Tải bản đầy đủ

Giải quyết quan hệ tài sản của vợ chồng khi ly hôn

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN THỊ HOÀNG THÁI

GIẢI QUYẾT QUAN HỆ TÀI SẢN
CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI


TRẦN THỊ HOÀNG THÁI

GIẢI QUYẾT QUAN HỆ TÀI SẢN
CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380103

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Lan

HÀ NỘI - NĂM 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích
dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.

Tác Giả Luận Văn

TRẦN THỊ HOÀNG THÁI


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Bộ luật Dân sự 2005

BLDS 2005

Bộ luật Dân sự 2015

BLDS 2015

Luật HN&GĐ 2014

Luật HN&GĐ 2014


MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ...........................................................................................................1
CHƢƠNG 1. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUAN
HỆ SỞ HỮU TÀI SẢN VỢ CHỒNG VÀ VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT QUAN HỆ
TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN ..........................................................4
1.1 Khái quát chung về giải quyết quan hệ tài sản của vợ chồng .........................4
1.1.1 Khái niệm tài sản, tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng ........................4
1.1.2. Khái niệm quan hệ tài sản của vợ chồng ......................................................16
1.1.3.Khái niệm giải quyết quan hệ tài sản của vợ chồng khi ly hôn ....................21
1.2 Giải quyết quan hệ tài sản giữa vợ chồng với nha, giữa vợ chồng với ngƣời
thứ ba khi vợ chồng ly hôn theo pháp luật hiện hành. ........................................21
1.2.1 Giải quyết quan hệ tài sản giữa vợ chồng với nhau, giữa vợ chồng với
người thứ ba khi vợ chồng ly hôn trong trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài
sản theo thoả thuận ..................................................................................................22
1.2.2 Giải quyết quan hệ tài sản giữa vợ chồng với nhau, quan hệ tài sản giữa vợ
chồng với người thứ ba khi vợ chồng ly hôn trong trường hợp vợ chồng lựa chọn
chế độ tài sản theo luật định ....................................................................................26
Kết luận chƣơng 1 ...................................................................................................34
CHƢƠNG 2. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT QUAN HỆ TÀI SẢN CỦA VỢ
CHỒNG KHI LY HÔN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ............................................35
2.1 Thực tiễn giải quyết quan hệ tài sản của vợ chồng khi ly hôn ......................35
2.1.1 Nhận xét chung về tình hình giải quyết quan hệ tài sản của vợ chồng khi vợ
chồng ly hôn .............................................................................................................35
2.1.2 Một số vụ việc điển hình .................................................................................39
2.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết quan hệ tài sản của vợ
chồng khi ly hôn ......................................................................................................67
Kết luận chƣơng 2 ...................................................................................................70
KẾT LUẬN ..............................................................................................................71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Theo quan niệm của người Á Đông nói chung, người Việt Nam nói riêng, ai
cũng mong muốn có được một cuộc hôn nhân viên mãn, gia đình êm ấm, hạnh
phúc. Tuy nhiên, do yếu tố khách quan cũng như chủ quan, cuộc hôn nhân không
còn giữ được ý nghĩa và giá trị như mong muốn ban đầu. Đôi bên lựa chọn ly hôn
để có được cuộc sống hạnh phúc hơn.
Khi ly hôn, có rất nhiều vấn đề phát sinh như việc nuôi dưỡng hay chu cấp cho
con chung, chia tài sản chung của vợ chồng. Với tính chất nhạy cảm, phức tạp, vấn
đề chia tài sản chung của vợ chồng luôn trở thành nguyên nhân chính mà đôi bên
tranh chấp, phải nhờ đến sự phân chia của Tòa án để có được phương án vẹn toàn
nhất, tránh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình cảm của các bên cũng như tình
cảm giữa các thành viên trong gia đình. Việc tranh chấp về tài sản vợ chồng còn cho
thấy những bất cập, vướng mắc của pháp luật về vấn đề chia tài sản của vợ chồng.
Các quy định này đã bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc, gây khó khăn, thậm chí lúng
túng trong quá trình áp dụng pháp luật của các bên cũng như của cán bộ xét xử khi
giải quyết vấn đề chia tài sản vợ chồng. Do đó, nghiên cứu các vấn đề liên quan đến
chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
sâu sắc.
Hiện nay, ở một số nơi nói chung và tỉnh Lạng Sơn nói riêng, quyền lợi của
người phụ nữ khi ly hôn chưa được đảm bảo, do đó khi xác định công sức đóng góp
của mỗi bên trong việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản chung của vợ chồng. Do
nếp nghĩ truyền thống còn nặng nề về tư tưởng “của chồng, công vợ” nên nhiều chị
em ở nhà chăm sóc chồng con, làm nông nghiệp không được đảm bảo quyền lợi khi
ly hôn. Mặt khác, trong quá trình giải quyết quan hệ tài sản khi ly hôn, Tòa án chưa
đảm bảo chưa được thống nhất về quan điểm việc giải quyết ly hôn cần tạo điều
kiện cho mỗi bên có chỗ ở ổn định, nhất là đối với vợ, các con chưa thành niên.
Như vậy có nghĩa là khi giải quyết ly hôn, quyền của người phụ nữ chưa được đảm
bảo một cách tối đa. Điều này dẫn đến việc các vụ án ly hôn có tranh chấp về tài sản
được giải quyết ở cấp sơ thẩm chưa thực sự thấu tình đạt lý, gây tình trạng khiếu
nại, khiếu kiện kéo dài.
Xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, với những lý do trên, tôi quyết định chọn đề
tài “Giải quyết quan hệ tài sản của vợ chồng khi ly hôn” làm đề tài Luận văn thạc
sĩ của mình.


