Tải bản đầy đủ

GIAI CẤP CÔNG NHÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HOÀN

GIAI CẤP CÔNG NHÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HIỆN NAY, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HOÀN

GIAI CẤP CÔNG NHÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HIỆN NAY, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
Ngành: Triết học

Mã số: 8 22 90 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ THỊ MAI OANH

HÀ NỘI, năm 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới
sự hướng dẫn của TS. Vũ Thị Mai Oanh. Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là
trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Kết quả nghiên cứu của luận văn không
trùng với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã được công bố.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày

tháng 8 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hoàn


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chƣơng 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN ............................7
1.1.Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về giai cấp công nhân ...............................7
1.2.Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về giai cấp
công nhân ..................................................................................................................14
1.3. Giai cấp công nhân Thành phố Hồ Chí Minh ....................................................20
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG GIAI CẤP CÔNG NHÂN Ở THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH HIỆN NAY ..........................................................................................28
2.1. Tình hình giai cấp công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay ..................28
2.2. Nguyên nhân hạn chế và những vấn đề đang đặt ra để phát triển giai cấp công
nhân Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay ....................................................................50
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT
TRIỂN GIAI CẤP CÔNG NHÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ...................59
3.1. Phương hướng xây dựng giai cấp công nhân Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
...................................................................................................................................59
3.2. Những giải pháp cơ bản phát triển giai cấp công nhân Thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay .....................................................................................................................62
3.3. Kiến nghị ............................................................................................................68
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của công nhân thành phố Hồ
Chí Minh 2015


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi bàn về quy luật thịnh suy của một quốc gia, ngay từ thế kỷ XVIII, bảng
nhãn Lê Quý Đôn đã đưa ra nhận định sâu sắc: “phi công bất phú”. Điều này, có
nghĩa, phát triển kinh tế công nghiệp là con đường tất yếu của mọi quốc gia. Đồng
thời với kinh tế công nghiệp, là sự phát triển toàn diện của giai cấp công nhân, với
tư cách là sản phẩm của nền đại công nghiệp. Quy luật này đã được chứng minh
trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại cũng như lịch sử dân tộc từ khi xuất hiện hoạt
động sản xuất công nghiệp, xuất hiện giai cấp công nhân đến nay.
Nhìn lại chặng đường 88 năm, kể từ ngày Đảng ta ra đời, giai cấp công nhân
Việt Nam không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, nhất là trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Giai cấp công nhân đã chứng tỏ là lực lượng sản
xuất cơ bản, nắm giữ những lĩnh vực then chốt và các phương tiện hiện đại của nền
sản xuất, là lực lượng đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế. Hiện nay cả nước có
khoảng 14 triệu công nhân, tạo ra khoảng 60% tổng sản phẩm xã hội, hơn 70% ngân
sách của cả nước. Giai cấp công nhân đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến,
tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong thời kỳ mới, giai cấp công nhân nước ta là lực lượng nòng cốt trong
khối liên minh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng,
kiên trì sự nghiệp đổi mới, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh”.
Nhận thức điều này, nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thế nhưng, để có nền công nghiệp
phát triển hiệu quả, có thể đưa đất nước đạt đến sự giàu có, cường thịnh, trở thành
“con rồng”, “con hổ” thì điều cốt yếu là phải làm thế nào xây dựng được đội ngũ
công nhân lớn về số lượng và mạnh về chất lượng, có trình độ chuyên môn – kỹ
thuật cao, năng động, sáng tạo, có lương tâm nghề nghiệp, ý thức chính trị vững
vàng… Để xây dựng đội ngũ công nhân như vậy, không phải là việc đơn giản, dễ
1


dàng, có thể thực hiện trong một sớm một chiều mà là quá trình lâu dài, phức tạp
với nhiều lộ trình, bước đi phù hợp.
Xuất phát từ nhận thức như vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo, quản lý đất
nước, Đảng và Nhà nước ta không ngừng xây dựng và hoàn thiện các quan điểm,
chủ trương, đường lối, chính sách phát triển giai cấp công nhân. Nhờ vậy, đến nay
giai cấp công nhân nước ta đã có bước phát triển đáng kể cả về số lượng, chất lượng
và cơ cấu, đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá của đất nước.
Ở nước ta hiện nay, dưới sự lãnh đạo của của Đảng và quản lý của Nhà nước
thông qua hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách, các địa
phương tiếp thu và tuỳ vào điều kiện kinh tế - xã hội của mình mà chủ động, sáng
tạo đưa ra các giải pháp, bước đi phù hợp. Điển hình là Thành phố Hồ Chí Minh.
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn có vị trí chiến lược quan trọng khu vực
Nam Bộ và là trung tâm kinh tế công nghiệp – dịch vụ lớn nhất, nơi tập trung đông
lực lượng công nhân của nước ta. Hàng năm, đóng góp hơn 20% GDP của cả nước.
Vị thế ấy được xác lập nhờ vào vai trò quan trọng và đóng góp to lớn của đội ngũ
công nhân của Thành phố. Các Nghị quyết, chính sách của Thành uỷ và Uỷ ban
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh luôn khẳng định công nhân là lực lượng sản xuất
chủ yếu trong tất cả các lĩnh vực và các thành phần kinh tế; là những chủ nhân đang
cùng cả Thành phố đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh
tế tri thức, đô thị hoá và hội nhập quốc tế…
Công nhân Thành phố Hồ Chí Minh đang hoạt động trong môi trường kinh tế
- xã hội điển hình của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, với sự phát
triển mạnh mẽ của các loại máy móc tiên tiến, công nghệ tự động hoá. Đây là cơ hội
để giai cấp công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh nâng cao trình độ học vấn, tay
nghề, chất lượng cuộc sống. Đồng thời cũng là thách thức lớn, đòi hỏi Đảng bộ,
chính quyền và toàn giai cấp công nhân phải nỗ lực không ngừng mới có thể đáp
ứng yêu cầu đặt ra.
Để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cũng như thực hiện sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là phải xây
2


