Tải bản đầy đủ

Các loại hình làng xã trong lịch sử Việt Nam

Lời mở đầu
Làng xã Việt Nam là hình ảnh vô cùng quen thuộc mà ở bất kì vùng nông
thôn nào ta cũng có thể bắt gặp. Một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc là biểu
hiện cao nhất của tinh thần độc lập tự chủ, biểu hiện tiềm năng sáng tạo vô hạn
của dân tộc. Bản sắc văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, tinh
hoa mà dù cho trải qua bao thăng trầm của lịch sử nó vẫn được lưu giữ, bảo tồn:
Lòng nhân ái, lòng yêu nước, ý thức dân tộc,… Những giá trị đó được kế thừa
qua bao thế hệ làm nên bản sắc riêng của văn hóa Việt Nam mà trong đó không
thể phủ nhận vai trò của làng xã gã góp phần bồi dưỡng những giá trị văn hóa
này. Từ xưa đến nay, làng xã vẫn đóng vai trò quan trọng trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống. Làng có vị trí đặc biệt với lịch sử dân tộc nói chung và đối với mỗi
người dân Việt Nam nói riêng. Làng phonh phú, đa dạng với nhiều loại hình và
hình tức khác nhau. Chính vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu về các loại hình
làng xã Việt Nam là một đề tài có sức hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu. Sau
đây, chúng ta sẽ đi tìm hiểu về đề tài: “ Các loại hình làng xã trong lịch sử Việt
Nam”
Bố cục bài:
Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển của các làng xã ở Việt Nam.
Chương 2 : Các loại hình làng xã trong lịch sử Việt nam.
Chương 3: Tư tưởng, văn hóa làng xã và kết cấu kinh tế của làng xã Việt
Chương 4: Làng xã Việt trong thời kì hiện nay.


1


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC
LOẠI HÌNH LÀNG XÃ Ở VIỆT NAM
1. Khái niệm
Làng hay Ngôi làng là một khu định cư của một cộng đồng người, nó lớn
hơn xóm, ấp nhưng nhỏ hơn một thị trấn, với dân số khác nhau, từ một vài trăm
đến một vài ngàn. Những ngôi làng thường nằm ở nông thôn, song cũng có
những có ngôi làng thành thị. Làng thường là một điểm tụ cư cố định, với những
ngôi nhà cố định, tuy nhiên cũng có những ngôi làng xuất hiện tạm thời rồi
nhanh chóng tan rã. Một ngôi làng điển hình thường khá nhỏ, có thể có từ 5 đến
30 gia đình. Các ngôi nhà được xây dựng gần nhau để hợp tác và bảo vệ, khu đất
xung quanh khu nhà được sử dụng để trồng trọt và chăn nuôi. Các làng chài
truyền thống sinh sống dựa trên nghề đánh bắt thủ công và nằm gần các khu vực
đánh cá.
Xã hiện nay là tên gọi chung các đơn vị hành chính thuộc cấp thấp nhất ở
khu vực nông thôn, ngoại thành, ngoại thị của Việt Nam. Thuật ngữ đơn vị hành
chính cấp xã đôi khi được dùng để chỉ toàn bộ cấp đơn vị hành chính thấp nhất
của Việt Nam, nghĩa là bao gồm cả xã, phường và thị trấn. Phân cấp hành chính
này có xuất xứ Trung Quốc và đã xuất hiện ở Việt Nam từ thời Bắc thuộc. Tại
Trung Quốc thời xưa, xã được chia theo diện tích, sáu lý vuông là một xã, hoặc
theo hộ khẩu, hai mươi lăm nhà là một xã.
Mối quan hệ giữa làng và xã: Thông thường một “xã” bao gồm một hoặc
nhiều “làng”, làng là đơn vị cấu thành của xã, đôi lúc mỗi xã chỉ có một làng
(xã ngang bằng với làng).Trường hợp một xã gồm nhiều thôn, thì thôn là phân
thể hành chính của xã nhưng không có tư cách pháp nhân. Trường hợp xã tương
đương với thôn thì thôn mang tính chất độc lập và nó cũng có tư cách pháp nhân
là đơn vị hành chính địa phương, cơ sở của nhà nước trung ương. Trong trường
hợp thôn có tư cách pháp nhân giống như xã thì người ta gọi ghép là xã thôn.

