Tải bản đầy đủ

Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực tiễn giải quyết tại tỉnh lạng sơn

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG THỊ NGÂN

CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VÀ
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP


TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG THỊ NGÂN

CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VÀ
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số:

8380103

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Hà Thị Mai Hiên

HÀ NỘI – 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ
ràng, được trích dẫn đúng quy định. Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính
xác và trung thực của Luận văn này.
Tác giả luận văn

Hoàng Thị Ngân


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1

1. Tính cấp thiết của đề tài

1

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3

4. Mục đích nghiên cứu

3

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

3

6. Phương pháp nghiên cứu

4

7. Tính mới của đề tài

4

8. Bố cục luận văn

4

CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH
CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VỀ CHIA TÀI SẢN
CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN

6

1.1. Một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

6

1.1.1. Khái niệm tài sản chung

6

1.1.2. Khái niệm chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

8

1.1.3. Sơ lƣợc pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

12

1.2. Ý nghĩa của pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

15

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật
về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

17

1.3.1. Các yếu tố ảnh hƣởng đến pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân

17

1.3.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc đảm bảo thực hiện pháp luật về chia tài
sản chung trong thời kỳ hôn nhân

20

1.4. Nội dung pháp luật điều chỉnh về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân

21


1.4.1. Quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

22

1.4.2. Các trƣờng hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

25

1.4.3. Phạm vi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

32

1.4.4. Về hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

34

1.4.5. Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

45

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

51

CHƢƠNG 2. THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN
CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN TẠI TỈNH LẠNG SƠN VÀ MỘT
SỐ KIẾN NGHỊ

52

2.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân

52

2.1.1. Khái quát vị trí địa lý và tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Lạng Sơn 52
2.1.2. Thực tiễn công chứng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân tại Văn phòng công chứng

53

2.1.3. Giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân tại Tòa án

60

2.2. Một số hạn chế, vướng mắc của pháp luật về chia tài sản chung trong
thời kỳ hôn nhân

68

2.2.1. Về chủ thể có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân 68
2.2.2. Về trách nhiệm của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân

68

2.2.3. Về việc công chứng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân

71

2.2.4. Về nghĩa vụ thông báo sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
72
2.2.5. Về các trƣờng hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân vô hiệu 73
2.3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân

74


2.3.1. Hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân

74

2.3.2. Một số giải pháp đảm bảo thực hiện có hiệu quả pháp luật về chia
tài sản chung trong thời kỳ hôn

78

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

81

KẾT LUẬN

82


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường quan trọng nuôi dưỡng, hình
thành và giáo dục nhân cách của mỗi người. Mỗi gia đình được xây dựng dựa trên
cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng, trong đó có thể coi hôn nhân là
quan hệ nền tảng của mỗi gia đình. Trong quan hệ hôn nhân, bên cạnh đời sống tình
cảm là yếu tố then chốt, không thể không quan tâm đến đời sống vật chất, đặc biệt
là quan hệ tài sản giữa vợ chồng - một trong những tiền đề giúp vợ chồng xây dựng
cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Trước khi kết hôn, hai bên nam nữ đều có tài sản riêng
và có toàn quyền quyết định đối với tài sản của mình. Nhưng khi bước vào đời sống
hôn nhân thì vợ chồng sẽ cùng tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung và cùng
nhau định đoạt khối tài sản chung vì lợi ích của vợ chồng và gia đình. Xuất phát từ
bản chất của quan hệ hôn nhân và gia đình, pháp luật Việt Nam đã có quy định điều
chỉnh về chế độ tài sản của vợ chồng trong đó có quy định hết sức tiến bộ về chia tài
sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Cùng với sự phát triển của các điều kiện kinh tế, xã hội thì quan hệ tài sản
giữa vợ chồng cũng có những bước phát triển theo. Khi vợ chồng tham gia vào các
quan hệ dân sự, kinh tế nhất định có thể phát sinh những nghĩa vụ riêng. Vì những
lý do nào đó mà trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng mong muốn được chia tài sản
chung thành tài sản riêng để phục vụ mục đích kinh doanh hoặc vì lợi ích chung của
gia đình. Vì vậy pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam đã có những quy định cần
thiết nhằm điều chỉnh vấn đề này. Kế thừa và phát triển các quy định của Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định tương
đối đầy đủ, toàn diện về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân để phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Tuy nhiên, qua thực tiễn nghiên cứu một
số vụ việc liên quan đến việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà Tòa án
nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã giải quyết cũng như thủ tục công chứng đối với thỏa
thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trên địa bàn tỉnh Lạng
Sơn tôi nhận thấy còn có một số vướng mắc, bất cập nhất định. Xuất phát từ thực


