Tải bản đầy đủ

Đề tài: Chiến lược quyền chọn

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA NGÂN HÀNG


Đề tài: Chiến lược quyền chọn
GVHD: Ths. Phan Chung Thủy

Tp.HCM, ngày...tháng...năm 2014



CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

MỤC LỤC
I. Tổng quát quyền chọn........................................................................................ 4
1. Khái niệm quyền chọn, quyền chọn tiền tệ .......................................................................... 4
2. Vị thế trong quyền chọn ...................................................................................................... 4
3. Phân loại quyền chọn .......................................................................................................... 5

3.1

Quyền chọn mua (Call Options) .................................................................................... 5

3.2

Quyền chọn bán (Put Options) ..................................................................................... 5

4. Các chủ thể tham gia thị trường quyền chọn ........................................................................ 8
5. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá quyền chọn cổ phiếu ............................................................ 9
6. Thời gian thực hiện và giá thực hiện quyền chọn ............................................................... 11

II.

Chiến lược quyền chọn.................................................................................. 12

1. Quyền chọn mua ............................................................................................................... 12
1.1

Mua hợp đồng quyền chọn mua (Long call option) ..................................................... 12

1.2

Bán hợp đồng quyền chọn mua (short call option) ...................................................... 15

2. Quyền chọn bán ................................................................................................................ 20
2.1

Mua hợp đồng quyền chọn bán (Long put option) ....................................................... 20

2.2

Bán hợp đồng quyền chọn bán (Short put option) ....................................................... 23

III. Option spread strategies ............................................................................... 26
1. Chiến lược Bull spread : .................................................................................................... 26
1.1

Bull call spread ( đầu cơ chênh lệch giá lên bằng quyền chọn mua ) .......................... 26

1.2

Bull put spread ( đầu cơ chênh lệch giá lên bằng quyền chọn bán ): ........................... 28

2. Chiến lược Bear spread ( đầu cơ chênh lệch giá xuống ) :.................................................. 30
2.1

Bear call spread.......................................................................................................... 30

2.2

Bear put spread ( đầu cơ chênh lệch giá xuống bằng quyền chọn bán ) ...................... 32

3. Butterfly spread strategy (chiến lược quyền chọn kiểu bướm): .......................................... 33
3.1

Long Call Butterfly ..................................................................................................... 33

3.2

Long Put Butterfly....................................................................................................... 37

IV. Option combination strategy ........................................................................ 41
1. Chiến lược Straddle: .......................................................................................................... 41
2


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

1.1

Short straddle: ............................................................................................................ 41

1.2

Long Straddle: ............................................................................................................ 43

2. Chiến lược đinh ghim ( Strangle Strategy) ......................................................................... 46

V.

2.1

Long strangle .............................................................................................................. 46

2.2

Short strangle ............................................................................................................. 48

Thực trạng thị trường quyền chọn trên thế giới và Việt Nam: .................. 50

1. Mô hình Mỹ ...................................................................................................................... 50
1.1

Giới thiệu chung ......................................................................................................... 50

1.2

Sàn giao dịch quyền chọn chứng khoán Chicago (CBOE): ......................................... 50

2. Mô hình Châu Âu .............................................................................................................. 53
2.1

Sàn giao dịch quyền chọn Châu Âu (“ Euronext N.V.”):............................................. 53

2.2

Sàn giao dịch giao sau và quyền chọn tài chính quốc tế London ( LIFFE): ................. 56

3. Mô hình Nhật Bản ............................................................................................................. 58

Tài liệu tham khảo ................................................................................................. 60
Danh sách nhóm ..................................................................................................... 60

3


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

I.

Tổng quát quyền chọn

1.

Khái niệm quyền chọn, quyền chọn tiền tệ

Hợp đồng quyền chọn là một công cụ tài chính phái sinh, có giá trị dựa trên giá trị của tài sản tài
chính gốc. Một hợp đồng cho phép người nắm giữ nó được phép mua (nếu là quyền chọn mua –
Call option) hoặc được bán (nếu là quyền chọn bán – Put option) một khối lượng hàng hóa cơ
sở nhất định tại một mức giá nhất định và tại một khoảng thời gian xác định (quyền chọn kiểu
Mỹ) hoặc điểm thời gian xác định (quyền chọn kiểu châu Âu).
Một điều quan trọng là người nắm giữ quyền chọn có thể thực hiện hoặc không thực hiện hợp
đồng. Vì vậy khi rủi ro xảy ra, thị trường không theo đúng hướng dự đoán của người nắm giữ
quyền chọn thì lỗ lãi được tối thiểu hóa chỉ ở mức giá của hợp đồng quyền chọn.
Các hàng hóa cơ sở này có thể là: cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số trái phiếu, thương
phẩm,vàng, ngoại tệ…
Quyền chọn tiền tệ là một hợp đồng quyền chọn với tài sản cở sở là các loại tiền tệ,trong đó cho
phép người nắm giữ quyền chọn tiền tệ được quyền mua hoặc bán một lượng ngoại tệ nhất định
theo một tỷ giá thỏa thuận trong một khoảng thời gian xác định.
Một hợp đồng quyền chọn bao gồm các điểm chính sau:
* Loại quyền chọn
* Tên hàng hoá
* Khối lượng giao dịch
* Ngày hết hạn
* Giá thực hiện
* Phí quyền chọn
2.

Vị thế trong quyền chọn

Trong mỗi hợp đồng quyền chọn luôn tồn tại hai vị thế: vị thế mua và vị thế bán.


