Tải bản đầy đủ

Ly hôn theo pháp luật việt nam hiện hành và thực tiễn giải quyết tại tòa án nhân dân huyện ba vì, thành phố hà nội

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG NGỌC LƯU LY

LY HÔN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380103

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hướng ứng dụng)

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Lan

Hà Nội – 2018



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN ..................................................................... 6
1.1. Một số khái niệm chung về ly hôn ............................................................. 6
1.1.1. Khái niệm ly hôn ..................................................................................... 6
1.1.2. Khái niệm quyền ly hôn ........................................................................... 8
1.1.3. Khái niệm căn cứ ly hôn.......................................................................... 8
1.1.4. Khái niệm hậu quả pháp lý của ly hôn ................................................... 9
1.2. Quyền yêu cầu ly hôn............................................................................... 10
1.2.1. Quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng .................................................... 10
1.2.2. Quyền yêu cầu ly hôn của người thứ ba ............................................... 10
1.2.3. Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng .................................. 12
1.3. Áp dụng căn cứ ly hôn trong các trường hợp ly hôn theo luật định ........ 16
1.3.1. Căn cứ ly hôn áp dụng cho trường hợp thuận tình ly hôn .................... 16
1.3.2. Căn cứ ly hôn áp dụng cho trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên
vợ hoặc chồng ................................................................................................. 19
1.3.3. Căn cứ ly hôn áp dụng cho trường hợp ly hôn theo yêu cầu của người
thứ ba............................................................................................................... 22
1.4. Hậu quả pháp lý của ly hôn ...................................................................... 23
1.4.1. Hậu quả về nhân thân ........................................................................... 23
1.4.2. Hậu quả về tài sản................................................................................. 24
1.4.2.1. Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng ..................................................... 24
1.4.2.2. Quan hệ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba .......................... 26
1.4.3. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau khi ly hôn....................... 28
1.4.4. Quan hệ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn ................................. 31
Kết luận Chương 1 .......................................................................................... 34


CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN
DÂN HUYỆN BA VÌ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ......................................... 35
2.1. Thực tiễn giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Ba Vì ................ 35
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Ba Vì ............................. 35
2.1.2. Nhận xét chung về tình hình thụ lý, giải quyết các vụ việc ly hôn ........ 36
2.1.3. Một số khó khăn, vướng mắc ................................................................ 38
2.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về ly hôn, nâng cao chất lượng giải
quyết vụ việc ly hôn tại Tòa án ....................................................................... 56
2.2.1. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về ly hôn .................................. 56
2.2.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng giải quyết vụ việc ly hôn 61
Kết luận Chương 2 .......................................................................................... 65
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1. Số vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý và số các loại án đã thụ lý trong
các năm 2015, 2016, 2017 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì ....................... 36
Bảng 2. Công tác thụ lý và giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Tòa
án nhân dân huyện Ba Vì qua các năm 2015, 2016, 2017 .............................. 37


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được
trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Ngọc Lưu Ly


1
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hôn nhân là việc hệ trọng của đời người, là cầu nối giữa hai con người
không cùng chung huyết thống hòa làm một và là sợi dây ràng buộc giữa
người đàn ông và người phụ nữ, gắn kết họ trở thành một gia đình. Mục đích
của hôn nhân là tình yêu giữa nam và nữ muốn chung sống với nhau suốt đời,
cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững trên cơ sở giúp đỡ nhau
cùng tiến bộ. Khi cuộc sống hôn nhân không còn giữ được ý nghĩa như ban
đầu và mục đích hôn nhân không đạt được thì vợ, chồng có quyền được chấm
dứt quan hệ vợ chồng. Nếu như kết hôn là sự xác lập quan hệ vợ chồng của
người nam và người nữ theo quy định của pháp luật thì ly hôn là sự chấm dứt
mối quan hệ đó. Ly hôn là một hiện tượng xã hội mang tính khách quan, xảy
ra ở mọi thời đại, mọi quốc gia và được điều chỉnh bởi pháp luật nhằm bảo
đảm quyền và lợi ích cho các bên cũng như các đối tượng có liên quan trong
quan hệ hôn nhân; đồng thời, phòng ngừa các tác động tiêu cực do ly hôn
mang lại cho xã hội. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, tình trạng ly hôn
diễn ra phổ biến, ngày càng tăng về số lượng lẫn tính chất phức tạp về nội
dung, đòi hỏi phải có những biện pháp cần thiết để hạn chế ly hôn; đồng thời
hoàn thiện, phát huy vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ
xã hội nảy sinh từ việc giải quyết các vụ việc ly hôn. Hiện nay, do nhiều
nguyên nhân, việc ly hôn và giải quyết ly hôn trên thực tế còn có những bất
cập, khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng căn cứ ly hôn, phân chia tài sản
chung của vợ chồng hay xác định mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn… Cho
nên, nghiên cứu về ly hôn theo pháp luật Việt Nam luôn là vấn đề có tính cấp
thiết về mặt lý luận và thực tiễn. Các nghiên cứu về ly hôn ở Việt Nam rất
phong phú nhưng chưa có công trình nào đề cập một cách toàn diện những
vấn đề lý luận về ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam với thực tiễn
giải quyết ly hôn tại Ba Vì - một đơn vị hành chính cấp huyện của thành phố
Hà Nội, nơi đã và đang khẳng định tiềm năng và thế mạnh đối với sự phát