2

tiễn đó, tôi lựa chọn đề tài: “Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực tiễn giải quyết tại tỉnh Lạng Sơn” nhằm
nghiên cứu các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản
hướng dẫn liên quan điều chỉnh vấn đề này cũng như những vướng mắc, bất cập
trên thực tiễn, từ đó có những kiến nghị, đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp
luật về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, vấn đề tài sản giữa vợ chồng nói chung và
vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nói riêng là đề tài rất
được quan tâm nghiên cứu. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như: bài viết
“Hậu quả pháp lí của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân” của tác giả Nguyễn Phương Lan đăng trên Tạp chí Luật học, số 6 năm 2002;
bài viết “Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” của tác giả
Phùng Trung Tập, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 10 năm 2012; Luận
án Tiến sĩ “Chế độ tài sản vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” của
tác giả Nguyễn Văn Cừ năm 2005; Luận văn Thạc sĩ “Các trường hợp chia tài sản
chung của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” của tác giả Chu
Minh Khôi năm 2015; Luận văn Thạc sĩ “Chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thị Hồng
Vân, năm 2016; Luận văn Thạc sĩ “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội” của tác
giả Lưu Việt Thắng, năm 2017 và nhiều công trình nghiên cứu khác.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã tập trung đi sâu phân tích những
vấn đề lý luận của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng việc
nghiên cứu về thực tiễn của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân vẫn chưa
nhiều. Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu vấn đề chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân và thực tiễn giải quyết của cơ quan có thẩm quyền trên địa bàn một địa
phương cụ thể là cần thiết và có ý nghĩa về mặt thực tiễn.


3

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề chia tài
sản chung trong thời kỳ hôn nhân và một số công trình nghiên cứu cũng như nội
dung một số vụ việc về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà Tòa án, Văn
phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã giải quyết.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu các văn bản pháp luật kể từ khi ban hành Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014 đến nay; Nghiên cứu các số liệu và các vụ việc cụ thể từ năm
2014 đến nay từ thực tiễn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn về vấn đề chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân. Luận văn không tìm hiểu về thực tiễn thỏa thuận chia tài
sản chung trong thời kỳ hôn nhân không cần công chứng và không yêu cầu Tòa án
giải quyết cũng như thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có yếu tố
nước ngoài.
4. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận
về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, đánh giá thực trạng nội dung
các quy định Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi
hành và thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân tại tỉnh Lạng Sơn; chỉ ra những vướng mắc, bất cập
trong quy định của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
dẫn đến khó khăn trong thực tiễn giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền, từ đó
có những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung trong
thời kỳ hôn nhân để phù hợp với thực tiễn hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung lớn sau đây:


4

- Khái quát chung về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tìm hiểu khái
niệm, ý nghĩa, các yếu tố tác động đến pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về
việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
- Làm rõ quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng như các
văn bản pháp luật hiện hành về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và thực
tiễn thực hiện pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trên địa bàn
tỉnh Lạng Sơn thông qua kết quả giải quyết của Tòa án và Văn phòng công chứng
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
-Trên cơ sở những vướng mắc, bất cập từ thực tiễn, luận văn đề ra một số
phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện có hiệu quả
pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp, so sánh,
thống kê trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin về chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực hôn nhân gia đình.
7. Tính mới của đề tài
Đề tài: “Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo Luật hôn nhân và
gia đình năm 2014 và thực tiễn giải quyết tại tỉnh Lạng Sơn” nghiên cứu các quy
định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và các quy định của pháp luật có liên
quan về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, xem xét thực tiễn giải quyết vấn
đề chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của Văn phòng công chứng và Tòa án
nhân dân tỉnh Lạng Sơn. Trên cơ sở phân tích những vướng mắc bất cập từ thực
tiễn, luận văn đề ra một số phương hướng và giải pháp góp phần nhằm hoàn thiện
pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân ở Việt Nam nói chung và tại tỉnh Lạng Sơn nói riêng.
8. Bố cục luận văn


5

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm 02 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và nội dung các quy định của Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014 về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân tại tỉnh Lạng Sơn và một số kiến nghị hoàn thiện.


