, chúng có ý nghĩa gì? Tổng hợp ý
của các từ ngữ vừa giải thích thì đề muốn đề cập đến nội dung gì, vấn đề
gì? (Đây là nội dung cần bình luận).
b. Bình (Nêu quan điểm của mình về vấn đề),
- Khẳng định vấn đề vừa xác định (ở phần giải thích) là đúng hay sai
hoặc có ý đúng, đồng thời cũng có ý sai theo quan điểm của mình (Vấn đề vừa
nêu đúng hoặc sai vì sao?Đúng ở chỗ nào và sai ở chỗ nào? Vì sao).
- Nếu vấn đề dúng thường có biểu hiện sau đây: Có phù hợp với văn hóa
truyền thống Việt Nam?/ mang lại giá trị cho con người về cuộc sống tốt đẹp?/
Thái độ của mọi người?
- Nếu vấn đề là sai thì dùng lý luận phê phán ngược lại những ý trên.
- Nếu vấn đề có chỗ đúng có chỗ sai thì dùng 2 loại ý kiến khẳng định
hoặc phê phán theo gợi ý.


- Nêu những biểu hiện về vấn đề trong thực tế để chứng minh.
(Dẫn chứng từ cụ thể cuộc sống, hoặc sách vở báo chí thông tin về việc
con người đã làm theo nó như thế nào? Đã có ai răn dạy điều tương tự? Có tấm
gương tiêu biểu nào? Có số liệu cụ thể gì?...)
c. Luận: bàn bạc và nêu rõ ý kiến của người viết đối với vấn đề (phê
phán cái xấu, tiêu cực và bênh vực ca ngợi cái tốt, tích cực)
- Vấn đề làm ảnh hưởng đến đời sống xã hội thế nào? (Làm cho hình ảnh
đất nước xấu đi trong con mắt bạn bè thế giới/ nền kinh tế, chậm phát triển vì
những chi phí vô nghĩa/ an ninh đất nước trở nên phức tạp, gây khó khăn cho
quản lý/ để lại hàng loạt những vấn đề khác cho XH phải giải quyết : bảo hiểm
thất nghiệp, y tế, trợ giúp nhân đạo phải hỗ trợ cho hậu quả gây ra…)
- Hiện tượng làm ảnh hưởng đến con người (đặc biệt học sinh) như thế
nào? (Ảnh hưởng dến học tập tu dưỡng? Đến kinh tế gia đình? Đến đời sống
tình cảm quan hệ với mọi người? Đến sức khỏe, uy tín và tương lai bản thân?...)
- Lưu ý: Nếu là bài ca ngợi bênh vực thì làm ngược lại theo hướng dẫn trên.
d. Liên hệ thực tế, bài học nhận thức và hành động (Làm gì để đạt mục
tiêu như bình luận)
- Biện pháp chung: Tuyên truyền cho mọi người có nhận thức về tác
dung,tác hại/ Giáo dục cho mọi người hiểu sâu sắc và tự tuyên truyền cho nhau/
xây dựng hành động và hành động thực tế ứng xử trong cuộc sống ntn cho đúng.
- Biện pháp cá nhân: Tự học tập nâng cao nhận thức về cuộc sống/ tìm
hiểu sâu sắc về vấn đề và kêu gọi bè bạn và cộng đồng tham gia/ xây dựng
những hành động đúng trước (vấn đề đó) trong cuộc sống/ phê phán hành vi
xấu, học tập tấm gương tốt.
3. Kết bài.
- Tóm lược nội dung đã trình bày
(Những lý giải, phân tích và chứng minh trên đây đã làm rõ vấn đề…
đồng thời cũng chỉ rõ những nguyên nhân, hậu quả/kết quả của nó. Mặt khác
bài viết cũng đã đưa ra những giải pháp khắc phục…).
- Nêu suy nghĩ về tầm quan trọng của vấn đề đã nghị luận (Vấn đề đặt ra
ở đây luôn là vấn đề thời sự, nóng bỏng/ nó tác dộng mạnh mẽ tới xã hội cuộc
sống và mỗi con người/ nếu loại trừ (tiêu cực)/ phát huy tích cực thì xã hội,
cuộc sống, con người ntn?).
- Đưa ra một thông điệp, hay lời khuyên cho mọi người (Từ đó, mỗi con
người hãy nhận thức và hành động đúng (về vấn đề) chúng ta sẽ có cuộc sống
hạnh phúc hơn, xã hội tốt đẹp hơn).
E. Hướng dẫn HS tích lũy dẫn chứng
- HS tìm, ghi nhớ dẫn chứng: số liệu, câu chuyện, tấm gương, tên tuổi về
các hiện tượng xã hội hoặc tư tưởng, đạo lí thường gặp.