2
triển của thành phố, nhưng cũng là một vùng đất cổ giàu truyền thống, nhiều
di tích lịch sử, văn hoá, lễ hội. Tình trạng ly hôn ở địa bàn này cũng có chiều
hướng gia tăng với tính chất ngày càng phức tạp. Bởi vậy, việc nghiên cứu đề
tài “Ly hôn theo pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn giải quyết tại
Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” có ý nghĩa quan trọng
trong việc đưa ra những phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp hoàn thiện
pháp luật về ly hôn phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ly hôn là một nội dung quan trọng trong pháp luật về hôn nhân và gia
đình ở Việt Nam nên đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà
khoa học. Với các góc độ nghiên cứu khác nhau, các công trình khoa học
được thể hiện dưới nhiều hình thức phong phú, từ giáo trình, sách chuyên
khảo, luận văn, luận án cho đến các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên
ngành luật học. Tiêu biểu phải kể đến các công trình nghiên cứu sau:
Nhóm giáo trình, sách chuyên khảo: có một số công trình tiêu biểu như
“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”
(Nguyễn Văn Cừ - Ngô Thị Hường, 2002, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội);
“Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” (Nguyễn Ngọc
Điện, 2002, NXB Trẻ, TP.Hồ Chí Minh); “Bình luận khoa học Luật hôn nhân
và gia đình Việt Nam” (Đinh Thị Mai Phương – chủ biên, 2004, NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội); Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
(Trường đại học Luật Hà Nội)… Những công trình này đưa ra các vấn đề lý
luận cũng như bình luận, đánh giá những quy định về ly hôn theo Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000 trong khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã
sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về ly hôn.
Nhóm luận văn, luận án: “Hậu quả pháp lý của ly hôn theo luật hôn
nhân và gia đình Việt Nam năm 2000” (Nguyễn Viết Thái, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, 2013); “Ly hôn – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (Cao Mai Hoa,
Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2014); “Căn cứ ly hôn – một số vấn đề lý luận và


3
thực tiễn tại tỉnh Lạng Sơn” (Nông Thị Nhung, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
2014); “Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” ( Nguyễn
Thị Tuyết Mai, Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2015); “Áp dụng pháp luật trong
giải quyết ly hôn trên địa bàn tỉnh Điện Biên” (Nguyễn Thị Nga, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, 2016).
Nhóm các bài viết trên các tạp chí: “Một số vấn đề về chia tài sản
chung của vợ chồng khi ly hôn”(ĐỗVăn Nhật, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật,
Số 3/2012); “Một số ý kiến về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng
theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014”(Hoàng Thị Hải Yến, Tạp chí Dân
chủ và Pháp luật,Số 9/2016);“Quyền con người trong ly hôn theo pháp luật
hôn nhân và gia đình Việt Nam”(Ngô Thanh Hương, Tạp chí Kiểm sát, Số
11/2016)…
Các bài viết đều nghiên cứu một số nội dung liên quan đến vấn đề ly
hôn nhưng chưa phản ánh toàn diện mà chỉ đề cập đến một số khía cạnh nhất
định nên việc nghiên cứu đề tài của luận văn là cần thiết. Nghiên cứu các quy
định về chế định ly hôn theo pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp
dụng tại một Tòa án cụ thể, luận văn đã tổng hợp, phân tích những kết quả đạt
được và những hạn chế còn tồn tại để có những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện
chế định ly hôn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành về ly hôn và thực tiễn thi hành pháp luật về giải quyết ly hôn tại
Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là vấn đề ly hôn theo pháp luật Việt Nam
hiện hành, đề tài không bao gồm giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài và
không đi sâu nghiên cứu trình tự, thủ tục tố tụng về ly hôn. Đề tài đánh giá,
phân tích thực tiễn giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Ba Vì thông


4
qua các bản án, quyết định trong 03 năm, từ năm 2015 đến năm 2017 và 06
tháng đầu năm 2018.
4. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
4.1.Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về ly hôn và thực tiễn giải quyết ly
hôn tại Tòa án. Qua đó phát hiện những vấn đề còn bất cập trong các quy định
của pháp luật cũng như những vướng mắc trong thực tiễn giải quyết nhằm
kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật về ly hôn, nâng cao chất lượng
giải quyết ly hôn của Toà án.
4.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về ly hôn
- Nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về ly hôn.
- Nghiên cứu thực tiễn giải quyết ly hôn theo pháp luật Việt Nam hiện
hành của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về
ly hôn và nâng cao chất lượng giải quyết ly hôn của Tòa án.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài luận
văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; Tư tưởng Hồ Chí Minh
về gia đình và đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, việc
nghiên cứu đề tài cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên
ngành như lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê để làm sáng tỏ vấn
đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Về mặt khoa học, luận văn đã tổng hợp, phân tích, đánh giá một số vấn
đề về chế định ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và qua
dẫn chứng thực tiễn áp dụng giải quyết vụ việc ly hôn đã chỉ ra được những
hạn chế còn tồn tại, đồng thời đề xuất những giải pháp khắc phục. Luận văn


5
có thể là tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu khác có cùng nội
dung hoặc sẽ có giá trị tham khảo nhất định trong quá trình xem xét, hoàn
thiện pháp luật về ly hôn.
Về mặt thực tiễn, luận văn sẽ góp phần phổ biến pháp luật và là tài liệu
tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành về ly hôn, chủ thể nào có quyền yêu cầu ly hôn, căn cứ ly hôn trong
các trường hợp ly hôn và các hậu quả pháp lý khi hai vợ chồng ly hôn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
chương:
Chương 1: Ly hôn theo pháp luật Việt Nam hiện hành.
Chương 2: Thực tiễn giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Ba Vì và
một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về ly hôn, nâng cao chất lượng giải
quyết vụ việc ly hôn tại Tòa án.