2

2. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là phân tích việc áp dụng các quy định hiện hành của
Bộ luật dân sự 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 trong việc giải quyết
quan hệ tài sản vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn. Từ đó nêu
lên những ưu điểm, điểm bất cập, hạn chế và tìm ra nguyên nhân hạn chế đó, từ đó
có các kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật trong việc giải quyết quan hệ
tài sản vợ chồng khi ly hôn trong thực tiễn công tác.
Với những mục đích trên, luận văn xác định nhiệm vụ cơ bản sau:
* Nghiên cứu những vấn đề lý luận và các quy định pháp luật hiện hành về
vấn đề giải quyết tài sản vợ chồng khi ly hôn.
* Tìm hiểu thực tiễn việc giải quyết quan hệ tài sản vợ chồng khi ly hôn thông
qua việc phân tích một số bản án cụ thể tại TAND tỉnh Lạng Sơn trong những năm
gần đây (từ năm 2013 đến năm 2017).
* Trên cơ sở phân tích nội dung và thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải
quyết quan hệ tài sản vợ chồng khi ly hôn, luận văn kiến nghị một số giải pháp
nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về chia tài sản vợ chồng dưới góc độ khách
quan và nâng cao hiệu quả giải quyết vấn đề tài sản vợ chồng khi ly hôn tại tỉnh
Lạng Sơn.
3. Phạm vi nghiên cứu
Quan hệ tài sản vợ chồng là một quan hệ pháp luật bao gồm quan hệ sở hữu tài
sản, quan hệ thừa kế tài sản và quan hệ cấp dưỡng giữa vợ và chồng. Tuy nhiên
trong phạm vi luận văn định hướng ứng dụng và thực tiễn địa phương còn nhiều
vướng mắc trong quá trình giải quyết quan hệ sở hữu tài sản giữa vợ và chồng khi
ly hôn nên luận văn chỉ tập trung phân tích về vấn đề giải quyết quan hệ tài sản vợ
chồng dưới góc độ quan hệ sở hữu tài sản. Vì vậy, luận văn tập trung vào một số
vấn đề sau:
- Quy định của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ về chế định chia tài sản vợ
chồng khi ly hôn. Trong đó, tập trung nghiên cứu vào việc giải quyết vấn đề tài sản
khi vợ chồng thuận tình ly hôn, chia tài sản khi vợ chồng có tranh chấp theo quy
định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Qua việc phân tích một số bản án cụ thể của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn,
phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về chia tài sản vợ
chồng khi ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn. Trong đó tập trung phân tích


3

một số khó khăn, vướng mắc gặp phải khi giải quyết các vụ án chia tài sản khi ly
hôn.
- Luận văn tập trung nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn việc chia tài sản
trong trường hợp chia tài sản vợ chồng theo thỏa thuận và trường hợp chia tài sản
vợ chồng khi có tranh chấp, không đề cập đến việc chia tài sản vợ chồng có yếu tố
nước ngoài.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết sử dụng phối hợp nhiều phương pháp
như: Phương pháp lịch sử, phân tích, đánh giá, tổng hợp, thống kê, so sánh…trên cơ
sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác – Lê Nin
nhằm xem xét, đánh giá vấn đề một cách toàn diện.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Nội dung luận văn phân tích các nguyên tắc phân chia tài sản vợ chồng theo
pháp luật hiện hành, có ý nghĩa thiết thực cho mọi cá nhân, đặc biệt là cho các cặp
vợ chồng tìm hiểu các quy định về vấn đề tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng; từ
đó mỗi người hiểu được quyền và nghĩa vụ cụ thể của vợ, chồng đối với những loại
tài sản này.
Các kiến thức khoa học trong luận văn có ý nghĩa cho các cơ quan tiến hành tố
tụng như Tòa án, Viện kiểm sát tham khảo trong quá trình giải quyết vấn đề tài sản
vợ chồng khi ly hôn trong thực tiễn công tác tại địa phương.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được chia làm 2 chương như sau:
Chương1: Pháp luật hiện hành về giải quyết quan hệ tài sản của vợ chồng khi
ly hôn
Chương 2: Thực tiễn giải quyết quan hệ tài sản của vợ chồng khi ly hôn và
một số kiến nghị


4

CHƢƠNG 1
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUAN HỆ SỞ
HỮU TÀI SẢN VỢ CHỒNG VÀ VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT QUAN HỆ TÀI SẢN
CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
1.1 Khái quát chung về giải quyết quan hệ tài sản của vợ chồng
1.1.1 Khái niệm tài sản, tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng
a. Khái niệm tài sản:
Tài sản là một trong những đối tượng phổ biến của các quan hệ xã hội nói
chung và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng. Trong các lĩnh vực khoa học chuyên
ngành như kinh tế, pháp lý, kế toán tài chính, tài sản cũng là khái niệm cơ bản và
được nghiên cứu hết sức kỹ lưỡng dưới các góc độ khác nhau. Tài sản trên thực tế
tồn tại ở rất nhiều dạng khác nhau, vô cùng phong phú và đa dạng. Theo đó, tài sản
thường được hiểu là những đối tượng phải mang lại lợi ích nhất định với con người
và có thể định giá được thành tiền. Trong ngôn ngữ thông thường, tài sản được hiểu
đơn giản là những vật phục vụ cho đời sống con người. Chúng ta có thể cảm nhận
được sự tồn tại của tài sản thông qua các giác quan như nhìn, nắm bắt và sử dụng
được. Điều này khẳng định tài sản là vật có thực, hữu hình hoặc có thể được hữu
hình hóa.
Khái niệm tài sản đã được đề cập rất nhiều trong thực tiễn cũng như trong
khoa học pháp lý. Chính vì vậy, việc phân loại và đưa ra một khái niệm có thể bao
trùm được tất cả các tài sản trên thực tế là một vấn đề hết sức cần thiết.
Nhằm khắc phục những hạn chế tồn tại trong quy định của BLDS 2005, BLDS
2015 đã trình bày theo hướng tiếp cận mới. BLDS 2015 không những liệt kê các
loại tài sản như trong quy định của BLDS 2005 mà còn xác định cụ thể “Tài sản bao
gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và
tài sản hình thành trong tương lai”. Thêm vào đó, BLDS 2015 còn bổ sung Điều
108 để giải thích rõ khái niệm “tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.
Theo đó:
“1. Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở
hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch.
2. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:
a) Tài sản chưa hình thành;
b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời
điểm xác lập giao dịch”.