- Một dẫn chứng có thể sử dụng cho nhiều vấn đề tư tưởng đạo lí: Ví dụ
Nick Vujicic có thể sử dụng cho các vấn đề: nghị lực, niềm tin, lí tưởng, miễn là
biết cách lập luận.

MODULE SP THCS 2
ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY HỌC TÍCH CỰC
TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH.
I. Trình chiếu.
1. Tìm hiểu chung.
- Trình chiếu là công cụ cho xem và giải thích nội dung của một chủ đề
nào đó cho khán giả hay người học. Trình chiếu là công cụ hỗ trợ giáo viên
chuyển tải thông điệp. Trình chiếu là một trong những thiết kế hướng dẫn thúc
đẩy công nghệ phổ biến nhất bởi vì thiết kế này có thể hỗ trợ hướng dẫn trực
tiếp và các phương pháp giảng dạy. Chương trình Trình chiếu hỗ trợ người nói
cũng như người nghe dễ dàng tiếp cận ý tưởng mới qua thông tin trực quan.
- Trình chiếu là một hình thức hướng dẫn trực tiếp. Chiến lược hướng dẫn
trực tiếp là cách tiếp cận theo hướng giáo viên định hướng và là một trong
những phương pháp phổ biến nhất. Chiến lược này rất hữu hiệu trong việc cung
cấp thông tin hay phát triển những kĩ năng từng bước. Đây cũng là phương pháp
rất phù hợp trong việc giới thiệu các phương pháp giảng dạy khác, và cũng đóng
vai trò tích cực trong việc hỗ trợ học sinh xây dựng kiến thức.
- Hỗ trợ tiếp cận ý tưởng: Một chương trình Trình chiếu có thể hỗ trợ
người nói dễ dàng tiếp cận với ý tưởng của mình còn người học có được thông
tin bằng hình ảnh, hỗ trợ cho phần trình bày của người nói.
- Thu hút sự chú ý của người học tới nội dung bài học: Giáo viên sử dụng
phần mềm Trình chiếu để tạo các bài Trình chiếu trực quan có thể được hiển thị
trên màn hình hoặc chiếu lên màn hình.
- Thu hút sự chú ý của người học tới nội dung bài học: Giáo viên sử dụng
phần mềm Trình chiếu để tạo các bài Trình chiếu trực quan có thể được hiển thị
trên màn hình hoặc chiếu lên màn hình.
- Xây dựng kiến thức theo chuỗi: Hầu hết phần mềm Trình chiếu cho phép
tạo ra các trang trình chiếu riêng biệt và được trình bày một cách tuần tự. Một
bài Trình chiếu tốt sẽ “dẫn dắt” người học đi qua một lượng kiến thức và / hoặc
để xây dựng kiến thức trong quá trình tương tác giữa người trình bày và khán
giả.
- Để giới thiệu các bài học mới: Các bài Trình chiếu có thể được sử dụng
như là một hoạt động khởi động, để thu hút sự chú ý của người học, để thông
báo cho người học về mục tiêu của bài học, để nhớ lại bài cũ.


