Tải bản đầy đủ

khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng phân BMT18 đến sản xuất chè sạch an toàn tại huyện đại từ, tỉnh thái nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------------

TRƯƠNG THỊ ĐIỂM
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG PHÂN BIOCHAR - KHOÁNG THẾ HỆ
MỚI BMT18 ĐẾN SẢN XUẤT CHÈ SẠCH-AN TOÀN
TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Khoa học môi trường

Khoa


: Môi trường

Khóa học

: 2014 – 2018

Thái Nguyên, năm 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------------

TRƯƠNG THỊ ĐIỂM
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG PHÂN BIOCHAR - KHOÁNG THẾ HỆ
MỚI BMT18 ĐẾN SẢN XUẤT CHÈ SẠCH-AN TOÀN
TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Khoa học môi trường

Lớp

: K46 - KHMT - N01

Khoa

: Môi trường

Khoá học

: 2014 - 2018

Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS. Đỗ Thị Lan

Thái Nguyên, năm 2018


i

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là một khâu rất quan trọng trong quá trình học tập
của mỗi sinh viên nhằm hệ thống lại toàn bộ lượng kiến thức đã học, vận dụng
lý thuyết vào thực tiễn, bước đầu làm quen với những kiến thức khoa học. Qua
đó sinh viên ra trường sẽ hoàn thiện hơn về kiến thức lý luận, phương pháp làm
việc, năng lực công tác nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của công việc say này.
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản
thân, bên cạnh những thuận lợi, tôi đã gặp không ít khó khăn, tuy vậy với sự
giúp đỡ của các thầy cô, các anh chị, gia đình và bạn bè tôi đã vượt qua các
khó khăn ấy và hoàn thành bài khóa luận.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc
tới cô giáo PGS.TS. Đỗ Thị Lan đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và động viên
tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu trường - Ban Chủ
nhiệm Khoa Môi trường - Các thầy, cô giáo trong Khoa Môi trường - Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên những người đã trực tiếp giảng dạy, trang
bị những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học đại học.
Mặc dù bản thân có nhiều có gắng nhưng do hạn chế về thời gian, trình
độ và kinh nghiệm song đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong
sự cảm thông, đóng góp ý kiến chỉ bảo của các thầy cô giáo và ý kiến đóng
góp của bạn bè để đề tài tốt nghiệp được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2018
Trương Thị Điểm


ii

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích chè của thế giới và một số nước trồng chè chính ........... 32
Bảng 2.2: Năng suất chè của Thế Giới và một số nước trồng chè chính năm
2009 – 2013. .................................................................................................... 33
Bảng 2.3: Sản lượng chè của Thế Giới và một số nước trồng chè chính ....... 34
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Việt Nam..................... 35
Bảng 2.5. Diện tích, năng suất, sản lượng chè của Thái Nguyên ................... 40
năm 2012 – 2015 ............................................................................................. 40
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của liều lượng phân BMT 18 tới sinh trưởng .............. 47
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của liều lượng phân BMT 18 tới sinh trưởng đến động
thái tăng trưởng chiều dài búp (cm) ................................................................ 49
Hình 4.1: Ảnh hưởng của liều lượng phân BMT 18 tới sinh trưởng đến động
thái tăng trưởng chiều dài búp (cm) ................................................................ 49
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của liều lượng phân BMT 18 đến đợt sinh trưởng của
giống chè ......................................................................................................... 50
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của liều lượng phân BMT 18 tới biểu hiện một số sâu
bệnh hại trên chè ............................................................................................. 51
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của liều lượng tổ hợp phân BMT 18 tới sinh trưởng đến
hàm lượng một số chất hóa học trong búp chè ............................................... 55
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của liều lượng phân BMT 18 tới sinh trưởng đến chất
lượng chè xanh ................................................................................................ 56
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của liều lượng tổ hợp phân BMT 18 tới sinh trưởng đến
năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất ................................................... 57
Bảng 4.10: Hiệu quả kinh tế các công thức phân NTR1, BMT18 trên cây chè
......................................................................................................................... 58


iii

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Ảnh hưởng của liều lượng phân BMT 18 tới sinh trưởng đến động
thái tăng trưởng chiều dài búp (cm) ................................................................ 49


iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CT

: Công Thức

ĐC

: Đối chứng

K2O

: Kali

KHKT

: Khoa học kỹ thuật

KTCB

: Kiến thiết cơ bản

LAI

: Chỉ số diện tích lá

MN

: Miền núi

N

: Đạm

NLN

: Nông lâm nghiệp

NXB

: Nhà xuất bản

P2O5

: Lân

SP

: Sản phẩm

TB

: Trung Bình

TCVN

: Tiêu chuẩn Việt Nam


v

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC BẢNG ......................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................ iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................... iv
MỤC LỤC ......................................................................................................... v
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1
1.2. Mục đích đề tài ........................................................................................... 2
1.2.1 Mục tiêu chung. ........................................................................................ 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể........................................................................................... 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài ........................................................................................ 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập ............................................................................... 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn ............................................................................ 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................... 4
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 4
2.1.1. Cơ sở lý luận ........................................................................................... 4
2.1.2. Cơ sở thực tiễn. ....................................................................................... 4
2.1.3. Nguồn gốc của cây chè ........................................................................... 5
2.1.4. Một số đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây chè .............................. 6
2.1.4. Vai trò của phân khoáng đối với cây chè ................................................ 7
2.2. Thực trạng đất trồng chè trên thế giới và Việt Nam ................................ 11
2.2.1. Sự phân bố của cây chè ......................................................................... 11
2.2.2. Thực trạng đất trồng chè ở Việt Nam ................................................... 12
2.2.3. Thực trạng đất trồng chè trên thế giới ................................................... 16
2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về sử dụng phân bón cho cây chè ........... 18
2.3.1. Những nghiên cứu về sử dụng phân bón cho chè trên thế giới ............ 18
2.3.2. Những kết quả nghiên cứu về đất và phân bón cho chè ở Việt Nam ... 22