dựng giai cấp công nhân phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển công
nghiệp trong điều kiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Qua nghiên cứu giai
cấp công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi ghi nhận một số thực trạng sau:
đó là thiếu hụt công nhân có trình độ tương ứng phục vụ cho các kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của Thành phố; tình trạng phân hoá về trình độ học vấn, chuyên
môn – kỹ thuật, chất lượng cuộc sống, chất lượng việc làm giữa các bộ phận của
giai cấp công nhân; đời sống và điều kiện làm việc của bộ phận lớn công nhân còn
nhiều khó khăn; trình độ lý luận, tính tích cực chính trị, ý thức pháp luật còn nhiều
hạn chế; vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp chưa phát huy
hiệu quả; quan hệ lao động còn tồn tại nhiều mâu thuẫn, tiềm ẩn xung đột chủ
thợ….
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “giai cấp công nhân Thành phố Hồ Chí
Minh hiện nay, thực trạng và giải pháp phát triển” để làm luận văn tốt nghiệp.
Công trình nghiên cứu này không chỉ cần thiết cho Thành phố Hồ Chí Minh, mà
còn cung cấp những luận cứ cần thiết có thể giúp cho việc xây dựng và hoàn thiện
những quan điểm, chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển giai cấp công nhân
cả nước trong bối cảnh mới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ khi giai cấp công nhân Việt Nam được hình thành đến nay, đã có nhiều
công trình khoa học nghiên cứu giai cấp công nhân Việt Nam nói chung, đội ngũ
công nhân Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Mỗi công trình tuỳ theo mục đích
nghiên cứu tập trung vào những góc độ khác nhau. Có thể kể ra một số công trình
tiêu biểu như:
Thứ nhất, dưới góc độ nghiên cứu giai cấp công nhân Việt Nam có các công
trình: “Một số vấn đề về giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay” của tác giả Bùi
Đình Bôn, Nxb. CTQG, Hà Nội, 1997: đây là tác phẩm nghiên cứu hầu như gần hết
các vấn đề lý luận về giai cấp công nhân Việt Nam; tác phẩm “Giai cấp công nhân
Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế” của
trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên Lý luận chính trị, Nxb. CTQG, Hà Nội,
3


2010: đây tập hợp rất nhiều nghiên cứu của các tác giả thuộc Trung tâm đào tạo, bồi
dưỡng giảng viên lý luận chính trị thuộc đại học quốc gia Hà Nội. Tác phẩm này tập
trung nghiên cứu những vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước ta hiện nay và
mối quan hệ giữa giai cấp công nhân với sự nghiệp công nghiệp, hiện đại hoá nước
ta. Tác phẩm “Một số vấn đề về giai cấp công nhân và công đoàn Việt Nam” tác giả
Văn Tạo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997: tác phẩm này tác giả tập trung
phân tích mối quan hệ giữa giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn trong suốt quá
trình phát triển của giai cấp công nhân nước ta; tác phẩm“Một số vấn đề xây dựng
và phát huy vai trò giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá” của Viện Công nhân và công đoàn. Nxb. Lao động, Hà Nội, 2004;
đây là những nghiên cứu của tập thể Viện Công nhân và công đoàn về thực trạng
giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện
nay; tác phẩm “Xu hướng vận động của giai cấp công nhân Việt nam trong quá
trình đổi mới” của tác giả Phạm Văn Giang, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2012; trên cơ sở
phân tích các đặc trưng của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay, tác đưa ra nhận
định về xu hướng phát triển của giai cấp công nhân trong quá trình đổi mới….
Thứ hai, dưới góc độ nghiên cứu giai cấp công nhân Thành phố Hồ Chí Minh
có các công trình: “Góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam từ thực trạng
công nhân Thành phố Hồ Chí Minh”, công trình của PGS,TS.Nguyễn Đăng Thành,
Nxb. CTQG, Hà Nội, 2008: đây là công trình nghiên cứu toàn diện thực trạng giai
cấp công nhân Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986 – 2008. Từ dó, tác giả đưa
ra một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay; tác phẩm“Xu hướng biến đổi giai cấp công nhân ở Thành phố Hồ
Chí Minh, Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Khánh Vân: trên cơ sở nghiên cứu thực
trạng giai cấp công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả dự báo xu hướng biến
đổi của giai cấp này trong thời gian tới. Từ đó đề xuất các giải pháp cơ bản để phát
triển giai cấp công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhìn chung các công trình nêu trên nghiên cứu rất nhiều vấn đề về giai cấp
công nhân Việt Nam cũng như đội ngũ công nhân Thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ
4