5

Như vậy, ngoài việc kế thừa khái niệm tài sản trong BLDS 2005 thì BLDS
2015 đã có ba điểm bổ sung mang tính nổi bật: Một là, khẳng định tài sản bao gồm
động sản và bất động sản; Hai là, xác định tài sản có thể là tài sản hiện có và tài sản
hình thành trong tương lai. Trước đây, tại Điều 163 BLDS 2005 cũng không khẳng
định trực tiếp tài sản bao gồm tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.
Chỉ có duy nhất tại khoản 2 Điều 320 BLDS 2005 có nhắc đến thuật ngữ này: “Vật
dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành
trong tương lai”, chính vì vậy mà khái niệm tài sản hình thành trong tương lai chỉ
được hiểu là “vật hình thành trong tương lai” mà không bao gồm các loại tài sản
khác; Ba là, quy định cụ thể khái niệm tài sản hiện có và tài sản hình thành trong
tương lai. Trước đây, tại khoản 2 Điều 320 BLDS 2005 có đề cập đến khái niệm
này nhưng nội hàm chỉ bó hẹp trong phạm vi tài sản là vật hình thành trong tương
lai “Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên
bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao
kết”, ngay cả tại Điều 4 Nghị định 163/2006/NĐ-CP cũng chỉ quy định: “Vật hình
thành trong tương lai là vật chưa tồn tại hoặc chưa hình thành đồng bộ vào thời
điểm xem xét. Vật hình thành trong tương lai bao gồm cả vật đã được hình thành tại
thời điểm giao kết giao dịch nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch mới thuộc sở
hữu của các bên”. Tuy nhiên, những điều luật này chỉ mới dùng lại ở giới hạn khái
niệm “tài sản hình thành trong tương lai” trong phạm vi tài sản là đối tượng của
giao dịch dân sự bảo đảm nên chưa mang tính khái quát. Mặt khác, việc quy định
như thế có thể dẫn đến những cách hiểu khác nhau trong nhận thức lý luận cũng như
thực tiễn áp dụng đồng thời chưa bao quát hết nội hàm “tài sản hính thành trong
tương lai”. Chính vì vậy, với cách quy định cụ thể trong BLDS 2015 về khái niệm
“tài sản hình thành trong tương lai” đã đảm bảo tính bao quát và rõ ràng về khái
niệm này. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần áp dụng pháp luật một cách
thống nhất.
* Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
Vật là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có thể
cảm nhận bằng giác quan của mình. Với ý nghĩa pham trù pháp lý, vật chỉ có
ý nghĩa trở thành đối tượng của quan hệ pháp luật, tức là nó được con người kiểm
soát và đáp ứng được một nhu cầu nào đó của con người. Không phải bất cứ một bộ
phận nào của thế giới vật chất đều được coi là vật. Vì vậy, có những bộ phận của
thế giới vật chất tồn tại dưới một dạng thức nhất định mới được coi là vật. Ví dụ, Ô-


6

xi còn ở dạng không khí trong tự nhiên thì chưa thể được coi là vật, vì chưa thể trở
thành đối tượng trong giao dịch dân sự. Chỉ khi được nén vào bình, con người có
thể nắm giữ, quản lý được thì mới có thể đưa vào giao lưu dân sự và được coi là vật.
Như vậy, muốn trở thành vật trong dân sự phải thỏa mãn những điều kiện sau: i) là
bộ phận của thế giới vật chất; ii) con người chiếm hữu được; iii) mang lại lợi ích
cho chủ thể; iv) có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai.
Vật được phân loại thành các nhóm khác nhau. Dựa vào mối liên hệ, phụ
thuộc về công dụng của vật với nhau mà vật được phân thành: Vật chính là vật độc
lập có thể khai thác theo tính năng (ti vi, điều hòa, máy ảnh…); vật phụ là vật trực
tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật
chính nhưng có thể tách rời vật chính như điều khiển ti vi, điều khiển điều hòa, vỏ
máy ảnh…Dựa vào việc xác định giá trị sử dụng của vật khi được chia ra thành
nhiều phần nhỏ mà Bộ luật dân sự phân chia vật thành vật chia được và vật không
chia được. Căn cứ để xác định vật chia được và vật không phân chia được là dựa
vào tính chất vật lý và tính năng sử dụng của nó. Nếu một vật không bị phân chia
mà vẫn giữ nguyên tính chất và tính năng sử dụng ban đầu thì vật đó là vật chia
được. Ví dụ: gạo, xăng, dầu là những vật có thể phân chia thành nhiều phần mà vẫn
giữ nguyên được tính chất và tính năng sử dụng ban đầu thì gọi là vật không chia
được (ví dụ: giường tủ...là vật không chia được, hay các quyền sở hữu trí tuệ là các
quyền tài sản không chia được). Dựa vào đặc tính, giá trị của tài sản sau khi sử dụng
thì chia thành vật tiêu hao và vật không tiêu hao. Về phương diện vật lý, mọi vật khi
sử dụng đều bị hao mòn. Chính vì vậy, việc phân chia vật tiêu hao và vật không tiêu
hao chỉ mang tính chất tương đối. Đối với những vật mà qua một lần sử dụng mà
mất đi hoặc không còn giữ nguyên được hình dáng, tính chất và tính năng sử dụng
ban đầu (vật có thể bị giảm sút về số lượng, chất lượng, trọng lượng hoặc đã biến
đổi sang vật khác, ở trạng thái khác) thì vật đó được gọi là vật tiêu hao. Ví dụ: xà
phòng qua một lần sử dụng nó bị giảm trọng lượng...Đối với vật tiêu hao, chủ sở
hữu có thể cho, hoặc bán tài sản này, tức là chuyển quyền sở hữu vật tiêu hao cho
người khác. Vật tiêu hao không thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê và hợp đồng
cho mượn, bởi vì bản chất của hợp đồng cho thuê, hay hợp đồng cho mượn tài sản,
chủ thể cho thuê, cho mượn tài sản vẫn là chủ sở hữu đối với tài sản, người thuê,
người mượn tài sản chỉ được quyền sử dụng tài sản trong thời gian thuê, hoặc mượn
tài sản, sau khi hết thời hạn hợp đồng, nghĩa vụ của người thuê, hoặc mượn tài sản
phải trả lại vật cho người cho thuê hoặc cho người cho mượn tài sản đúng hình