6

CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG
TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
1.1. Một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1.1.1. Khái niệm tài sản chung
Tài sản là một từ ngữ quen thuộc đối với bất kì ai, đó là vấn đề trọng tâm của
các quan hệ xã hội nói chung và trong quan hệ pháp luật nói riêng. Là khách thể của
quyền sở hữu, tài sản có thể được hiểu là các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng các nhu
cầu của con người. Trong đời sống hôn nhân gia đình, tài sản là cơ sở đảm bảo đời
sống vật chất, tinh thần của gia đình, giúp gia đình thực hiện tốt các chức năng duy
trì nòi giống, chức năng giáo dục và chức năng kinh tế. Dưới góc độ pháp lý, tài sản
được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tại Điều 105 như sau: “Tài sản là vật, tiền,
giấy tờ có giá và quyền tài sản”.
Trên cơ sở khái niệm tài sản thì tài sản chung được hiểu là tài sản thuộc sở
hữu của nhiều chủ sở hữu. Tuy nhiên, khái niệm tài sản chung được đề cập ở đây là
tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Trong quan hệ hôn nhân gia
đình, vợ chồng cùng nhau tạo lập, xây dựng khối tài sản chung của vợ chồng nhằm
đảm bảo nhu cầu đời sống của gia đình. Theo quy định tại Điều 213 Bộ luật dân sự
năm 2015 thì vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung và có quyền
ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Đồng thời theo
quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì vợ, chồng bình đẳng với
nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
chung, không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập. Tài
sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, tức là phần quyền sở hữu của
mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung.
Tài sản chung của vợ chồng có thể được xác định theo chế độ tài sản pháp
định hoặc theo chế độ tài sản ước định.
* Tài sản chung pháp định:


7

Chế độ tài sản pháp định là chế độ tài sản mà ở đó pháp luật đã dự liệu từ
trước về căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài sản chung và tài sản riêng của
vợ chồng (nếu có); quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với từng loại tài sản đó;
các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng, phương thức thanh
toán liên quan tới các khoản nợ chung hay nợ riêng của vợ, chồng1. Trong trường
hợp vợ, chồng không lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc có lựa chọn
nhưng thỏa thuận của họ vô hiệu thì chế độ tài sản của họ được điều chỉnh theo chế
độ tài sản pháp định.
Theo Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tài sản chung của vợ
chồng được xác định như sau:
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và
thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp chia tài sản chung
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát
sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ,
chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài
sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung
của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho
riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định Tài sản chung của vợ
chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình,
thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang
có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Qua quy định của Luật hôn nhân và gia đình có thể thấy tài sản do vợ chồng
tạo ra hoặc có được trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung của vợ
1

TS. Nguyễn Văn Cừ, Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam – Sách
chuyên khảo, NXB Tư pháp, Hà Nội năm 2008, tr 33


8

chồng trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc
pháp luật có quy định khác.
* Tài sản chung ước định:
Một trong những điểm mới của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là chế độ
tài sản chung ước định của vợ chồng. Việc ghi nhận tài sản ước định của vợ chồng
là sự thể hiện đặc tính thỏa thuận, bình đẳng trong quan hệ vợ chồng, đồng thời thể
hiện địa vị độc lập của mỗi cá nhân với tư cách là một thành viên gia đình và xã hội.
Theo chế độ tài sản ước định, tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng được xác
định bằng sự thỏa thuận bằng văn bản của hai bên vợ chồng có công chứng trước
khi đăng ký kết hôn và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.
Việc xác định đâu là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có ý
nghĩa hết sức quan trọng bởi đó là cơ sở khi xem xét việc phân chia tài sản chung
của vợ chồng.
1.1.2. Khái niệm chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Để hiểu thế nào là chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, trước hết cần
tìm hiểu thời kỳ hôn nhân là gì và được xác định như thế nào. Theo Khoản 13 Điều
3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian
tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn
nhân, hay chính là khoảng thời gian quan hệ hôn nhân tồn tại và được pháp luật
thừa nhận.Thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân được xác định như sau: Thông
thường quan hệ hôn nhân được pháp luật thừa nhận kể từ ngày hai bên nam nữ ký
vào giấy chứng nhận kết hôn, hai bên nam nữ thực hiện các thủ tục đăng ký kết hôn
tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam nữ, cán bộ hộ tịch
ghi vào sổ hộ tịch, hai bên nam nữ ký vào giấy chứng nhận kết hôn và được Ủy ban
nhân dân xã cấp giấy chứng nhận kết hôn. Đây chính là thời điểm bắt đầu thời kỳ
hôn nhân. Ngoài ra đối với một số trường hợp, việc xác định thời điểm bắt đầu thời
kỳ hôn nhân cũng có sự khác nhau như sau:
Đối với trường hợp nam nữ đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền theo
quy định tại Điều 13 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì khi có yêu cầu, cơ quan