sở tiếp thu, kế thừa những quan điểm phù hợp kết hợp với chọn lọc, thống kê, phân
tích, tổng hợp các số liệu thực tế về giai cấp công nhân Thành phố Hồ Chí Minh,
bản thân muốn đánh giá tổng thể thực trạng giai cấp công nhân Thành phố Hồ Chí
Minh giai đoạn từ khi đất nước bắt đầu đổi mới (1986) cho đến nay. Từ đó đề xuất
các giải pháp phù hợp, khả thi để có thể phát triển đội ngũ công nhân Thành phố nói
riêng, cả nước nói chung giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, Tác giả muốn làm rõ thực trạng giai cấp công nhân Thành
phố Hồ Chí Minh hiện nay. Từ đó đưa ra các nhóm giải pháp phù hợp để phát triển
giai cấp công nhân Thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những vấn đề sau
đây:
- Thứ nhất, hệ thống lại lý luận chung về giai cấp công nhân;
- Thứ hai, đánh giá thực trạng đội ngũ công nhân và quá trình xây dựng giai
cấp giai cấp công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh;
- Thứ ba, trên cơ sở nội dung đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp cơ
bản để phát triển giai cấp công nhân Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng luận văn tập trung nghiên cứu là giai cấp công nhân Thành phố
Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu giai cấp công nhân trên địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
5


Cơ sở lý luận chủ yếu của luận văn là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về giai cấp công
nhân; các công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân của các học giả trong nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng các quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm toàn diện, quan
điểm phát triển kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành
như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh… để thực hiện mục đích của luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu của luận văn cung cấp thêm cơ sở lý luận và thực tiễn,
nhằm phát triển giai cấp công nhân, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo còn bao
gồm 3 chương 8 tiết.
Chương 1: Lý luận chung về giai cấp công nhân
Chương 2: Thực trạng giai cấp công nhân Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Chương 3: Phương hướng và những giải pháp cơ bản phát triển giai cấp công
nhân Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.

6


Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN
1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về giai cấp công nhân
1.1.1. Khái niệm giai cấp công nhân
Về khái niệm giai cấp công nhân, trong Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng
sản, Ph.Ăngghen coi “giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm
sống bằng việc bán lao động của mình, chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất
cứ số tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ
sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vào tình hình
chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc
cạnh tranh không gì ngăn cản nổi. Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp những
người vô sản là giai cấp lao động trong thế kỷ XIX”, là “giai cấp những người hoàn
toàn không có của” [38, tr456].
Như vậy, đặc trưng chủ yếu của giai cấp vô sản, hay giai cấp công nhân thế
kỷ XIX, theo Ph.Ăngghen, đó là những người lao động không có tư liệu sản xuất,
không có của cải, không có tài sản gì khác ngoài tài sản sức lao động của bản thân;
phải bán sức lao động, đi làm thuê trong các lĩnh vực lao động sản xuất vật chất
nặng nhọc để được nhận một khoản giá trị sức lao động gọi là tiền lương nhằm tái
sản xuất sức lao động của mình.
Đến thư Gửi Đại hội quốc tế các sinh viên xã hội chủ nghĩa, Ph.Ăngghen đã
nêu ra một quan điểm mới khi ông hy vọng các sinh viên “hãy cố gắng làm cho
thanh niên ý thức được rằng giai cấp vô sản lao động trí óc phải được hình thành từ
hàng ngũ sinh viên, giai cấp đó có sứ mệnh phải kề vai sát cánh và cùng đứng trong
một đội ngũ với những người anh em của họ, những người công nhân lao động chân
tay”, bởi vì, trong “sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân còn cần phải có những
bác sỹ, kỹ sư, nhà hoá học, nông học và các chuyên gia khác, vì vấn đề là phải nắm
lấy việc quản lý không phải chỉ bộ máy chính trị, mà còn cả toàn bộ nền sản xuất xã
hội nữa”[40, tr613]. Điều đó có nghĩa rằng, trong giai cấp công nhân tương lai sẽ có
những công nhân tri thức, sẽ có tầng lớp lao động trí óc.
7