vi

2.4. Tình hình sản xuất chè trên thế giới và việt Nam .................................... 31
2.4.1. Tình hình sản xuất chè trên thế giới ...................................................... 31
2.4.2. Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam ...................................................... 35
2.5. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè Thái Nguyên ..................................... 37
PHẦN 3: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....41
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 41
3.1.1 Đối tượng: .............................................................................................. 41
3.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 41
3.3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 42
3.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm.............................................................. 42
3.3.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu .......................................................................... 42
3.3.3. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 45
3.3.4. Phương pháp khác ................................................................................. 45
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................... 46
4.1.Thành phần của phân biochar và các nghiên cứu về ứng dụng của phân
biochar ............................................................................................................. 46
4.1.1 Thành phần của phân biochar ................................................................ 46
4.1.2 Các nghiên cứu về ứng dụng của phân biochar ..................................... 46
4.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng liều lượng phân BMT 18 đến sinh trưởng chè ..... 46
4.2.1. Ảnh hưởng của liều lượng phân BMT 18 đến sinh trưởng thân cành chè .... 46
4.2.2. Ảnh hưởng của liều lượng BMT 18 đến động thái tăng trưởng
chiều dài búp .................................................................................................. 48
4.2.3. Ảnh hưởng của liều lượng bón BMT 18 đến lứa hái chè ..................... 50
4.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng phân BMT 18 đến mức độ sâu bệnh hại 51
4.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng phân NTR1, BMT18 đến các yếu tố cấu
thành năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. ............................................ 53
4.4.1. Ảnh hưởng phân NTR1, BMT18 đến chất lượng chè .......................... 53


vii

4.3.2. Ảnh hưởng liều lượng phân BMT 18 đến năng suất chè và hiệu quả
kinh tế sử dụng phân bón ................................................................................ 57
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 60
5.1. Kết luận .................................................................................................... 60
5.2. Kiến nghị .................................................................................................. 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 61


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Phân hữu cơ khoáng BMT18 BMT18 do Trường Đại học Nông Lâm Đại học Thái Nguyên nghiên cứu và sản xuất. Phân BMT18 có hàm lượng phân
có hàm lượng N và K2O cao nên có thể dùng bón thúc cho cây trồng. Phân
BMT18 đã nghiên cứu sử dụng cho nhiều loại cây trồng nhưng chưa nghiên cứu
xậy dựng quy trình kỹ thuật bón phân cho cây chè.
Hiện nay, vấn đề về sản xuất chè an toàn theo quy trình Viet GAP đang
được cả dư luận và xã hội quan tâm, trong đó ảnh hưởng của phân bón đến năng
suất và chất lượng cây chè được coi là vấn đề quan trọng nhất. Phân BMT18 là
sản phẩm mới thành phần gồm: than sinh học, phân hữu cơ sinh học và vô cơ.
Để xây dựng quy trinh kỹ thuật sử dụng phân bón này cho cây chè nói chung và
cây chè tại Đại Từ nói riêng cần phải nghiên cứu ảnh hưởng của liều phân bón
đến năng suất và chất lượng chè.
Vùng sản xuất chè an toàn Đại Từ – Thái Nguyên là nơi có diện tích
trồng chè thuộc loại lớn nhất tỉnh Thái Nguyên, tuy nhiên người dân sản xuất
chè chưa được khoa học theo quy trình Viet GAP và chè chưa đảm bảo chất
lượng như bà con còn sử dụng phân chuồng tươi và sử dụng nhiều phân
khoáng... Trong quá trình chăm sóc, nông dân bón phân chưa cân đối, bón nhiều
đạm (ure) làm cây mất cân đối về dinh dưỡng (gây ra thừa đạm) ảnh hưởng đến
sinh trưởng của cây, cây dễ bị nhiễm các loại sâu bệnh hại dẫn đến năng suất còn
hạn chế, chất lượng sản phẩm chưa cao. Đặc biệt việc bón quá nhiều đạm hoặc
gần ngày thu hoạch gây dư lượng nitrat tích lũy trong cây vượt quá mức cho
phép, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người sử dụng. Ở nước ta hiện đã có
nhiều tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng
của cây chè như Phạm Minh Tâm (2001), Ngô Thị Hạnh (2010)... Tuy nhiên vẫn


2

chưa có nghiên cứu nào được tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng phân BMT18 cho
cây chè tại vùng sản xuất chè an toàn Đại Từ tỉnh Thái Nguyên.
Xuất phát từ các vấn đề nêu trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu ảnh hưởng phân BMT18 đến sản xuất chè sạch-an toàn tại huyện Đại
Từ tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung.
Xác định liều lượng phân BMT18 phù hợp để góp phần nâng cao chất lượng
chè bằng sử dụng phân bón hữu cơ khoáng, hạn chế gây ô nhiễm môi trường, tiến
tới sản xuất chè an toàn và bền vững.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể.
+ Đánh giá được ảnh hưởng các liều lượng phân BMT18 đến chất
lượng chè vụ hè thu năm 2017.
+ Đánh giá được khả năng hạn chế gây ô nhiễm môi trường của phân
BMT18 tại vùng trồng chè Đại Từ.
+ Xác định được liều lượng phân BMT18 hợp lý có để cải thiện chất
dinh dưỡng trong đất ở vùng trồng chè Đại Từ.
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập
+ Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại cho sinh viên những kiến thức đã
học và làm quen dần với công việc thực tế
+ Kết quả của đề tài góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật bón phân,
bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về cây chè
+ Kết quả của đề tài là cơ sở để phát triển rộng rãi việc đưa phân bón
BMT18 vào sản xuất nông nghiệp.
+ Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên
trong quá trình điều tra nghiên cứu.