7

dạng, tính chất và tính năng sử dụng như trước khi cho thuê hoặc cho mượn. Vật
không tiêu hao là vật khi đã qua nhiều lần sử dụng mà cơ bản vẫn giữ được tính
chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu. Ví dụ: ngôi nhà, xe máy... Dựa vào
các dấu hiệu phân biệt của vật mà người ta phân loại vật thành vật thành vật cùng
loại và vật đặc định. Trong pháp luật dân sự, việc phân chia vật cùng loại và vật đặc
định dựa vào hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng của vật. Nếu vật có cùng hình
dáng, tính chất, cùng tính năng sử dụng và xác định được bằng đơn vị đo lường (kg,
m, lít...), ví dụ: gạo, muối, xăng cùng loại...thì vật đó được xác định là vật cùng loại.
Đối với những vật có đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, sắc mầu, chất liệu, đặc
tính, vị trí và với đặc điểm đó có thể phân biệt được với vật khác, thì vật đó được
coi là vật đặc định. Trong giao lưu dân sự, việc phân loại tài sản thành vật cùng loại
và vật đặc định có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định có chuyển giao đúng vật hay
không. Nếu vật cùng loại có cùng chất lượng, thì có thể thay thế cho nhau trong
giao lưu dân sự. Còn đối với vật đặc định có những đặc điểm riêng biệt để có thể
phân biệt vật đó với vật khác, thì khi chuyển giao vật đặc định, người có nghĩa vụ
phải chuyển giao đúng vật đặc định đó cho người có quyền như đã thỏa thuận.
Ngoài ra, người ta còn chia ra làm vật đồng bộ và vật không đồng bộ. Trong thực tế
cuộc sống, có vật được hợp thành một chỉnh thể bởi nhiều bộ phận khác nhau, có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mối liên hệ và sự ăn khớp với nhau giữa các bộ
phận đó tạo thành một vật có giá trị sử dụng và có giái trị nghệ thuật nhất định. Vì
vậy, nếu thiếu một trong những bộ phận cấu thành của vật, thì vật đó bị giảm sút về
giá trị sử dụng. Với ý nghĩa như vậy nên khi chuyển giao vật đồng bộ, thì người có
nghĩa vụ phải chuyển giao toàn bộ các phần hoặc các bộ phận cấu thành cho người
có quyền theo đúng thỏa thuận. Nếu thiếu một trong những bộ phận cấu thành vật
đó, hoặc các bộ phận cấu thành không đúng chủng loại, quy cách, thì nghĩa vụ
chuyển giao vật đó coi như chưa được thực hiện, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm
pháp lý theo quy định của pháp luật, hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng.
BLDS 2005 và cả BLDS 2015 đều quy định tiền là một loại tài sản nhưng lại
không có quy định để làm rõ bản chất pháp lý của tiền. Trong pháp luật dân sự, tiền
có tính năng đặc biệt (khác với vật) là khi chuyển giao tiền thì bao giờ cũng kèm
theo chuyển giao quyền sở hữu.
Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được
trong giao lưu dân sự. Theo khoản 1 Điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ-CP về sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm


8

2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm: “Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái
phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ
có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao
dịch.”. Xét về mặt hình thức, giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình
thức, trình tự luật định. Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài
sản, giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo
vệ. Giấy tờ có giá có tính thanh khoản và là công cụ có thể chuyển nhượng với điều
kiện chuyển nhượng tòan bộ một lần, việc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá
là vô hiệu. Ngoài ra, giấy tờ có giá có tính thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính
rủi ro. Các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản như
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy đăng
ký xe máy,… không được coi là giấy tờ có giá. Những loại giấy tờ này chỉ được coi
là một vật thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó.
Theo định nghĩa tại Điều 115 BLDS 2015 thì quyền tài sản là quyền trị giá
được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ,
quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác. BLDS 2015 đã bổ sung thêm quy định
về quyền tài sản khác tại Điều 159, theo đó quyền tài sản khác bao gồm: Quyền đối
với bất động sản liền kề, quyền hưởng dựng, quyền bề mặt.
Quyền là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể và được pháp luật ghi
nhận và bảo vệ. Quyền tài sản hiểu theo nghĩa rộng là quyền của cá nhân, tổ chức
được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu
cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình. Xét
theo ý nghĩa này, quyền sở hữu (vật quyền) cũng là một loại tài sản.
* Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể
là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.
Điều 107 BLDS 2015 quy định bất động sản và động sản như sau:
"1. Bất động sản bao gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;
c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;
d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.
2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản."
Việc phân loại tài sản thành động sản và bất động sản là cách phân loại tài sản
dựa vào đặc tính vật lý của tài sản là có thể di dời được hay không thể di dời được.


9

Bất động sản do đặc tính tự nhiên, được hiểu là các tài sản không thể di dời được do
bản chất tự nhiên cấu tạo nên tài sản đó, bao gồm:
Đất đai: Đất đai trong giao lưu dân sự được xác định bằng diện tích đất cùng
vị trí của mảnh đất đó. Điều này được thể hiện trên bản đồ địa chính, được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền xác nhận thông qua quyết định giao đất, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đó.
Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai : Nhà, công trình trên đất cũng
được coi là một dạng bất động sản do đặc tính tự nhiên nếu nó được xây dựng gắn
liền với đất bằng một kết cấu chặt chẽ chứ không đơn thuần “đặt” trên đất. Vì vậy,
một lều xiếc hay một lán chợ dựng tạm không được coi là bất động sản.
Cây cối, hoa màu và các tài sản khác trên đất : Khoáng sản, cây cối hoa màu
trên đất cũng được coi là bất động sản chừng nào người ta chưa khai thác, chặt cây,
hay hái lượm. Nếu chúng được tách khỏi đất thì chúng trở thành động sản? Luật
pháp các quốc gia đều cho rằng các tài sản này, trong trường hợp trên, đã trở thành
động sản. Điều 520 Luật Dân sự Pháp quy định “mùa màng chưa gặt, trái cây chưa
bứt khỏi cây là BĐS, nếu đã bứt khỏi cây được coi là động sản”. Tương tự, quy định
này cũng được thể hiện ở Luật Dân sự Nhật Bản. Điều 100 Luật Dân sự Thái Lan
quy định: “BĐS là đất đai và những vật gắn liền với đất đai, bao gồm cả những
quyền gắn với việc sở hữu đất đai”.
Các động sản trở thành bất động sản vì mục đích sử dụng chúng: các tài sản
gắn liền với nhà, công trình xây dựng đều được coi là bất động sản. Việc gắn một
động sản vào nhà, công trình xây dựng một mặt phải nhằm tạo một chỉnh thể thống
nhất phục vụ cho mục đích sử dụng nhà, công trình đó, phải mang tính chất kiên cố,
không thể tháo ra mà không làm hư hại hoặc mất vẻ mỹ quan của nhà, công trình.
Ví dụ như hệ thống điện, nước trong nhà, bức tượng nếu được gắn vào hốc tường
một cách kiên cố cũng có thể được coi là bất động sản.
Bất động sản do pháp luật quy định: Ngoài những tài sản là bất động sản kể
trên, khi cần thiết, bằng các văn bản pháp luật cụ thể, pháp luật có thể quy định
những tài sản khác là bất động sản. Ví dụ, theo quy định của Điều 5, Luật Kinh
doanh bất động sản năm 2014 thì quyền sử dụng đất là bất động sản.
Căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản và thời điểm xác lập quyền sở hữu
cho chủ sở hữu, bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình
thành trong tương lai. Tài sản hiện có là tài sản đã tồn tại vào thời điểm hiện tại và
đã được xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu của tài sản đó. Tài sản hình thành