9

nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của
pháp luật về hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này thì quan hệ hôn nhân được
xác lập từ ngày đăng ký kết hôn trước và thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân được
tính từ ngày đăng ký kết hôn trước đó mà không tính từ thời điểm đăng ký lại bởi vì
quan hệ hôn nhân đã tồn tại từ thời điểm trước đó.
Đối với trường hợp nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau
như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn nếu sau đó hai bên nam nữ thực hiện
việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập
từ thời điểm đăng ký kết hôn theo quy định tại Khoản 2 Điều 14 Luật hôn nhân gia
đình năm 2014.
Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn
trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định
của Luật hôn nhân gia đình và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa
án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trường hợp này quan hệ hôn nhân được xác lập
từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn hay nói cách khác là các bên không còn vi
phạm điều kiện kết hôn theo hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 11 Luật hôn nhân gia đình
năm 2014.
Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 1 Điều 67 Luật hôn nhân và gia đình năm
2014 thì đối với trường hợp một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết nhưng
sau đó người đó trở về và được Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố
chết, nếu bên kia chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục
kể từ thời điểm kết hôn, thời kỳ hôn nhân cũng được xác định từ thời điểm hai
người kết hôn hợp pháp. Trong trường hợp này, tài sản chung của vợ chồng được
xác định là tài sản mà vợ chồng tạo lập từ thời điểm kết hôn đến trước khi vợ hoặc
chồng bị tuyên bố chết; còn tài sản mà vợ, chồng có được từ khi có quyết định
tuyên bố chết của Tòa án đến khi quyết định hủy quyết định tuyên bố chết của Tòa
án có hiệu lực pháp luật, thì tài sản trong khoảng thời gian này là tài sản riêng của
người vợ, người chồng đang sống.


10

Đối với trường hợp hôn nhân thực tế, theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch
số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị
quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn
nhân gia đình, thì thời kỳ hôn nhân được tính như sau: nếu quan hệ vợ chồng được
xác lập trước ngày 03/01/1987 thì được khuyến khích đăng ký kết hôn và thời kỳ
hôn nhân của họ được tính từ ngày họ bắt đầu chung sống như vợ chồng trên thực
tế; trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước
ngày 01/01/2001 mà chưa đăng ký kết hôn thì họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn từ
ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003, trong khoảng thời gian này nếu họ thực hiện
việc đăng ký kết hôn thì thời kỳ hôn nhân được tính từ ngày họ bắt đầu chung sống
với nhau như vợ chồng; nếu sau ngày 01/01/2003 họ mới đăng ký kết hôn thì thời
kỳ hôn nhân của họ được tính từ ngày đăng ký kết hôn mà không được tính từ khi
họ chung sống như vợ chồng. Như vậy, căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, thời
điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân có cách xác định khác nhau.
Quan hệ hôn nhân chấm dứt khi có một trong các sự kiện sau: ly hôn; một
trong hai bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Ly hôn là một sự
kiện pháp lý làm chất dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng, được thể hiện bằng
quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc bản án ly hôn của Tòa án. Quyết định
công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành
và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, vì vậy ngày chấm dứt
quan hệ hôn nhân cũng là ngày Tòa án quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Đối
với bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm mà các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm
sát không kháng nghị hoặc khi có bản án phúc thẩm của Tòa án. Trường hợp này
quan hệ hôn nhân chấm dứt khi bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc khi có
bản án phúc thẩm.
Quan hệ hôn nhân chấm dứt khi một bên vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án
tuyên bố là đã chết. Trường hợp một bên vợ hoặc chồng chết thì ngày chấm dứt