2


Do có nhiều xã chỉ gồm có một làng duy nhất nên người ta gọi chung là làng xã.
Do làng là một tập hợp bao gồm nhiều xóm nên người ta gọi là làng xóm.
2. Quá trình hình thành và phát triển
Khi con người nguyên thủy sống du canh du cư thì xóm làng không thể ra
đời. Khi nghề nông xuất hiện cùng với sự phát triển của nghề trồng lúa nước, thì
xóm làng mới được xúc tiến hình thành và phát triển. Con người tiến từ vùng
thượng du về đông bằng để làm nông nghiệp, chuyển từ quan hệ huyết
thống sang quan hệ láng giềng - địa vực. Họ dần biết hợp tác trong công tác
khai phá đất đai, đào kênh mương tưới nước, đắp đê chống lũ…, những công
việc không thể thực hiện bởi một người hay một gia đình. Sự cố kết ấy đã tạo ra
đơn vị tụ cư nhỏ đó là Xóm, xóm phát triển rộng ra hình thành nên làng, làng
xóm buổi đầu của người Việt là các kẻ chạ, chiềng… với quan hệ láng giềng địa vực và chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất (tức là các Công xã nông
thôn).
Các kẻ chạ có cơ sở kinh tế là các Công xã nông thôn. Trong các công xã
nông thôn phần lớn ruộng đất thuộc sở hữu công của làng xã, người nông dân
công xã cày cấy trên ruộng đất công của làng xã, sau đó trích một phần hoa lợi
nộp lên trên cho nhà nước và bộ máy điều hành của làng xã. Do đó người nông
dân Việt Nam có sự cố kết rất chặt chẽ, có tinh thần tự trị, tự quản rất cao, trở
thành một pháo đài xanh, núp sau lũy tre làng chống lại sự đồng hóa của phong
kiến phương Bắc sau hơn ngàn năm đô hộ. Bởi lẽ sau hơn ngàn năm đô hộ,
chính quyền phương Bắc chưa bao giờ đặt được ách cai trị và nắm được các cơ
sở kinh tế của làng xã (các công xã nông thôn), các kẻ chạ vẫn là bầu trời riêng
của người Việt.
Tên gọi “Xã” được nhà Đường du nhập vào Việt Nam, danh từ “Làng” trong
tiếng Việt đã thay thế cho các từ Kẻ, Chạ… thời xưa cũ. Như vậy, xã là danh từ
ngoại nhập và nó chỉ thực sự được sử dụng để chỉ đơn vị hành chính cấp cơ sở của
nhà nước từ thời họ Khúc (thế kỉ X) trở đi.
Trong lịch sử phát triển, làng xã Việt Nam đã qua 3 lần biến đổi lớn:
lần thứ nhất vào thế kỉ XV, do chính sách “quân điền” của Lê Thánh Tông,
3