6
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VỀ LY HÔN
1.1. Một số khái niệm chung về ly hôn
1.1.1. Khái niệm ly hôn
Khi cuộc hôn nhân không còn giữ được ý nghĩa như ban đầu, việc ly
hôn là cần thiết để giải phóng cho vợ, chồng khỏi những mâu thuẫn sâu sắc
mà họ không thể tự giải quyết được. Theo Lê-nin: “Thực ra tự do ly hôn tuyệt
không có nghĩa là làm “tan rã” những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó
củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy
nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh” bởi bản chất ly hôn
“chỉ là việc xác nhận một sự kiện: Cuộc sống hôn nhân này là cuộc sống hôn
nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối. Đương nhiên,
không phải sự tùy tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tùy tiện của
những cá nhân, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được cuộc hôn
nhân đã chết hoặc chưa chết, bởi vì, như mọi người đã biết, việc xác nhận sự
kiện chết tùy thuộc vào thực chất của vấn đề, chứ không phải vào nguyện
vọng của những bên hữu quan”.1 Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng việc
giải quyết ly hôn là tất yếu khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, tình
cảm vợ chồng đã thực sự tan vỡ. Tuy nhiên, ly hôn không thể tiến hành một
cách tùy tiện mà phải đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước bởi ly hôn
không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ vợ chồng mà còn ảnh hưởng đến
quyền, lợi ích của các con cũng như lợi ích xã hội. Việc đưa ra khái niệm đầy
đủ về ly hôn có ý nghĩa quan trọng và trong các công trình nghiên cứu đã có
nhiều khái niệm về ly hôn được đưa ra.

1

C. Mác(1978), “Bản dự luật về li hôn”, C. Mác - Ph. Ăngghen toàn tập, Tập 1, Nxb. Sự thật,
Hà Nội, tr. 220


7
Về mặt ngôn ngữ, giáo sư Nguyễn Lân định nghĩa: “Li hôn là vợ chồng
bỏ nhau”2. Đây là một cách hiểu thông thường, đơn giản nhưng không mang
tính pháp lý bởi việc vợ chồng bỏ nhau không đương nhiên được công nhận là
đã ly hôn.
Dưới góc độ pháp lý, theo từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý
– Bộ Tư pháp thì “Li hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa án nhân dân
công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ
chồng.”3 Đây là định nghĩa thể hiện được bản chất pháp lý của ly hôn, xác
định ly hôn làm chấm dứt quan hệ vợ chồng, cơ quan có thẩm quyền giải
quyết là Tòa án và chủ thể có quyền yêu cầu là vợ, chồng hoặc cả hai vợ
chồng. Đứng trên quan điểm tiến bộ của chủ nghĩa Mác – Lênin, pháp luật
hôn nhân và gia đình Việt Nam có những quy định cụ thể về ly hôn. Khoản 8
Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định “Ly hôn là chấm dứt
quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ
hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng”. Khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014 quy định “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”. Có thể nhận thấy hai cách
định nghĩa này về bản chất pháp lý là giống nhau, tuy nhiên, Luật hôn nhân và
gia đình năm 2014 đã mở rộng chủ thể có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn,
theo đó, không chỉ vợ, chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn.
Các khái niệm về ly hôn mang tính pháp lý tạo cơ sở lý luận cho việc
xác định bản chất của ly hôn, xác định nội dung, phạm vi điều chỉnh của các
quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình về vấn đề ly hôn cũng như các vấn đề
phát sinh khác từ ly hôn. Theo tác giả, có thể đưa ra khái niệm ly hôn như
sau: “Ly hôn là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án,
quyết định có hiệu lực của Tòa án trên cơ sở căn cứ ly hôn theo luật định.”
2

Nguyễn Lân (2006), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb.Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ
Chí Minh, tr.1057
3
Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, Hà Nội,
tr.460