Điều này cũng phù hợp với quan niệm của C.Mác. Bởi vì, từ nửa sau thế kỷ
XIX, do nhận thấy sự tăng lên không ngừng của đội ngũ những người lao động trí
óc nhằm đáp ứng các nhu cầu của các ngành sản xuất khác nhau của chủ nghĩa tư
bản, C.Mác đã nói đến những khái niệm “người công nhân tổng thể”, “giai cấp vô
sản trí óc”, “giai cấp đông đảo những người giám đốc công nghiệp và thương
nghiệp”... Quan niệm mới của C.Mác và Ph.Ăngghen về các bộ phận khác nhau họp
thành giai cấp công nhân được xem như cơ sở để chúng ta nghiên cứu về giai cấp
công nhân trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá theo hướng hiện đại và hội
nhập ngày càng sâu hơn với quốc tế.
Với V.I.Lênin, trước khi đưa ra quan niệm về giai cấp công nhân, ông đã xây
dựng định nghĩa giai cấp, làm tiêu chuẩn để phân chia cơ cấu giai cấp – xã hội. Từ
đó nhận thức đúng về giai cấp công nhân. V.I.Lênin cũng đã chỉ ra đặc điểm nổi bật
của giai cấp công nhân là lao động bằng phương thức công nghiệp, với đặc trưng:
công cụ lao động là máy móc, có năng suất lao động cao, quá trình lao động mang
tính xã hội hoá. V.I.Lênin viết: “… đại công nghiệp cơ khí khác với các hình thức
công nghiệp trước đây, có thể tóm tắt như sau: xã hội hoá lao động … sản xuất ở
trong nước ngày càng được xã hội hoá, và do đấy, làm cho người tham gia sản xuất
cũng càng được xã hội hoá” [30, tr693]. V.I.Lênin còn nhấn mạnh: công nhân chỉ
bao gồm những ai do điều kiện sinh sống của bản thân mà thực sự có đầy đủ tâm lý
vô sản; song muốn có đầy đủ tâm lý đó thì phải làm việc nhiều năm trong công
xưởng, do những điều kiện chung về sinh hoạt kinh tế và xã hội bắt buộc.
Như vậy, quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin đều cho
rằng giai cấp vô sản (giai cấp công nhân) là do nền đại công nghiệp sinh ra, là
những người trực tiếp vận hành các công cụ sản xuất công nghiệp, tồn tại, phát triển
cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp. Bên cạnh đó, về mặt lịch sử, giai
cấp công nhân là sản phẩm xã hội của quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa, một xã
hội có “điều kiện tồn tại dựa trên cơ sở chế độ làm thuê”.
1.1.2. Những đặc điểm cơ bản của giai cấp công nhân
Là con đẻ của nền đại công nghiệp, được rèn luyện trong môi trường lao
động công nghiệp, nên giai cấp công nhân có những đặc điểm tiến bộ so với các giai
8


tầng khác trong xã hội, dù ở thế kỷ XIX với nền công nghiệp cơ khí hoá hay nền
công nghiệp tự động hoá, kinh tế tri thức hiện nay. Đó là:
Thứ nhất, giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến
Là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại, có trình độ xã hội hoá
ngày càng cao và sản xuất ra tuyệt đại bộ phận của cải vật chất cho xã hội, nên giai
cấp công nhân là giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến cao hơn
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Nền sản xuất công nghiệp phát triển cũng luôn đặt yêu cầu ngày càng cao đối
với công nhân. Đồng thời thu hút mọi giới tinh hoa trong xã hội phục vụ cho guồng
máy công nghiệp, đặc biệt là đội ngũ trí thức. Trong giai cấp công nhân xuất hiện
những công nhân kỹ thuật, kỹ sư, nhà quản lý, bản thân người công nhân cũng dần
được trí thức hoá. Nền đại công nghiệp hiện đại không chỉ tạo ra giai cấp công
nhân, mà còn tạo ra môi trường để giai cấp công nhân không ngừng rèn luyện, nâng
cao vị trí, vai trò trong nền sản xuất và trong đời sống xã hội. C.Mác và
Ph.Ănghghen từng chỉ rõ: các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự
phát triển của nền đại công nghiệp, giai cấp vô sản trái lại là sản phẩm của nền đại
công nghiệp đó.
Từ khi giai cấp công nhân bước lên vũ đài chính trị, có Đảng tiên phong lãnh
đạo, được vũ trang bằng lý luận Mác-Lênin thì tính tiên tiến càng được củng cố và
không ngừng được nâng cao. Do giữ vai trò chủ yếu trong nền sản xuất lớn, có lợi
ích phù hợp với lợi ích cơ bản của nhân dân lao động, giai cấp công nhân là giai cấp
duy nhất có thể lãnh đạo nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc
lột, đấu tranh cho dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Như vậy, nền đại công nghiệp là môi trường ươm mầm, nuôi dưỡng những
phẩm chất tiên tiến cho giai cấp công nhân. Trình độ học vấn, tay nghề ngày càng
cao làm cho công nhân tiến tới sự giác ngộ chính trị và ý thức vai trò của mình
trước xã hội ngày càng mạnh mẽ.
Thứ hai, giai cấp công nhân là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để
Trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân ở vị thế bị áp
bức, bóc lột. Giai cấp tư sản chiếm giữ quyền lực kinh tế và chính trị, trở thành giai
9


cấp thống trị. Về kinh tế, giai cấp tư sản nắm quyền sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất
cơ bản của xã hội, do đó, chi phối quyền tổ chức, quyền quản lý sản xuất và phân
phối sản phẩm. Về chính trị, giai cấp tư sản nắm quyền lực nhà nước, dùng nó làm
công cụ bảo vệ cho quyền hữu sản của mình. Là giai cấp đại diện cho lực lượng sản
xuất, nhưng giai cấp công nhân bị gạt ra khỏi quyền lực nhà nước, ở địa vị xã hội bị
lệ thuộc, bị áp bức. Thực tế đó đẩy giai cấp công nhân vào vị thế đối lập với toàn bộ
thế giới tư bản, công nhân không có gì là của mình để bảo vệ cả. Điều đó, quy định
tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống chủ
nghĩa tư bản.
Bàn về vấn đề này, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã phân tích: trong cuộc đấu tranh này, giai cấp công nhân không mất
gì, nếu mất chỉ mất xiềng xích và sự áp bức, nếu được, giai cấp công nhân được cả
thế giới. Vì vậy, giai cấp công nhân chỉ có thể được hoàn toàn giải phóng khi xoá
bỏ chủ nghĩa tư bản – chế độ cuối cùng xây dựng trên cơ sở chiếm hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất. Trong cuộc đấu tranh này, giai cấp công nhân không những giải
phóng cho mình mà giải phóng cho toàn xã hội.
Thứ ba, giai cấp công nhân là giai cấp có ý thức tổ chức kỷ luật cao.
Trong nền sản xuất công nghiệp hiện đại, lao động công nghiệp với kỷ luật
khắc nghiệt, buộc người công nhân phải tuân thủ để, thứ nhất, bảo đảm an toàn
trong quá trình vận hành hệ thống máy móc hiện đại; thứ hai, bảo đảm chất lượng
sản phẩm sản xuất ra theo đúng quy cách và yêu cầu; thứ ba, bảo đảm quá trình sản
xuất diễn ra đồng bộ, có sự liên kết chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các bộ phận, dây
chuyền sản xuất. Kỷ luật lao động là thuộc tính của người công nhân, được nền sản
xuất công nghiệp trang bị cho. Theo Lênin, công nhân trong nền đại công nghiệp có
sự phát triển nhiều hơn hết về ý thức tổ chức kỷ luật và phẩm chất cách mạng.
Như vậy, kỷ luật khắc nghiệt trong lao động công nghiệp đã tôi luyện cho
giai cấp công nhân ý thức tổ chức, kỷ luật cao. Trong thời đại ngày nay, ý thức tổ
chức kỷ luật của giai cấp công nhân tiếp tục được giữ gìn và phát huy đang góp
phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
10