nhằm chia ruộng đất cho nông dân cày cấy, đã phá vỡ sự tồn tại của ruộng đất
công làng xã. Lần thứ hai vào thời Pháp thuộc, do chủ trương “cải lương
hương chính” của thực dân Pháp đã làm thống nhất bộ máy quản lý làng xã.
Lần thứ ba vào nửa sau thế kỉ XX, do chủ trương xây dựng hợp tác xã nông
nghiệp, đã làm hiện đại hóa làng xã cổ truyền, mặt trái đã làm mất đi những
di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) cổ truyền của làng xã vốn được xây
dựng từ hàng ngàn năm qua.
Diện mạo của làng xã được quy định bởi các thiết chế được hình thành từ
bên trong làng xã. Đó là các thành tố tạo nên diện mạo( Cổng làng, cây đa đầu
làng, bến nước, giếng làng, đình làng (ra đời từ thế kỉ XV), hương lộ (đường
làng), lũy tre làng, xóm, ngõ, nhà ở, chùa làng, nghè, đền, miếu, chợ làng, cổng
phụ( cổng sau), cánh đồng làng). Đây là những thành tố tạo nên làng xã Việt
Nam cổ truyền, trong một làng khó có thể hội đủ các yếu tố trên, có chăng chỉ là
sự hiện diện của một số thành tố cơ bản như hương lộ, xóm ngõ, nhà ở, đình
làng, đền miếu và một số yếu tố khác mà thôi
3. Tên gọi làng xã
Các loại làng xã không những được hình thành theo những con đường
khác nhau qua các thời kì lịch sử
- Thời thuộc Đường: Chính quyền đô hộ biến được một số ít làng xã Việt
thành làng xã phụ thuộc vào chúng. Ở bộ phần làng xã này, nhà Đường gọi là
Hương hay Xã.
- Thời Đại Việt: Để xây dựng nhà nước độc lập, tự chủ, thoát khỏi ảnh
hưởng của chính quyền dô hộ Khúc Hạo tiến hành nhiều cải cách đất nước. Ông
bỏ tên gọi Hương, đổi thành giáp.
- Từ thời Lý- Trần trở về sau: đơn vị hành chính cấp cơ sở là xã. Có 3 loại xã
tùy theo quy mô và số hộ (đại xã, trung xã, tiểu xã) gọi là xã lớn, xã vừa và xã nhỏ.

4


CHƯƠNG 2: CÁC LOẠI HÌNH LÀNG XÃ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM
1. Các loại hình làng xã
Sự phát triển của kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp ,
đánh cá trong lịch sử nước ta ngày càng tăng tiến đã đưa đến sự ra đời của
nhiều loại hình làng xã khác nhau
- Làng Việt Cổ: Sự phát triển của làng xã người Việt trong lịch sử không
dẫn đến sự phá vỡ hoàn toàn của các làng xã “ nguyên thủy” để thành lập một cơ
sở xã hội mới. Làng Việt Cổ ( Công xã nông thôn) là những đơn vị cư trú của
người Việt Cổ, ra đời từ ngày đầu dựng nước , tiếp tục tồn tại ở nhiều thế kỉ sau.
Vào buổi đầu Công Nguyên theo kết quả thống kê của nhà Hán thì ở nước ta có
gần một triệu người với trên 14 vạn hộ dân, chuwsg tỏ số lượng loại làng Việt cổ
không ít. Càng làng xã cổ này vẫn chứa đựng những tàn dư nguyên thủy đượ ra
đời từ sự giải thể của các công xã nguyên thủy
- Các loại hình làng xã khác: Bên cạnh làng Việt Cổ, còn có nhiều làng xã
khác được thành lập trong xã hội có giai cấp , theo những con đờng khác nhau:
+ Làng xã được thành lập trên cơ sở nhân dân đứng ra tổ chức khai hoang:
Làng xã này được thành lập dưới thời Lý Trần và ngày càng có nhiều từ thế kỉ
XV trở về sau. Tên gọi cuẩ các làng xã này khá đa dạng, có khi mang tên một
dòng họ chủ trì việc khai hoang, lập làng như làng Nguyễn, Đàn Xá, Đõ Động,
…hoặc mang những mỹ tự
+ Làng xã nguyên là điền trang hay thái ấp của quý tộc, quan lại phong
kiến như các làng: Mỗ Trạch, Minh Luận, An Nội, Dương Xá,…
+ Làng nguyên là đồn điền của nhà nước như: Làng Quán La, Nhật Tảo
+ Làng xã được nhà nước chủ trì việc khai phá đất hoang, chiêu tập nông
dân không có ruộng đất, cung cấp kinh phí cho họ để khẩn hoang thành lập làng
ấp. Loại làng xã này được ra đời kha nhiều ở thế kỉ XIX
+ Làng xã được thành lập trên cơ sở tập hợp những người có cùng một
công việc: làng gỗ Đồng Kỵ, làng tranh Đông Hồ, làng gốm Phù Lãng,…
+ Làng xã được thành lập trên cơ sở những người có cùng tôn giáo, cùng
hệ tư tưởng, tín ngưỡng.
5


