Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu_Tác dụng và khả năng dung nạp của Irbesartan so với Enalapril trên bệnh nhân tăng huyết áp nặng

Tác dụng và khả năng dung nạp của Irbesartan so với
Enalapril trên bệnh nhân tăng huyết áp nặng
Thứ tư, 21 Tháng 4 2010 14:38
Bệnh nhân tăng huyết áp nặng có nguy cơ cao trước mắt gặp các biến chứng tim mạch và cần
điều trị suốt đời. Những bệnh nhân này đặc biệt khó điều trị và thường cần các liệu pháp gồm
nhiều thuốc.1 Ức chế sự tổng hợp angiotensin II là
Pierre Larochelle, John M. Flack,
Thomas C. Marbury, Pinhas Sareli, Eduardo M. Krieger & Richard A. Reeves,
thay mặt Nhóm Nghiên cứu Đa trung tâm Irbesartan
Tài liệu do Sanofi-Aventis cung cấp
Bệnh nhân tăng huyết áp nặng có nguy cơ cao trước mắt gặp các biến chứng tim mạch và cần
điều trị suốt đời. Những bệnh nhân này đặc biệt khó điều trị và thường cần các liệu pháp gồm
nhiều thuốc.1 Ức chế sự tổng hợp angiotensin II là một phương pháp được chứng minh có hiệu
quả kiểm soát huyết áp (HA) cao, kể cả tăng huyết áp nặng.2,3 Tuy nhiên, thuốc ức chế men
chuyển (ƯCMC) có các tác dụng phụ bao gồm ho khan dai dẳng.4 Có thể cản trở hoạt tính của
hệ thống renin-angiotensin một cách chuyên biệt hơn bằng các thuốc như irbesartan, một thuốc
đối kháng thụ thể angiotensin II mới có tác dụng ức chế chọn lọc thụ thể AT1.5 Irbesartan có
chung đặc tính được dung nạp rất tốt của các thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II khác6-9 và
hạ thấp HA ở bệnh nhân tăng huyết áp từ nhẹ đến vừa.9 Mục tiêu của nghiên cứu này là so sánh
tác dụng chống tăng áp và khả năng được dung nạp của một phác đồ chứa irbesartan với một
phác đồ chứa enalapril trên bệnh nhân tăng huyết áp nặng.

***
Tất cả bệnh nhân nghiên cứu đều có HA tâm trương khi ngồi trong khoảng từ 115 đến 130
mmHg. Nam giới và phụ nữ vô sinh do phẫu thuật hoặc phụ nữ sau mãn kinh, trên 18 tuổi, có
giấy đồng ý tham gia nghiên cứu, được nhận vào thử nghiệm. Tiêu chí loại ra gồm: các bệnh đi
kèm gây rủi ro về tính an toàn, đồng thời dùng những thuốc có thể gây cản trở sự đánh giá hiệu
quả hoặc độ an toàn (ví dụ những thuốc ảnh hưởng đến HA). Trước khi nghiên cứu, ngưng dùng
thuốc lợi tiểu ít nhất 3 ngày và tất cả các thuốc chống tăng áp khác ít nhất 24 giờ. Bệnh nhân có
HA tâm trương khi ngồi từ 115 đến 130 mmHg được đưa ngay vào giai đoạn mù đôi của nghiên
cứu, trong khi đó bệnh nhân có HA tâm trương khi ngồi <115 mmHg được đưa vào giai đoạn mù
đơn dùng giả dược lên đến 7 ngày. Bệnh nhân được loại ra khỏi nghiên cứu nếu HA tâm trương
khi ngồi <115 mmHg vào ngày 7. Các đối tượng nghiên cứu được phân lô ngẫu nhiên theo tỉ lệ
2:1 để dùng irbesartan (n = 121) hoặc enalapril (n = 61) theo kiểu mù đôi. Bắt đầu điều trị với
viên nang irbesartan 150 mg hoặc enalapril 20 mg mỗi ngày uống một lần. Đến tuần 1, có thể
tăng liều lên 300 mg irbesartan hoặc 40 mg enalapril mỗi ngày một lần nếu HA tâm trương khi
ngồi ³ 106 mmHg, bắt buộc tăng liều ở tuần 2 nếu HA tâm trương khi ngồi ³ 90 mmHg, và cũng
có thể tăng tốc chỉnh liều tùy theo nhận định của nhà nghiên cứu. Sau tuần 4, nếu HA tâm trương
khi ngồi ³ 90 mmHg, dùng thêm thuốc chống tăng áp bổ trợ, công khai tên thuốc, mỗi ngày một
lần (hydrochlorothiazide 25 đến 50 mg/ngày, tiếp theo là nifedipin tác dụng dài 30 đến 60
mg/ngày,
và/hoặc
atenolol
50
đến
100
mg/ngày).
Số đo hiệu quả chính là mức giảm HA tâm trương đáy khi ngồi (24 ± 3 giờ sau khi uống liều
thuốc của ngày hôm trước) từ lúc ban đầu đến tuần 12. Phân tích hiệp phương sai, với các biến


