Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp giúp củng cố và nâng cao giải toán cho học sinh lớp 5C trường Tiểu học

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số:.....................................
1. Tên sáng kiến:
Một số giải pháp giúp củng cố và nâng cao giải toán cho học sinh lớp 5C
trường Tiểu học
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến Giải pháp Tác nghiệp trong giáo dục.
3. Mô tả bản chất của sáng kiến:
Nhiệm vụ được giao của tác giả: Giáo viên chủ nhiệm lớp 5C, Trưởng ban
Thanh tra nhân dân.
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết
Toán là một phân môn rất quan trọng, nó mang một ý nghĩa quyết định
trong việc hình thành kiến thức, kĩ năng cơ bản, phát triển trí tuệ và nhân cách
của học sinh, góp phần giáo dục lí trí và những phẩm chất quan trọng của người
lao động trong xã hội hiện nay, nó còn là môn học rất cần thiết để học các môn
khác. Tuy nhiên kiến thức và kĩ năng làm bài của một số học sinh còn yếu,
tính toán còn chậm hay sai, không thuộc cửu chương dẫn đến chán học môn
này. Học sinh yếu kém môn Toán chiếm tỉ lệ khá cao so với các môn học

khác. Trước tình hình đó để giúp các em củng cố lại những kiến thức toàn cấp tiểu
học một cách chắc chắn để bước sang cấp Trung học cơ sở không chỉ học Toán
được dễ dàng hơn mà còn say mê học Toán,chính vì vậy tôi đã mạnh dạn đưa ra :
“Một số giải pháp giúp củng cố và nâng cao giải toán cho học sinh lớp 5C trường
Tiểu học, năm học 2018-2019.”
* Ưu điểm:
- Về phía nhà trường:
Trường Tiểu học là trường nhận được nhận nhiều sự quan tâm hỗ trợ của
Phòng Giáo dục và Đào tạo, của chính quyền địa phương và đặc biệt là sự quan
tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo mọi điều kiện để giúp tôi
hoàn thành tốt công tác dạy và học đúng theo tinh thần của mô hình trường học
mới Việt Nam.
Cơ sở vật chất trường lớp tương đối khang trang. Lớp học có đầy đủ hệ
thống bóng đèn điện, quạt, cửa sổ, cửa chính cung cấp đủ ánh sáng cho các em
học tập. Môi trường học tập sạch sẽ, thân thiện.
Tài liệu học tập được thiết kế theo kiểu “3 trong 1” (bao gồm cả sách giáo
khoa, sách giáo viên và vở bài tập), nhìn vào tài liệu rất thuận tiện cho cả giáo
viên và học sinh trong quá trình dạy và học. Mặt khác tài liệu học tập cung cấp về
được in màu và tranh ảnh rất đẹp nên gây hứng thú học tập cho học sinh.
- Về phía học sinh: Đa số học sinh chăm ngoan, có ý thức học tập tốt.
- Về phía phụ huynh: Đa số phụ huynh nhiệt tình rất quan tâm đến việc học
tập của con em mình, mua sắm đầy đủ đồ dùng học tập cho học sinh. Thường
xuyên phối kết hợp với giáo viên trong công tác giảng dạy cũng như trang trí lớp.
- Về phía giáo viên: Tất cả giáo viên tham gia giảng dạy theo mô hình
VNEN ở trường đều đã được tham gia tập huấn và nắm được những nội dung