2. Phân loại hệ thống làng xã
Làng Việt đã trải qua một quá trình tồn tại và phát triển lâu dài theo sự mở
mang bờ cõi của đất nước và những biến động của tự nhiên và xã hội. Người ta
có thể phân loại các loại hình làng xã sau:
- Theo thời gian hình thành: Làng cổ hay làng truyền thống, làng mới hay
làng hiện đại…
Về lịch sử thay đổi của làng xã, có người cho rằng đã có ba lần biến
cách: Thế kỷ XV khi chế độ quân điền được thực hiện. Cuối thế kỷ XIX khi
thực dân Pháp đặt ách thống trị trên đất nước ta. Cách mạng tháng Tám 1945 và
cải cách ruộng đất đã làm thay đổi hẳn cơ chế làng xã, tác động mạnh vào tổ
chức cổ truyền này.
Có một số ý kiến lại nêu rõ cần phân biệt làng Bắc Bộ, làng Trung Bộ và
làng Nam Bộ. Sự phân biệt như vậy dựa vào hoàn cảnh lịch sử và hoàn cảnh địa
lý điều này là cần thiết và phù hợp với thực tế xã hội nước ta: Vùng đồng bằng
Bắc Bộ là nơi đã hình thành những điểm dân cư đầu tiên của người Việt. Từ
Quảng Nam – Đà Nẵng trở vào thì làng Việt hình thành muộn hơn, và muộn hơn
nữa là làng xã ở Nam Bộ (do tiến trình khai khẩn và khai chiếm, mở rộng lãnh
thổ). Thời gian hình thành sớm muộn khác nhau đã để lại những dấu ấn không
nhỏ trong làng xã người Việt của các vùng, tạo ra những yếu tố theo GS. Trần
Quốc Vượng là “khu biệt văn hóa” trong tổng thể “không gian văn hóa và thời
gian văn hóa Việt Nam… một Việt Nam thống nhất trong đa dạng”.
- Theo vùng địa lý: Thượng, Hạ, Đông, Đoài. Làng miền núi (thường gọi
là bản, mường, plây, buôn); làng trung du, làng đồng bằng (làng, ấp, phum,
sóc).
Những người sống trên một khu vực mặc dù thuộc các dòng họ khác
nhau cũng hợp lại thành một làng. Dân làng sống bình đẳng với nhau, tôn trọng
người lớn tuổi. Đặc biệt có quan hệ láng giềng gắn bó (Bán anh em xa mua láng
giềng gần). Dân làng còn có sự hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất mùa vụ, làm đổi
công cho nhau. Dân làng có tính dân chủ. Tuy vậy, vẫn có khuyết điểm là dựa
dẫm, ỷ lại, chờ đợi.
6


- Theo nghề nghiệp:
Làng nông nghiêp, làng chài (vạn), làng thủ công như làng đúc đồng (Đại
Bái), làng dệt lụa (Nghi Tàm), làng gốm (Bát Tràng). Quảng Bình có các làng
nghề thủ công như làng dệt chiếu An Xá, làng gốm Mĩ Cương, làng đan lát Thọ
Đơn... Những người cùng làm một nghề (không kể trồng lúa) về sau gọi là
phường. Những phường này sẽ là mầm mống của thành thị.
Hà Nội ngày xưa có 36 phố phường, mỗi phố phường nguyên là một làng
nghề. Ngày nay vẫn còn giữ tên gọi cũ: phố Hàng Bún, Hàng Bông, Hàng Đào,
Hàng Cá...
- Theo phương thức thành lập: Được phản ánh qua tên gọi: Xá. Làng
thành lập dựa trên hình thức di dân khai canh; đồn điền nông nghiệp chuyển
thành trại; điền trang gọi là trấn…
- Theo tôn giáo: Làng thuần lương, làng công giáo toàn tòng.
- Theo đặc điểm văn hóa: chia ra làm làng văn và làng võ
Làng văn: còn được gọi là làng văn vật, ngày nay chúng ta gọi là làng
văn hóa. Đó là những làng có truyền thống học chữ Nho, nhiều người đỗ đạt...
cùng sinh hoạt văn hóa của các gia đình Nho học tạo ra nét văn hóa
riêng cho các làng văn”.
Làng võ: là những làng có truyền thống thượng võ, dân làng hầu hết mọi
người đều biết võ nghệ, trong làng thường có lò võ. Ở Bình Định có 3 làng võ
nổi tiếng là An Thái, An Vinh và Thuận Truyền.