10

trong tương lai được hiểu là tài sản chưa tồn tại hoặc chưa hình thành đồng bộ vào
thời điểm xem xét nhưng chắc chắn sẽ có hoặc được hình thành trong tương lai (nhà
đang được xây dựng theo dự án, tiền lương sẽ được hưởng,…), tài sản đã được hình
thành tại thời điểm giao kết giao dịch nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch tài sản
đó mới thuộc sở hữu của các bên (tài sản mua bán, thừa kế nhưng chưa hoàn thành
thủ tục chuyển giao cho chủ sở hữu).
b. Khái niệm tài sản chung vợ chồng
Khi trở thành vợ chồng, quan hệ nhân thân và tài sản giữa họ được xác lập, đó
là chế độ tài sản chung của vợ chồng. Khi hôn nhân còn tồn tại thì quan hệ tài sản
chung vẫn còn tồn tại. Chế độ tài sản chung chỉ chấm dứt khi có một trong những
sự kiện pháp lý xảy ra: i) Vợ chồng ly hôn; ii) Một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa
án tuyên bố là đã chết.
Điều 33 Luật HN&GĐ 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng:
"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và
thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại
khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa ké chng hoặc được
tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ
chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc
có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng…”
Tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được
tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Theo quy định tại Điều 9, Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số
điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình, "Những thu nhập hợp pháp
khác" của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng
thưởng xổ số, mà vợ, chồng có được trừ khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được
nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài
sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng; tài sản mà vợ, chồng được xác lập
quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu,
bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới
nước. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của


11

vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được
thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. Trong trường hợp
tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền
sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng. Thực
tiễn cho thấy chỉ có tài sản có giá trị lớn, quan trọng đối với đời sống gia đình thì
trong giấy chứng nhận quyền sở hữu mới ghi tên của cả vợ chồng (như: nhà ở,
quyền sử dụng đất...), song cũng không phải trong mọi trường hợp đều áp dụng theo
nguyên tắc này; Ví dụ đối với các tài sản khác phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng
trong giấy chứng nhận thường chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng (như: xe môtô, xe ôtô,
tàu, thuyền vận tải...). Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên, trong trường
hợp tài sản do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định
phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi
tên một bên vợ hoặc chồng, trong trường hợp đang xảy ra tranh chấp nhưng không
có căn cứ chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng của vợ hoặc chồng thì
đó là tài sản chung của vợ chồng.
Có hai căn cứ để xác định tài sản chung vợ chồng đó là căn cứ thời kỳ hôn
nhân và căn cứ vào nguồn gốc tài sản, cụ thể:
Căn cứ thời kỳ hôn nhân: Theo khoản 1 Điều 33, Luật HN&GĐ 2014 quy
định: “Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh
doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong
thời kỳ hôn nhân…”. Luật HN&GĐ 2014 cũng quy định: “Thời kỳ hôn nhân là
khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày
chấm dứt hôn nhân” (Điều 13). Như vậy, mọi tài sản trong gia đình có được trong
thời kỳ hôn nhân đều được coi là tài sản chung của vợ chồng, vợ chồng có quyền
bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà không phụ thuộc vào khả
năng trực tiếp tạo ra khối tài sản này hay phụ thuộc vào công sức đóng góp của mỗi
bên.
Căn cứ vào nguồn tài sản: Tài sản chung vợ chồng có thể do công sức của cả
hai vợ chồng tạo ra hoặc chỉ do vợ (chồng) tạo ra trong thời kỳ hôn nhân bằng cách
trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các giao dịch dân sự như buôn bán, đầu tư tìm
kiếm lợi nhuận, hoa lợi, lợi tức từ cả tài sản chung và tài sản riêng có được trong
thời kỳ hôn nhân. Điểm b, khoản 2 Điều 59 Luật HN&GĐ 2014 quy định về một
trong các yếu tố quyết định đến việc chia tài sản vợ chồng: “ Công sức đóng góp


12

của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động
của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập”; điểm b khoản 4
Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC- VKSNDTC- BTP hướng dẫn
thi hành quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình: ““Công sức đóng góp của vợ,
chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về
tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo
lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc
con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với
thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được
chia nhiều hơn.” Vì thế nếu trong gia đình tài sản chỉ do một người tạo ra thì vẫn
coi như vợ chồng cùng đóng góp công sức vào việc tạo lập khối tài sản chung.
Trường hợp trong gia đình có một người làm công việc nội trợ tại nhà thì trong
thành quả lao động của người này đã bao gồm công sức đóng góp của người kia,
bởi nếu không có một người chăm lo cho gia đình, chăm sóc con cái để tạo điều
kiện cho người kia lao động tạo ra thu nhập thì khối tài sản chung khó có thể được
tạo ra từ bàn tay một người.
Tài sản chung vợ chồng còn bao gồm những tài sản mà vợ, chồng thỏa thuận
là tài sản chung (khoản 1, Điều 33 Luật HN&GĐ 2014). Điều này có nghĩa là:
Những tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng do vợ hoặc chồng có trước khi kết
hôn, được thừa kế riêng, tặng cho riêng về nguyên tắc là tài sản riêng. Tuy nhiên
những tài sản đó sẽ là tài sản chung nếu như trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có
thỏa thuận coi tài sản đó là tài sản chung vợ chồng. Quy định này hoàn toàn phù
hợp với thực tế bởi trong cuộc sống gia đình, nhiều tài sản riêng của vợ chồng được
đưa vào sử dụng phục vụ nhu cầu cuộc sống chung của cả gia đình. Nếu vợ chồng
xảy ra tranh chấp về xác định tài sản chung, tài sản riêng nhưng mỗi bên đều không
có chứng cứ chứng minh đó là tài sản riêng của mình thì coi đó là tài sản chung vợ
chồng (khoản 3 Điều 33 Luật HN&GĐ 2014). “Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có
được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ
chồng có được trước khi kết hôn chỉ là tài sản chung khi có thỏa thuận” (khoản 1
Điều 33 Luật HNGĐ). Trên thực tế, quyền sử dụng đất là quyền tài sản có giá trị
lớn.
Về nguyên tắc, tài sản chung vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất
có thể phân chia. Đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, phần quyền của mỗi
chủ sở hữu không được xác định đối với khối tài sản chung. Xuất phát từ tính chất