cũng như hình thức giảng dạy của mô hình trường học mới Việt Nam.
* Nhược điểm:
- Về phía học sinh:
Đây là năm đầu tiên học sinh học quy trình học mới nên các em vẫn còn
lúng túng, chưa biết cách tự học cho nên dẫn đến tình trạng khi ngồi học theo
nhóm các em không chịu hợp tác làm việc mà chỉ tranh thủ ngồi nói chuyện, làm
việc riêng.
Trong học tập, một số nhóm trưởng chưa nhanh nhẹn, còn nhút nhát, chưa
biết cách điều khiển các bạn học nhóm.
Có nhiều chỗ hổng về kiến thức, kĩ năng từ lớp dưới. Tiếp thu kiến thức còn
chậm. Phương pháp học tập chưa tốt, ý thức tự giác chưa cao, năng lực tư duy còn
yếu.
- Về phía phụ huynh:
Vẫn còn nhiều phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học của con em
mình còn phó mặc cho giáo viên và nhà trường vì gia đình còn nghèo, phụ huynh
còn phải lo kinh tế gia đình.
- Về phía giáo viên:
Đây là mô hình trường học kiểu mới cho nên giáo viên vừa trải nghiệm,
vừa rút kinh nghiệm chắc chắn không tránh khỏi bỡ ngỡ, lúng túng với quy trình
dạy mới.
3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
3.2.1. Mục đích của giải pháp:
- Mục đích chung: Một số giải pháp giúp củng cố và nâng cao giải toán
cho học sinh lớp 5C trường Tiểu học, năm học 2018-2019 nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục học sinh trong nhà trường.
- Mục đích cụ thể:
+ Để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh trong nhà trường;
+ Củng cố và nâng cao giải toán cho học sinh lớp 5;
+ Học Toán giúp các em từng bước phát triển năng lực tư duy, rèn luyện
phương pháp và kĩ năng suy luận, khơi gợi khả năng quan sát, phỏng đoán, tìm
tòi, rèn phong cách làm việc của người lao động như cẩn thận, chu đáo, vượt khó,
giúp các em luyện tập, củng cố và vận dụng các kiến thức đã học vào trong thực
tiễn. Nội dung của việc giải Toán có quan hệ hữu cơ với nội dung của số học, số
tự nhiên, số thập phân, các đại lượng cơ bản, các yếu tố đại số và hình học có
trong chương trình. Môn Toán ở tiểu học là một môn học độc lập, chiếm phần lớn
thời gian trong chương trình học của các em. Nó là một môn khoa học nghiên cứu
có hệ thống phù hợp với hoạt động nhận thức tự nhiên của con người. Chính vì
vậy nhiệm vụ đặt ra cho ngành giáo dục và mỗi giáo viên đứng lớp làm thế nào để
trang bị cho các em một hệ thống kiến thức cơ bản, vững chắc nhằm nâng cao
chất lượng tránh để học sinh ngồi nhầm lớp để các em tự tin bước vào thời đại
mới, thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
3.2.2. Nội dung giải pháp
a. Các giải pháp chính thực hiện:
(i) Giải pháp 1: Khảo sát chất lượng, phân loại học sinh đầu năm học.
(ii) Giải pháp 2: Tìm hiểu nguyên nhân yếu, kém của học sinh.
2


(iii) Giải pháp 3: Tạo môi trường học tập cho học sinh.
iv) Giải pháp 4: Sử dụng nhiều phương pháp học tập cho học sinh.
v) Giải pháp 5: Ôn tập và củng cố kiến thức cho học sinh.
vi)Giải pháp 6: Dự đoán trước được những sai lầm có thể xảy ra trong quá
trình học tập của học sinh.
b. Cách thức thực hiện các giải pháp:
(i) Giải pháp 1: Khảo sát chất lượng, phân loại học sinh đầu năm học.
Ngay từ đầu năm học, sau khi khảo sát chất lượng của các em tôi đã
xây dựng nề nếp cơ bản của lớp, phân loại năng lực học tập của từng em để từ đó
chỉ định chỗ ngồi của các em sao cho những học sinh khá giỏi có điều kiện giúp
đỡ các em yếu kém, những em còn yếu và hay lơ là trong học tập thì tôi theo dõi,
uốn nắn sửa chữa kịp thời. Mỗi buổi học, trước khi vào học khoảng 10 phút các
em tự truy bài lẫn nhau. Từ đó các em dần dần hình thành thói quen tự học, tự
quản được lớp học. Vì thế tôi mất ít thời gian kiểm tra bài, tôi chỉ nhấn mạnh và
bổ sung những mặt còn hạn chế thiếu sót của các em.
(ii) Giải pháp 2: Tìm hiểu nguyên nhân yếu, kém của học sinh.
Để giúp các em học tập tiến bộ tôi thường xuyên theo dõi kết quả học tập
của các em, theo dõi việc làm bài tập ở lớp, bài tập ở nhà, kết quả tham gia hoạt
động nhóm còn điểm nào chưa tốt, chưa đạt để tìm hiểu nguyên nhân vì sao lại có
thực trạng này. Từ đó tôi điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho phù hợp với từng
đối tượng học sinh và lập kế hoạch, nội dung để phụ đạo phù hợp với từng em.
(iii) Giải pháp 3: Xây dựng môi trường học tập cho học sinh.
Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục, phải tâm huyết với
nghề, tận tụy với công việc, yêu thương học sinh, biết động viên khuyến khích
học sinh tham gia học tập, giáo dục, xây dựng được môi trường thân thiện (lớp
học thân thiện, giờ học thân thiện, phòng học thân thiện, giáo viên thân thiện, bè
bạn thân thiện, môn học thân thiện…). Định hướng về dạy học Toán ở tiểu học là
tổ chức các hoạt động Toán học cho học sinh. Giáo viên là người thiết kế các hoạt
động học từ các kiến thức trong sách giáo khoa. Tổ chức cho học sinh tự hoạt
động trong từng tiết học toán để học sinh được phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo, tìm tòi để tự hình thành, chiếm lĩnh kiến thức cho mình trong học toán.
iv) Giải pháp 4: Sử dụng nhiều phương pháp, hình thức học tập cho học
sinh.
Tuỳ theo nội dung bài học mà tôi có những biện pháp dạy học khác nhau,
tôi dùng phương pháp dạy học mở dẫn dắt các em đi từ dễ đến khó, từ không biết
gì, không hiểu gì đến nắm được bài. Đối với học sinh khá giỏi tôi đặt câu hỏi khó,
còn học sinh yếu kém trung bình tôi dành những câu hỏi dễ hơn và cũng có thể đặt
thêm những câu hỏi nhỏ gọn, dễ hiểu để các em dễ trả lời. Trong từng câu hỏi,
từng bài tập tôi có ước lượng rằng em nào sẽ trả lời được. Sau khi các em trả lời
đúng câu hỏi mà tôi đặt ra thì tôi luôn có lời khen hoặc động viên để các em thích
thú và cố gắng hơn. Hằng ngày vào đầu mỗi buổi học, tôi thường cho các em đọc
lại bảng cửu chương hoặc những công thức, quy tắc toán học thay cho những bài
hát văn nghệ đầu giờ. Trong mỗi bài học, đến phần củng cố, tôi thường cho các
em thi đua với nhau, vừa kiểm tra việc nắm kiến thức của các em vừa tạo không
khí sôi nổi gây hứng thú cho các em học tập những tiết tiếp theo.
3