8
1.1.2. Khái niệm quyền ly hôn
Quyền ly hôn là quyền con người được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận
tại Điều 36: “ Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn”. Khi mục đích hôn nhân mà
cả hai vợ chồng hoặc một bên vợ, chồng hướng đến không đạt được, không
thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung thì vợ, chồng có quyền ly hôn. Trong
pháp luật dân sự, Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Cá nhân có
quyền kết hôn, ly hôn…” và quyền ly hôn là quyền nhân thân gắn liền với mỗi
cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác theo quy định tại Điều 25 Bộ
luật dân sự năm 2015. Như vậy, chỉ những người là vợ chồng hợp pháp của
nhau mới có quyền ly hôn.
Quyền ly hôn khác với quyền yêu cầu ly hôn, quyền ly hôn là quyền tự nhiên
có ngay từ khi vợ chồng kết hôn, là quyền dân sự tuyệt đối không bị hạn chế,
bất kể chủ thể nào cũng có quyền ly hôn cho dù có hay không có đủ năng lực
hành vi dân sự.
Có thể hiểu “quyền ly hôn là quyền được chấm dứt quan hệ hôn nhân trước
pháp luật của vợ, chồng”.
1.1.3. Khái niệm căn cứ ly hôn
Trong xã hội có giai cấp, ly hôn là hiện tượng xã hội mang tính giai
cấp. Ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị bằng pháp luật quy
định chế độ hôn nhân phải phù hợp với ý chí Nhà nước, trong đó quy định
những điều kiện xác lập quan hệ hôn nhân và những điều kiện, căn cứ chấm
dứt quan hệ hôn nhân. Pháp luật của Nhà nước tư sản coi hôn nhân như một
hợp đồng dân sự nên việc chấm dứt hôn nhân cũng như chấm dứt hợp đồng
và dựa vào lỗi của các bên. Pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa giải
quyết ly hôn dựa vào thực chất của quan hệ vợ chồng, trên cơ sở đánh giá một
cách khách quan. Như vậy, căn cứ ly hôn do Nhà nước quy định, phụ thuộc vào
ý chí của Nhà nước cầm quyền và phản ánh bản chất của giai cấp thống trị.
Quan hệ hôn nhân không những liên quan đến lợi ích riêng tư của vợ,
chồng, gia đình mà còn ảnh hưởng đến lợi ích chung của nhà nước, xã hội; do


9
vậy, ý chí của vợ, chồng không phải là điều kiện quyết định để chấm dứt quan
hệ hôn nhân. Pháp luật ghi nhận vợ chồng có quyền tự do ly hôn nhưng không
phải tự do một cách tùy tiện mà phải đặt dưới sự kiểm soát của Nhà nước. Tòa
án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền ra phán quyết bằng bản án hoặc quyết
định chấm dứt quan hệ vợ chồng; Tòa án giải quyết ly hôn phải dựa trên cơ sở
những dấu hiệu trong căn cứ luật định. Biểu hiện ra bên ngoài của quan hệ vợ
chồng tan vỡ rất đa dạng, cần căn cứ vào nhiều biểu hiện khác nhau để xem
xét, đánh giá khách quan tình trạng hôn nhân.
Có thể đưa ra khái niệm căn cứ ly hôn như sau: Căn cứ ly hôn là những tình
tiết, điều kiện do pháp luật quy định mà khi có những tình tiết, điều kiện đó thì
Tòa án mới ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc ra bản án ly hôn.
1.1.4. Khái niệm hậu quả pháp lý của ly hôn
Việc Tòa án xét xử cho ly hôn theo yêu cầu của một bên hoặc công
nhận thuận tình ly hôn sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lý nhất định cho vợ
chồng, con cái. Do đó, trong quá trình giải quyết, Tòa án phải đánh giá một
cách khách quan, công bằng để đưa ra phán quyết và các bên liên quan phải
có trách nhiệm tôn trọng phán quyết đó. Về mặt pháp lý, khi Tòa án quyết
định cho vợ chồng ly hôn sẽ dẫn tới các hậu quả sau:
+ Quan hệ vợ chồng về nhân thân được chấm dứt.
+ Tài sản chung của vợ chồng chấm dứt. Tài sản chung được chia cho mỗi
bên vợ, chồng và trở thành tài sản riêng của mỗi người.
+ Nếu vợ chồng đã có con chung thì phải giải quyết việc giao con cho ai nuôi
dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi
dân sự và cấp dưỡng nuôi con.
+Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn được đặt ra nếu một bên
vợ hoặc chồng khó khăn, túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng.
Có thể hiểu: “Hậu quả pháp lý của ly hôn là những nội dung sự việc mà Tòa
án phải giải quyết khi xét xử cho vợ chồng ly hôn, bao gồm: Chấm dứt quan
hệ vợ chồng trước pháp luật; chia tài sản chung của vợ chồng, xác định


10
người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng; giải quyết việc cấp dưỡng giữa
vợ chồng khi có yêu cầu.”
1.2. Quyền yêu cầu ly hôn
1.2.1. Quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng
Pháp luật công nhận cho nam, nữ quyền quyết định việc kết hôn thì
cũng quy định cho vợ, chồng quyền yêu cầu ly hôn để chấm dứt quan hệ hôn
nhân. Trên cơ sở kế thừa các luật hôn nhân và gia đình trước, Luật hôn nhân
và gia đình năm 2014 tiếp tục quy định vợ, chồng có quyền yêu cầu ly hôn tại
Khoản 1 Điều 51: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án
giải quyết ly hôn”. Khi vợ chồng nhận thức rõ ràng về tình trạng hôn nhân đã
trầm trọng và không thể tiếp tục cuộc sống chung thì họ có quyền yêu cầu Tòa
án giải quyết ly hôn. Trường hợp vợ, chồng cùng yêu cầu ly hôn thì Tòa án sẽ
giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; trường hợp một bên vợ hoặc
chồng yêu cầu ly hôn thì Tòa án sẽ giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một
bên. Sự tự nguyện không chỉ thể hiện trong việc kết hôn mà còn thể hiện cả
trong việc tồn tại hôn nhân; kể cả khi cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc
nhưng cả hai vợ chồng không muốn ly hôn thì không ai có quyền buộc họ
phải ly hôn.
1.2.2. Quyền yêu cầu ly hôn của người thứ ba
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tại Khoản 2 Điều 51 đã quyền yêu
cầu ly hôn của người thứ ba, cụ thể là cha, mẹ, người thân thích khác của một
bên vợ, chồng: “Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải
quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác
mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn
nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm
trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ”. Đây là một trong những
điểm tiến bộ của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nhằm bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà
không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Theo Khoản 19 Điều 3