7


CHƯƠNG 3: TƯ TƯỞNG LÀNG XÃ, KẾT CẤU KINH TẾ, ĐẶC TRƯNG
VĂN HÓA LÀNG XÃ VIỆT
1. Tư tưởng làng xã
Tư tưởng làng xã là sự phản ánh đời sống sản xuất, sinh hoạt vật chất và
tinh thần của cộng đồng cư dân cùng sinh sống trong một phạm vi hành chính
làng xã, nên nội dung phản ánh của tư tưởng làng xã chính là các hoạt động vật
chất và tinh thần của làng xã. Hay nói cách khác, nội dung tư tưởng làng xã bao
gồm sự phản ánh mọi mặt về lối sống, phương thức sống, tôn giáo tín ngưỡng,
đời sống văn hóa, chính trị, xã hội, gia đình... của cộng đồng cư dân trong một
làng xã nhất định. Những nội dung chủ yếu của tư tưởng làng xã thể hiện qua
hương ước bao gồm: tư tưởng gia trưởng, tư tưởng cố kết cộng đồng, tư tưởng
trọng tình, trọng đức, tư tưởng trọng danh, trọng xỉ, tư tưởng trọng kinh nghiệm,
tư tưởng trọng tổ tiên, thần thánh và các thế lực vô hình, siêu nhiên...
Tư tưởng gia trưởng đề cao tuyệt đối vai trò lãnh đạo của người nam
trong gia đình và ngoài xã hội. Theo đó, người nam có quyền quyết định tất cả
mọi việc đối nội, đối ngoại, dù việc lớn hay việc nhỏ. Đồng thời, người nam
cũng là người phải chịu mọi trách nhiệm, nghĩa vụ đối với xã hội. Tư tưởng gia
trưởng có nguồn gốc từ chế độ phụ hệ và được củng cố bằng hệ thống lý luận
Nho giáo. Khi ảnh hưởng tới làng xã Việt, tư tưởng gia trưởng trong làng xã chủ
yếu nhấn mạnh tới vai trò chủ gia đình, quyền lực của người nam trong gia đình,
nghĩa vụ xã dân của họ trong làng xã và nghĩa vụ thần dân đối với triều đình.
Tư tưởng cố kết cộng đồng của người Việt được hình thành và củng cố
theo các liên kết xã hội và các quan hệ huyết thống. Tư tưởng củng cố tính cộng
đồng bằng quan hệ họ tộc, bằng niềm tự hào về một nguồn gốc chung, một
truyền thống chung, bằng hy vọng sẽ bất tử trong truyền đời con cháu hay đi vào
gia hệ tổ tiên sau khi chết là một tư tưởng làng xã nổi bật của Việt Nam.
Tư tưởng yên phận, coi thường thương nghiệp, co mình sau lũy tre làng
đã in sâu vào nhận thức của người Việt khiến cho thủ công và thương nghiệp
kém phát triển. Với họ, được coi là một thành viên của làng, được hưởng một
8