số điều trị, điểm nghiên cứu, và HA ban đầu được dùng để so sánh giữa hai nhóm về mức thay
đổi so với ban đầu của HA đáy khi ngồi và khi đứng. Phép kiểm c2 Cochran-Mantel Haenszel,
được phân tầng theo điểm nghiên cứu, được dùng để so sánh tỉ lệ bệnh nhân được bình thường
hóa HA (HA tâm trương đáy khi ngồi < 90mmHg) ở hai nhóm vào tuần 12. Tỉ lệ bệnh nhân báo
cáo ho, bất kể có liên quan với thuốc nghiên cứu hay không, được so sánh bằng test chính xác
Fisher. Tất cả các test thống kê đều là test 2 phía và được thực hiện ở mức α = 0,05.
***
Các đặc trưng dân số học và HA ban đầu tương tự nhau giữa hai nhóm (Bảng 1). Ở tuần 12, cả
hai phác đồ irbesartan và enalapril đều tạo ra những mức giảm tương tự nhau về HA tâm trương
đáy khi ngồi (theo thứ tự là –29,6 và –30,5 mmHg) và HA tâm thu đáy khi ngồi (theo thứ tự là –
40,1 và –39,3 mmHg). Đến khi kết thúc tuần 1, cả hai nhóm irbesartan và enalapril đều có mức
giảm HA đáy đáng ghi nhận (theo thứ tự là 8/10 và 4/8 mmHg) và dần dần trở nên cực đại vào
khoảng tuần 10 (40/30 mmHg; Hình 1). Các mức giảm HA đáy khi ngồi có xu hướng xảy ra sớm
hơn với phác đồ irbesartan so với phác đồ enalapril (theo thứ tự là 12/13 so với 10/12 mmHg ở
tuần 2 và 23/19 so với 20/17 mmHg ở tuần 4). Các mức giảm HA đáy khi đứng diễn ra theo kiểu
tương tự như đã thấy với các số đo HA khi ngồi (không trình bày số liệu để cho ngắn gọn).

Tỉ lệ bệnh nhân được bình thường hóa (HA tâm trương đáy khi ngồi <90 mmHg) ở tuần 12 là
59% trong nhóm irbesartan và 57% trong nhóm enalapril (p = 0,97). Bệnh nhân dùng irbesartan
có xu hướng đạt HA bình thường sớm hơn so với bệnh nhân dùng enalapril (ví dụ, theo thứ tự ở
tuần 4 là 22% so với 14%). Tổng số người có đáp ứng (HA tâm trương đáy khi ngồi được bình
thường hóa hoặc giảm ³ 10 mmHg so với ban đầu) cũng tương tự nhau ở tuần 12: 100% ở nhóm
irbesartan

98%

nhóm
enalapril.
Ở tuần 1, tất cả bệnh nhân (trừ 1 người ở mỗi nhóm) đều dùng irbesartan hoặc enalapril với liều
thấp hơn, và ở tuần 2 họ vần chỉ dùng những thuốc có hoạt tính này. Ở tuần 4, hydroclorothiazide
bổ trợ được dùng ở khoảng 55% số bệnh nhân ở cả hai nhóm. Ở tuần 12, 9% số bệnh nhân còn
dùng đơn liệu pháp irbesartan và 7% số bệnh nhân còn dùng đơn liệu pháp enalapril, trong khi
đó 24% số bệnh nhân điều trị irbesartan và 18% số bệnh nhân điều trị enalapril chỉ dùng thêm
hydrochlorothiazide bổ trợ. Nhóm irbesartan có ít bệnh nhân cần dung ³ 3 thuốc bổ trợ hơn so
với nhóm enalapril (67% so với 75%) kể từ tuần 6 trở đi cho đến tuần 12.
Tần suất tác dụng phụ là 55% ở nhóm irbesartan và 64% ở nhóm enalapril. Các tác dụng phụ
thường gặp nhất là nhức đầu (19,7% enalapril, 17,4% irbesartan), chóng mặt (18,0% enalapril,
9,1% irbesartan), ho (13,1% enalapril, 2,5% irbesartan; p = 0,007), và nhiễm khuẩn đường hô