11
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: “Người thân thích là người có quan
hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ
trong phạm vi ba đời”. Như vậy, có rất nhiều chủ thể có quyền yêu cầu ly hôn
trong trường hợp này. Khi quy định về quyền yêu cầu ly hôn, Khoản 2 Điều
51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã tách cha, mẹ ra khỏi những người
thân thích khác nên có thể hiểu quyền yêu cầu ly hôn được ưu tiên trao cho
cha, mẹ của bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà
không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân
của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng
đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ. Tuy nhiên, pháp luật hôn nhân và
gia đình lại không quy định rõ cha, mẹ ở đây được hiểu là cha đẻ, mẹ đẻ hay
cả cha nuôi, mẹ nuôi; cha vợ, mẹ vợ; cha chồng, mẹ chồng.
Không phải tất cả các trường hợp vợ, chồng bị tâm thần hoặc mắc bệnh
khác không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì cha, mẹ, người thân thích
đều có quyền yêu cầu ly hôn. Cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ,
chồng có quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn khi có đủ ba yếu tố: Một là
một bên vợ hoặc chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không
thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; hai là bên vợ hoặc chồng đó
là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra; ba là tính
mạng, sức khoẻ, tinh thần của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu
thiếu một trong ba yếu tố đó thì cha, mẹ, người thân thích khác của vợ, chồng
không có quyền yêu cầu ly hôn. Để được Tòa án chấp nhận yêu cầu thì cha,
mẹ, người thân thích phải đưa ra được các chứng cứ sau: Kết luận giám
định pháp y tâm thần chứng minh cho người vợ hoặc chồng bị bệnh tâm
thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của
mình; Nhân chứng hoặc các văn bản xác nhận có hành vi bạo lực gia đình
chứng minh cho việc bên vợ hoặc chồng đó là nạn nhân của bạo lực gia đình
do chồng hoặc vợ của họ gây ra; Kết luận về giám định pháp y thương tích để
chứng minh rằng những thương tích của nạn nhân là kết quả của hành vi bạo


12
lực do chồng hoặc vợ họ gây ra và vì những thương tích đó mà tính mạng,
sức khoẻ, tinh thần của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Như vậy, cha,
mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng bị mắc bệnh tâm thần hoặc
bệnh khác không nhận thức và làm chủ được hành vi có thể sẽ gặp nhiều khó
khăn khi cung cấp chứng cứ bởi để có được các bản kết luận trên thì họ sẽ
phải mất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc.
1.2.3. Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng
Quyền yêu cầu ly hôn là bình đẳng đối với cả vợ và chồng. Trong suốt
thời kỳ hôn nhân, nếu có căn cứ ly hôn, vợ, chồng đều có quyền ly hôn như
nhau, không ai được cưỡng ép, lừa dối, cản trở vợ, chồng hoặc cả hai vợ
chồng thực hiện quyền ly hôn. Tuy nhiên, xuất phát từ nguyên tắc giúp đỡ các
bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ được quy định tại Khoản
4 Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên quyền yêu cầu ly hôn của
người chồng bị hạn chế trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi
con dưới 12 tháng tuổi bởi trong thời kỳ mang thai, sinh con và nuôi con dưới
12 tháng tuổi, người mẹ thường có sự thay đổi nhất định về tâm sinh lý theo
chiều hướng tiêu cực cũng như sự ảnh hưởng ít nhiều đến sức khỏe cho nên
rất cần sự quan tâm, chia sẻ của người chồng và việc hạn chế quyền yêu cầu
ly hôn sẽ chấm dứt khi người vợ đã qua các thời kỳ này.
Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra hiện nay và còn có nhiều quan điểm đó là
trường hợp vợ chồng cùng thuận tình ly hôn thì người chồng có quyền yêu
cầu ly hôn hay không? Quan điểm thứ nhất cho rằng trường hợp người vợ
đang có thai, đang sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi mà hai vợ
chồng lại có đơn yêu cầu thuận tình ly hôn, thỏa thuận được việc chia tài sản
và vấn đề nuôi con chung (nếu đã có) thì Tòa án không thụ lý việc thuận tình
ly hôn bởi nếu thụ lý đơn thuận tình ly hôn để giải quyết việc ly hôn thuận
tình, vô hình chung đã đồng nhất với việc thừa nhận người chồng có quyền
yêu cầu ly hôn khi người vợ đang có thai, đang sinh con hoặc đang nuôi con