- Giúp người học đạt được kiến thức mới: Các bài Trình chiếu có thể được
dùng để giới thiệu các khái niệm mới. Trình chiếu có thể được sử dụng để hướng
dẫn học tập, để làm rõ nhiệm vụ hoặc cung cấp thông tin phản hồi.
- Ôn tập và đánh giá kết quả học tập: Giáo viên sử dụng bài Trình chiếu
để củng cố kiến thức của người học, để tổng quan hóa bài học và để tổng kết.
Một số lưu ý Sử dụng phần mềm Trình chiếu có thể tạo ra sự quá tải thông tin,
dẫn đến quá tải về mặt thời gian và cuối cùng là người học trở nên bị động. Một
nhược điểm nữa của việc sử dụng phần mềm Trình chiếu là đôi khi các yếu tố
trực quan của bài Trình chiếu trở nên quan trọng hơn nội dung và hoạt động học
tập. Có một số giáo viên thường chú trọng bài trình bày trông như thế nào hơn là
người học tích cực học tập như thế nào. Hãy nghĩ đến sử dụng tài liệu phát tay
như là cách hỗ trợ người học trong việc theo dõi bài Trình chiếu. Người học
không cần phải ghi chép, tài liệu phát tay có thể đi kèm với phiếu bài tập. Tài
liệu phát tay có thể hỗ trợ người học tóm tắt và theo dõi tổng quan bài học.
2. Một số lưu ý lưu ý khi sử dụng trình chiếu trong lớp học phục vụ
cho giảng dạy và học tập:
- Cần phải chú ý đến yếu tố cơ sở vật chất phòng học như độ sáng, không
gian, vị trí màn chiếu.
- Màu sắc cho trang trình chiếu rất quan trọng. Màu sắc lòe loẹt sẽ gây
khó chịu cho người xem. Nên chọn phông màu đơn, hơi tối, vừa không chói
mắt, vừa làm nổi bật màu chữ.
- Chú ý đến thời gian trình chiếu.
- Nếu sử dụng âm thanh, video, nên chuyển các file âm thanh, video về
chế độ mặc định có thể chạy trong Power Point là tốt nhất.
- Font chữ phải phù hợp để tránh lỗi font khi trình chiếu ở máy khác. Nên
dùng font Arial hoặc Times New Roman với bảng mã Unicode.
- Kích cỡ font chữ phù hợp (nên trong giới hạn từ 20-44 pt), tùy thuộc vào
cách thức trình bày và số lượng khán giả.
- Hạn chế số lượng chữ trên mỗi trang trình chiếu vì các trang trình chiếu
chỉ có mục đích hỗ trợ cho giáo viên trình bày ý tưởng.
- Trang trình chiếu chủ yếu chứa hình ảnh, video minh họa. Hình ảnh,
video phù hợp sẽ tăng hiệu quả cho nội dung muốn chuyển tải.
- Việc tạo hiệu ứng sẽ làm tăng thêm tính hấp dẫn lôi cuốn người xem.
Tuy nhiên, không nên sử dụng quá nhiều hiệu ứng để tránh làm xao lãng sự tập
trung của người học vào nội dung chính.
- Trang trình chiếu không nên lặp lại nội dung trong bài thuyết trình. Một
bài Trình chiếu nên chứa các dấu đầu hàng về một vấn đề. Hình ảnh có thể kích
thích người học suy nghĩ và giúp họ động não ý tưởng trước khi đưa ra đáp án.
Bài Trình chiếu nên thiết kế sao cho lôi cuốn người học
VD: Hình ảnh minh họa tiết học môn GDCD lớp 8 bài 17 Nghĩa vụ tôn
trọng, bảo vệ tài sản nhà nước và lợi tích công cộng.


Đặc biệt với máy chiếu có thể ứng dụng nhiều trong các bài giảng liên
quan đế thực tế như trong bài Bảo về môi trường và tài nguyên thiên nhiên
(chiếu video về ô nhiễm môi trường, hình ảnh),bài Bảo vệ di sản văn hóa
(Chiếu hình ảnh về áo dài, video về hát sẩm, nhac nhạc cung đình Huế)…
II. Bản đồ tư duy.
1. Tìm hiểu chung.
Bản đồ tư duy là một biểu đồ được sử dụng để thể hiện từ ngữ, ý tưởng,
nhiệm vụ, hay các mục được liên kết và sắp xếp toả tròn quanh từ khóa hay ý
trung tâm. Bản đồ tư duy là một phương pháp đồ họa thể hiện ý tưởng và khái
niệm. Trong Bản đồ tư duy, thông tin được cấu trúc hóa theo cách giống như bộ
não hoạt động. Bản đồ tư duy có thể được tạo ra bằng nhiều cách khác nhau:
trên giấy, trên bảng hoặc trên máy tính. Bản đồ tư duy số có thể được tạo bằng
các phần mềm ứng dụng như MS PowerPoint hay MS Word, hay bằng các phần
mềm tạo Bản đồ tư duy nâng cao và chuyên biệt. Bản đồ khái niệm là một ý
tưởng tương tự, nhưng chú trọng đến mối liên kết giữa các khái niệm qua từng
cấu trúc đa dạng, trong khi đó Bản đồ tư duy được sắp xếp theo hướng phân cấp
các nhánh thể hiện mỗi quan hệ quanh ý trung tâm.
Trong bộ công cụ này, cả hai khái niệm này có thể hoán đổi cho nhau.
Bản đồ tư duy- một thiết kế hướng dẫn, là một khái niệm rất có ý nghĩa trong
giáo dục vì nó đem lại một cách tiếp cận mới, phi tuyến trong việc kiến tạo ý
tưởng, kiến thức và suy nghĩ, và vì vậy nó đổi mới và làm chuyển biến mối
tương tác giữa giáo viên và người học