Vị thế mua là người mua quyền chọn mua hoặc người mua quyền chọn bán hay nói cách

khác là người nắm giữ quyền chọn và phải trả cho bên bán phí quyền chọn để được “quyền” mua
hoặc bán một hàng hóa nào đó. Đối với vị thế mua thì có quyền thực hiện hay không thực hiện
quyền.

4


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN



NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

Vị thế bán là người bán quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán, người mua quyền phải trả

cho người bán quyền một khoản tiền được gọi là phí của quyền chọn hoặc là giá của quyền chọn
(Option Premium). Đối với vị thế bán thì phải có nghĩa vụ thực hiện quyền khi bên mua yêu cầu.
3.

Phân loại quyền chọn

Căn cứ theo quyền người mua, quyền chọn bao gồm hai loại là quyền chọn mua và quyền chọn
bán.
3.1

Quyền chọn mua (Call Options)

Hợp đồng này cho người mua hợp đồng được quyền mua một loại tài sản cơ sở theo giá cố định
trước một thời điểm ấn định trong tương lai.
Trong giao dịch này có hai phía: người mua quyền chọn mua, hay còn được gọi là người nắm giữ
quyền chọn, và người bán quyền chọn mua. Để có được quyền này, người mua quyền chọn mua
phải trả cho người bán quyền một khoản phí giao dịch (Option premium). Người nắm giữ quyền
chọn mua (Call option holder) sẽ quyết định thực hiện quyền của mình khi thấy có lợi nhuận và
người bán quyền chọn mua có nghĩa vụ phải bán tài sản đó cho người nắm giữ quyền chọn mua.
Trong trường hợp cảm thấy không có lợi vì lý do nào đó (giá trên thị trường giảm...) người nắm
giữ quyền chọn có thể không thực hiện quyền (hủy hợp đồng). Vì thế người mua phải suy đoán
rằng giá của tài sản cơ sở sẽ tăng trong một khoảng thời gian đã định.
Ví dụ: Công ty nhập khẩu mua hợp đồng quyền chọn mua USD và thanh toán bằng VND, có
nghĩa là công ty có quyền (chứ không phải nghĩa vụ) quyết định việc mua hay không mua một
lượng USD nhất định, tại một tỷ giá nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định.

3.2

Quyền chọn bán (Put Options)

Hợp đồng này ngược với Call option. Put Option là kiểu quyền chọn cho phép người mua hợp
đồng có quyền được bán một loại tài sản cơ sở nhất định tại một mức giá xác định trước trong một
thời hạn nhất định.
Trong giao dịch này có hai phía: người mua quyền chọn bán, hay còn được gọi là người nắm giữ
quyền chọn và người bán quyền chọn bán. Người mua quyền chọn bán phải trả cho người bán
quyền chọn bán một khoản phí giao dịch. Người nắm giữ quyền chọn bán (Put option holder) sẽ
quyết định thực hiện quyền của mình khi thấy có lợi nhuận và người bán quyền chọn bán có nghĩa
vụ phải mua tài sản đó từ người nắm giữ quyền chọn bán. Trong trường hợp cảm thấy không có
5


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

lợi vì lý do nào đó (giá trên thị trường tăng...) người nắm giữ quyền chọn có thể không thực hiện
quyền (hủy hợp đồng).
Trong trường hợp này, người mua quyền mong rằng giá tài sản sẽ hạ trong tương lai, và do đó họ
có thể mua ở giá thấp và bán ở giá cao hơn để kiếm lợi nhuận. Khi đó nếu người mua quyền quyết
định thực thi quyền bán (Exercise the option), người bán quyền buộc phải mua số tài sản đó.
Ngược lại, người bán quyền (người có nghĩa vụ mua tài sản khi đến hạn nếu người mua quyền yêu
cầu) sẽ thu lợi khi giá tài sản cơ sở tăng, đứng, hoặc giảm ít hơn khoản phí hợp đồng nhận được.
Lợi nhuận và rủi ro trong hợp đồng Option:
Đối với vị thế mua
Một trong những lợi ích của việc mua quyền chọn là sự lời lỗ không cân xứng. Mua quyền chọn
mua tạo lợi nhuận tiềm năng không giới hạn nếu giá tài sản cơ sở tăng trong khi khoảng lỗ do rủi
ro giá tài sản cơ sở rớt xuống chỉ giới hạn trong khoảng phí quyền chọn đã trả trước.
Quyền chọn mua:

Quyền chọn bán:

Tương tự, mua quyền chọn bán sẽ mang lại lợi nhuận không giới hạn nếu giá tài sản rớt xuống
trong khi khoản tổn thất tối đa khi giá tài sản tăng chỉ bằng phần phí quyền chọn ban đầu. Kết quả
không cân xứng này mang đặc tính của bảo hiểm, là lý do mà ta phải trả tiền khi mua quyền chọn
được gọi là phí quyền chọn.
Đối với người mua, hợp đồng Option cho một đòn bẩy tài chính với rủi ro có thể ước tính trước.
Phí mua hợp đồng chỉ là một phần rất nhỏ so với giá thị trường của tài sản cơ sở. Vì thế người

6


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

mua hợp đồng có thể tham gia với bất cứ trường hợp biến chuyển của giá tài sản cơ sở mà không
phải mua chính tài sản đó, nên không phải bỏ ra một số tiền lớn để đầu tư.
Đối với vị thế bán
Người bán hợp đồng Option được gọi là Writers. Mục tiêu cơ bản của người bán hợp đồng là
kiếm thêm tiền bằng phí quyền chọn do người mua trả. Số lợi tức này đôi khi có thể cộng vào
tổng số lợi nhuận trong danh mục đầu tư.
Vị thế bán trong quyền chọn bán:

Vị thế bán thì sẽ có khoản lợi nhuận tối đa giới hạn trong số phí Option, còn khoản lỗ thì sẽ là vô
hạn nếu giá tài sản giảm mạnh.
Vị thế bán trong quyền chọn mua

7


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

Người bán quyền chọn mua chỉ kiếm lời bằng khoảng phí nhận được từ người mua quyền chọn,
và sẽ bị thua lỗ vô hạn khi giá tài sản tăng so với giá thực hiện.
Tất cả người bán hợp đồng Option có thể mua ngăn chặn (Buy-in) hay mua chấm dứt (Closing
Purchase), đây là phương thức nhằm chấm dứt trách nhiệm giao hay nhận một loại tài sản nghĩa là
người bán hợp đồng sẽ mua một hợp đồng Option tương tự như hợp đồng Option đã bán (nhưng
chỉ có giá điểm và phí hợp đồng là khác nhau). Hợp đồng thứ hai sẽ bù đắp cho hợp đồng thứ
nhất. Người bán sẽ lời hay lỗ tuỳ chênh lệch giữa hai phí Option.
4.

Các chủ thể tham gia thị trường quyền chọn

Các chủ thể tham gia thị trường giao dịch quyền chọn rất đa dạng, bao gồm các doanh nghiệp, các
cá nhân, các tổ chức hoạt động tài chính như ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, công ty
chứng khoán…Dựa vào các mục đích tham gia thị trường của mỗi đối tượng, ta có thể phân ra
thành các nhóm sau:
Những người phòng ngừa rủi ro: Là những tổ chức tài chính và phi tài chính hay những cá nhân,
tham gia thị trường quyền chọn do có nhu cầu giao dịch các loại tài sản cơ sở như ngoại tệ, chứng
khoán, vàng, lãi suất…và có những lo ngại về sự biến động của giá cả hàng hóa, tỉ giá, lãi
suất…làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh, lợi ích của họ. Thông thường, họ tham
gia thị trường với tư cách là những người mua các quyền chọn để bảo hiểm các rủi ro về sự biền
động của giá cả, tỉ giá, lãi suất…Họ sẵn sàng bỏ ra một khoản phí cho hợp đồng quyền chọn để
đổi lấy một mức tỉ giá, giá cả, lãi suất cố định.
Các nhà đầu tư, đầu cơ: Là các cá nhân, các tổ chức tài chính và phi tài chính, tham gia vào thị
trường với mục đích đầu cơ vào sự chênh lệch tỉ giá, giá cả, lãi suất … họ thường dựa vào các
công cụ phân tích kỹ thuật để đưa ra các dự đoán về xu hướng tỉ giá, giá cả, lãi suất …Từ đó, thực
hiện mua bán các quyền chọn thích hợp để thu lợi nhuận.
Các tổ chức tài chính trung gian: Bao gồm các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, công ty
chứng khoán…Ngoài mục đích tham gia vào thị trường cũng với tư cách là các nhà đầu tư hoặc
những người có nhu cầu về bảo hiểm rủi ro. Ở các nước phát triển, nơi mà các giao dịch quyền
chọn hầu như chỉ diễn ra trên các sàn giao dịch tập trung, với tư cách là các thành viên của sở giao
dịch quyền chọn, họ đóng vai trò như một nhà môi giới các giao dịch quyền chọn trên thị trường,
chỉ một số ít các tổ chức tài chính lớn như các tập đoàn tài chính khổng lồ mới có khả năng tự
đứng ra phát hành quyền chọn cho thị trường.
8


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

Đối với Việt Nam chúng ta, nơi mà một sàn giao dịch quyền chọn tập trung vẫn chưa hình thành,
các tổ chức tài chính (ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán…) thường tự đứng ra phát
hành quyền chọn khi có nhu cầu từ khách hàng, hoặc đóng vai trò như một trung gian tài chính
cung cấp các hợp đồng quyền chọn cho khách hàng từ các nhà phát hành quyền chọn chính thức ở
trong nước và nước ngoài để thu một khoản phí dịch vụ.
5.

Các yếu tố ảnh hưởng đến giá quyền chọn cổ phiếu

Có 6 yếu tố tác động đến giá quyền chọn cổ phiếu:

1. Giá cổ phiếu ở thời điểm hiện tại
2. Giá thực hiện
3. Khoảng thời gian từ thời điểm hiện tại cho đến khi đáo hạn quyền
4. Độ bất ổn của giá cổ phiếu
5. Lãi suất phi rủi ro
6. Cổ tức kỳ vọng sẽ thanh toán trong khoảng thời gian quyền có hiệu lực

Báo cáo sẽ tiến hành phân tích tác động tới giá quyền chọn khi thay đổi mỗi yếu tố kể trên trong
điều kiện các yếu tố còn lại không đổi. Kết quả chung được trình bày ở bảng sau.
Quyền chọn mua

Quyền chọn bán

Quyền chọn mua

Quyền chọn bán

Châu Âu

Châu Âu

kiểu Mỹ

kiểu Mỹ

+

-

+

-

-

+

-

+

?

?