11

quan hệ hôn nhân là ngày thực tế người vợ hoặc người chồng chết và được ghi
trong giấy chứng tử. Đối với trường hợp một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố
chết thì ngày chấm dứt quan hệ hôn nhân là ngày quyết định tuyên bố chết của Tòa
án có hiệu lực pháp luật và tùy từng trường hợp cụ thể Tòa án xác định ngày chết
của người đó theo quy định tại Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015.
Việc xác định thời kỳ hôn nhân là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng
được các nhà làm luật ghi nhận và sử dụng để xác định thời điểm bắt đầu cũng như
khoảng thời gian tồn tại chế độ tài sản của vợ chồng, xác định tài sản chung, tài sản
riêng của vợ chồng để làm căn cứ phân chia tài sản chung của vợ chồng.
Trên cơ sở xác định thời kỳ hôn nhân, cần hiểu thế nào là chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân. Theo từ điển Tiếng Việt, Chia là động từ với nghĩa “tách ra
làm thành từng phần, từ một chỉnh thể”2. Vậy chia tài sản chung của vợ chồng được
hiểu đơn giản là tách tài sản từ khối tài sản chung thành tài sản riêng của vợ chồng.
Khoản 1 Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong thời kỳ hôn
nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ
trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có
quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”. Mặc dù vấn đề chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân được ghi nhận từ Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và tiếp tục được kế
thừa, phát triển qua Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật hôn nhân và gia đình
năm 2014 nhưng khái niệm thế nào là chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân lại
chưa được đề cập đến tại bất kỳ văn bản pháp lý nào. Tuy nhiên, từ sự phân tích các
quy định của Luật hôn nhân và gia đình về vấn đề này thì có thể hiểu khái niệm chia
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau:
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là việc tách một
phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng thành tài sản riêng của
mỗi bên vợ, chồng theo sự thỏa thuận của vợ chồng hoặc do Tòa án quyết định trên
cơ sở quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi
bên vợ, chồng mà không làm chấm dứt quan hệ giữa vợ và chồng trước pháp luật.
2

http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Chia


12

Như vậy, qua khái niệm này có thể thấy bản chất của việc chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân là việc tách một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu
chung của vợ chồng thành tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng nhưng không làm
chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng. Việc chia tài sản này có thể do hai vợ
chồng tự thỏa thuận hoặc nếu không thỏa thuận được thì do Tòa án quyết định trên
cơ sở yêu cầu của vợ chồng và các quy định của pháp luật có liên quan.
1.1.3. Sơ lược pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là đối tượng lập
pháp. Pháp luật xác định căn cứ, nguyên tắc, phương thức và trình tự, thủ tục chia
tài sản chung của vợ chồng và tương ứng là các quy định pháp luật về nội dung và
pháp luật về thủ tục, pháp luật tố tụng. Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, chỉ
đề cập vấn đề chủ yếu dưới góc độ pháp luật về nội dung, tức là luật dân sự, luật
hôn nhân và gia đình, mà không đi sâu vào pháp luật về thủ tục tố tụng.
Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là một vấn đề khá mới trong Luật
hôn nhân và gia đình của nước ta, chế định này bắt đầu được quy định từ Luật hôn
nhân và gia đình năm 1986. Trước đó, trong pháp luật phong kiến, tiêu biểu là Quốc
triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ đều không có điều khoản nào đề cập đến vấn
đề tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Trong Quốc triều hình luật (Bộ luật
Hồng Đức) dưới triều Lê dự liệu một số trường hợp chia tài sản của vợ chồng khi
một bên vợ chồng chết trước (Điều 374, 375, 376), còn Bộ luật Hoàng Việt luật lệ
(luật Gia Long) dưới triều Nguyễn không có quy định nào về vấn đề chia tài sản
chung của vợ chồng, do đó vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng không được đặt
ra trong thời kỳ này. Xuất phát từ quan niệm truyền thống của người phương đông
và phong tục tập quán của người Việt Nam thì hôn nhân được xây dựng trên cơ sở
yếu tố tình cảm là then chốt, giữ vai trò cao hơn các yếu tố tài sản, không có sự
phân chia rạch ròi về tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Trong thời kỳ này, chế độ tài
sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản, theo đó toàn bộ tài sản mà vợ,
chồng có được trước khi kết hôn hoặc do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân


13

đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng và được đặt dưới sự quản lý của người
chồng.
Khi Luật hôn nhân và gia đình đầu tiên của nước ta ra đời năm 1959 cũng
không đặt ra vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tất cả
tài sản của vợ chồng đều thuộc sở hữu chung của hai người, không phân biệt tài sản
có trước khi kết hôn hay tài sản được tạo ra, có được trong thời kỳ hôn nhân, không
phân biệt nguồn gốc tài sản cũng như công sức đóng góp của mỗi bên. Luật hôn
nhân và gia đình năm 1959 chỉ quy định một chế độ tài sản duy nhất là chế độ tài
sản chung. Trên cơ sở đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 chỉ dự liệu hai
trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng là khi vợ chồng chết trước hoặc khi vợ
chồng ly hôn, theo đó khi một bên vợ, chồng chết hoặc khi hai vợ chồng ly hôn, tài
sản chung sẽ được chia căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào tình
hình tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình (Điều 29 Luật hôn nhân gia đình năm
1959). Lý do là bởi thời kỳ này, lợi ích cá nhân luôn gắn liền với lợi ích tập thể,
không tồn tại nhiều hình thức sở hữu và đa dạng về thành phần kinh tế như hiện
nay, tư tưởng phong kiến vẫn tồn tại nhiều trong nếp sống gia đình, nhu cầu tách
biệt khối tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chưa phải là vấn đề nổi
cộm, bức thiết.
Vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân lần đầu tiên
được đề cập đến trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, tại Điều 18 Luật hôn
nhân và gia đình năm 1986 quy định: “Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và
có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở
Điều 42 của Luật này”. Theo đó, chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn
tại được chia như khi ly hôn tại Điều 42 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986: “Tài
sản chung của vợ chồng được chia đôi, nhưng có xem xét một cách hợp lý đến tình
hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên”, như
vậy việc chia tài sản chung phụ thuộc vào tình hình thực tế về tài sản, hoàn cảnh gia
đình và công sức đóng góp của hai bên vợ chồng. Luật hôn nhân và gia đình năm
1986 đã đánh dấu mốc quan trọng khi lần đầu tiên quy định về vấn đề chia tài sản