hấp trên/cúm (13,1% enalapril, 9,9% irbesartan). Không có những thay đổi quan trọng về mặt
lâm sàng trong các thông số xét nghiệm, kết quả điện tâm đồ hoặc khám thực thể với bất kỳ phác
đồ nào.
***
Nghiên cứu này so sánh hiệu quả và độ an toàn của một phác đồ chứa thuốc đối kháng thụ thể
angiotensin II irbesartan với phác đồ chứa enalapril trên bệnh nhân tăng huyết áp nặng. Một phác
đồ chứa irbesartan 150 đến 300 mg uống mỗi ngày một lần làm giảm HA tâm thu và tâm trương
trên bệnh nhân tăng huyết áp nặng một cách hữu hiệu và an toàn tương tự như một phác đồ dùng
thuốc ƯCMC được sử dụng rộng rãi là enalapril ở liều từ 20 đến 40 mg/ngày. Giảm HA rõ rệt
sớm được nhận thấy từ tuần 1 của điều trị, và đến tuần 12 cả hai phác đồ đều làm giảm HA đáy
được 40/30 mmHg từ trị số trung bình ban đầu là 176/119 mmHg.
Irbesartan được dung nạp tốt ở những liều lên đến 300 mg trên bệnh nhân tăng huyết áp nặng và
kết hợp với một xuất độ tác dụng phụ thấp hơn so với enalapril (55% so với 64%). Ho xảy ra
nhiều hơn một cách có ý nghĩa với enalapril so với irbesartan.(13,1% so với 2,5%; p = 0,007).
Nhữg kết quả này gợi ý rằng irbesartan có khả năng được dung nạp thuận lợi hơn so với các
thuốc ƯCMC. Sự tuân trị kém của bệnh nhân do các tác dụng phụ đi kèm với các thuốc chống
tăng áp hiện có là một trở ngại lớn đối với việc điều trị tăng huyết áp. Người ta đã báo cáo rằng
chỉ 32% số bệnh nhân được điều trị thuốc ƯCMC tiếp tục trị liệu >1 năm và sự tuân trị thậm chí
còn thấp hơn nữa với những thuốc khác (ví dụ thuốc chẹnh kênh calci, thuốc chẹn b, và thuốc lợi
tiểu). Một phác đồ ít phức tạp hơn cũng dẫn đến sự tuân trị tốt hơn, và do vậy sẽ kiểm soát HA
tốt hơn. Phác đồ chứa irbesartan có xu hướng cần ít bước chỉnh liều hơn so với phác đồ enalapril.
Hơn nữa, cũng có xu hướng cho thấy số bệnh nhân cần dùng ³ 3 thuốc bổ trợ ở nhóm điều trị
irbesartan ít hơn so với nhóm điều trị enalapril.


Kết
luận
Một phác đồ chứa thuốc đối kháng thụ thể agiotensin II irbesartan có hiệu quả như phác đồ chứa
thuốc ƯCMC enalapril ở liều tối đa để hạ thấp HA trong tăng huyết áp nặng. Irbesartan có đặc
tính được dung nạp tốt hơn enalapril, được chứng minh bởi một xuất độ tác dụng phụ thấp hơn
và ít ho hơn một cách rõ rệt.
TÀI
LIỆU
THAM
KHẢO
1. The Joint National Committee on Detection, Evaluation, and Treatment of High Blood
Pressure. The fifth report of the Joint National Committee on Detection, Evaluation, and
Treatment of High Blood Pressure (JNCV). Arch Intern Med 1993;153:154-183.
2. Romero R, Castellote E, Ocón J, Wagner B. Controlled multicenter study with quinapril,
hydrochlorothiazide, and combination in patients with moderate to severe hypertension. J
Cardiovasc
Pharmacol
1995;26:114-118.
3. Ruff D, Gazdick LP, Berman R, Goldberg AI, Sweet CS. Comparative effects of
combination druf therapy regimes commencing with either losartan potassium, an angiotensin II
receptor antagonist, or enalapril maleate for the treatment of severe hy[ertension. J Hypertens
1996;14:263-270.
4. Simon SR, Black HR, Moser M, Berland WE. Cough and ACE inhibitors. Arch Intern Med
1992;152:1698-1700.
5. Cazaubon C, Gougat J, Bousquet F, Guiraudou P, Gayraud R, Lacour C. Roccon A, Galindo
G, Barthelemy G, Gautret B, Bernhart C, Perreau P, Breliere J-C, Le Fur G, Nisato D.
Pharmacological characterization of SR 47436, a new nonpeptide AT1, subtype angiotensin II
receptor
antagonist.
J
Pharmacol
Exp
Ther
1993;265:826-834.
6. Golberg AI, Dunlay MC, Sweet CS. Safety and tolerability of losartan potassium, atenolol,
felodipine ER, and angiotensin-converting enzyme inhibitors for the treatment of systemic
hypertension.
Am
J
Cardiol
1995;75:793-795.
7. Holwerda NJ, Fogari R, Angeli P, Porcellati C, Hereng C, Oddon-Stock P, Kealth R, Bodin
F. Valsartan, a new angiotensin II antagonist for the treatment of essential hypertension: efficacy
and safety compared with placebo and enalapril. J Hypertens 1996;14:1147-1151.
8. Ogihara T, Arakawa K, Jimura O, Abe K, Saruta T, Ishii M, Hiwada K, Fujishima M,
Fukiyama J. Open clinical studies on a new angiotensin II receptor antagonist, TCV-116. J
Hypertens
1994;12(suppl
9):S35-S38.
9. van den Meiracker AH, Admiral PJJ, Janssen JA, Kroodsma J-M, de Ronde WAM,
Boomsma F, Sissmann J, Blankestijn PJ, Mulder PGM< Man in’t Veld AJ, Schalekamp MADH.
Hemodynamic and biochemical effects of the AT1 receptor antagonist irbesartan in hypertension.
Hypertension
1995;25:22-29.
10. McCombs JS, Nichol MB, Newman CM, Sclar DA. The costs of interrupting
antihypertensive drug therapy in a Medicaid population. Med Care 1994;32:214-226.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×