+

+

Độ bất ổn

+

+

+

+

Lãi suất

+

-

+

-

-

+

-

+

Giá cổ
phiếu
Giá thực
hiện
Thời gian
đáo hạn

phi rủi ro
Cổ tức

9


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

Giá cổ phiếu và giá thực hiện
Nếu một quyền chọn mua được thực hiện ở một thời điểm trong tương lai thì khoản lợi nhuận thu
được sẽ bằng khoảng lớn hơn của giá cổ phiếu so với giá thực hiện. Do đó nếu giá cổ phiếu tăng
thì giá của quyền chọn mua sẽ tăng và nếu giá thực hiện tăng thì giá của quyền chọn mua sẽ giảm.
Với một quyền chọn bán, lợi nhuận thu về nếu quyền chọn được thực hiện sẽ bằng khoảng lớn
hơn của giá thực hiện so với giá cổ phiếu. Như thế giá quyền chọn bán sẽ tăng nếu như giá thực
hiện tăng và giảm nếu như giá cổ phiếu tăng.
Thời gian đến lúc đáo hạn
Yếu tố này có tác động rõ ràng hơn đến quyền chọn kiểu Mỹ (cả mua và bán), nếu như thời gian
còn lại cho đến lúc đáo hạn càng dài thì giá của quyền chọn sẽ càng cao. Xét với hai quyền chọn
giống nhau về cá yếu tố khác ngoại trừ thời gian cho đến ngày đáo hạn. Người sở hữu quyền chọn
có thời gian dài hơn rõ ràng có nhiều thời gian để lựa chọn thực hiện quyền hơn người sở hữu
quyền chọn ngắn hơn.
Với quyền chọn kiểu Châu Âu, thời gian đến ngày đáo hạn không thực sự có ảnh hưởng đến giá
quyền chọn do cả 2 quyền nói trên đều chỉ có thể thực hiện ở thời cùng một thời điểm là ngày đáo
hạn. Thậm chí trong nhiều trường hợp quyền chọn ngắn hơn có thể có giá cao hơn, chẳng hạn như
hai quyền chọn mua có chung mọi đặc tính, một quyền sẽ đáo hạn trong 1 tháng nữa, quyền còn
lại đáo hạn trong 2 tháng. Nếu cổ phiếu có trả cổ tức và thời điểm thanh toán là 6 tuần nữa, thì do
tác động của việc trả cổ tức, quyền chọn đáo hạn trong 1 tháng hơn sẽ có giá cao hơn.
Độ bất ổn
Định nghĩa chính xác về độ bất ổn sẽ được giới thiệu trong phần mô hình Black-Scholes, ở đây có
thể hiểu đơn giản nhất độ bất ổn là một thước đo mức độ không chắc chắn của bản thân nhà đầu
tư vào biến động trong tương lai của giá cổ phiếu. Độ bất ổn càng cao thì khả năng giá cổ phiếu
có thể lên rất cao hoặc xuống rất thấp cũng tăng cao. Người sở hữu cổ phiếu có thể coi hai xu
hướng này “triệt tiêu” lẫn nhau và không quá lo lắng. Tuy nhiên người sở hữu quyền mua hay
quyền bán thì không như vậy. Người sở hữu quyền mua sẽ có lợi nếu như giá cổ phiếu tăng lên
nhưng họ chỉ phải chịu rủi ro có giới hạn nếu giá giảm, mức lỗ cao nhất họ phải chịu chính bằng
giá của quyền mua. Với người sở hữu quyền bán, họ sẽ có lợi nếu như giá của cổ phiếu giảm
mạnh và họ chỉ phải chịu rủi ro có giới hạn nếu giá tăng, lỗ cao nhất phải chịu cũng chính là giá
10


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

của quyền mua. Vì lý do này, giá của quyền chọn mua và quyền chọn bán sẽ tăng cao nếu như độ
bất ổn của cổ phiếu tăng.
Lãi suất phi rủi ro
Tác động của lãi suất phi rủi ro đến giá của quyền chọn cổ phiếu không thực sự rõ ràng như
những trường hợp trước. Khi lãi suất phi rủi ro trong nền kinh tế tăng tỉ lệ tăng trưởng kỳ vọng
với giá cổ phiếu cũng sẽ có xu hướng tăng. Đồng thời giá trị hiện tại của các dòng tiền mà nhà đầu
tư kỳ vọng sẽ nhận được trong tương lai sẽ giảm. Hai tác động này đều có xu hướng làm giảm giá
của quyền chọn bán. Do đó giá quyền chọn bán có xu thế giảm khi lãi suất phi rủi ro trên thị
trường tăng. Với quyền chọn mua, tác động đầu tiên có xu thế làm tăng giá quyền nhưng tác động
thứ hai lại có xu thế làm giảm giá quyền. Tuy nhiên tác động thứ nhất luôn lấn át tác động thứ 2
do đó khi lãi suất phi rủi ro tăng thì giá quyền chọn bán cũng tăng.
Cần nhấn mạnh lại những tác động kể trên chỉ được nghiên cứu trong tình huống các yếu tố khác
không đổi, điều này là không có thực đặc biệt khi một nhân tố quan trọng trong nền kinh tế là lãi
suất phi rủi ro thay đổi. Thực tế cho thấy giá cổ phiếu có xu thế biến động ngược chiều với biến
động của lãi lãi suất phi rủi ro. Tác động cộng gộp của lãi suất và giá có thể mang đến những kết
quả rất khác.
Cổ tức
Cổ tức làm cho giá cổ phiếu giảm xuống trong ngày giao dịch không hưởng quyền. Đây là thông
tin “xấu” với giá của quyền chọn mua và là thông tin “tốt” với giá của quyền chọn bán. Như thế
giá của quyền chọn mua có tương quan ngược chiều và giá quyền chọn mua có tương quan cùng
chiều với những dự báo về quy mô trả cổ tức.
6.