3

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Đưa ra được liều lượng phân BMT18 thích hợp cho cây chè nhằm nâng
cao năng suất và chất lượng chè ở vùng chè sản xuất chất lượng cao huyện
Đại Từ tỉnh Thái Nguyên
Kết quả cho thấy phân BMT18 góp phần hạn chế gây ô nhiễm môi
trường tốt hơn các loại phân vô cơ và phân hữu cơ khác,...
Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở khoa học xây dựng quy trình
sử dụng phân bón cho cây chè.
Hiệu quả của đề tài góp phần nâng cao chất lượng chè tại tỉnh Thái
Nguyên, giúp tạo nên thương hiệu chè sạch và an toàn cho sức khỏe con người.


4

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Cơ sở lý luận
Nghiên cứu các nhu cầu của cây trồng, từ đó tìm các biện pháp kỹ
thuật nhằm tác động nhằm đáp ứng nhu cầu đó để tạo ra nhiều nông sản có
năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao là nhiệm vụ cơ bản của khoa
học Nông nghiệp. Một trong những nhu cầu cơ bản của cây trồng là các chất
dinh dưỡng và để đáp ứng nhu cầu đó chủ yếu thông qua việc bón phân.
Nhiệm vụ của việc bón phân là cung cấp cho cây phần dinh dưỡng ít
nhất cũng đủ bù lượng mà cây lấy đi theo sản phẩm thu hoạch. Muốn xây
dựng chế độ bón phân hợp lý cần nghiên cứu đặc tính của cây đồng thời phân
tích khả năng dinh dưỡng trong đất.
Việc bón phân hợp lý cho cây trồng vừa nhằm đạt năng suất cây trồng
cao thoả đáng với chất lượng tốt, hiệu quả sản xuất cao, đồng thời để ổn định
và bảo vệ được đất trồng trọt. Bên cạnh đó bón phân còn có thể làm môi
trường tốt hơn, cân đối hơn
2.1.2. Cơ sở thực tiễn.
Sản xuất chè tại xã Tân Thái, huyện Đại Từ ,tỉnh Thái Nguyên cũng
như các vùng chè khác trong cả nước, đều thiếu phân bón hữu cơ trầm trọng.
Trong canh tác chè truyền thống, phân chuồng là giải pháp chủ yếu của phân
bón cho chè, tuy nhiên hiện nay, lượng phân chuồng trong chăn nuôi hiện có
trong các nông hộ không thể đáp ứng nổi cho sự mở rộng diện tích trồng chè
nhằm tăng tổng sản lượng cung cấp cho nhu cầu của thị trường ngày càng lớn.
Quá trình thâm canh chè với sự có mặt tràn lan, mất cân đối của các
chất hóa học như phân hóa học, phân chuồng tươi, thuốc bảo vệ thực vật đã
làm tăng lượng Nitrat và các chất độc hại dư thừa trong rau, tạo ra sự mất vệ
sinh an toàn thực phẩm, gây hại cho sức khỏe người sử dụng. Về lâu dài, đất


5

càng ngày càng bị chai cứng hơn do dung nhiều phân hóa học, tính đệm của
đất giảm nhiều do thiếu mùn, sự ô nhiễm nặng nề về môi trường sản xuất đã
dẫn đến hệ sinh vật đất và thiên địch có lợi cho cây trồng bị tiêu diệt. Nguồn
nước ngầm đang dần dần bị ô nhiễm làm tăng nguy cơ thiếu tài nguyên nước
sạch xung quanh đô thị.
Vì vậy, việc sử dụng phân hữu cơ sinh học bón cho chè là biện pháp
có hiệu quả nhất hiện nay để bổ sung chất hữu cơ cho đất, nâng cao hiệu quả
sử dụng phân bón, tăng cường hoạt động của các chủng vi sinh vật hữu ích,
thúc đẩy nhanh quá trình phân giải chất hữu cơ từ phế phụ phẩm nông nghiệp,
cung cấp mùn cho đất, cải tạo và bồi dưỡng đất, tiến tới nền sản xuất nông
nghiệp hữu cơ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nâng cao năng suất và chất
lượng chè.
2.1.3. Nguồn gốc của cây chè
Chè là loài cây có lịch sử thuộc vào hàng lâu đời nhất trên thế
giới. Cây chè có tên khoa học là Camelia Sineusis, thuộc họ Theacae, khí hàn,
vị khổ cam, không độc. Đây một loại cây xanh lá quanh năm, có hoa màu
trắng. Cây chè là loại cây dài hạn, phải trồng từ 5 năm trở lên mới thu hoạch
được và thu hoạch trong vòng 25 năm, có nhiều cây chè cổ thụ có tuổi đời lên
tới vài trăm năm như cây Trà Tước ở chùa Hương Sơn Thái Nguyên nước ta
có tuổi đời 300 năm.
Dựa trên đặc tính và sự sinh trưởng của cây chè, những nhà thực vật
học đưa ra các điều kiện để cây chè sinh trưởng và phát triển tốt như sau:
1) Quanh năm không có sương muối.
2) Có mưa đều quanh năm với lượng mưa trung bình khoảng 3000 mm/ năm.
3) Nằm ở độ cao 500-1000 mm so với mực nước biển, môi trường
mát mẻ, không nắng quá hoặc ẩm quá.