13

của quan hệ hôn nhân là cùng chung ý chí, cùng chung công sức đóng góp trong
việc tạo lập khối tài sản chung nhằm mục đích xây dựng gia đình Vì vậy quy định
này hoàn toàn phù hợp với nội dung của BLDS về quyền sở hữu, phù hợp với
truyền thống gia đình Việt Nam. Theo quy định tại Điều 210, 232 BLDS 2015 quy
định: “1. Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu
của mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản chung. Sở hữu chung hợp
nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất
không phân chia. 2. Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau
đối với tài sản thuộc sở hữu chung.”
Liên quan Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung, Điều
34 Luật HN&GĐ 2014 quy định trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của
vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy
chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả vợ
chồng, trừ trường hợp có vợ chồng có thỏa thuận khác về vấn đề này. Thực tiễn áp
dụng Luật HN&GĐ 2014 cho thấy có hai trường hợp mang tính phổ biến mà vợ
chồng “có thỏa thuận khác” liên quan đến tài sản chung:
Trường hợp thứ nhất, tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân về
nguyên tắc đây là tài sản chung của vợ chồng nhưng vợ, chồng thỏa thuận đây là tài
sản riêng của một bên vợ hoặc chồng, do đó các bên phải lập giấy cam kết là tài sản
riêng. Giấy cam kết này phải được công chứng viên công chứng. Trường hợp sau
này người đứng tên (chủ sở hữu) muốn chuyển nhượng tài sản cho người khác thì
phải đồng thời xuất trình văn bản cam kết đã được lập tại cơ quan công chứng trước
đây.
Trường hợp thứ hai, tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và đã
được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên
cả hai vợ chồng. Tuy nhiên do một lý do nào đó mà một bên không có điều kiện
thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung thì vợ hoặc chồng lập
Giấy ủy quyền có chứng nhận của công chứng viên cho người kia được thay mặt họ
thực hiện một số công việc nhất định liên quan đến tài sản chung của vợ chồng (như
cho thuê, thế chấp, chuyển nhượng...) Sau khi nhận ủy quyền, chỉ một mình người
nhận ủy quyền cũng đủ tư cách tham gia giao dịch (trong phạm vi ủy quyền) mà
pháp luật không đòi hỏi phải có sự tham gia của người kia. Do không trái với các
quy định trong Luật HN&GĐ 2014 nên hiện nay các cơ quan công chứng vẫn


14

chứng nhận các giao dịch thuộc hai trường hợp nói trên khi có yêu cầu của đương
sự.
Như vậy, tài sản chung của vợ chồng trước hết là tài sản. Tài sản đó được tạo
ra bằng công sức lao động của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được tặng
cho chung, thừa kế chung, hoa lợi, lợi tức phát sinh và các thu nhập hợp pháp khác
mà không phân biệt người trực tiếp tạo ra tài sản hoặc những tài sản mà vợ chồng
thỏa thuận là tài sản chung.
c. Khái niệm tài sản riêng vợ chồng
Điều 43 Luật HN&GĐ 2014 quy định về tài sản riêng của vợ, chồng:
"1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài
sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được
chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài
sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của
pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng…”.
Quyền định đoạt tài sản riêng dưới góc độ Luật HNGĐ năm 2014 chỉ bao gồm
các vấn đề mang tính chất đặc trưng trong quan hệ hôn nhân như vấn đề nhập tài
sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung, vấn đề hạn chế quyền định đoạt đối với
tài sản riêng. Luật đã quy định hình thức thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản
chung theo sự thỏa thuận của hai bên vợ, chồng. Đồng thời, quy định thỏa thuận về
việc nhập các loại tài sản mà pháp luật bắt buộc về hình thức thì thỏa thuận phải
tuân theo hình thức đó – điều mà chưa được Luật hóa trong Luật HNGĐ năm 2000.
Nhìn từ góc độ so sánh với Luật HNGĐ năm 2000, có thể thấy căn cứ xác
định tài sản riêng của vợ, chồng trong Luật HNGĐ năm 2014 có những điểm mới
sau:
Thứ nhất, Luật HNGĐ năm 2014 đã bỏ căn cứ xác định tài sản riêng của vợ,
chồng là “đồ dùng, tư trang cá nhân”. Điều này xuất phát từ nhu cầu giải quyết
những bất cập, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật đối với căn cứ không
phù hợp nêu trên. Bởi vì, theo quy định của Luật HNGĐ năm 2000 thì cứ hãy là dồ
dùng tư trang cá nhân là thuộc tài sản riêng của vợ, chồng mà không có quy định
nào hạn chế giá trị tài sản, không quy định loại tài sản nào được xem là đồ dùng, tư
trang cá nhân thuộc sở hữu riêng; đồng thời pháp luật cũng không xem xét nguồn
gốc hình thành đồ dùng tư trang là từ tài sản chung hay riêng. Do đó, có thể hiểu
người nào (vợ hoặc chồng) quản lý, sử dụng tài sản đó sẽ được xác định là tài sản
riêng của người đó. Với quy định như vậy rõ ràng là không phù hợp, vô tình đã tạo


15

khe hở cho vợ hoặc chồng chuyển dịch trái phép tài sản chung sang tài sản riêng,
gây thiệt hại cho bên còn lại. Ngoài ra, xuất phát từ văn hóa truyền thống của người
Việt trong việc tặng, cho con cái các loại tư trang vào ngày cưới, văn hóa cất giữ
tiền bạc thông qua các loại tư trang; vì vậy, thiết nghĩ các món trang sức trong
trường hợp này được ghi nhận như một sự tích lũy của cải vật chất của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân, mang thuộc tính “tiền tệ”, như một phương thức cất giữ, tiết
kiệm tài sản chung của gia đình. Do đó, việc pháp luật HNGĐ bỏ căn cứ nêu trên là
hoàn toàn phù hợp, tiến bộ.
Thứ hai, Luật HNGĐ năm 2014 xác định cụ thể khối tài sản hình thành từ tài
sản riêng của vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân. Luật
HNGĐ năm 2000, vừa đưa ra nhưng căn cứ xác định tài sản chung, vừa đưa ra
những căn cứ xác định tài sản riêng của vợ chồng. Quy định như vậy về cơ bản thật
sự rõ ràng cho việc áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, thực tế giải quyết tranh chấp vẫn
xảy ra trường hợp những tài sản “mập mờ” chưa được xác định là tài sản riêng hay
tài sản chung bởi nó không thuộc quy định tài Điều 27 hay Điều 32 Luật HNGĐ
năm 2000 và loại tài sản trên được pháp luật HNGĐ năm 2014 xác định cụ thể là
loại tài sản riêng là một minh chứng. Do đó, việc Luật HNGĐ năm 2014, xác định
tài sản hình thành từ tài sản riêng của vợ chồng là tài sản riêng của vợ chồng là sự
tiến bộ, đảm bảo quyền tài sản riêng của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho
qua trình áp dụng pháp luật.
Thứ ba, Luật HNGĐ năm 2014, đưa ra căn cứ xác định tài sản riêng còn là các
“tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình”. Sở dĩ, pháp luật quy định nhóm tài
sản này thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng là dựa vào đặc điểm cũng như công dụng
của nó. Đảm bảo được quyền tự do cá nhân với những nhu cầu thiết yếu của cuộc
sống. Tuy nhiên, như thế nào là “thiết yếu” thì đây lại là vấn đề cần xem xét. Đối
với những người, những gia đình với mức sống khác nhau thì khái niệm đồ dùng
thiết yếu sẽ là không giống nhau. Ví dụ đối với một người, gia đình này thì chỉ các
đồ dùng sinh hoạt hàng ngày như giày dép, mũ, áo…là đồ dùng thiết yếu nhưng đối
với những người khác, gia đình khác lại xem máy tính cá nhân, xe máy…hay các
vật dụng có giá trị khác là tài sản phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của bản thân. Việc
pháp luật quy định như vậy phải chăng tạo nên sự linh hoạt, linh động và đồng thời
trao quyền tài phán cho cơ quan Tòa án trong việc xem xét giải quyết dựa trên hoàn
cảnh, điều kiện cụ thể của từng gia đình khi phát sinh tranh chấp.