13
dưới 12 tháng tuổi4. Quan điểm thứ hai cho rằng mục đích của việc hạn chế
quyền yêu cầu ly hôn của người chồng trong trường hợp người vợ đang có
thai, đang sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi là nhằm bảo vệ bà
mẹ và trẻ em; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người
mẹ. Khi người vợ thuận tình ly hôn tức là họ mong muốn chấm dứt quan hệ
hôn nhân và không muốn duy trì cuôc sống chung nên việc hạn chế quyền yêu
cầu ly hôn của người chồng trong trường hợp này là không cần thiết. Đây là
quan điểm được đa số Thẩm phán đồng ý và áp dụng trên thực tế. Tác giả
đồng ý với quan điểm thứ hai bởi suy cho cùng, việc hạn chế quyền yêu cầu
ly hôn của người chồng là nhằm bảo vệ cho người vợ; hơn ai hết, người vợ là
người hiểu rõ nhất tình trạng của cuộc hôn nhân, khi quyết định ly hôn thì họ
đã nhận định việc ly hôn có ảnh hưởng tốt cho họ hơn là tiếp tục duy trì quan
hệ hôn nhân. Trong thời gian người vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con
dưới 12 tháng tuổi, nếu xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã sâu sắc, mục đích
hôn nhân không đạt được, việc tiếp tục duy trì hôn nhân sẽ gây bất lợi cho
quyền lợi người vợ, ảnh hưởng đến sức khỏe của người vợ, thai nhi hoặc trẻ
sơ sinh mà người vợ có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ
tục chung.
Thứ nhất, trường hợp người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn khi
người vợ đang có thai.
Việc xác định trạng thái có thai của người vợ dựa trên cơ sở sinh học
thông qua quá trình thụ thai và phát triển của trứng để thành thai nhi. Hiện
nay, do sự phát triển vượt bậc của y học nên con người đã can thiệp vào quá
trình thụ tinh. Sự thụ tinh có thể diễn ra trong cơ thể người phụ nữ hoặc có
thể diễn ra trong phòng thí nghiệm (gọi là thụ tinh trong ống nghiệm). Tuy
nhiên, quá trình phát triển của trứng để thành thai nhi nhất định phải diễn ra
trong cơ thể người phụ nữ. Do vậy, đối với các trường hợp thông thường,
4

Hoàng Thị Hải Yến, “Một số ý kiến về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng theo Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014, tcdcpl.moj.gov.vn, ngày truy cập 10/07/2018


14
người vợ có khả năng mang thai thì dù sự thụ tinh diễn ra trong cơ thể của họ
hay trong ống nghiệm rồi được cấy vào tử cung của họ (thành công) thì họ
đều được xác định là đang có thai. Khi đó, việc xác định chồng của họ không
có quyền yêu cầu ly hôn là hoàn toàn có cơ sở5. Đối với trường hợp người
phụ nữ mang thai là kết quả của quá trình tự nhiên thì việc xác định người
phụ nữ đang mang thai có thể dựa trên các yếu tố sinh học như cơ thể người
phụ nữ có những biến đổi nhất định, trọng lượng cơ thể tăng nhanh, trọng
lượng cơ thể tăng nhanh, phần bụng phát triển do chứa đựng bào thai…hay
dựa vào kết quả y khoa như kết quả xét nghiệm, kết quả siêu âm chẩn đoán
hình ảnh.
Đối với những trường hợp mà người vợ không thể mang thai vì một lý
do nào đó nên nhờ người khác mang thai hộ thì việc hạn chế quyền yêu cầu ly
hôn của người chồng vẫn chưa được quy định rõ. Nếu người chồng của bên
nhờ mang thai hộ yêu cầu ly hôn khi đứa trẻ chưa được sinh ra thì Tòa án có
được chấp nhận yêu cầu ly hôn của họ không, bởi vì người vợ của bên nhờ
mang thai hộ trong trường hợp này không mang thai và họ chỉ có quyền và
nghĩa vụ đối với đứa trẻ từ thời điểm đứa trẻ được sinh ra. Theo quan điểm
tác giả, trường hợp người chồng của bên nhờ mang thai hộ yêu cầu ly hôn khi
đứa trẻ chưa được sinh ra thì vấn đề hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người
chồng không nên đặt ra để bảo đảm bình đẳng về mặt pháp lý giữa hai vợ
chồng, vì lúc này người vợ trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ không ở
trong trạng thái mang thai. Quan hệ hôn nhân của cặp vợ chồng nhờ mang
thai hộ sẽ chấm dứt trước khi đứa trẻ chào đời. Nếu đứa trẻ được sinh ra và
còn sống thì sẽ giải quyết vấn đề ai là người trực tiếp nuôi con cũng như mức
cấp dưỡng đối với bên không trực tiếp nuôi con. Đối với chồng của người
mang thai hộ thì họ đương nhiên bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn bởi về mặt

5

Ngô Thị Hường (2015), “Quyền yêu cầu li hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014”, Tạp
chí Luật học, số 12, tr.42