2. Mục đích giáo dục Bản đồ tư duy:
- Động não ý tưởng: Người học xác định ý tưởng quanh những chủ đề cho
trước và liệt kê các ý tưởng liên quan đến chủ đề đó.
- Phân loại ý tưởng: Sau khi liệt kê một loạt ý tưởng, người học bắt đầu
tìm mối liên kết giữa các ý tưởng và phân loại chúng sao cho Bản đồ tư duy trở
nên có hệ thống và dễ dàng phân tích.
- Xác định vấn đề và giải pháp: Trong một số trường hợp, Bản đồ tư duy
có thể giúp xác định những vấn đề để người học có thể đưa ra những cách giải
quyết phù hợp.
- Ghi chép và trình bày ý tưởng: Người học có thể sử dụng Bản đồ tư duy
để ghi lại và trình bày ý tưởng một cách trực quan. Giảng dạy trong lớp học Bản
đồ tư duy có thể được sử dụng ở các thời điểm khác nhau trong giờ học cho các
mục đích khác nhau:
- Tìm hiểu nội dung một chủ đề mới: Giáo viên cung cấp chủ đề cho
người học, yêu cầu họ liệt kê các ý tưởng quanh chủ đề đó.
- Để người học lĩnh hội tri thức mới: Giáo viên yêu cầu người học tạo Bản
đồ tư duy để tổng kết, hệ thống lại những vấn đề cơ bản vừa mới được lĩnh hội
giúp các em củng cố bước đầu, khắc sâu trọng tâm. Giáo viên cũng có thể kết
hợp sử dụng Bản đồ tư duy với các câu hỏi làm rõ các chủ đề, qua đó sẽ giúp các
em hiểu rõ hơn và nắm kiến thức một cách có hệ thống.
- Để kiểm tra đánh giá kết quả học tập: Giáo viên yêu cầu người học vẽ
Bản đồ tư duy về một chủ đề học tập, qua đó giúp giáo viên đánh giá được mức
độ lĩnh hội kiến thức của các em.
VD: Văn học: Tóm tắt một câu chuyện (nhân vật, hoàn cảnh, cao trào, hành
động)
3. Hướng dẫn sử dụng
Những bước sau sẽ được trình bày chi tiết trong phần hướng dẫn này:
1. Mở phần mềm Bản đồ tư duy
2. Bắt đầu xây dựng một Bản đồ tư duy mới
3. Thêm các chủ đề lớn nhỏ
4. Thêm nhánh và sắp xếp nhánh
5. Phóng to, thu nhỏ
6. Thêm tranh ảnh
7. Xem Bản đồ tư duy và in
8. Lưu Bản đồ tư duy dưới dạng ảnh 41 Bản đồ tư duy
4. Một số lưu ý khi tạo Bản đồ tư duy:
- Bắt đầu ở trung tâm với một bức ảnh hay tên chủ đề.
- Sử dụng màu sắc, hình ảnh, ký hiệu, mật mã, mũi tên trong Bản đồ tư
duy một cách phù hợp (vd. màu sắc khác nhau để tách các ý khác nhau). Mỗi
từ/hình ảnh phải đứng một mình và được nằm trên một dòng riêng.
- Chọn những từ khoá và viết chúng ra bằng chữ viết hoa. Lưu ý nên sử
dụng những từ ngữ cô đọng thể hiện thông tin. Những đường thẳng cần phải


được kết nối, bắt đầu từ từ khóa ở trung tâm. Các nhánh chính, nhánh phụ được
nối với nhau bằng các đường kẻ.
- Làm cho Bản đồ rõ ràng bằng cách phân cấp các nhánh, sử dụng số thứ
tự hoặc dàn ý để bao quát các nhánh của Bản đồ.
- Sử dụng liên kết đan chéo: Thông tin trong một phần của Bản đồ có thể
liên quan đến phần khác. Khi đó, người sử dụng có thể tạo những đường thẳng
để chỉ ra sự liên quan đan chéo.
VD về sử dụng sơ đồ tư duy trong môn Ngữ Văn lớp 8 bài NƯỚC ĐẠI
VIỆT TA.