Thứ tư, giai cấp công nhân có sự đoàn kết chặt chẽ
Trong quá trình sản xuất, tính chất xã hội hoá của nền sản xuất công nghiệp
đã làm cho giai cấp công nhân thống nhất về đội ngũ. Những cuộc đấu tranh của
giai cấp công nhân không diễn ra lẻ tẻ, mà là những phong trào chính trị rộng lớn,
lôi cuốn triệu triệu người tham gia. Kết quả của chúng là sự đoàn kết rộng rãi, chặt
chẽ của người lao động hơn là những thành công tức thời mà họ giành được. Bản
thân giai cấp công nhân cũng ý thức được sức mạnh của sự đoàn kết và việc giữ gìn
sự đoàn kết thống nhất đó.
Cùng với ý thức tổ chức kỷ luật, sự đoàn kết đội ngũ, giai cấp công nhân có
khả năng tự thành lập tổ chức của mình. Khi có tổ chức, sức mạnh của họ được
nâng lên gấp bội, đó là sức mạnh của giai cấp lao động ngày càng có tri thức khoa
học để làm chủ quá trình sản xuất; làm chủ xã hội. Sức mạnh của một giai cấp có kỷ
luật, có tổ chức và đoàn kết đội ngũ rộng lớn, chặt chẽ, mà tổ chức cao nhất là Đảng
Cộng sản.
Thứ năm, giai cấp công nhân là giai cấp có bản chất quốc tế
Do giai cấp công nhân tất cả các nước đều có địa vị kinh tế - xã hội và lợi ích
giống nhau, nên mục tiêu đấu tranh là thống nhất. Xoá bỏ chủ nghĩa tư bản, giải
phóng cho giai cấp mình và giải phóng cho toàn thể xã hội khỏi mọi áp bức, bất
công đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Mặt khác, khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa,
giai cấp tư sản các nước liên minh với nhau trên phạm vi thế giới, tăng cường áp
bức bóc lột và chống phá quyết liệt phong trào cách mạng của giai cấp công nhân.
Vì vậy sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, phối hợp đấu tranh trên phạm vi thế giới là tất
yếu trong sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân. Cuộc đấu tranh cách mạng của
giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản về thực chất là cuộc đấu tranh quốc tế.
Tình đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân được thể hiện trong cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa tư bản và được củng cố, phát triển sau khi giai cấp công nhân đã
giành được chính quyền, bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng
sản.
11


Từ những đặc điểm trên cho thấy, giai cấp công nhân vừa là sản phẩm, vừa là
chủ thể của nền sản xuất công nghiệp ngày càng hiện đại và mang tính quốc tế hoá.
Vì vậy, giai cấp công nhân vừa là lực lượng lãnh đạo quá trình chuyển biến cách
mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trong mỗi
nước cũng như trên phạm vi toàn thế giới.
Tóm lại, giai cấp công nhân gắn liền với phương thức sản xuất công nghiệp
ngày càng hiện đại, mang tính xã hội hoá cao. Phương thức sản xuất quy định
phương thức tư tưởng. Vì vậy, giai cấp công nhân có được những đặc điểm của một
giai cấp cách mạng như: tính tổ chức, kỷ luật, tinh thần cách mạng triệt để; tính
đoàn kết quốc tế… những phẩm chất này khách quan xác định giai cấp công nhân là
giai cấp tiên tiến nhất, cách mạng nhất và thông qua đội tiền phong của mình là
Đảng Cộng sản có năng lực lãnh đạo các giai cấp khác trong sự nghiệp xây dựng xã
hội mới.
1.1.3. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Sứ mệnh lịch sử toàn thế giới là sự nghiệp của một giai cấp đại biểu cho
phương thức sản xuất tiên tiến, đại diện cho tiến bộ xã hội để xác lập một hình thái
kinh tế - xã hội mới thay thế cho hình thái kinh tế - xã hội đã lỗi thời.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là toàn bộ những nhiệm vụ cơ bản,
tất yếu mà địa vị kinh tế - xã hội của nó trong chủ nghĩa tư bản đã đòi hỏi, tạo điều
kiện cho nó cần phải và có thể thực hiện nhằm thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng
và xác lập xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Sứ mệnh này được thể
hiện ở ba nội dung cơ bản:
Thứ nhất, nội dung kinh tế
Giai cấp công nhân dù ở chế độ chính trị nào, cũng là chủ thể của quá trình
sản xuất vật chất bằng phương thức sản xuất công nghiệp mang tính chất xã hội hoá
cao, sản xuất ngày càng nhiều của cải vật chất, đáp ứng những nhu cầu ngày càng
tăng của con người. Qua đó, họ tạo ra tiền đề vật chất – kỹ thuật cho sự ra đời của
xã hội mới.
Ở các nước tư bản chủ nghĩa hiện nay, từ vị thế của mình, giai cấp công nhân
đang thực hiện nội dung kinh tế này thông qua cách mạng khoa học và công nghệ
12