chút ruộng công, được là dân đinh, được vào phe vào giáp, có một vị trí nơi đình
trung tham dự việc làng là điều quan trọng nhất. Tư tưởng yên phận ăn sâu vào
tâm thức cư dân làng xã Việt Nam khiến làng xã Việt Nam khó chấp nhận những
cái mới và không có khả năng tự biến đổi trước sự biến đổi của hoàn cảnh xã
hội.
Tư tưởng đề cao kinh nghiệm của làng xã Việt Nam xuất phát từ nền kinh
tế nông nghiệp nhỏ, lạc hậu, dựa vào kinh nghiệm. Vì vậy, người càng nhiều tuổi
càng nhiều kinh nghiệm và càng được coi trọng. Tư tưởng trọng xỉ (tuổi tác),
trọng người già là một tư tưởng phổ biến trong tư tưởng làng xã.
Tư tưởng cục bộ địa phương cũng rất điển hình trong tư tưởng làng xã
Việt Nam do các làng xã duy trì chế độ tự quản mang tính hình thức công xã, do
mối quan hệ giữa làng xã với chính quyền trung ương và do mối quan hệ tương
đối biệt lập giữa các làng với nhau.
Trong các nội dung trên của tư tưởng làng xã, tư tưởng gia trưởng là một
nội dung phổ biến nhất, có ảnh hưởng lâu dài và căn cốt nhất, mang tính chi
phối tới nhiều nội dung tư tưởng khác trong tư tưởng làng xã. Đây cũng là tư
tưởng có ảnh hưởng sâu sắc, rộng lớn và lâu dài nhất trong tư tưởng làng xã với
cả những ưu điểm và hạn chế về mặt xã hội, nhất là đối với quá trình phát triển
hiện nay.
2. Kết cấu kinh tế của làng xã
Nền kinh tế xã hội nông nghiệp truyền thống là nền kinh tế trọng nông và
tự cung, tự cấp Đây là một trong những đặc trưng nổi bật nhất của nền kinh tế xã
hội nông nghiệp truyền thống. Hầu như ở các làng đều có các hoạt động sản xuất
tương tự giống nhau, bao gồm các hoạt động nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
buôn bán nhỏ và khai thác sản vật tự nhiên để tự sản xuất những sản phẩm cho
nhu cầu tiêu dùng cơ bản nhất của dân cư trong làng. Trong cấu trúc kinh tế ấy,
nông nghiệp là hoạt động căn bản nhất và luôn được xem là “nghề gốc” của đa
số các hộ dân cư. Hoạt động nông nghiệp bao trùm và chi phối đến tất cả các
hoạt động kinh tế khác. Trong đó, sản xuất lương thực, mà đặc biệt là sản xuất
lúa gạo đã phát triển từ rất sớm và trở thành ngành sản xuất chính, là nền tảng
9


cho các hoạt động kinh tế khác. Điều này được quy định trước hết bởi các điều
kiện tự nhiên của sản xuất và tập quán, nhu cầu sử dụng lúa gạo làm lương thực
đã có từ lâu đời của dân cư, cả ở đồng bằng lẫn miền núi. Do đó, sản xuất lúa
gạo và lương thực đã trở thành phương thức sản xuất và sinh sống vừa có ý
nghĩa sinh tồn vừa có ý nghĩa truyền thống của hầu hết các làng xã trong suốt
chiều dài lịch sử. Bên cạnh sản xuất lúa gạo, dân cư các làng còn trồng các loại
cây hoa màu, cây ăn quả và rau đậu thực phẩm, đồng thời với chăn nuôi gia súc,
gia cầm, thả cá, đánh bắt thủy hải sản, khai thác sản vật tự nhiên…
Bên cạnh sản xuất nông nghiệp là cơ bản, thì trong nền kinh tế các ngành
nghề tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng xuất hiện từ rất sớm, gắn liền
với hoạt động nông nghiệp và hỗ trợ, bổ sung cho nông nghiệp. Việc giao lưu,
trao đổi hàng hóa và hoạt động thương nghiệp cũng ngày càng mở rộng
3. Đặc trưng văn hóa làng xã
Đặc điểm nổi bật của văn hóa làng xã Việt Nam là tính cộng đồng, cộng
cảm và tính tự trị tự quản. Tính cộng đồng cộng cảm là đặc tính của cư dân nông
nghiệp và là nền tảng cho làng xã ổn định, phát triển hàng nghìn năm.
Người dân Việt từ khi sinh ra, lớn lên, trưởng thành và đến khi trở về bên
kia thế giới đều được ký thác vào cộng đồng làng xã. Các thành viên làng xã
cùng nhau khai khẩn, chung sống trên một vùng đất thân quen, vùng có cây đa,
bến nước, sân đình là niềm tự hào và nỗi nhớ thương mỗi khi nghĩ tới. Người
dân có tin thần tương thân tương ái, đoàn kết gắn bó, lá lành đùm lá rách để
cùng nhau vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Mỗi thành viên đều có
trách nhiệm với các thành viên khác trong cộng đồng làng xã, họ có nghĩa vụ và
trách nhiệm với nhau trong bất cứ hoàn cảnh nào. Mỗi khi vụ mùa đến, hoặc khi
làm nhà, sinh con, ốm đau, hoặc khi có người đỗ đạt, lên lão, làm quan… đều
thấy sự hiện diện của bà con trong họ, ngoài làng. Tục lệ khao vọng dân làng
mỗi khi một thành viên nào đó thành đạt trên bước đường đời là một nét sinh
hoạt văn hóa đẹp để khuyến khích, biểu dương nhân tài, đồng thời cũng nhắc
nhở, động viên con cháu trong làng cố gắng phấn đấu vươn lên. Tuy nhiên, trong
cuộc sống làng xã, tính cộng đồng, cộng cảm cũng bộc lộ một số hạn chế như
10