14

chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, những quy định này vẫn
còn sơ khai, lý do chia tài sản chung của vợ chồng dựa trên yêu cầu của một bên vợ
hoặc chồng và có lý do chính đáng nhưng chưa có hướng dẫn thế nào là có lý do
chính đáng dẫn đến những khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật.
Kế thừa và phát triển các quy định của luật Hôn nhân và gia đình năm 1986,
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có những quy định cụ thể hơn về việc chia
tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Theo đó, trong trường hợp đầu
tư, kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác
thì có thể thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại
Điều 29, Điều 30 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Việc chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân được quy định tại Khoản 1 Điều 29 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000:
“1. Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh
riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng
có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn
bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết”. Có thể
thấy Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định tương đối rõ ràng về lý do chia
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng lại không quy định về phương thức
cũng như hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Đồng
thời Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định chỉ có ba lý do để tiến hành chia
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, đó là trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh
doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác dẫn đến
nhiều trường hợp vợ chồng muốn chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng
không thực hiện được do không thuộc một trong ba lý do nêu trên.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 được ban hành và có hiệu lực từ ngày
01/01/2015 đã tiếp thu những ưu điểm của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000,
đồng thời có những sửa đổi quan trọng, quy định chi tiết hơn về chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân. Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định
trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ


15

tài sản chung, trừ các trường hợp quy định tại Điều 42 Luật hôn nhân và gia đình
năm 2014 như chia tài sản chung để trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;
trốn tránh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức, trốn
tránh nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản,…. Nếu vợ chồng không
thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Việc chia tài sản chung của
vợ chồng dựa trên điều kiện và nguyên tắc luật định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích
hợp pháp của vợ chồng đối với tài sản chung. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
cũng có quy định cụ thể về thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 39), hậu quả của việc chia tài sản chung trong
thời kỳ hôn nhân (Điều 40), chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân (Điều 41) và các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
vô hiệu (Điều 42). Nhìn chung Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có các quy
định tương đối đầy đủ về vấn đề chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tạo điều
kiện cho các cặp vợ chồng có quyền tự định đoạt khối tài sản chung của mình.
Như vậy, có thể thấy nội dung pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân có sự kế thừa và phát triển qua mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau và được
ghi nhận cụ thể trong Luật hôn nhân và gia đình nước ta. Điều đó cho thấy sự phù
hợp giữa quy định của pháp luật với sự phát triển của nền kinh tế và thực tiễn đời
sống xã hội.
1.2. Ý nghĩa của pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, cùng với việc hội nhập kinh
tế quốc tế, giao lưu, hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới đã ít nhiều
ảnh hưởng đến quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình. Theo đó, nhu cầu có tài sản
riêng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ riêng của vợ chồng là rất cần thiết. Việc pháp
luật hôn nhân và gia đình nước ta thừa nhận vấn đề chia tài sản chung vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Thứ nhất, việc pháp luật quy định về chia tài sản chung vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân tạo cơ sở để vợ chồng tham gia vào các quan hệ xã hội riêng biệt. Có
thể nói đây là quy định rất “mở”, tạo điều kiện tối đa cho vợ chồng khi tham gia vào