6

Những vùng đất thỏa mãn các điều kiện trên là: tỉnh Vân Nam Trung Quốc, Bắc Việt Nam, Bắc Miến Điện, Thái Lan và Lào, vùng núi phía
đông bang Assam của Ấn Độ
Như vậy có thể thấy cây chè chỉ tập trung sinh sống và phát triển
được ở châu Á. Cây chè nguyên thủy được cho rằng có từ 4-5 nghìn năm
trước đây.
Các nhà khảo cổ học ở nước ta đã tìm thấy những dấu tích cổ đại của
hoá thạch cây chè ở Phú Thọ. Ở Suối Giàng có cả một rừng chè hoang mấy
vạn cây, có nhiều cây chè cổ thụ rất to lớn.
2.1.4. Một số đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây chè
Chè là loại cây thân gỗ, nếu để sinh trưởng tự nhiên có thể cao 520m. Đường kính tán rộng. Thân và cành chè tạo nên bộ khung tán của cây
chè, nếu cây chè có bộ khung tán khỏe, các cành phân bố hợp lý sẽ là tiền đề
cho năng suất cao. Bộ rễ cây chè ăn sâu 1- 2m, ưa đất chua, chịu hạn tốt. Rễ
nhánh và rễ hút phân bố ở tầng đất sâu từ 0- 40cm, rễ tập trung giữa hai hàng
chè, nếu để sinh trưởng tự nhiên tán rễ so với tán cây lớn hơn 2- 2,5 lần.
Trong kĩ thuật trồng chè theo hàng rào đa số rễ tập trung dưới hình chiếu của
tán cây.
Khác với cây trồng khác, ở cây chè, búp và lá vừa là cơ quan quang
hợp vừa là sản phẩm cho thu hoạch. Để nâng cao năng suất cây chè cần phải
kết hợp đồng thời việc thu hái búp với việc nuôi chừa bộ lá. Có rất nhiều yếu
tố ảnh hưởng đến bộ lá chừa trong đó có đất đai và dinh dưỡng.
Toàn bộ đời sống của cây chè được chia ra thành 2 chu kỳ phát triển:
chu kỳ phát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ.
- Chu kỳ phát triển lớn: bao gồm suốt cả đời sống cây chè, kể từ khi
tế bào trứng thụ tinh, bắt đầu phân chia cho đến khi cây chè già cỗi và chết.
Cây chè thuộc nhóm cây nhiều đời quả, hàng năm đều ra hoa kết quả trong
suốt mấy chục năm sinh trưởng phát triển. Chu kỳ phát triển lớn của cây chè


7

được các nhà khoa học Trung Quốc chia làm 5 giai đoạn: giai đoạn phôi thai
(giai đoạn hạt giống), giai đoạn cây con, giai đoạn cây non, giai đoạn chè lớn,
và giai đoạn già cỗi.
- Chu kỳ phát triển nhỏ (chu kỳ phát triển hàng năm): bao gồm các
giai đoạn sinh trưởng phát triển trong một năm như hạt nảy mầm, chồi mọc lá,
ra hoa kết quả...và giai đoạn tạm ngừng sinh trưởng, cây không ra các lá non
mới, hoa quả phát triển chậm, song bộ rễ lại phát sinh ra các rễ mới. Từ hạt
mọc lên, đến khi chết vì già cỗi, cây chè trải qua những diễn biến về sinh
trưởng phát triển nói trên, lặp đi lặp lại trong nhiều năm. Quá trình sinh
trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực song song cùng tồn tại.
Hai chu kỳ trên có quan hệ mật thiết với nhau, các chu kỳ phát triển
nhỏ được thực hiện trên cơ sở của chu kỳ phát triển lớn. Các hiện tượng hàng
năm như hạt nảy mầm, đâm chồi, nảy lộc, mọc lá, ra hoa kết quả đều tiến
hành trên cơ sở của chu kỳ lớn tích luỹ hàng năm gọi là tuổi sinh vật (tuổi
chung) của cây chè.
Những đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây chè là kết quả phản
ánh tổng hợp giữa đặc điểm của giống (tính di truyền) với những điều kiện
ngoại cảnh. Như vậy, nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất
và chất lượng của từng giống sẽ giúp chúng ta sẽ đánh giá được khả năng
thích ứng của giống trong vùng sinh thái. Từ đó làm cơ sở xây dựng các biện
pháp kỹ thuật canh tác thích hợp, tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng phát
triển cho năng suất cao, chất lượng tốt.
2.1.4. Vai trò của phân khoáng đối với cây chè
Sử dụng phân khoáng cho cây trồng nói chung và cây chè nói riêng là
vô cùng phong phú.
Mục đích của việc bón phân là nhằm bảo đảm dinh dưỡng cân đối cho
cây trồng và không để các chất dự trữ trong đất giảm xuống dưới mức cây
cần. Trên nguyên tắc duy trì độ phì sẵn có trong đất dễ dàng và đỡ tốn kém