cái “tôi”, cái cá nhân không được tôn trọng dẫn đến tư tưởng ỷ lại, dựa dẫm,
bình quân chủ nghĩa, hạn chế sự năng động sáng tạo của mỗi cá nhân. Mặt khác,
trong làng bao giờ cũng có các dòng họ khác nhau, nên nhìn bề ngoài không thể
thấy hết được sự cạnh tranh, bon chen, phân chia ngấm ngầm giữa các dòng họ
và các thế lực với nhau để giành quyền chi phối mọi hoạt động của làng xã.
Tự trị, tự quản cũng là một đặc điểm nổi bật của văn hóa làng xã. Các
thành viên làng xã cùng nhau sống chung trong lũy tre làng. Lũy tre làng đan
xen nhau dày đặc để bảo vệ cho dân làng, nhưng nó cũng là hàng rào ngăn cản
sự giao lưu văn hóa của dân làng với các vùng quê xung quanh. Tính tự trị, tự
quản của làng xã còn được thể hiện thông qua Hương ước của làng. Trong đó
quy định chặt chẽ về ranh giới làng, về an ninh trật tự, về tài sản ruộng đất, về
sản xuất, buôn bán, về phong hóa, đạo lý, về học hành thi cử, về tế lễ thần linh,
về vệ sinh môi trường… Hương ước chính là bộ luật của làng xã và là nội dung
cơ bản tạo nên lệ làng góp phần nâng cao nhận thức, tình cảm và điều chỉnh
hành vi, lối sống của tất cả mọi người, thể hiện sự hiểu biết, quan niệm và những
nét văn hóa riêng. Trong một chừng mực nhất định, tính tự trị, tự quản của làng
xã góp phần duy trì trật tự, nề nếp ở trong làng xã, nhưng mặt khác nó cũng tạo
ra những suy nghĩ, tình cảm, hoạt động mang tính chất cục bộ, địa phương, làm
cho mỗi làng quê trở thành một “pháo đài” độc lập, rất khó du nhập, tiếp thu tiến
bộ văn minh.
Để xây dựng thành công nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay, chúng ta
cần tìm hiểu, tiếp thu những nhân tố tích cực trong văn hóa làng xã và loại bỏ
những nhân tố lạc hậu. Có như vậy, chúng ta mới có thể xây dựng được nông
thôn mới mà trong đó là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống văn hóa Việt Nam
với khoa học công nghệ hiện đại tiến tới đạt được cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