MODULE THCS 26: NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG
TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ.
1. Vai trò nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
1.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng:
- Là một phần trong quá trình phát triển chuyên môn của giáo viên hay
cán bộ quản lí giáo dục trong thế kỉ XXI.
- Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng là cách tốt nhất để giáo viên
hay cán bộ quản lí giáo dục xác định những vấn đề giáo dục tại chính nơi vấn đề
đó xuất hiện (lớp, trường học) và tìm giải pháp nhằm cải thiện tình hình.
- Các phát hiện sẽ được ứng dụng ngay lập tức và vấn đề sẽ được giải
quyết nhanh hơn.
1.2. Vì sao cần nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng:
- Phát triển tư duy của giáo viên một cách hệ thống theo hướng giải quyết
vấn đề mang tính nghề nghiệp để hướng tới sự phát triển của trường học.
- Tăng cường năng lực giải quyết vấn đề và đưa ra các quyết định về
chuyên môn một cách chính xác.
- Khuyến khích giáo viên nhìn lại quá trình và tự đánh giá
- Tác động trực tiếp đến việc dạy học và công tác quản lý giáo dục (lớp
học, trường học)
- Tăng cường khả năng phát triển chuyên môn của giáo viên trung học cơ
sở. Giáo viên tiến hành nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng sẽ tiếp nhận
chương trình, phương pháp dạy học mới một cách sáng tạo có sự phê phán một
cách tích cực.
2. Xác định đề tài, nội dung và phương pháp nghiên cứu khoa học sư
phạm ứng dụng:
2.1. Xác định đề tài:
a. Tìm hiểu hiện trạng:
- Suy ngẫm về tình hình hiện tại. Vấn đề thường được GV đưa ra:
- Xác định các nguyên nhân gây ra thực trạng.
- Chọn một nguyên nhân có thể tác động.
b. Đưa ra các giải pháp thay thế: Với một vấn đề nghiên cứu cụ thể, giáo
viên suy nghĩ và tìm các giải pháp thay thế cho giải pháp đang sử dụng.
c. Xác định vấn đề nghiên cứu:
- Việc liên hệ với thực tế dạy học và đưa ra giải pháp thay thể cho tình
huống hiện tại sẽ giúp giáo viên hình thành các vấn đề nghiên cứu.
- Một đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng thường có từ 1 đến 3
vấn đề nghiên cứu được viết dưới dạng câu hỏi.


d. Xây dựng giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết nghiên cứu là một câu trả lời giả định cho vấn đề nghiên
cứu và sẽ được kiểm chứng bằng dữ liệu.
- Có hai dạng giả thuyết nghiên cứu chính:
+ Giả thuyết không có nghĩa.
+ Giả thuyết có nghĩa.
2.2. Nội dung nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng.
Bao gồm:
- Suy nghĩ: Quan sát thấy có vấn đề và nghĩ tới giải pháp thay thế.
- Thử nghiệm: Thử nghiệm giải pháp thay thế trong lớp học, trường học.
- Kiểm chứng: Tìm xem giải pháp thay thế có hiệu quả hay không.
2.3. Phương pháp nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng.
- Phương pháp nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng gồm: Nghiên cứu
định tính và nghiên cứu đinh lượng nhưng tập trung nghiên cứu định lượng vì:
+ Kết quả nghiên cứu định lượng dưới dạng các số liệu có thể giúp nguời
đọc hiểu rõ hơn về nội dung và kết quả nghiên cứu.
+ Giúp giáo viên hay cán bộ quản lí giáo dục có cơ hội được đào tạo một
cách hệ thống về kỹ năng giải quyết vấn đề, phân tích và đánh giá - nền tảng
quan trọng khi tiến hành nghiên cứu định lượng.
+ Thống kê được sử dụng theo các chuẩn quốc tế - như một ngôn ngữ thứ
hai - làm cho kết quả nghiên cứu được công bố trở nên dễ hiểu.
3. Thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng:
Khi thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm gồm các bước sau:
Bước
Hoạt động
- Giáo viên – người nghiên cứu tìm ra những hạn chế của hiện
trạng trong việc dạy - học, quản lí giáo dục và các hoạt động
1. Hiện trạng khác trong nhà trường.
- Xác định các nguyên nhân gây ra hạn chế đó, lựa chọn một
nguyên nhân mà mình muốn thay đổi.
2. Giải pháp GV – người nghiên cứu suy nghĩ về các giải pháp thay thế cho
thay thế.
giải pháp hiện tại và liên hệ với các ví dụ đã được thực hiện
thành công có thể áp dụng vào tình huống hiện tại
3. Vấn đề
GV – người nghiên cứu xác định các vấn đề cần nghiên cứu
nghiên
(dưới dạng câu hỏi) và nêu các giả thuyết.
- GV – người nghiên cứu lựa chọn thiết kế phù hợp để thu thập
dữ liệu đáng tin cậy và có giá trị. Thiết kế bao gồm việc xác
4. Thiết kế.
định nhóm đối chứng và nhóm thục nghiệm, quy mô nhóm và
thời gian thu thập dữ liệu.
5. Đo lường. GV – người nghiên cứu xây dụng công cụ đo lường và thu thập


6. Phân tích.
7. Kết quả.

dữ liệu theo thiết kế nghiên cứu.
GV - người nghiên cứu phân tích các dữ liệu thu được và giải
thích để trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Giai đoạn này có thể sử
dụng các công cụ thống kê.
GV - người nghiên cứu đưa ra câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu,
đưa ra các kết luận và khuyến nghị.