15
sinh học người vợ đang mang thai và họ có quyền, nghĩa vụ như cha trong
việc chăm sóc sức khỏe sinh sản mặc dù đứa trẻ không phải là con của họ.
Thứ hai, trường hợp người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn khi
sự kiện sinh đẻ của người vợ chưa đủ 12 tháng. Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014 quy định bổ sung trường hợp người chồng bị hạn chế quyền yêu
cầu ly hôn khi người vợ sinh con. Tuy nhiên, trong trường hợp này, quyền
yêu cầu ly hôn của người chồng cần được hiểu là bị hạn chế không chỉ vào
thời điểm người vợ sinh con mà kéo dài cho đến khi sự kiện sinh đẻ được 12
tháng bởi quá trình sinh con chỉ xảy ra trong một khoảng thời gian. Việc hạn
chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng chỉ trong khoảng thời gian diễn ra
sự kiện sinh đẻ thì không có ý nghĩa bởi việc sinh con ảnh hưởng rất lớn đến
sức khỏe và tinh thần của người vợ sau đó. Có những trường hợp người vợ
sinh con nhưng không được nuôi con như đứa trẻ qua đời vì một lý do nào đó
khi chưa đủ 12 tháng tuổi hoặc trường hợp mang thai hộ. Người vợ về tâm
sinh lý và thể chất khi ấy đều trong hoàn cảnh hết sức nhạy cảm, việc xin ly
hôn của người chồng vào thời điểm này có thể gây suy giảm sức khỏe về cả
thể xác lẫn tinh thần, có khả năng ảnh hưởng tính mạng của người vợ.
Thứ ba, trường hợp người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn khi
người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Không chỉ riêng đối với người mẹ
mà những đứa trẻ trong một năm đầu đời cũng rất cần có sự yêu thương,
chăm sóc của cả cha và mẹ. Pháp luật hôn nhân và gia đình hạn chế quyền
yêu cầu ly hôn của người chồng khi người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng
tuổi mà không phân biệt người con dưới 12 tháng tuổi là con chung, con riêng
hay con nuôi của một bên vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng. Con chung là con
do người vợ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc trước ngày đăng ký kết hôn
mà được thừa nhận là con chung của vợ chồng. Con sinh ra trong trường hợp
mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai
hộ kể từ thời điểm đứa trẻ được sinh ra. Như vậy, trong trường hợp người vợ
của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì


16
người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn. Trường hợp người con dưới 12
tháng tuổi là con riêng của vợ hoặc con riêng của chồng đang do người vợ
chăm sóc, nuôi dưỡng thì người chồng cũng bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn.
Trường hợp người con dưới 12 tháng tuổi là con nuôi của vợ chồng thì người
chồng cũng bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn. Việc áp dụng Khoản 3 Điều 51
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho tất cả các trường hợp sinh đẻ tự
nhiên, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng như nhận nuôi con nuôi sơ
sinh là phù hợp, tránh cách hiểu có sự đối xử phân biệt trong trường hợp sinh
đẻ tự nhiên với mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và nhận nuôi con nuôi.
1.3. Áp dụng căn cứ ly hôn trong các trường hợp ly hôn theo luật định
Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định căn cứ ly hôn trên cơ sở bản chất
của ly hôn và để phù hợp với yêu cầu của thực tiễn áp dụng, Luật hôn nhân
gia đình năm 2014 quy định những căn cứ ly hôn riêng áp dụng cho từng
trường hợp ly hôn khác nhau.
1.3.1. Căn cứ ly hôn áp dụng cho trường hợp thuận tình ly hôn
Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường
hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly
hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì
Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa
thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án
giải quyết việc ly hôn”.
Thuận tình ly hôn là trường hợp cả hai vợ chồng cùng yêu cầu được
chấm dứt hôn nhân bằng đơn thuận tình ly hôn của vợ chồng. Trong thời hạn
chuẩn bị xét đơn yêu cầu, trước khi tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ,
khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản
lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia
đình, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và nguyện vọng của vợ, chồng, con có
liên quan đến vụ án; trường hợp đơn và các tài liệu, chứng cứ cung cấp đã có


17
đủ cơ sở để xác định thì không phải thu thập thêm. Khi giải quyết đơn yêu cầu
thuận tình ly hôn thì việc hòa giải để vợ chồng đoàn tụ với nhau là thủ tục bắt
buộc phải tiến hành. Sau khi tiến hành hòa giải, căn cứ vào kết quả hòa giải để
Thẩm phán ra quyết định phù hợp. Nếu vợ chồng đoàn tụ với nhau thì Thẩm
phán ra quyết định đình chỉ giải quyết việc yêu cầu. Trường hợp hòa giải đoàn
tụ không thành và các đương sự thỏa thuận được việc chia tài sản, việc trông
nom, chăm sóc, giáo dục con thì Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly
hôn và sự thỏa thuận của các đương sự khi có đầy đủ các điều kiện:
Điều kiện thứ nhất: Cả hai vợ chồng thật sự tự nguyện ly hôn. Bảo
đảm “thật sự tự nguyện ly hôn” là cả hai vợ chồng đều được tự do bày tỏ ý
chí của mình mong muốn chấm dứt quan hệ vợ chồng qua việc cùng yêu cầu
ly hôn và không bên nào bị cưỡng ép hoặc lừa dối. Mong muốn chấm dứt
quan hệ hôn nhân của vợ chồng phải xuất phát từ thực trạng không còn tình
cảm, không muốn tiếp tục chung sống chứ không phải nhằm trốn tránh nghĩa
vụ tài sản hoặc các mục đích khác không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.
Sự tự nguyện ly hôn là điều kiện cần thiết để Tòa án công nhận thuận tình ly
hôn; Tòa án không thể cưỡng ép vợ chồng duy trì quan hệ hôn nhân khi mà
thực tế cuộc hôn nhân của họ đã tan vỡ.
Điều kiện thứ hai: Vợ chồng đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc
trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi
chính đáng của vợ và con. Bởi hậu quả pháp lý của ly hôn là làm chấm dứt
chế độ tài sản vợ chồng, làm thay đổi cách thức thực hiện quyền và nghĩa vụ
của vợ chồng đối với con, do đó, vợ chồng thuận tình ly hôn mà họ tự thỏa
thuận được với nhau về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì
Tòa án mới công nhận thuận tình ly hôn cho họ. Đối với trường hợp sự thỏa
thuận của vợ chồng không đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ về phân chia
tài sản thì vợ chồng sẽ không được Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Pháp
luật quy định như vậy nhằm đảm bảo quyền lợi cho người vợ (thường là bên