8

hơn là khôi phục độ phì của đất do hậu quả của việc bón phân không hợp lý
trong thời gian dài.
Sử dụng phân bón cho chè là vấn đề khá phức tạp bởi tính đa dạng và
phức tạp của đất đai vùng đồi núi. Xu thế hiện nay các tác giả đều cho rằng
bón phân cho chè kết hợp 3 yếu tố N, P, K là cần thiết, song tỷ lệ và liều
lượng bao nhiêu là hợp lý cũng rất phụ thuộc vào điều kiện đất đai, thời tiết
và khí hậu của từng vùng. Nhu cầu dinh dưỡng của cây chè được nhiều nhà
nghiên cứu nhìn nhận từ các khía cạnh khác nhau, hoặc hiệu suất thu hoạch
trên đơn vị phân bón, hoặc với một đơn vị năng suất lấy đi một lượng dinh
dưỡng cần thiết các yếu tố khác nhau.
Những kết quả nghiên cứu về nhu cầu phân bón và các thực nghiệm về
hiệu lực phân bón đã chứng minh: đạm là yếu tố chủ yếu đối với cây chè, có
tương quan chặt chẽ với năng suất. Tương quan giữa năng suất chè với đạm là
tuyến tính với cả mức bón phân cao hơn 120kg N/ha. Khi lượng bón trên 80 –
90kg N/ha thì tối thiểu phải bón làm 2 lần. Hiệu ứng của đạm là tác động tích
lũy, vượt qua giới hạn của một năm mà phải tính qua các chu kỳ thu hái.
Theo kết quả nghiên cứu ở Assam Ấn Độ thấy rằng hiệu lực đạm tăng
đều đặn theo thời gian: hiệu suất của 1kg N của lần bón thứ 1, 2, 3 và 4 là
2kg, 4kg, 6kg và 8kg chè khô.
Ở Đông Phi hiệu suất của 1kg N là từ 4 – 8kg chè khô. Nếu như hiệu suất
dưới 4 kg chè khô/kg N thì đã xuất hiện yếu tố hạn chế P hoặc K. Tác dụng đầy
đủ của đạm được thể hiện chỉ trên nền đảm bảo các yếu tố khác. (Willson K. C,
1992) [45]
Trong nhiệm kỳ kinh tế vài chục năm của đời sống cây chè với các
công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Willson K. C (1992) [45] đã xác
định rằng cây chè ở giai đoạn đầu sau trồng (1 – 3 tuổi) sang giai đoạn cho
thu búp (4 – 6 tuổi) lượng đạm được bón làm nhiều lần, bón từ 30 kg N/ha
tăng dần nhưng không vượt quá 100kg N/ha. Hiệu lực của lượng đạm 100kg


9

N/ha đạt cao nhất ở độ tuổi 7 – 8 đến 10 – 12 tuổi. Thời kỳ 10 – 12 tuổi lượng
đạm bón có hiệu lực cao nhất từ 200 – 300 kg N/ha, nhưng năng suất búp của
1 kg N cao nhất không quá 200 kg N/ha ở những nương chè có mức năng suất
5 – 8 tấn đọt tươi/ha, còn những nương chè có năng suất trên 10 tấn/ha đầu tư
đến 300kg N/ha vẫn cho hiệu suất cao. Tất cả các liều lượng bón trên 300kg
N/ha không làm tăng năng suất chè và hiệu suất giảm. Các nương chè trên 20
tuổi hiệu lực phân đạm tốt nhất với liều lượng không quá 200kg N/ha.
Cũng theo Willson K.C and M.N. Lifford (1992) [45] để thu hoạch 1
tấn chè búp tươi cần phải bón 32,0 - 33,5 kg N; 16,5 - 18,0 kg P2O5; 2,0 –
10,0kg K2O. Trong đó chỉ một nửa dinh dưỡng bị lấy đi bởi thu hái búp, được
tích lũy trong 25 – 28% lượng vật chất khô trong búp thu hoạch. Bởi vậy cung
cấp lượng dinh dưỡng hằng năm cho cây chè cần quan tâm đến sự tiêu hao
cho quá trình duy trì bộ khung tán cây chè, bộ rễ, sinh khối phần đốn hằng
năm, và duy trì hệ sinh vật đất, các quá trình rửa trôi, bốc hơi, cỏ dại....
Qua kết quả nghiên cứu của một số tác giả cho thấy:
Cây chè là loại cây thu hoạch lá nên yếu tố N là chất dinh dưỡng quan
trọng hàng đầu, N có ảnh hưởng tốt đến năng suất búp chè. Bón N có thể làm
tăng năng suất chè búp 40- 50%, hoặc có khi còn cao hơn nữa, nhưng khi bón
N đơn độc kéo dài đã làm giảm năng suất và ảnh hưởng xấu đến chất lượng chè.
Lân là yếu tố rất cần thiết trong đời sống cây chè, có tác dụng tăng
cường sự phát triển của rễ mới, còn yếu tố N chỉ kích thích sự phát triển chiều
dài của rễ. Bộ rễ chè có tương quan rất chặt chẽ với năng suất. Bón kết hợp
lân và N đã làm tăng cường sự sinh trưởng của bộ rễ. Lân còn có tác dụng tích
cực trong việc nâng cao chất lượng chè chế biến, làm tăng hương vị của chè đen.
Vai trò của kali đối với sự sinh trưởng và năng suất chè còn nhiều ý
kiến chưa được thống nhất, có tác giả cho rằng hiệu lực kali đối với chè là tùy
thuộc vào từng loại đất. Trên các loại đất có hàm lượng kali tổng số và dễ tiêu
thấp, bón kali cho chè đã làm tăng năng suất rõ rệt. Song cũng có những