Thời gian thực hiện và giá thực hiện quyền chọn

Thời hạn hiệu lực của hợp đồng:
Là khoảng thời gian quyền lựa chọn có thể được thực hiện theo yêu cầu của người mua quyền
được tính từ ngày ký hợp đồng cho đến trước 11h00 sáng (giờ Hà Nội) của ngày đáo hạn.
Đối với quyền chọn kiểu Mỹ (American option) - có thể được thực hiện vào bất kì ngày giao dịch
nào trước hoặc cùng ngày hết hạn.
Quyền chọn châu Âu (European option) - chỉ có thể được thực hiện vào đúng kì hạn (Expiry
date), tức là vào một ngày đã được định trước.

11


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

Giá thực hiện
Trong giao dịch quyền chọn tiền tệ, thì tỷ giá áp dụng gọi là giá thực hiện. trong các hợp đồng
quyền chọn tiền tệ các giá thực hiện trong các hợp đồng quyền chọn, ngoài yếu tố cung cầu, còn
phụ thuộc vào mức phí quyền chọn là cao hay thấp, do đó nó có thể cao hơn hoặc thấp hơn đáng
kể so với tỷ giá giao ngay hay giao kỳ hạn. Điều này có nghĩa là giá thực hiện có thể là bất cứ như
thế nào nếu như người mua muốn; bởi vì giá thực hiện và phí quyền chọn mà người mua phải trả
cho người bán luôn có mối quan hệ với nhau. Do đó, người bán sẵn sàng chấp nhận mọi giá thực
hiện mà người mua đề nghị và đưa ra mức phí quyền chọn tương ứng.

II.

Chiến lược quyền chọn

1.

Quyền chọn mua

Ví dụ: Hiện tại bạn cần mua một lượng vàng để ba tháng sau bạn trả cho người nhà như đã hứa.
Thị trường vàng lên xuống thất thường trong khi bạn chưa có đủ tiền để thanh toán theo giá vàng
trên thị trường là 40 triệu đồng/lượng. Bạn lo ngại giá vàng có thể lên cao đến 45 triệu đồng.
Ngân hàng A chấp nhận bán cho bạn 1 lượng vàng giá 40 triệu bất kỳ lúc nào từ đầy cho đến ba
tháng sau. Để có được lời hứa của ngân hàng A, bạn phải trả phí (còn gọi là Option premium) cho
ngân hàng là 500 ngàn đồng.
Nếu giá vàng ngoài thị trường lên cao hơn 40 triệu đồng bao nhiêu đi chăng nữa trong vòng ba
tháng tới, bạn vẫn có quyền mua vàng giá 40 triệu đồng từ ngân hàng A.


Ngân hàng A chính là người bán quyền chọn mua (hay còn gọi sell hoặc write a call

option).


Bạn chính là người mua quyền chọn mua (hay còn gọi buy hoặc long a call option).

Trong vòng ba tháng, bất kỳ lúc nào bạn muốn mua vàng giá 40 triệu đồng, ngân hàng A đều phải
thực hiện hợp đồng. Nhưng nếu giá vàng giảm dưới 40 triệu đồng, bạn sẽ không bị bắt buộc phải
thực hiện hợp đồng và bạn sẽ chọn mua vàng trên thị trường để giảm chi phí.
Với hợp đồng quyền chọn mua (call option), thị trường sẽ cho phép bạn thực hiện các giao dịch
sau:
1.

Mua quyền chọn mua (buy/long a call option).

2.

Bán quyền chọn mua (write/sell a call option).

1.1

Mua hợp đồng quyền chọn mua (Long call option)
12


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

Người mua quyền chọn mua có quyền nhưng không bắt buộc phải thực hiện quyền mua một số
ngoại tệ nhất định, theo một tỷ giá nhất định, gọi là giá quyền chọn. Để có được quyền chọn mua,
người mua phải trả một khoản phí cho người bán gọi là phí chọn mua. Phí chọn mua phải được
thanh toán cho người bán tại thời điểm ký kết hợp đồng mua quyền chọn mua, ngay sau đó người
mua trở thành người tiềm năng thu lợi nhuận nếu giá ngoại tệ tăng lên trên mức quyền chọn cộng
với khoản phí chọn mua.
Mua một hợp đồng Call option hay còn gọi là long một hợp đồng Call option là việc đầu cơ giá
lên, có nghĩa là khi thực hiện việc này nhà đầu tư kỳ vọng giá của tài sản cơ sở sẽ lên.
Tuy nhiên, không phải lúc nào giá cũng chạy theo ý của bạn do đó bạn cần phải biết các trường
hợp nào sẽ xảy ra với hợp đồng Call option của bạn. Một tài sản hay một cặp đồng tiền có thể giao
động theo 5 cách sau:
* Giá tăng mạnh
* Giá tăng nhẹ
* Giá không giao động
* Giá giảm nhẹ
* Giá giảm mạnh
Với trường hợp giá tăng mạnh
Khi bạn mua một hợp đồng Call option thì khi giá lên mạnh, bạn sẽ có được lợi nhuận rất nhiều.
Mỗi một điểm tính từ mốc giá hoà vốn tăng thêm sẽ mang thêm lợi nhuận cho bạn. Có thể nhìn rõ
qua đồ thị sau:

13


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

Với trường hợp giá tăng nhẹ:
Khi bạn mua một hợp đồng Call option thì khi giá lên nhẹ, không vượt qua được mức giá hoà vốn
(là mức giá có tính phần phí Option bạn phải trả) bạn chỉ có thể tối thiểu hoá thua lỗ của mình.
Mỗi một điểm tính từ mức giá thực hiện tăng thêm sẽ giảm thua lỗ cho bạn. Có thể nhìn rõ qua đồ
thị sau, phần ô vuông màu đỏ là khi giá lên nhưng không đủ mang lại lợi nhuận cho bạn:

Với trường hợp giá không giao động, giá giảm nhẹ hay giá giảm mạnh:
Khi bạn mua một hợp đồng Call Option thì với trường hợp giá không giao động hay giảm nhẹ hay
giảm mạnh, bạn sẽ bị lỗ có hạn chính là mức phí Option mà bạn phải trả do bạn không thực hiện
quyền. Có thể nhìn rõ qua 3 đồ thị sau, phần ô vuông chính là mức phí bạn phải trả và cũng là
thua lỗ của bạn.

Giá không giao động

14


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

Giá dao động mạnh

Giá dao động nhẹ
Tóm lại,
Hướng thay đổi của giá

Kết quả

Tăng mạnh

Tối đa hóa lợi nhuận

Tăng nhẹ

Tối thiểu hóa thua lỗ

Không giao động

Lỗ có hạn phần phí Option

Giảm nhẹ

Lỗ có hạn phần phí Opion

Giảm mạnh

Lỗ có hạn phần phí Option

1.2

Bán hợp đồng quyền chọn mua (short call option)

Một nhà kinh doanh quyền chọn thực hiện bán một quyền chọn mua mà không đồng thời sở hữu
cổ phiếu thì được gọi là bán một quyền chọn mua không được phòng ngừa. Vị thế này là một
chiến lược rủi ro cao với khả năng bị lỗ không giới hạn. Người bán quyền chọn mua không phòng
ngừa có trách nhiệm bán cổ phiếu mà hiện tại không sở hữu cho người mua quyền chọn mua theo
yêu cầu của người mua. Vì vậy, người bán có thể phải mua cổ phiếu với một mức giá không thuận
lợi. Do đó,bán một quyền chọn mua không được phòng ngừa là một lĩnh vực ưu tiên chỉ được
15


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

thực hiện bởi một số ít nhà kinh doanh có đủ vốn tương ứng với rủi ro. Các công ty môi giới cũng
gặp phải rủi ro khi giải quyết khoản lỗ đối với trung tâm thanh toán nên công ty môi giới thường
đồng ý xử lí giao dịch đối với khách hàng tốt nhất và giàu có nhất. Các nhà kinh doanh sở hữu tư
cách thành viên trên sàn giao dịch hay các định chế có rủi ro tín dụng thấp trên thị trường OTC ít
bị hạn chế hơn và có thể bán quyền chọn mua không được phòng ngừa dễ dàng hơn, nhưng vì rủi
ro cao nên bản thân họ cũng không thường xuyên thực hiện hoạt động này. Hơn nữa, với các cổ
phiếu có trả cổ tức, người bán còn đối diện rủi ro thực hiện sớm nếu quyền chọn mua là kiểu Mỹ.
Vậy nếu quyền chọn mua không phòng ngừa là một chiến lược đầy rủi ro tại sao chúng ta lại
nghiên cứu nó? Lý do là vì bán quyền chọn mua không phòng ngừa có thể kết hợp với một chiến
lược khác. Ví dụ mua cổ phiếu hay một quyền chọn khác để tạo thành một chiến lược rủi ro thấp
nhất. Vì vậy, cần phải thiết lập các kết quả với việc bán quyền chọn mua trước khi kết hợp nó với
các chiến lược khác.
Người bán quyền chọn mua nhận được một khoản phí gọi là phí bán quyền chọn mua và phải luôn
sẵn sàng bán một số ngoại tệ với một tỷ giá cố định đã được thỏa thuận trước gọi là giá quyền
chọn cho người mua. Nếu tỷ giá giảm thì người bán quyền chọn sẽ thu được một khoản lãi.
Nếu chúng ta nghĩ rằng một đồng tiền sẽ giảm giá trong tương lai thì chúng ta có thể bán một hợp
đồng quyền chọn mua để kiếm lợi nhuận.

Bán một hợp đồng quyền chọn mua là việc đầu cơ giá xuống nghĩa là nhà đầu tư vào trạng thái
này khi nghĩ rằng giá của tài sản cơ sở sẽ giảm. Nếu giá của tài sản hay cặp đồng tiền giảm chúng
ta có thể có được lợi nhuận từ việc bán hợp đồng quyền chọn mua này.

16


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

Hình mô tả thành quả của người bán quyền chọn mua tài sản, người bán quyền chọn mua chỉ kiếm
lời bằng khoản phí nhận được từ người mua quyền chọn, và sẽ bị thua lỗ vô hạn khi giá tài sản
tăng so với giá thực hiện.
Tuy nhiên, không phải lúc nào giá cũng chạy theo ý của chúng ta do đó chúng ta cần phải biết các
trường hợp nào sẽ xảy ra với hợp đồng quyền chọn mua của chúng ta. Một tài sản hay một cặp
đồng tiền có thể giao động theo 5 cách sau:
* Giá tăng mạnh
* Giá tăng nhẹ
* Giá không giao động
* Giá giảm nhẹ
* Giá giảm mạnh
Với trường hợp giá tăng mạnh:
Khi chúng ta bán một hợp đồng quyền chọn mua và giá của tài sản hay cặp đồng tiền tăng mạnh
thì chúng ta sẽ bị lỗ vô hạn trên hợp đồng này. Mỗi một điểm tăng thêm so với giá hoà vốn của
hợp đồng sẽ khiến chúng ta mất thêm tiền. Chúng ta có thể thấy điều này qua đồ thị sau:

17


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

Với trường hợp giá tăng nhẹ:
Khi chúng ta bán một hợp đồng quyền chọn mua và giá của tài sản hay cặp đồng tiền tăng nhẹ thì
chúng ta sẽ bị giảm mức lợi nhuận trên hợp đồng này. Mỗi một điểm tăng thêm so với giá thực
hiện của hợp đồng sẽ làm lợi nhuận của chúng ta mất thêm tiền. Chúng ta có thể thấy điều này qua
đồ thị sau:

Với trường hợp giá không giao động:
Khi chúng ta bán một hợp đồng quyền chọn mua và giá của tài sản hay cặp đồng tiền không giao
động thì có nghĩa là chúng ta đang tối đa hoá mức lời có hạn chính là phần phí option nhận được
trên hợp đồng này. Khi chúng ta bán một hợp đồng quyền chọn mua nghĩa là chúng ta được nhận
trước một khoản phí và do giá không biến động khiến giá chưa qua điểm hòa vốn thì người mua
hợp đồng quyền chọn mua sẽ không thực hiện quyền. Do đó, chúng ta sẽ giữ được mức lợi nhuận
của mình. Chúng ta có thể thấy được điều đó qua đồ thị sau:

Với trường hợp giá giảm nhẹ:
Khi chúng ta bán một hợp đồng quyền chọn mua và giá của tài sản hay cặp đồng tiền giảm nhẹ thì
có nghĩa là chúng ta đang tối đa hoá mức lời có hạn là phần phí Option nhận được trên hợp đồng
này. Khi chúng ta bán một hợp đồng quyền chọn mua nghĩa là chúng ta được nhận trước một
khoản phí và do giá giảm nhẹ thì người mua hợp đồng quyền chọn mua sẽ không thực hiện quyền.
18


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

Do đó chúng ta sẽ giữ được mức lợi nhuận của mình. Chúng ta có thể thấy được điều đó qua đồ
thị sau:

Với trường hợp giá giảm mạnh:
Khi chúng ta bán một hợp đồng quyền chọn mua và giá của tài sản hay cặp đồng tiền không giao
động hay giảm nhẹ hay giảm mạnh thì có nghĩa là chúng ta đang tối đa hoá mức lời có hạn chính
là phần phí Option nhận được trên hợp đồng này. Khi chúng ta bán một hợp đồng quyền chọn
mua nghĩa là chúng ta được nhận trước một khoản phí và do giá không biến động hoặc giảm nhẹ
hoặc giảm mạnh thì người mua hợp đồng quyền chọn mua sẽ không thực hiện quyền. Do đó
chúng ta sẽ giữ được mức lợi nhuận của mình. Chúng ta có thể thấy được điều đó qua đồ thị sau:

Tóm lại:
Hướng thay đổi của giá

Kết quả

Tăng mạnh

Lãi có hạn phần phí Option

Tăng nhẹ

Lãi có hạn phần phí Option
19


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

Không giao động

Lãi có hạn phần phí Option

Giảm nhẹ

Tối thiểu hóa mức lỗ

Giảm mạnh

Lỗ vô hạn

2.

Quyền chọn bán

Hợp đồng quyền chọn bán là một hợp đồng tài chính giữa hai bên, theo đó người mua hợp đồng
(holder) có quyền bán cho người bán hợp đồng (Writer) một số tài sản nhất định tại một mức giá
xác định (strike price, exrcise price), vào hoặc trước ngày đáo hạn hợp đồng (Expiration date). Để
đổi lại người mua phải trả cho người bán một khoản phí hợp đồng (Option premium)
2.1

Mua hợp đồng quyền chọn bán (Long put option)

Mua một hợp đồng put option hay còn gọi là long một hợp đồng put option là việc đầu cơ giá
xuống, có nghĩa là khi thực hiện việc này nhà đầu tư kỳ vọng giá của tài sản cơ sở sẽ xuống.
Tuy nhiên, không phải lúc nào giá cũng chạy theo ý của bạn do đó bạn cần phải biết các trường
hợp nào sẽ xảy ra với hợp đồng Call option của bạn. Giá có thể dao động theo 5 cách:
* Giá tăng mạnh
* Giá tăng nhẹ
* Giá không dao động
* Giá giảm nhẹ
* Giá giảm mạnh
Với trường hợp giá không dao động, giá tăng nhẹ hay giá tăng mạnh :
Khi bạn mua một hợp đồng put option thì với 3 trường hợp trên, bạn sẽ bị lỗ có hạn chính là mức
phí option mà bạn phải trả. Có thể nhìn rõ qua 3 đồ thị sau, phần ô vuông chính là mức phí bạn
phải trả và cũng là thua lỗ của bạn.