16

Thứ tư, tài sản riêng của vợ chồng còn là các loại tài sản mà theo quy định của
pháp luật là tài sản riêng của vợ chồng. Quy định này, tưởng chừng chỉ là căn cứ để
dự liệu cho các trường hợp pháp luật chưa dự liệu hết nhưng thực tế nó có ý nghĩa
rất lớn trong quá trình nhận thức và là cơ sở pháp lý vững chắc trong áp dụng pháp
luật - điều mà Luật HNGĐ năm 2000 chưa thể hiện. Cụ thể, với quy định như vậy
giúp dẫn chiếu áp dụng các quy định của pháp luật khác xác định cụ thể các loại tài
sản đặc biệt thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng được hình thành trong thời kỳ hôn
nhân, Ví dụ như Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004, xác định tài sản
mà người có công cách mạng được nhận trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của
người đó. Hay dẫn chiếu xác định tài sản riêng của vợ, chồng dựa vào thỏa thuận
chế độ tài sản chung sống.
Thứ năm, Luật HNGĐ năm 2014, quy định tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là
tài sản riêng của mỗi bên theo thỏa thuận về chế độ tài sản được lập trước khi kết
hôn là tài sản riêng của mỗi người.Có thể nói, đây là bước đột phá lớn trong việc
quy định chế độ tài sản của vợ chồng, đảm bảo phù hợp với nguyên tắc tự thỏa
thuận và định đoạt của pháp luật dân sự; đảm bảo phù hợp với tình hình mới trong
quan hệ hôn nhân với nhu cầu ngày càng cao trong việc chủ động đầu tư, sản xuất
kinh doanh để phát triển tài sản của bản thân và gia đình; và đây cũng được xem là
giải pháp hữu hiệu cho việc phân định và bảo vệ tài sản riêng của mỗi bên vợ,
chồng trong điều kiện mà khối tài sản có trước hôn nhân của các cặp vợ chồng ngày
càng tăng. Ngoài ra, để đảm bảo giữ vững tính cộng đồng của hôn nhân, để đảm bảo
cho lợi ích chung của gia đình, của con cái, Luật HNGĐ năm 2014 đã đưa ra những
nguyên tắc, những điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận; đồng thời giao cho Tòa án
tối cao tiếp tục hoàn thiện các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận.
1.1.2. Khái niệm quan hệ tài sản của vợ chồng
Nam và nữ khi kết hôn với nhau, giữa họ xác lập quan hệ nhân thân và quan
hệ tài sản. Quan hệ tài sản vợ chồng dưới góc độ nghiên cứu là một quan hệ pháp lý
bao gồm quan hệ sở hữu tài sản, quan hệ thừa kế tài sản và quan hệ cấp dưỡng giữa
vợ và chồng sau khi ly hôn. Tuy nhiên trên thực tế khi đề cập đến quan hệ tài sản vợ
chồng thường nhìn nhận mối quan hệ tài sản giữa vợ và chồng dưới góc độ là quan
hệ sở hữu tài sản của vợ chồng với nhau đối với khối tài sản chung, tài sản riêng
trong thời kỳ hôn nhân. Thực tế giải quyết quan hệ tài sản vợ chồng khi ly hôn tại
các địa phương thường chỉ giải quyết vấn đề chia tài sản, do khi ly hôn không thể
xảy ra sự kiện một người chết để đề cập đến quan hệ thừa kế tài sản giữa vợ và


17

chồng, bên cạnh đó quan hệ cấp dưỡng giữa vợ - chồng sau khi ly hôn ở các địa
phương hiện nay chưa phổ biến, hoặc nếu có thì các cặp vợ chồng thường tự thỏa
thuận được, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quan hệ sở hữu tài sản của vợ chồng được xác định dựa trên chế độ tài sản vợ
chồng. Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh
vấn đề sở hữu tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản,
quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp
và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng theo luật định. Có hai chế độ tài sản vợ
chồng là chế độ tài sản theo thỏa thuận và chế độ tài sản theo luật định. Dù vợ
chồng lựa chọn chế độ tài sản nào, theo thỏa thuận hay theo luật định thì đều phải
tuân thủ các nguyên tắc chung khi áp dụng chế độ tài sản vợ chồng được quy định
trong Luật HNGĐ năm 2014, đó là:
 Vợ chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm
hữu, sử dụng, định đọa tài sản chung, không phân biệt giữa lao động trong gia đình
và lao động có thu nhập;
 Vợ chổng có nghĩa vụ đảm bảo điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của
gia đình;
 Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến
quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi
thường.
Dựa trên các quy định của nguyên tắc chung về chế độ tài sản vợ chồng, các
Điều 29, 30, 31, 32 Luật HNGĐ năm 2014 đã quy định và cụ thể hóa nguyên tắc
chung trong những trường hợp cụ thể sau:
 Vợ chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu
thiết yếu của gia đình;
 Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không
đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài
sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên;
 Việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà ở là
nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp
nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực
hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải đảm bảo chỗ ở cho vợ
chồng.