MODUL 35: GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THCS
I. Kỹ năng sống là gì?
- Kỹ năng sống (KNS) : Là khả năng điều chỉnh và lựa chọn hành vi đúng
đắn, có khả năng điều chỉnh nhu cầu của bản thân một cách hợp lý và ứng phó
trước những thách thức trong cuộc sống.
- Theo tổ chức y tế thế giới( WTO) : KNS là khả năng để có hành vi thích
ứng và tích cực giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và
thách thức cuộc sống hằng ngày
- Giáo dục KNS (GDKNS): Là trang bị những kiến thức, thái độ, hành
động giúp cho người học hình thành được những KNS cần thiết, phù hợp với
từng lứa tuổi, điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường sống,... GDKNS cho HS nói
chung và cho HS THCS nói riêng là việc rất quan trọng, ảnh hưởng tới quá trình
hình thành và phát triển nhân cách cho HS. GDKNS cần được tiến hành càng
sớm càng tốt và có thể bắt đầu ngay từ bậc tiểu học, thậm chí còn có thể ở tuổi
mầm non. Bởi vì lứa tuổi này những hành vi cá nhân, tính cách và nhân cách
đang dần được hình thành.
- Theo UNICEF: KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành
vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình
thành thái độ và kỹ năng.
- UNESCO: KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đày đủ các chức năng
và tham gia vào cuộc sống hằng ngày
- Tổ chức GDKNS: trong phạm vi chuyên đề này thì tổ chức GDKNS
được hiểu là phương thức tiến hành hoạt động GDKNS, chủ yếu bao gồm các
khâu xây dựng, thực hiện kế hoạch GD (như một bộ phận của kế hoạch GD
chung). Phương thức này được xác định căn cứ vào mục tiêu, nội dung GDKNS,
cách thức đưa nội dung đó vào kế hoạch hoạt động của nhà trường do các cơ
quan quản lý hoặc các tổ chức xã hội hổ trợ tiến hành. Ðể tổ chức thực hiện
GDKNS cần tiến hành nhiều hoạt động cụ thể và được đảm bảo bằng những
điều kiện nhất định.
Tóm lại KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng
sử phù hợp với những người khác, với xã hội với thiên nhiên, khả năng ứng phó
tích cực trước các tình huống của cuộc sống.
II. Mục tiêu GD KNS cho HS THCS


Việc GD KNS cho HS THCS nhằm hướng tới 3 mục tiêu chính như sau:
1. Giúp cho HS làm chủ bản thân, có khả năng thích ứng, biết cách
ứng phó trước những tình huống khó khăn trong giao tiếp hàng ngày: Giúp HS
hiểu được sự cần thiết của các KNS để giúp cho bản thân có thể sống tự tin, lành
mạnh, phòng tránh được các nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sự phát triễn thể chất,
tinh thần và đạo đức của các em.
2. Giúp HS rèn cách sống có trách nhiệm với bản thân , gia đình, cộng
đồng: Giúp cho các em cókĩ năng làm chủ được bản thân, biết xữ lí linh hoạt
trong các tình huống giao tiếp hằng ngày thể hiện lối sốngVăn minh: có đạo đức,
có văn hóa. Có kĩ năng tự bảo vệ mình trước những vấn đề xã hội có nguy cơ
ảnh hưởng đến cuộc sống an toàn và lành mạnh của bản thân.
3. Giúp HS mở ra cơ hội, hướng suy nghĩ tích cực và tự tin , tự quyết
định lựa chọn đúng đắn: giúp cho HS có lối sống lành mạnh, có thái độ phê
phán đối với những biểu hiện thiếu lành mạnh, tích cực tham gia các hoạt động
của xã hội và thực hiện tốt quyền-bổn phận công dân của mình.
III. Nội dung cơ bản của từng KNS cụ thể
Giáo dục KNS cho HS THCS là GD những kĩ năng cốt lõi cần hình thành
và phát triễn ở các em. Đó là các kĩ năng sau:
1. Kĩ năng Tự nhận thức:
Tự nhận thức là tự nhìn nhận, tự đánh giá về bản thân.
KN tự nhận thức là khả năng của con người hiểu về chính bản thân mình,
như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận, đánh
giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu,...
của bản thân mình; quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận
ra lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng.
Tự nhận thức là một kĩ năng sống rất cơ bản của con người, là nền tảng để
con người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có
thể cảm thông được với người khác. Ngoài ra, có hiểu đúng về mình, con người
mới có thể có những quyết định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả
năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu xã hội. Ngược lại, đánh giá
không đúng về bản thân có thể dẫn con người đến những hạn chế, sai lầm, thất
bại trong cuộc sống và trong giao tiếp với người khác.
Để tự nhận thức đúng về bản thân cần phải được trải nghiệm qua thực tế,
đặc biệt là qua giao tiếp với người khác.
2. Kĩ năng Giao tiếp:
Kĩ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình
thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh và
văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất
đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu,
mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn khi cần thiết.
Kĩ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và
điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả; cởi mở bày tỏ suy nghĩ,
cảm xúc nhưng không làm hại hay gây tổn thương cho người khác. Kĩ năng này


giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với nguời khác, bao gồm biết gìn giữ mối
quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình - là nguồn hỗ trợ quan trong
cho mỗi chúng ta; đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới và
đây là yếu tố rất quan trọng đối với niềm vui cuộc sống. Kĩ năng này cũng giúp
kết thúc các mối quan hệ khi cần thiết một cách xây dựng.
Kĩ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kĩ năng khác như bày tỏ sự
cảm thông, thương lượng, hợp tác, tìm kiếm sự giúp đỡ, giải quyết mâu thuẫn,
kiểm soát cảm xúc. Người có kĩ năng giao tiếp tốt tốt biết dung hòa đối với
mong đợi của những người khác; có cách ứng xử phù hợp khi làm việc cùng và
ở cùng với những người khác trong một môi trường tập thể, quan tâm đến những
điều người khác quan tâm và giúp họ có thể đạt được những điều họ mong muốn
một cách chính đáng.
3. Kĩ năng Lắng nghe tích cực:
Kĩ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình
thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh và
văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất
đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu,
mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn khi cần thiết.
Kĩ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và
điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả; cởi mở bày tỏ suy nghĩ,
cảm xúc nhưng không làm hại hay gây tổn thương cho người khác. Kĩ năng này
giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với nguời khác, bao gồm biết gìn giữ mối
quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình - là nguồn hỗ trợ quan trong
cho mỗi chúng ta; đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới và
đây là yếu tố rất quan trọng đối với niềm vui cuộc sống. Kĩ năng này cũng giúp
kết thúc các mối quan hệ khi cần thiết một cách xây dựng.
Kĩ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kĩ năng khác như bày tỏ sự
cảm thông, thương lượng, hợp tác, tìm kiếm sự giúp đỡ, giải quyết mâu thuẫn,
kiểm soát cảm xúc. Người có kĩ năng giao tiếp tốt tốt biết dung hòa đối với
mong đợi của những người khác; có cách ứng xử phù hợp khi làm việc cùng và
ở cùng với những người khác trong một môi trường tập thể, quan tâm đến những
điều người khác quan tâm và giúp họ có thể đạt được những điều họ mong muốn
một cách chính đáng.
4. Kĩ năng Xác định giá trị:
Giá trị là những gì con người cho là quan trọng, là có ý nghĩa đối với bản
thân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bản
thân trong cuộc sống. Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chính
kiến, thái độ, và thậm chí là thành kiến đối với một điều gì đó…
Giá trị có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần, có thể thuộc các lĩnh
vực văn hoá, nghệ thuật, đạo đức, kinh tế,...
Mỗi người đều có một hệ thống giá trị riêng. Kĩ năng xác định giá trị là
khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình. Kĩ năng xác
định giá trị có ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định của mỗi người. Kĩ
năng này còn giúp ngưòi ta biết tôn trọng người khác, biết chấp nhận rằng người
khác có những giá trị và niềm tin khác.
\