10

nghiên cứu bón kali trong thời gian dài đã không làm tăng năng suất chè ở
mức độ có ý nghĩa. Thậm chí, có thí nghiệm bón kết hợp N và kali kéo dài
trong 21 năm cũng không thấy tăng năng suất đáng kể. (Wanyoko Othieno,
1987) [42].
Xu thế hiện nay các tác giả đều cho rằng bón phân cho chè kết hợp 3
yếu tố N,P, K là cần thiết, song tỉ lệ và liều lượng bao nhiêu là hợp lý cũng rất
phụ thuộc vào điều kiện đất đai, thời tiết và khí hậu của từng vùng.
Ở Ấn Độ, với những đất nghèo dinh dưỡng, K dễ bị rửa trôi, người ta
đề nghị bón N:P:K theo tỉ lệ 1:2:2 hay 1:2:3 nhưng ở Indonesia chè được
trồng ở vùng đất hình thành trên sản phẩm phong hóa của núi lửa nên không
cần bón kali cho chè mà hàng năm chỉ cần bón khoảng 120- 150N và 30
P2O5/ha. Còn vùng đất thiếu kali có thể bón N:P:K theo tỷ lệ 2:1:2. Khác hơn
nữa ở Kenya bón phân cho chè trưởng thành với tỷ lệ thích hợp là
N:P:K=5:1:1 hoặc N:P:K:S = 5:1:1:1 (Hakawata, 1993 [34]; Darma Wijaya,
1985 [30]; Othieno, 1994) [38].
Ở Việt Nam vấn đề sử dụng phân khoáng cho chè còn gặp nhiều khó
khăn, phần lớn đất trồng chè rất nghèo dinh dưỡng, địa hình đa dạng và phức
tạp, khả năng đầu tư phân bón thâm canh cho chè rất hạn chế, kết quả nghiên
cứu chưa nhiều.
Một số kết quả nghiên cứu mới đề cập đến vấn đề bón N đơn độc cho
chè đã cho năng suất tăng rõ rệt, nhưng cho đến năm thứ 7, thứ 8 năng suất
giảm dần, tăng tỷ lệ chè bị chết. Bón đạm liều lượng cao (đã có ảnh hưởng
đến chất lượng chè (Đỗ Ngọc Quỹ, 1979 [19]; Phạm Kiến Nghiệp,1984 [14].
Bón kali kết hợp với N cho chè đã tăng năng suất khoảng 13,3- 20,0%.
Bón lân với các dạng supe lân Lâm Thao, lân chậm tan (lân nung chảy) đã có
tác dụng tăng năng suất chè 23- 24%. (Hồ Quang Đức, 1994 [31]; Bùi Đình
Dinh, Lê Văn Tiềm, Võ Minh Kha, 1993 [5]).
Rải rác còn một số kết quả tương tự nhưng cũng chỉ mới là sơ khởi. Để


11

có thể góp phần nâng cao năng suất và chất lượng chè. Việc tiếp tục nghiên
cứu các tỷ lệ và liều lượng N, P, K thích hợp cho từng loại đất trên từng vùng
trồng chè ở những điều kiện khí hậu khác nhau là những vấn đề cần phải quan tâm.
2.2. Thực trạng đất trồng chè trên thế giới và Việt Nam
2.2.1. Sự phân bố của cây chè
Sự phân bố của cây chè chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự
nhiên, khí hậu. Các công trình nghiên cứu trước đây đều đã có kết luận: vùng
khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới đều thích hợp cho sự phát triển của cây chè.
Cây chè đã có mặt ở cả những vùng cao nhất của bắc địa cầu như trên dãy núi
Pôchi vùng Kratxnoda, đến những vùng thấp nhất ở nam địa cầu như vùng
Miosiones của Achentina.
Chè sinh trưởng tốt cả ở vùng có độ cao 20- 25m đến vùng có độ cao
hàng nghìn mét so với mặt biển. Với đặc tính chung là ở vùng thấp cây chè
sinh trưởng tốt, cho sản lượng búp cao nhưng chất lượng chè chế biến không
ngon, còn ở vùng cao chè sinh trưởng chậm, năng suất búp không cao nhưng
chất lượng chè chế biến lại ngon (Astika) [28].
Ở các nước nhiệt đới với những vùng có độ cao từ 20- 25m trở lên so với
mặt biển, có lượng mưa từ 1500mm trở lên, phân bố đều trong năm, nắng nhiều
là những nơi có điều kiện tối ưu để cây chè cho năng suất cao, phẩm chất tốt
[12], [32].
Nhiều tài liệu ở các nước trồng chè cho thấy cây chè đòi hỏi đất chua,
đất có trị số pHKCL từ 4 đến 6 là thích hợp cho cây chè phát triển và tối ưu là
pHKCL khoảng 4,5 đến 5,6 [12].
Châu Á có 20 nước trồng chè bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanca,
Inđônexia, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kì, Banglades, Iran, Myanma, Việt Nam, Thái
Lan, Lào, Malaysia, Campuchia, Nêpan, Philippin, Triều Tiên, Apganistan và
Pakistan.
Châu Phi có 21 nước bao gồm Kenia, Malavi, Uganda, Tanzania,


12

Mozambich, Ruanda, Mali, Ghine, Morixơ, Namphi, Ai cập, Cônggô,
Camơrun, Đảo Reuynion, Tchat, Rodezia, Abitxini, Brundi, Maroc, Angiêri
và Zimbabue.
Châu Mỹ có 12 nước bao gồm Achentina, Braxin, Peru, Columbia,
Ecuado, Guatemala, Paragoay, Jamica, Mêhico, Bolivia, Guyanna và Mỹ.
Châu Đại Dương có 3 nước sản xuất chè bao gồm: Paqua Tân Ghinê,
Fiji và Australia. Ở châu Âu có: Cộng hoà liên bang Nga, Bồ đào Nha.
2.2.2. Thực trạng đất trồng chè ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cây chè có thể trồng được ở hầu hết trên các loại đất với
điều kiện là ở độ cao so với mặt biển từ 20m trở lên, mực nước ngầm ở sâu
dưới 1m, đất chưa có độ pHKCL 4- 6, lượng mưa trung bình từ 1200 mm/năm
trở lên, độ ẩm không khí khoảng 80%, độ dốc không quá 300, tầng dày trên
50cm (Nguyễn Ngọc Kính [12], Đỗ Ngọc Quỹ [20].
Từ lâu đời do điều kiện kinh tế, tập quán canh tác của từng nơi, cây
chè đã được trồng và hình thành ở 5 vùng chính với điều kiện đất đai, khí hậu
và các giống chè khác nhau.
Vùng chè trung du
Cây chè được trồng chủ yếu ở một số huyện như Hàm Yên, Yên Sơn,
Sơn Dương, Chiêm Hóa thuộc tỉnh Tuyên Quang, một số huyện trong tỉnh
Yên Bái như: Lục Yên, Trấn Yên, Yên Bình...Một số huyện trong tỉnh Phú
Thọ như Thanh Sơn, Yên Lập, Thanh Ba, Hạ Hòa và Đoan Hùng.
Đất đồi vùng trung du có độ cao so với mặt biển từ 25- 200m, chiếm
1/10 diện tích cả nước, không có độ dốc đứng và lòng chảo sâu. Ranh giới
giữa núi và đồi khó phân biệt chính xác [25]. Đất được hình thành trên nhiều
loại đá mẹ khác nhau như phiến sét, phiến thạch mica, gnai... dưới những
thảm thực vật khác nhau, có mức độ Feralit khác nhau, vì lẽ đó mà đất đai
vùng trung du không đồng đều, hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất
chênh lệch nhau đáng kể [26].