18

 Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng đang chiếm hữu
động sản mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu được
coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó trong
trường hợp Bộ luật dân sự có quy định về việc bảo vệ người thứ ba ngay tình.
Chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận được quy định trong Luật HNGD
năm 2014 từ Điều 47 đến Điều 50, bao gồm những nội dung chính sau:
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 47 Luật HNGĐ năm 2014, trong trường hợp
hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được
lập từ trước khi kết hôn bằng hình thức văn bản có công chứng, chứng thực. Chế độ
tài sản theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn. Hình thức, thủ tục
thực hiện phải đáp ứng, tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo
quy định của Bộ luật dân sự (BLDS). Đối với trường hợp văn bản thỏa thuận về chế
độ tài sản của vợ chồng vi phạm một trong các điều kiện để giao dịch có hiệu lực thì
thỏa thuận đó bị coi là vô hiệu khi có yêu cầu (điểm a khoản 1 Điều 50 Luật HNGĐ
năm 2014; các Điều 122, 127 BLDS năm 2005).
Văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị coi là vô hiệu nếu nội
dung của văn bản vi phạm một trong các nguyên tắc chung áp dụng chế độ tài sản
của vợ chồng theo quy định tại các Điều 29, 30, 31, 32, điểm b khoản 1 Điều 50
Luật HNGĐ năm 2014. Ngoài ra, văn bản thỏa thuận này cũng bị coi là vô hiệu nếu
nội dung của văn bản thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng,
quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên
khác của gia đình (điểm c, khoản 1 Điều 50 Luật HNGĐ) (Ví dụ: nội dung văn bản
thỏa thuận ghi rõ trường hợp vợ, chồng chết thì các con trong mọi trường hợp đều
không được thừa kế tài sản của vợ, chồng với tư cách là cha, mẹ của các con).
Thứ hai, nội dung văn bản thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng theo quy
định tại Điều 48 Luật HNGĐ năm 2014 gồm:
 Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng;
 Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao
dịch có liên quan, tài sản để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình;
 Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài
sản của vợ chồng;
 Những nội dung khác có liên quan.


19

Các quy định này đã được cụ thể hóa tại Điều 15 Nghị định số 126/2014/NĐCP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi
hành Luật HNGĐ, theo đó, trường hợp lựa chọn chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa
thuận thì vợ chồng có thể thỏa thuận về việc xác định tài sản theo một trong các nội
dung sau đây:
a) Tài sản chung giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng
của vợ, chồng;
b) Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng cảu vợ, chồng mà tất cả tài sản
do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài
sản chung;
c) Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tài sản tất cả do vợ, chồng có
được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người
có tài sản đó;
d) Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng”.
Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 15 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP cũng quy định
thỏa thuận về tài sản của vợ chồng phải phù hợp với quy định tại các Điều 29, 30,
31, 32 Luật HNGĐ năm 2014. Nếu vi phạm, người có quyền, lợi ích liên quan có
quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu theo quy định tại Điều 50 Luật
HNGĐ năm 2014.
Thứ ba, việc sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản vợ
chồng được quy định tại Điều 49 Luật HNGĐ năm 2014. Theo đó, vợ chồng có
quyền sửa đổi, bổ sung thỏa thuận về chế độ tài sản; hình thức sửa đổi, bổ sung nội
dung của thỏa thuận về chế độ tài sản theo thỏa thuận được quy định tại Điều 47
Luật HNGĐ năm 2014. Ngoài ra, Điều 17 Nghị định 126/2014/NĐ-CP cũng quy
định: Trong trường hợp chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì
trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận sửa đổi, bổ sung một phần
hoặc toàn bộ nội dung của chế độ tài sản đó hoặc áp dụng chế độ tài sản theo luật
định. Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng phải
được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật. Như vậy, trong thời
kỳ hôn nhân, nếu trong văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng có nội
dung chưa rõ ràng hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ chồng và gia đình thì vợ
chồng có quyền sửa đổi, bổ sung nội dung của văn bản thỏa thuận đó. Theo PGS.TS
Nguyễn Văn Cừ, chính quy định này đã làm mất đi tính ổn định của chế độ tài sản
vợ chồng. Bởi lẽ, tại bất kỳ thời điểm nào trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng đều có


20

quyền sửa đổi, bổ sung một phần hay toàn bộ hoặc thậm chí thay thế cả chế độ tài
sản vợ chồng từ thỏa thuận sang chế độ tài sản theo Luật định. Chưa kể mỗi lần thay
đổi, bổ sung, vợ chồng đều phải thông báo cho người thứ ba có liên quan biết về
những nội dung đã thay đổi.
Chế độ tài sản theo luật định là chế độ tài sản mà ở đó pháp luật đã dự liệu từ
trước về căn cứ, nguồn gốc thành phần các loại tài sản chung và tài sản riêng của
vợ, chồng (nếu có); quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với từng loại tài sản đó;
các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng; phương thức thanh
toán liên quan đến các khoản nợ chung hay riêng của vợ chồng. Chế độ tài sản này
được tất cả các nước dự liệu trong hệ thống pháp luật của mình, nhằm điều chỉnh
các quan hệ tài sản của vợ chồng.
Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được quy định tại các điều từ 33
đến 46 và từ Điều 59 đến điều 64 của Luật hôn nhân và gia đình 2014. Trong chế độ
tài sản của vợ chồng theo luật định có quy định: tài sản chung của vợ chồng, tài sản
riêng của vợ chồng, ngoài ra còn có quy định về việc chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân hoặc thỏa thuận nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung. Tài sản của
vợ chồng nếu không phải là tài sản riêng thì thường được xem là tài sản chung, nếu
trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ chồng đang có
tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung (tài
sản riêng bao gồm tài sản mà họ có trước khi kết hôn, thừa kế riêng, tặng cho riêng,
và tài sản riêng khác). Nếu tài sản chung mà pháp luật bắt buộc phải đăng ký thì
phải ghi tên cả hai vợ chồng, nếu không ghi đầy đủ cả tên của vợ và chồng thì nếu
có tranh chấp, bên nào cho rằng đó là tài sản riêng thì phải chứng minh.
Chế độ tài sản theo luật định quy định tài sản riêng khác của vợ chồng còn là
Quyền tài sản đối với quyền sở hữu trí tuệ, tài sản mà vợ chồng xác lập quyền sỡ
hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền, khoản
trợ cấp, ưu đãi mà vợ chồng được nhận theo quy định pháp luật về ưu đãi người có
công với cách mạng, quyền tài sản gắn liền với thân nhân của vợ chồng. Lưu ý rằng
nếu đó là tài sản riêng thì còn phải đảm bảo yếu tố chỗ ở cho người còn lại nếu có
giao dịch về tài sản là nguồn sống, chỗ ở duy nhất của gia đình. “Trong trường hợp
nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực
hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ
chồng” (Điều 31 Luật hôn nhân và gia đình 2014)


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×