16

các quan hệ dân sự, kinh tế nhất định. Đây là đòi hỏi có thực từ xã hội, bởi khi xã
hội ngày càng phát triển thì nhu cầu phát triển kinh tế của gia đình ngày càng cao,
ngày càng nhiều các cặp vợ chồng có ý định đầu tư kinh doanh riêng hoặc tự chủ về
mặt kinh tế với người vợ hoặc người chồng của mình, vợ chồng vừa là chủ thể của
quan hệ hôn nhân, vừa có thể là chủ thể của quan hệ dân sự, kinh tế trong xã hội. Vì
vậy để bảo vệ lợi ích chung của gia đình cũng như tôn trọng quyền tự định đoạt tài
sản của cá nhân, quyền tự do kinh doanh được pháp luật thừa nhận, các quy định
của pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cũng được ghi nhận. Các
quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã tạo ra cơ sở pháp lý quan
trọng để phân định rõ trách nhiệm của vợ chồng trong việc quản lý, sử dụng và định
đoạt tài sản chung cho phù hợp, vừa đảm bảo lợi ích chính đáng của gia đình vừa
phục vụ những nhu cầu riêng về tài sản của vợ chồng.
Thứ hai, việc pháp luật ghi nhận vấn đề chia tài sản chungg vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân giúp giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Trên thực tế, không phải lúc
nào cuộc sống vợ chồng cũng êm đềm, hạnh phúc mà có thời điểm “cơm không
lành canh không ngọt”, đời sống vợ chồng không tránh khỏi những mâu thuẫn,
xung đột. Tuy nhiên vì lý do nào đó mà vợ chồng không muốn ly hôn như sợ ảnh
hưởng đến uy tín, danh dự, ảnh hưởng đến con cái mà vợ chồng chỉ muốn tách biệt
về tài sản. Nhằm đáp ứng nhu cầu này của vợ chồng, pháp luật cho phép vợ chồng
chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để vừa tôn trọng quyền tự định đoạt tài
sản của mỗi bên vợ chồng, vừa góp phần giải quyết mâu thuẫn trong đời sống vợ
chồng, bảo vệ quyền và lợi ích chung của gia đình nhằm xây dựng gia đình hòa
thuận, êm ấm.
Thứ ba, quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa
trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba có liên quan đến tài sản
vợ chồng. Thực tế có nhiều trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ về tài sản với bên thứ
ba, như vợ chồng vay nợ trước khi kết hôn hoặc lấy tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân để phục vụ mục đích riêng. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản riêng
hoặc phần tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ nhưng vợ chồng không thỏa


17

thuận được việc lấy tài sản chung để trả nợ riêng cho một bên, thì vợ chồng có
quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để lấy phần tài sản
đã chia thực hiện nghĩa vụ riêng với bên thứ ba.
Thứ tư, quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã đánh dấu
bước phát triển quan trọng của pháp luật về sở hữu tài sản của vợ chồng. Nếu như
pháp luật phong kiến trước đây không có quy định về việc phân định rạch ròi tài sản
giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân thì ngày nay, cùng với sự phát triển của
nền kinh tế xã hội, vợ chồng ngày càng tham gia vào nhiều quan hệ kinh tế thì nhu
cầu độc lập về tài sản ngày càng lớn. Vì lẽ đó, việc pháp luật ghi nhận vợ chồng có
quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân là thể hiện sự tiến bộ của pháp luật, thể hiện cách tiếp cận hiện đại của
các nhà làm luật, đề cao quyền tự định đoạt và bình đẳng của vợ chồng trong việc
quyết định tài sản chung
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp
luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1.3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân
- Đường lối chính sách của Đảng về hôn nhân gia đình
Đường lối chính sách của Đảng gồm những quan điểm tư tưởng, định hướng
chung nhất, có tính chiến lược để phát triển đất nước trong tất cả các lĩnh vực quan
trọng như kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh quốc phòng. Nội dung các quy định
trong tất cả các văn bản quy phạm pháp luật, từ Hiến pháp, luật cho đến các văn bản
dưới luật đều phải phù hợp, không được trái với đường lối, chính sách của Đảng.
Trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, Đảng và Nhà nước có những chủ trương, chính
sách về hôn nhân và gia đình phù hợp, nhằm tập trung thực hiện nhiệm vụ và mục
tiêu xây dựng quan hệ hôn nhân gia đình mới xã hội chủ nghĩa, xây dựng gia đình
Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc. Pháp luật hôn nhân và gia đình là sự cụ thể
hóa quan điểm, đường lối của Đảng về hôn nhân và gia đình. Hiện nay, đất nước
đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, việc thực hiện các quan hệ hôn nhân