hiện đại, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội hoá mạnh mẽ. Ở các nước xã hội chủ
nghĩa, thông qua quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giai cấp công nhân thực
hiện “một kiểu tổ chức xã hội mới về lao động” để tăng năng suất lao động và thực
hiện tiến bộ, công bằng xã hội.
Nội dung kinh tế này là yếu tố quan trọng nhất khẳng định sự cần thiết và
quy mô phạm vi toàn thế giới về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đối với quá
trình phát triển văn minh nhân loại. Thực hiện đầy đủ và thành công nội dung này
cũng là điều kiện vật chất để chủ nghĩa xã hội chiến thắng chủ nghĩa tư bản.
Thứ hai, nội dung chính trị - xã hội
Giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản, tiến hành cách mạng chính trị lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa với tư cách
là một chế độ chính trị còn áp bức, bất công, để xác lập, bảo vệ và phát triển chế độ
dân chủ xã hội chủ nghĩa với mục tiêu tối thượng là giải phóng con người khỏi mọi
sự áp bức, bóc lột và được tạo điều kiện phát triển toàn diện. Nhà nước pháp quyền
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động được xác lập và .
3.3.5. Đối với Liên đoàn Lao động Thành phố
Là cơ quan có liên hệ trực tiếp với giai cấp công nhân, chỉ đạo các tổ chức cơ
sở nắm bắt tâm tư tình cảm, nguyện vọng của giai cấp công nhân. Báo cáo tình
hình, đề xuất các giải pháp, đồng thời tham mưu cho UBND Thành phố, giúp
UBND đưa ra các quyết sách phù hợp.
Kiện toàn tổ chức và phát huy vai trò của công đoàn trong xây dựng giai cấp
công nhân hiện nay. Theo đó, công đoàn các cấp cần đổi mới mạnh mẽ về tổ chức,
nội dung, phương thức hoạt động; đẩy mạnh công tác vận động, tập hợp công nhân
tự giác gia nhập và tham gia hoạt động công đoàn. Các cấp công đoàn cần hướng
mạnh hoạt động về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy lao động
69


làm đối tượng vận động, lấy chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của
người lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội làm mục tiêu hoạt động, chú trong đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao trình độ năng lực, hiểu biết chính sách, pháp luật và bản lĩnh cán bộ công
đoàn, nhất là chủ tịch công đoàn cơ sở ở các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước,
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
3.3.6. Đối với Sở Lao động, thương binh và xã hội
Chú trọng công tác Dự báo nhu cầu nguồn nhân lực và thông tin thị trường
của Thành phố. Nghiên cứu đưa ra sự báo chính xác, kịp thời để giải quyết việc làm
cho người lao động, doanh nghiệp, ổn định tình hình kinh tế - xã hội của Thành phố
Hồ Chí Minh.
Tiểu kết Chƣơng 3
Để giai cấp công nhân Thành phố Hồ Chí Minh thực sự phát triển, đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế - xã hội Thành phố hiện nay, cả hệ thống
chính trị cũng như mỗi công nhân tại đây phải thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải
pháp cơ bản, cụ thể như: nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn
nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghiệp trọng điểm, nâng cao chất
lượng cuộc sống, trình độ nhận thức chính trị, pháp luật của công nhân; hiệu quả
hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội… Trong đó cần tập trung vào nhóm giải
pháp đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao trình độ học vấn, tay nghề cho công nhân.
Trong điều kiện cách mạng 4.0 hiện nay, tri thức nhân tạo, robot thông minh đang
ngày càng phát triển và đi vào thực tiễn sản xuất, nếu giai cấp công nhân Thành phố
không sớm cải thiện được trình độ học vấn, tay nghề đáp ứng yêu cầu lao động sản
xuất sẽ phải đối diện với nguy cơ thất nghiệp hàng loạt, cùng với đó là các vấn đề
bất ổn về kinh tế - xã hội. Đây là trách nhiệm to lớn của cả hệ thống chính trị và giai
cấp công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh. Với quyết tâm xây dựng Thành phố trở
thành đô thị hiện đại, phát triển bậc nhất của cả nước và khu vực, Thành phố sẽ sớm
cải thiện vấn đề này, để giai cấp công nhân không ngừng lớn mạnh, góp sức cùng
nhân dân cả nước thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
70