Giá trị không phải là bất biến mà có thể thay đổi theo thời gian, theo các
giai đoạn trưởng thành của con người. Giá trị phụ thuộc vào giáo dục, vào nền
văn hoá, vào môi trường sống, học tập và làm việc của cá nhân.
5. Kĩ năng Kiên định:
Kĩ năng kiên định là khả năng con người nhận thức được những gì mình
muốn và lý do dẫn đến sự mong muốn đó. Kiên định còn là khả năng tiến hành
các bước cần thiết để đạt được những gì mình muốn trong những hoàn cảnh cụ
thể, dung hồ được giữa quyền, nhu cầu của mình với quyền, nhu cầu của người
khác.
Kiên định khác với hiếu thắng - nghĩa là luôn chỉ nghĩ đến quyền và nhu
cầu của bản thân, bằng mọi cách để thỏa mãn nhu cầu của mình, không quan
tâm đến quyền và nhu cầu của người khác.
Kiên định cũng khác với phục tùng - nghĩa là luôn bị phụ thuộc vào người
khác; hi sinh cả quyền và nhu cầu chính đáng của bản thân để phục vụ cho
quyền và nhu cầu không chính đáng của người khác.
Thể hiện tính kiên định trong mọi hoàn cảnh là cần thiết song cần có cách
thức khác nhau để thể hiện sự kiên định đối với từng đối tượng khác nhau.
Khi cần kiên định trước một tình huống/vấn đề, chúng ta cần:
Nhận thức được cảm xúc của bản thân,
Phân tích, phê phán hành vi của đối tượng,
Khẳng định ý muốn của bản thân bằng cách thể hiện thái độ, lời nói hoặc
hành động mang tính tích cực, mềm dẻo, linh hoạt và tự tin.
Kĩ năng kiên định sẽ giúp chúng ta tự bảo vệ được chính kiến, quan điểm,
thái độ và những quyết định của bản thân, đứng vững trước những áp lực tiêu
cực của những người xung quanh. Ngược lại, nếu không có kĩ năng kiên định,
con người sẽ bị mất tự chủ, bị xúc phạm, mất lòng tin, luôn bị người khác điều
khiển hoặc luôn cảm thấy tức giận và thất vọng. Kĩ năng kiên định cũng giúp cá
nhân giải quyết vấn đề và thương lượng có hiệu quả.
Để có kĩ năng kiên định, con người cần xác định được các giá trị của bản
thân, đồng thời phải kết hợp tốt với kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng thể hiện sự tự
tin và kĩ năng giao tiếp.
6. Kĩ năng Ra quyết định:
Trong cuộc sống hàng ngày, con người luôn phải đối mặt với những tình
huống, những vấn đề cần giải quyết buộc chúng ta phải lựa chọn, đưa ra quyết
định hành động.
Kĩ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn
phương án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống
một cách kịp thời.
Mỗi cá nhân phải tự mình ra quyết định cho bản thân; không nên trông
chờ, phụ thuộc vào người khác; mặc dù có thể tham khảo ý kiến của những
người tin cậy trước khi ra quyết định.
Để đưa ra quyết định phù hợp, chúng ta cần:
- Xác định vấn đề hoặc tình huống mà chúng ta đang gặp phải.
- Thu thập thông tin về vấn đề hoặc tình huống đó.
- Liệt kê các cách giải quyết vấn đề/tình huống đã có.


- Hình dung đầy đủ về kết quả sẽ xảy ra nếu chúng ta lựa chọn mỗi
phương án giải quyết.
- Xem xét về suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nếu giải quyết theo từng
phương án đó.
- So sánh giữa các phương án để quyết định lựa chọn phương án tối ưu.
Kĩ năng ra quyết định rất cần thiết trong cuộc sống, giúp cho con người có
được sự lựa chọn phù hợp và kịp thời, đem lại thành công trong cuộc sống.
Ngược lại, nếu không có kĩ năng ra quyết định, con người ta có thể có những
quyết định sai lầm hoặc chậm trễ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến các mối quan hệ,
đến công việc và tương lai cuộc sống của bản thân; đồng thời còn có thể làm ảnh
hưởng đến gia đình, bạn bè và những người có liên quan.
Để ra được quyết định một cách phù hợp, cần phối hợp với những KNS
khác như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng thu thập thông
tin, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo,...
Kĩ năng ra quyết định là phần rất quan trọng của kĩ năng giải quyết vấn
đề.
7. Kĩ năng Hợp tác:
Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một
công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung.
Kĩ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết
và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm.
Biểu hiện của người có kĩ năng hợp tác:
- Tôn trọng mục đích, mục tiêu hoạt động chung của nhóm; tôn trọng
những quyết định chung, những điều đã cam kết.
- Biết giao tiếp hiệu quả, tôn trọng, đoàn kết và cảm thông, chia sẻ với các
thành viên khác trong nhóm.
- Biết bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm.
Đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng, xem xét các ý kiến, quan điểm của mọi
người trong nhóm.
- Nỗ lực phát huy năng lực, sở trường của bản thân để hoàn thành tốt
nhiệm vụ đã được phân công. Đồng thời biết hỗ trợ, giúp đỡ các thành viên khác
trong quá trình hoạt động.
- Biết cùng cả nhóm đồng cam cộng khổ vượt qua những khó khăn,
vướng mắc để hoàn thành mục đích, mục tiêu hoạt động chung.
- Có trách nhiệm về những thành công hay thất bại của nhóm, về những
sản phẩm do nhóm tạo ra.
Có kĩ năng hợp tác là một yêu cầu quan trọng đối với người công dân
trong một xã hội hiện đại, bởi vì:
- Mỗi người đều có những điểm mạnh và hạn chế riêng. Sự hợp tác trong
công việc giúp mọi người hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo nên sức mạnh trí tuệ,
tinh thần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem lại chất lượng và hiệu quả cao hơn
cho công việc chung.
- Trong xã hội hiện đại, lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều phụ
thuộc vào nhau, ràng buộc lẫn nhau; mỗi người như một chi tiết của một cỗ máy
lớn, phải vận hành đồng bộ, nhịp nhàng, không thể hành động đơn lẻ.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×