11


CHƯƠNG 4: LÀNG XÃ VIỆT TRONG THỜI KỲ HIỆN NAY
Làng xã Việt Nam có một lịch sử rất lâu dài. Mô hình làng xã đã được duy
trì hiệu quả qua hàng nghìn năm, chống đỡ với rất nhiều thử thách khắc nghiệt
của thiên tai. Trong mô hình làng xã Việt, người nông dân Việt rất hiểu thiên
nhiên và biết tận dụng thiên nhiên, hòa đồng với thiên nhiên, thậm chí, rất sợ
thiên nhiên, không dám “coi trời bằng vung”. Tuy nhiên, tập quán sản xuất nông
nghiệp theo hình thức tiểu nông đã giúp giữ cho làng xã Việt bình ổn hàng nghìn
năm lại chính là lực níu kéo sự phát triển, khi tạo nên tư duy ổn định, ngại thay
đổi. Nó được cổ vũ bởi tư tưởng Nho giáo: Dĩ nông vi bản (lấy nông làm gốc),
rất ghét buôn bán. Chính những yếu tố đó đã kìm hãm sự phát triển, không thúc
đẩy được sự phát triển kinh tế nên không tạo ra tiềm lực. Với những làng xã lạc
hậu, trì trệ như thế thì khi gặp phải những đối thủ bên ngoài đến gõ cửa xâm
lược, sẽ không có cách nào chống đỡ được.
Trong thời hiện đại, chúng ta đang thúc đẩy việc xây dựng nông thôn mới,
nhưng rõ ràng, mô hình chúng ta đang tiến hành chưa được nhuần nhuyễn
Ngày nay, làng xã cổ truyền đã thay đổi, không còn bao bọc khép kín
trong lũy tre làng mà là một đơn vị dân cư mở, mỗi xã là một đơn vị hành chính
cấp nhỏ nhất trong hệ thống hành chính bốn cấp hiện nay. Đây là điều kiện để
các làng xã phát triển, nhất là phát triển kinh tế hàng hóa, mở rộng làng nghề
hay nông nghiệp sạch… để nâng cao đời sống nhân dân.
Tuy nhiên, với sự phát triển của kinh tế thị trường hiện nay, bên cạnh
những thành tựu to lớn là những mặt tiêu cực tác động đến nông dân, nông thôn
rất khốc liệt. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, làng xã phải tháo gỡ những nếp
cũ đã lỗi thời, không còn phù hợp của làng xã truyền thống như co cụm, khép
kín “Trống làng nào làng ấy đánh, Thánh làng nào làng ấy thờ” hay chỉ trong lệ
làng, coi thường pháp luật kiểu “Phép vua thua lệ làng”… nhưng cũng đồng thời
phải bảo lưu được những giá trị quý báu của văn hóa làng xã như ý thức trách
nhiệm cao với cộng đồng; tôn trọng trật tự, kỷ cương; tinh thần tương thân,
tương ái, đùm bọc “tắt lửa tối đèn có nhau”… là một bài toán khó, nhưng không
thể không tìm ra giải pháp.
12


Chúng ta xây dựng nền văn hóa Việt Nam “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc”, trong đó bản sắc dân tộc phải chăng một phần quan trọng nằm ở văn minh
làng xã cổ truyền. Những giá trị mang tính bản sắc ấy ở nông thôn đang đứng
trước những thách thức rất lớn.
Để giải quyết vấn đề vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài này,
Nhà nước cần có những giải pháp vĩ mô, nhưng vai trò rất quan trọng của mỗi
cộng đồng dân cư, làng xã, dòng họ và mỗi cá nhân phải được phát huy, khơi lại
những giá trị truyền thống trong trẻo, nâng cao lòng tự hào về truyền thống để
thích nghi với xã hội hiện đại mà không mất gốc, mất đi bản sắc văn hóa Việt
được đúc kết qua ngàn năm lịch sử đáng tự hào của tổ tiên ta.

13


Danh mục tài liệu tham khảo
1. Giáo trình đại cương văn hóa Việt Nam- TS Phạm Thái Việt( chủ biên),
NXB văn hóa thông tin
2. Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (1977), Nxb. Khoa học xã hội, Hà
Nội.
3. Làng Việt Nam một số vấn đề kinh tế xã hội- Phan Đại Doãn- NXB
khoa học xã hội-1992
4. http://www.nxbhanoi.com.vn
5. http:/vi.wikipedia.ỏg

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×