KẾT LUẬN
Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang ngày càng
phát triển. Về mặt kinh tế, giai cấp công nhân là lực lượng cơ bản, chủ yếu, có vai
trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân. Mặc dù về số lượng, giai cấp công nhân nước
ta chiếm tỷ lệ không lớn trong tổng số dân cư nhưng lại nắm giữ những cơ sở vật
chất và các phương tiện sản xuất vật chất hiện đại nhất của xã hội, quyết định các
phương hướng phát triển chủ yếu của nền kinh tế. Giai cấp công nhân là lực lượng
lao động đóng góp nhiều nhất vào ngân sách nhà nước, với khoảng 60% tổng sản
phẩm xã hội và 70% ngân sách nhà nước. Về mặt xã hội, giai cấp công nhân nước ta
ngày càng tăng lên cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm
nòng cốt trong việc xây dựng khối liên minh vững chắc với nông dân, trí thức và
các tầng lớp lao động khác. Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là nhân tố quan
trọng để đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu, đẩy mạnh quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Về mặt chính trị, giai cấp công nhân Việt Nam là chỗ
dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước, luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, mục
tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, kiên quyết ủng hộ công cuộc đổi mới, kiên
cường phấn đấu và đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế trọng điểm phía Nam, giữ vị trí
quan trọng trong nền kinh tế - xã hội nước ta. Trong những năm qua, đóng góp rất
lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Để Thành phố có được vị trí, vai
trò là đầu tàu kinh tế cả nước như hiện nay, là nhờ sự đóng góp rất lớn của giai cấp
công nhân tại đây. Trong những năm gần đây giai cấp công nhân Thành phố Hồ Chí
Minh đã có bước phát triển tích cực, mạnh mẽ, đang tăng dần về số lượng và chất
lượng; ngày càng đa dạng về cơ cấu; là lực lượng sản xuất cơ bản đang trực tiếp
tham gia vào việc tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh, vận hành, sử dụng các
công cụ, phương tiện sản xuất tiên tiến, hiện đại, có vai trò quan trọng là lực lượng
đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế.
Cùng với các giai tầng khác trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giai cấp công
nhân Thành phố đã có đóng góp lớn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước.
71


Tuy nhiên, sự phát triển của giai cấp công nhân Thành phố hiện nay vẫn
chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội
nhập kinh tế quốc tế cả về số lượng và chất lượng. Ở Thành phố hiện đang thiếu
trầm trọng các chuyên gia kỹ thuật, công nhân lành nghề nhưng lại thừa số lượng
lớn lao động chưa qua đào tạo ở hầu hết các ngành, các thành phần kinh tế; tác
phong công nghiệp và kỷ luật lao động của công nhân còn nhiều hạn chế, trình độ
giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân không đồng đều, có một bộ
phận công nhân chưa hiểu hết về vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình; ít hiểu
biết về chính sách, pháp luật. Tỷ lệ đảng viên xuất thân từ công nhân còn thấp. Một
bộ phận công nhân chưa thiết tha phấn đấu vào Đảng và không hăng hái tham gia
hoạt động trong các đoàn thể chính trị - xã hội. Việc làm và đời sống của công nhân
còn nhiều khó khăn, bức xúc.
Nguyên nhân cơ bản của thực trạng này là do chủ trương, đường lối lãnh đạo
của Đảng đối với việc xây dựng giai cấp công nhân chưa thực sự đi vào cuộc sống,
chưa ngang tầm với vị trí, vai trò của giai cấp công nhân trong thời kỳ đổi mới. Nhà
nước tuy đã ban hành nhiều chính sách pháp luật chăm lo đến việc làm, đời sống,
đào tạo nghề cho công nhân, nhưng việc tổ chức thực hiện chưa được tốt; còn nhiều
hạn chế, yếu kém trong việc bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của giai cấp công
nhân. Bản thân giai cấp công nhân đã có nhiều nỗ lực vươn lên nhưng chưa đáp ứng
được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trình độ
chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong lao động của công nhân chưa đáp ứng
được yêu cầu, chưa chấp hành tốt quy trình, quy định trong sản xuất; tổ chức công
đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác chưa tập hợp được đông đảo công nhân,
lao động để bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện về ý chí chính trị, ý thức pháp luật, đạo
đức, lối sống. Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế còn nhiều vi phạm về
chính sách, pháp luật đối với người lao động, chưa tạo điều cho công nhân học tập,
nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Với mong muốn xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành Thành phố văn
minh, hiện đại với vai trò đô thị đặc biệt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
72


hiện đại hoá, đóng góp ngày càng lớn cho khu vực và cả nước; từng bước trở thành
trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học – công nghệ của đất nước
và khu vực Đông Nam Á; góp phần tích cực đưa nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, Thành phố Hồ Chí Minh cần tập
trung thực hiện tốt những nhóm giải pháp cơ bản, như nâng cao chất lượng đào tạo
trình độ chuyên môn, tay nghề; cải thiện đời sống vật chất và tinh thần; nâng cao ý
thức chính trị, ý thức pháp luật cho công nhân. Bên cạnh đó, cần điều chỉnh cơ chế
hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội để có thể đáp ứng điều kiện hiện nay.
Giai cấp công nhân là một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu chính trị, xã
hội của Thành phố Hồ Chí Minh, xây dựng và phát triển giai cấp công nhân chính là
nhiệm vụ đặc biệt quan trọng mà toàn hệ thống chính trị Thành phố đang hướng tới.
Với sự quan tâm sâu sắc và bằng các giải pháp phù hợp, thời gian tới giai cấp công
nhân Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có bước phát triển mạnh mẽ, đủ sức thực hiện sứ
mệnh lịch sử giao phó.