20


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

Giá tăng mạnh

Giá tăng nhẹ

Giá không biến động

Với trường hợp giá xuống nhẹ :
Khi bạn mua một hợp đồng Put option thì khi giá xuống yếu, không vượt qua được mức giá hoà
vốn( là mức giá có tính phần phí option bạn phải trả) bạn chỉ có thể tối thiểu hoá thua lỗ của mình.
Có thể nhìn rõ qua đồ thị sau, phần ô vuông là khi giá xuống nhưng không đủ mang lại lợi nhuận

21


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

Với trường hợp giá giảm mạnh :
Khi bạn mua một hợp đồng Put option thì khi giá xuống mạnh, bạn sẽ có được lợi nhuận rất
nhiều. Mỗi một điểm tính từ mốc giá hoà vốn giảm thêm sẽ mang thêm lợi nhuận cho bạn. Có thể
nhìn rõ qua đồ thị sau:

Tóm lại,
Hướng thay đổi của giá

Kết quả

Tăng mạnh

Lỗ có hạn phần phí Option

Tăng nhẹ

Lỗ có hạn phần phí Option

Không dao động

Lỗ có hạn phần phí Option

Giảm nhẹ

Tối thiểu hóa thua lỗ

Giảm mạnh

Tối đa hóa lợi nhuận

Trong bất cứ trường hợp nào, mua một quyền chọn bán là một chiến lược phù hợp nếu dự đoán thị
trường sẽ giảm giá, mức lỗ được giới hạn và lợi nhuận tiềm năng cũng khá cao. Hơn nữa, việc
thực hiện một giao dịch quyền chọn bán sẽ dễ dàng hơn bán khống. Quyền chọn bán không cần
22


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

phải được mua khi giá đang trong tình trạng tăng lên và số tiền phải trả cho quyền chọn bán thấp
hơn nhiều so với khoản ký quỹ bán khống. quyền chọn bán có mức lỗ giới hạn trong khi bán
khống có mức lỗ không giới hạn.
2.2

Bán hợp đồng quyền chọn bán (Short put option)

Bán một hợp đồng put option hay short một hợp đồng put option là việc đầu cơ giá lên nghĩa là
nhà đầu tư vào trạng thái này khi nghĩ rằng giá của tài sản cơ sở sẽ lên. Nếu giá của tài sản hay
cặp đồng tiền lên bạn có thể có được lợi nhuận từ việc bán hợp đồng put option này.
Tuy nhiên, không phải lúc nào giá cũng chạy theo ý của bạn do đó bạn cần phải biết các trường
hợp nào sẽ xảy ra với hợp đồng call option của bạn. Một tài sản hay một cặp đồng tiền có thể giao
động theo 5 cách sau:
* Giá tăng mạnh
* Giá tăng nhẹ
* Giá không giao động
* Giá giảm nhẹ
* Giá giảm mạnh
Với trường hợp giá tăng mạnh
Khi bạn bán một hợp đồng Put option và giá của tài sản hay cặp đồng tiền tăng mạnh thì bạn sẽ tối
đa hoá được mức lời có hạn là phần phí Option bạn nhận được trên hợp đồng này. Khi bạn bán
một hợp đồng Put option nghĩa là bạn được nhận trước một khoản phí và do giá tăng mạnh khiến
giá chưa qua mức hoà vốn người mua hợp đồng Put option sẽ không thực hiện quyền do đó thì
bạn sẽ giữ được mức lợi nhuận của mình. Bạn có thể thấy điều đó qua đồ thị sau:

23


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

Với trường hợp giá tăng nhẹ:
Khi chúng ta bán một hợp đồng quyền chọn bán và giá của tài sản hay cặp đồng tiền tăng nhẹ thì
chúng ta sẽ tối đa hoá được mức lời có hạn là phần phí option nhận được trên hợp đồng này. Khi
chúng ta bán một hợp đồng quyền chọn bán nghĩa là chúng ta được nhận trước một khoản phí và
do giá tăng nhẹ khiến giá chưa qua mức hoà vốn, người mua hợp đồng quyền chọn bán sẽ không
thực hiện quyền. Do đó chúng ta sẽ giữ được mức lợi nhuận của mình. Chúng ta có thể thấy điều
đó qua đồ thị sau:

Với trường hợp giá không giao động:
Khi bạn bán một hợp đồng put option và giá của tài sản hay cặp đồng tiền không biến động thì
bạn sẽ tối đa hoá được mức lời có hạn là phần phí Option bạn nhận được trên hợp đồng này. Khi
bạn bán một hợp đồng Put option nghĩa là bạn được nhận trước một khoản phí và do giá không
biến động khiến giá chưa qua mức hoà vốn người mua hợp đồng put option sẽ không thực hiện
quyền do đó thì bạn sẽ giữ được mức lợi nhuận của mình. Bạn có thể thấy điều đó qua đồ thị sau:

24


CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN

NHÓM 1 NGÂN HÀNG KHỐI 2 K37

Với trường hợp giá giảm nhẹ:
Khi bạn bán một hợp đồng put option và giá của tài sản hay cặp đồng tiền giảm nhẹ thì bạn sẽ bị
giảm mức lợi nhuận trên hợp đồng này. Mỗi một điểm giảm thêm so với giá thực hiện của hợp
đồng sẽ làm lợi nhuận của bạn mất thêm. Bạn có thể thấy điều này qua đồ thị sau:

Với trường hợp giá giảm mạnh:
Khi bạn bán một hợp đồng Put option và giá của tài sản hay cặp đồng tiền giảm mạnh thì bạn sẽ bị
lỗ vô hạn trên hợp đồng này. Mỗi một điểm giảm thêm so với giá hoà vốn của hợp đồng sẽ khiến
bạn mất thêm tiền. Bạn có thể thấy điều này qua đồ thị sau:

Tóm lại,
Hướng thay đổi của giá

Kết quả

Tăng mạnh

Lãi có hạn phần phí Option

Tăng nhẹ

Lãi có hạn phần phí Option

Không giao động

Lãi có hạn phần phí Option
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×