13

Thành phần cơ giới nặng vì được hình thành từ những đá mẹ giàu sét,
cấu trúc kém, ít tơi xốp. Đất thường chua, pHKCL có chỗ <4,5. Các cation
Ca++, Mg++, K+... rất nghèo. Đất tích lũy nhiều sắt, nhôm, hàm lượng chất
hữu cơ thấp, nhiều nương chè hàm lượng chất hữu cơ chỉ chung quanh 1%,
đạm tổng số thường <0,2%, kali rất nghèo trung bình khoảng 0,15- 0,2%
(Lương Đức Loan, Nguyễn Tử Siêm- 1979, Vũ Ngọc Tuyên- 1977) [13],
[25]. Với đất đai vùng trung du như vậy nên trong quá trình trồng và chăm
sóc chè cần được chú ý tới biện pháp bảo vệ và bồi dưỡng đất.
Vùng chè thượng du (miền núi) phía Bắc
Cây chè được trồng ở một số huyện thuộc các tỉnh như: Sơn La, Hà
Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên...
Đất đai vùng đồi núi các tỉnh phía Bắc chiếm 3/4 diện tích đất tự
nhiên (Nguyễn Vy, Đỗ Đình Thuận, Vũ Ngọc Tuyên...) [26], [25] có độ cao
so với mặt biển từ 200m trở lên, phần lớn các loại đất được hình thành tại
chỗ, có hàm lượng mùn cao, càng lên cao sự hình thành mùn càng chậm,
nhưng sự phân hủy mùn yếu hơn so với vùng thấp. Tầng đất có độ dày mỏng
hơn đất vùng đồi, do bị xói mòn mạnh. Đất được phát triển trên phiến thạch,
sa thạch và đá gnai (ở vùng Đông Bắc), còn ở vùng Tây Bắc đất được hình
thành từ đá gnai, Granit, phiến thạch là chính (Vũ Ngọc Tuyên, Phạm Gia
Tu...) [25]. Đất có mầu vàng, đỏ vàng và nâu. Đa số đất có độ dày trung bình
từ 0,6 đến 1m, đất khá tơi xốp, độ chua cao pHKCL từ 4- 4,5 thành phân cơ
giới thuộc loại thịt nhẹ và trung bình, hàm lượng mùn biến động mạnh, hàm
lượng lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo (lân tổng số phổ biến ở mức 0,030,05%) theo Lương Đức Loan, Nguyễn Tử Siêm 1979 [13].
Theo tác giả Nguyễn Thi Dần [3]. Đất ferarit vàng đỏ phát triển trên
phiến thạch Mica thích hợp cho phát triển cây chè ở miền Bắc Việt Nam,
nhóm đất này luôn chịu ảnh hưởng của quá trình ferarit hóa, nên đất thường
chua, màu đỏ hay màu vàng, tích lũy nhiều sắt, nhôm, hàm lượng sét vật lý


14

cao, quá trình trồng chè có hiện tượng rửa trôi sét xuống tầng sâu, lân dễ tiêu
nghèo do bị giữ chặt dưới dạng phosphat sắt, nhôm.
Vùng chè khu 4 cũ
Ở vùng khu 4 cũ chè thường được trồng ở một số huyện như Hậu
Lộc, Thiệu Hóa, Đông Sơn, Quảng Xương, Tĩnh Gia của tỉnh Thanh Hóa.
Một số huyện như Hương Sơn, Hương Khê, Thạch Hà, Can Lộc thuộc tỉnh
Hà Tĩnh.
Đất đai ở đây phần lớn là đất đỏ vàng, phát triển trên các loại đá mẹ
khác nhau. Địa hình bị chia cắt, tầng đất chỗ dày chỗ mỏng, thường gặp từ
60cm- 120cm. Đất vùng trồng chè thường chua pHKCL từ 4- 4,5, khoáng vật
chủ yếu là Kaolinit, hàm lượng kali tổng số từ 0,2- 0,3%, hàm lượng chất hữu cơ
chênh lệch nhau nhiều [25].
Vùng khu 4 cũ mùa mưa thường đến muộn nên chè bị hạn vào cuối
mùa khô. Đất đai thuộc diện nghèo dinh dưỡng, nên trong quá trình trồng chè
phải chú ý thâm canh ngay từ đầu.
Vùng chè Gia Lai- Kon Tum
Đất đai vùng Tây Nguyên rất phù hợp cho việc trồng các loại cây
lương thực nói chung, cũng như cây chè nói riêng.
Các đồn điền chè, cà phê đã đựơc thành lập ngay từ những năm 1925
đến năm 1940, với quy mô 300- 400 ha.
Đất đai vùng chè Gia Lai - Kon Tum thuộc loại đất Ferarit nâu vàng,
nâu đỏ, vàng đỏ và phát triển trên đá Bazan, ở độ cao 700m so với mặt biển.
Đất có tỷ lệ sét cao, trên 50% đất có cấu trúc viên, tơi xốp, thoáng khí.
Hàm lượng lân tổng số trung bình (0,10- 0,15%) kali tổng số ở mức nghèo
(0,08- 0,10%), hàm lượng chất hữu cơ trong đất khá cao pHKCL: 4,5- 5,5.
Theo Nguyễn Vy- 1977 [26], Vũ Cao Thái- 1996 [24], (dẫn theo
Nguyễn Khả Hòa 1994) [9] thì đất Bazan giàu lân tổng số, nhưng nghèo lân
dễ tiêu.