73


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Liên đoàn lao động Thành phố Hồ Chí Minh (2018) Báo cáo Đại hội Công
đoàn Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2018-2023, tháng 8 năm 2018,
Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bộ Luật Lao động của của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(2012), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Hoàng Chí Bảo – Nguyễn Viết Thông – Bùi Đình Bôn (đồng chủ biên:
2010) Một số vấn đề phát triển lý luận về giai cấp công nhân Việt Nam trong điều
kiện kinh tế thị trường đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc
tế, Nxb. Lao động, Hà Nội.
4. Hoàng Chí Bảo (2008) Tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân và
vai trò của giai cấp công nhân đối với cách mạng Việt Nam, kỷ yếu hội thảo khoa
học: xây dựng và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam trong điều kiện hiện nay,
Hà Nội.
5. Hoàng Chí Bảo (2014) Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta
về vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân nói chung và giai cấp công nhân Việt
Nam nói riêng. Tạp chí Phát triển nhân lực số 7, tr 7-12.
6. Bùi Đình Bôn (1999) Giai cấp công nhân Việt Nam – mấy vấn đề lý luận
và thực tiễn, Nxb. Lao động, Hà Nội.
7. Bùi Đình Bôn (2008) Nhiệm vụ và giải pháp xây dựng giai cấp công nhân
Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Tạp chí Giáo
dục lý luận chính trị quân sự số 1, tr5-7.
8. Chu Văn Cấp (2012), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần
phát triển bền vững Việt Nam, Tạp chí Cộng sản số 839, tr 54-58.
9. Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh (2015) Niên giám thống kê 2015
10. Nguyễn Trọng Chuấn (2009) Xu hướng phát triển của giai cấp công
nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá theo hướng hiện đại và hội
nhập quốc tế


11. Nguyễn Trọng Chuẩn (2013) Cần có nghiên cứu cơ bản về giai cấp công
nhân trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, tạp chí Phát triển nhân lực, số
5, tr 9-13.
12. Lê Duẫn (1975) Vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam và nhiệm vụ
công đoàn trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Nxb. Sự thật, Hà Nội.
13. Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
(2001), đề tài khoa học: xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay.
14. Đại học quốc gia Hà Nội – trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý
luận chính trị (2010), Giai cấp công nhân Viên Nam trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện hội nghị lần thứ sáu ban
Chấp hành Trương ương khoá X, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam – Ban Bí thư (2008), chỉ thị số 22-CT/TW về
“Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ lao động hài hoà,
ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp”, Hà Nội.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Nghị quyết của Bộ Chính trị về phương
hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020.
19. Đặng Quang Điều (2012) Nhà ở của người lao động trong các khu công
nghiệp, khu chế xuất – thực trạng và giải pháp, Tạp chí Tuyên giáo, số 7, tr 66-69.
20. Trần Văn Giàu (1985), giai cấp công nhân Việt Nam, Nxb. Sự Thật, Hà
Nội.
21. Phạm Văn Giang (2013) Xu hướng vận động của giai cấp công nhân Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
22. Thu Hà (2013) xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam theo Nghị quyết
20: cần sự chung tay của các cấp, các ngành. Tap chí cộng sản, ngày 2-7-2013.


23. Nguyễn Minh Hạnh (2008), tư tưởng Mác-Ăngghen về giai cấp vô sản và
vấn đề xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, tạp chí Phát triển nhân lực, số 4, tr 45-47.
24. Bùi Thị Kim Hậu (Chủ biên) (2014) Giáo trình học thuyết Sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
25. Trịnh Thị Hiền (2018) Đời sống văn hóa tinh thần của đội ngũ công
nhân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh: Đôi điều suy ngẫm
%2Fweb%2Fguest%2Fan-sinh-xa-hoi>
26. Hội đồng lý luận Trung ương (2012) đề tài nghiên cứu khoa học: vai trò
lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng
sản Việt nam trong thời kỳ mới.
27. Đặng Xuân Kỳ (2008) Một số vấn đề về giai cấp công nhân Việt Nam
hiện nay, Kỷ yếu hội thảo khoa học: xây dựng và phát triển giai cấp công nhân Việt
Nam trong điều kiện hiện nay, Hà nội, tháng 1, tr 43-68.
28. Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh
(2007) Khảo sát đề tài nghiên cứu khoa học: đời sống công nhân khu công nghiệp,
khu chế xuất.
29. Khoa kinh tế phát triển (2001) Mối quan hệ nâng cao chất lượng lao
động với giải quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, Học viện chính trị quốc gia, Hà Nội.
30. Lênin (1997) Toàn tập, tập 3, Nxb. Tiến bộ Matxcơva.
31. Lênin (1977) Toàn tập, tập 39, Nxb. Tiến bộ Matxcơva
32. Lênin (1978) Toàn tập, tập 44, Nxb. Tiến bộ Matxcơva
33. Liên đoàn lao động Thành phố Hồ Chí Minh (2014) Báo cáo tình hình
công nhân, viên chức, lao động và hoạt động công đoàn Thành phố năm 2013,
phương hướng, nhiệm vụ công tác Công đoàn năm 2014.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×