18
yếu thế trong việc tạo ra thu nhập, tài sản gia đình) nhưng tuy nhiên có nhiều
trường hợp trên thực tế, người vợ mong muốn chấm dứt cuộc hôn nhân càng
sớm càng tốt mà không cần quyền lợi về tài sản. Khi đó, nếu Tòa án không
giải quyết ly hôn với lý do sự thỏa thuận giữa vợ chồng về tài sản không đảm
bảo quyền lợi chính đáng cho người vợ thì sẽ đi ngược với mong muốn của
chính họ. Theo Khoản 1 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, việc
trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chỉ đặt ra trong các trường
hợp: con chưa thành niên, con đã thành niên bị mất năng lực hành vi dân sự
hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà cha
mẹ là người có quyền, nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Thỏa thuận của vợ chồng về việc phân chia quyền, nghĩa vụ đối với con phải
dựa trên điều kiện và khả năng thực hiện quyền, nghĩa vụ của bên vợ hoặc
chồng nhận thực hiện quyền, nghĩa vụ đó.
Khác với căn cứ ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình
năm 2000, khi xem xét cho thuận tình ly hôn, Tòa án không phải xem xét đến
dấu hiệu thực trạng cuộc hôn nhân đó đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời
sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được mà
theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Tòa án chỉ xem xét
đến sự tự nguyện và thỏa thuận về tài sản, con cái của hai vợ chồng. Quy định
này nhằm tôn trọng ý chí tự định đoạt của vợ chồng trong việc chấm dứt quan
hệ hôn nhân. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều vợ chồng đã thuận tình ly hôn
nhằm mục đích tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ về tài sản.
Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành và các đương sự không thỏa
thuận được về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục con thì Thẩm phán đình chỉ giải quyết việc dân sự về công nhận thuận
tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và thụ lý vụ án để giải
quyết. Trong trường hợp này, quan hệ vợ chồng về bản chất đã tan vỡ, các
bên chỉ có tranh chấp trong việc giải quyết hậu quả pháp lý của ly hôn.
Chuyển từ việc sang vụ để giải quyết toàn bộ quan hệ ly hôn bao gồm quan hệ


19
nhân thân vợ chồng, quan hệ đi kèm là chia tài sản, trông nom, nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục con đã tạo thuận lợi cho công dân không phải thực hiện lại
thủ tục từ đầu.
1.3.2. Căn cứ ly hôn áp dụng cho trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một
bên vợ hoặc chồng
Theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, có hai căn cứ ly
hôn áp dụng cho trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng.
Căn cứ thứ nhất: Vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm
nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình
trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân
không đạt được.
Theo đó, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bạo lực gia đình
hoặc hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng với tình
trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân
không đạt được.
*Hành vi bạo lực gia đình là nguyên nhân dẫn đến hôn nhân lâm vào
tình trạng trầm trọng khi:
- Hành vi bạo lực gia đình phải là hành vi cố ý bởi theo Khoản 2 Điều 1
Luật phòng chống bạo lực gia đình thì bạo lực gia đình là hành vi cố của
thành viên trong gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể
chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình. Vợ, chồng khi
thực hiện những hành vi bạo lực gia đình ý thức được rõ ràng hành vi của
mình có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên
khác trong gia đình hay tại thời điểm thực hiện hành vi, họ phải là những
người có năng lực hành vi dân sự. Nếu có hành vi gây tổn hại nhưng không
phải cố ý do vợ, chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thực hiện thì
không phải là hành vi bạo lực gia đình.
- Hành vi bạo lực gia đình là các hành vi được quy định tại Khoản 1
Điều 2 Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007, bao gồm: Hành hạ,


20
ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm; Cô lập, xua
đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà
và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
Cưỡng ép quan hệ tình dục; Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc
cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có
hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia
đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; Cưỡng ép thành viên gia
đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu
nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
- Hành vi bạo lực gia đình phải do một bên vợ hoặc chồng gây ra; tác
động trực tiếp hoặc gián tiếp đến vợ, chồng làm cho quan hệ hôn nhân lâm vào
tình trạng trầm trọng và vợ chồng không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung.
Để đánh giá mức độ trầm trọng của tình trạng hôn nhân, cần phải xem xét mâu
thuẫn của vợ, chồng trong cả một quá trình chứ không phải chỉ một vài thời
điểm, để thấy cuộc hôn nhân đã thực sự tan vỡ, không thể cứu vãn được.
*Hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng là
nguyên nhân dẫn đến hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng khi:
- Những hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng quy định
quyền và nghĩa vụ của vợ chồng tại Chương III từ Điều 17 đến Điều 50 của
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là những hành vi vi phạm quyền, nghĩa
vụ vợ chồng. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có văn bản nào quy định về
căn cứ cụ thể cho mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm quyền, nghĩa vụ
của vợ, chồng. Có những hành vi vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng là bình
thường đối với người này nhưng lại là rất nghiêm trọng, không thể tha thứ đối
với người khác nên việc đánh giá tính nghiêm trọng của hành vi vi phạm


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×