15

Vùng Tây Nguyên có khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình. Mùa khô
hạn trầm trọng, mùa mưa lượng mưa rất lớn (từ 1800 trên 2000mm), nhiệt độ
dao động ngày đếm lớn.
Cây chè sinh trưởng trên vùng đất Bazan rất thuận lợi, sản lượng thu
bình quân 40- 50 tạ/ha. Tuy nhiên vì mùa khô thiếu nước nên trồng chè gặp nhiều
khó khăn.
Vùng chè cao nguyên Lâm Đồng
Tính đến năm 2010 Lâm Đông có trên 16000 ha chè. Cây chè được
trồng tập trung ở các huyện: Di Linh, Đơn Dương, Đức Trọng, Bảo Lộc.
Vùng chè Lâm Đồng ở độ cao >800m so với mặt biển, đây là vùng rất thuận lợi về
mặt chất lượng chè.
Đất tích lũy nhiều sắt, nhôm, là một trở ngại lớn cho việc cung cấp lân cho
cây chè nói riêng và cây công nghiệp nói chung. Hàm lượng chất hữu cơ, hàm
lượng đạm, lân, kali tổng số đều ở mức khá, đất chua, pHKCL biến động từ 4,5- 5,5 [26].
Cũng như đất đai vùng Gia Lai- Kon Tum, có độ ẩm cây héo lớn, lượng
nước khuếch tán thấp nên mùa khô hạn hán xảy ra nghiêm trọng (Nguyễn Vy,
Đỗ Đình Thuận 1977) [26], Trần Công Tấu, Nguyễn Thị Dần 1984 [23].
Với cây chè chú ý biện pháp trồng và chăm sóc cây cẩn thận trong
mùa khô, cũng như thời gian nắng nóng kéo dài trong mùa mưa.
Ở Việt Nam cây chè được trồng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau
với điều kiện canh tác, đất đai khác nhau. Nhưng chè được trồng nhiều nhất
vẫn là trên loại đất đỏ vàng phát triển trên đá sét và biến chất tập trung ở vùng đồi
bị phân cách.
Nhìn chung, đa phần đất đai của các vùng trồng chè ở nước ta là
nghèo các chất dinh dưỡng (N, P, K) kể cả tổng số và dễ tiêu, đất chua, hàm
lượng hữu cơ thấp. Đồng thời do điều kiện khí hậu thời tiết nắng nóng, khô
hạn kéo dài đã dẫn đến năng suất chè giảm sút. Do vậy nghiên cứu bổ sung
phân bón cho chè đặc biệt là phân hữu cơ, tạo điều kiện thâm canh cho chè


16

ngay từ khi trồng mới là điều cần thiết để đạt năng suất cao.
2.2.3. Thực trạng đất trồng chè trên thế giới
Cây chè có lịch sử lâu đời và phân bố rất rộng trên rất nhiều các loại
đất khác nhau nhưng chủ yếu trên các loại đất chua Acrisols; Feralsols;
Andosols và một phần trên đất Alisols, Podzoluvisols.
Nhiều nhà khoa học đều thống nhất chè chỉ phù hợp với đất chua,
nhưng về khoảng pH thích hợp thì có nhiều ý kiến khác nhau. Đến nay pH đối
với chè được thống nhất giới hạn dưới là 4, giới hạn trên là 6 và thích hợp
trong khoảng 4,5 - 5,5. Phản ứng chua cho đất trồng chi phối rất nhiều đến
chế độ dinh dưỡng cả hữu cơ và vô cơ cung cấp cho cây. Điều này thể hiện rõ
nhất ở sự tích luỹ đạm amon thay thế tích luỹ đạm nitrat và hiện tượng giữ
chặt lân, dễ tiêu trong đất ở dạng phốt phát sắt, phốt phát nhôm.
Trong môi trường chua, sinh trưởng của cây chè bị hạn chế nhiều bởi
sụ khó hòa tan của nhôm, nó bị tích tụ và tạo thành kết von, sự ngưng tụ của
lignin qua đó làm tăng hàm lượng H2O2. Khi hàm lượng nhôm tự do thấp sẽ
ảnh hưởng rõ đến thành phần sinh hóa và chất lượng chè, đặc biệt là chỉ tiêu
tannin [45].
Theo Chen Zong Mao (1994) [29] thì trong suốt quá trình trồng, quản
lý chăm sóc chè, việc quản lý đất là quan trọng nhất trong tất cả các việc cần
làm, tác giả cho biết đất chè Trung Quốc có hàm lượng dinh dưỡng thấp, chủ
yếu do đất bị xói mòn, rửa trôi.
Qua kết quả phân tích 200 mẫu ở các loại đất trồng chè khác nhau ở
Trung Quốc đã cho thấy hàm lượng kali diễn biến từ 15,3- 1031 mg/1kg đất.
Hàm lượng này giảm dần từ Bắc xuống Nam. 63% đất chè Trung Quốc có
hàm lượng Mg < 40mg/1 kg đất. 69% đất chè có hàm lượng S<80mg/1 kg
đất. Với đất trồng chè ở Trung Quốc hiệu lực sử dụng N chỉ từ 30- 50%. Cũng
như một số nước vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, việc bón lân cho chè là kém
hiệu quả vì tới 90% lượng lân bón vào đất bị giữ chặt, do trong đất chứa phần


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×