18

và gia đình phải phù hợp với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội nhưng cũng phải phù
hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội ở thời kỳ quá độ. Nghị quyết của các kỳ Ðại
hội Ðảng đều nhấn mạnh sự quan tâm đến gia đình, Nghị quyết Ðại hội Ðảng lần
thứ XII nêu rõ: "Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam. Phát huy giá trị
truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh.", "tập
trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm
việc"3. Gia đình có một vai trò rất quan trọng đối với việc xây dựng mỗi người Việt
Nam cũng như nguồn nhân lực cho xã hội mới. Quan điểm của Đảng ta về việc xây
dựng gia đình xã hội chủ nghĩa không phải là một mô hình chung chung, mà mang
lại những nội dung cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam. Vì vậy những
quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng có tác động lớn đến nội
dung pháp luật về hôn nhân gia đình nói chung và vấn đề chia tài sản chung trong
thời kỳ hôn nhân nói riêng.
- Sự phát triển của kinh tế - xã hội
Quá trình xây dựng pháp luật nói chung và pháp luật hôn nhân gia đình nói
riêng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự phát triển của kinh tế - xã hội. Theo quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin thì hôn nhân gia đình cũng như các hiện tượng xã
hội khác do cơ sở kinh tế - xã hội quyết định. Trong biện chứng về cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thượng tầng thì cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, mặt khác
cơ sở hạ tầng do các quan hệ kinh tế hợp thành, mọi sự biến đổi của kinh tế đều ảnh
hưởng đến cơ sở hạ tầng. Pháp luật là một bộ phận quan trọng của kiến trúc thượng
tầng, do vậy yếu tố giữ vai trò quyết định đối với nội dung của pháp luật là kinh tế.
Sự phát triển của nền kinh tế trong mỗi giai đoạn lịch sử luôn có sự tác động đến
các yếu tố xã hội khác, trong đó có pháp luật về hôn nhân gia đình. Quan điểm,
đường lối của Đảng, Nhà nước không thể là chủ quan, duy ý chí mà phải xuất phát
từ thực tiễn xã hội, tôn trọng quy luật vận động khách quan của các quan hệ hôn
nhân gia đình. Tình hình kinh tế - xã hội nước ta đang ngày càng phát triển, nền

3

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của
Đảng, tr. 67 – 68.


19

kinh tế tăng trưởng nhanh, đời sống người dân được cải thiện đáng kể, kinh tế đất
nước đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới khi Việt Nam đã và đang trở
thành thành viên của nhiều tổ chức kinh tế trên thế giới. Nền kinh tế đất nước phát
triển kéo theo nhu cầu kinh tế của các gia đình cũng tăng cao, việc vợ chồng có ý
định đầu tư kinh doanh riêng hoặc tự chủ về mặt kinh tế để tham gia vào các quan
hệ dân sự, kinh tế cũng ngày càng phổ biến. Chính vì vậy, để bảo vệ lợi ích chung
của gia đình cũng như tôn trọng quyền tự định đoạt của cá nhân, quyền tự do kinh
doanh được pháp luật thừa nhận, các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình về
chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cũng được thừa nhận.
- Ảnh hưởng của yếu tố văn hóa truyền thống
Việt Nam là nước có nền văn hiến lâu đời. Trải qua hằng nghìn năm lịch sử,
các phong tục tập quán cũng như quan niệm của Nho giáo đã có những tác động to
lớn đến chế độ hôn nhân gia đình của nước ta. Trước luật hôn nhân và gia đình năm
1986, không có quy định về việc vợ chồng có quyền chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân, bởi lẽ, thời kỳ này theo quan niệm truyền thống, người chồng là người
chủ gia đình và có toàn quyền quyết định đối với tài sản. Sự ảnh hưởng của phong
tục, tập quán cũng như những tư tưởng phong kiến tồn tại trong thời gian dài trong
đời sống gia đình của người Việt Nam nên tài sản chung của vợ chồng vẫn được
hiểu theo nghĩa “của chồng công vợ”, chưa hề có sự phân định rạch ròi tài sản của
mỗi bên vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Cùng với sự phát triển của xã hội thì
pháp luật ngày nay đã ghi nhận sự bình đẳng giữa vợ chồng trong đời sống gia đình,
gồm cả vấn đề định đoạt tài sản chung. Tuy nhiên, trên thực tế do ảnh hưởng của
văn hóa truyền thống của người Việt Nam, vợ chồng khi chung sống với nhau chủ
yếu là cùng nhau phát triển khối tài sản chung để xây dựng gia đình và nuôi dạy con
cái, phát triển kinh tế gia đình, việc phân chia rạch ròi về tài sản vợ chồng trước khi
kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân thường không phổ biến. Do đó, yếu tố văn hóa
truyền thống cũng có ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng quy định của pháp luật về
chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, các quy định của pháp luật về chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân vừa phải bảo đảm được các quyền, lợi ích chính đáng


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×