Trong giờ học tôi tập trung rèn kĩ năng và ôn tập các kiến thức đã học rồi tổ
chức cho các em học cá nhân và học theo nhóm, luôn tạo không khí thoải mái, tự
nhiên, tránh gây căng thẳng và luôn trân trọng những phát hiện, những ý kiến của
các em dù là rất nhỏ để hình thành ở các em niềm tin vào bản thân mình. Không
những thế tôi luôn quan tâm đến mọi đối tượng học sinh, theo kết quả học tập
(Giỏi, Khá,Trung bình, Yếu), theo trình độ nhận thức ( nhanh, chậm…), kĩ năng
tính toán (nhanh, chính xác…), khả năng diễn đạt (đúng, trôi chảy, lưu loát,
chậm…), trình bày bài giải (gọn gàng, sạch sẽ…), thái độ học tập (chăm chỉ, cẩn
thận, tự tin, tinh thần trách nhiệm … ). Đặc biệt luôn quan tâm, giúp đỡ học sinh
yếu, bồi dưỡng học sinh giỏi, động viên, khuyến khích các em khi học toán. Chú ý
dạy học kĩ năng tính toán và phát triển năng lực tư duy toán học cho học sinh,
phát huy khả năng và sở trường của các em, luôn tạo ra môi trường học tập tích
cực để các em có cơ hội bộc lộ khả năng của cá nhân và trình bày ý kiến trước tập
thể để học hỏi lẫn nhau trong quá trình học tập. Ngoài ra, trong tiết học tôi luôn
phối hợp nhiều phương pháp dạy học một cách khéo léo sao cho học sinh cảm
thấy tiết học vừa vui, vừa nhẹ nhàng, thiết thực mà hiệu quả cao.
Dạy học môn toán cần phải gắn với thực tế cuộc sống hằng ngày của các
em, tạo cho các em hứng thú, say mê tìm tòi, sáng tạo khi học toán. Dạy học toán
ở tiểu học cần kết hợp dạy kiến thức toán học với dạy người, vận dụng nhuần
nhuyễn từ trực quan (quan sát), hoạt động ( làm theo, cùng làm) đến hình thành
kiến thức mới, thực hành, áp dụng vào thực thế cuộc sống.
v) Giải pháp 5: Ôn tập và củng cố kiến thức cho học sinh.
Học sinh có nhu cầu thường xuyên được ôn tập, củng cố kiến thức. Chính
vì vậy, trước mỗi đợt kiểm tra định kì tôi thường dành một khoảng thời gian để ôn
tập cho các em. Đây là khâu quan trọng không thể thiếu trong quá trình giảng dạy.
Ngoài ra, hàng tháng tôi thông báo tình hình học tập của các em cho phụ huynh
nắm. Đối với những phụ huynh chưa quan tâm đúng mức tôi liên hệ thường
xuyên hơn. Thấy được sự nhiệt tình giảng dạy của giáo viên nên phụ huynh cũng
đã hỗ trợ việc học ở nhà bằng cách kiểm tra hoặc nhắc nhở việc học bài và làm
bài. Vì vậy, sau một thời gian thấy học sinh có tiến bộ đáng kể.
vi)Giải pháp 6: Dự đoán trước được những sai lầm có thể xảy ra trong quá
trình học tập của học sinh.
Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học phụ thuộc nhiều vào trực quan,
quan sát và cảm tính, khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá
chưa phát triển mạnh. Bởi vậy, khi làm toán các em dựa rất nhiều vào các yếu tố
bên ngoài chứ chưa biết dựa nhiều vào bản chất bên trong dẫn đến những sai lầm
không đáng có. Sau đây tôi xin nêu một số sai lầm thường gặp khi làm toán của
học sinh lớp 5:
*Sai lầm khi giải các bài toán về tỉ lệ xích:
Ví dụ: Một mảnh đất hình chữ nhật có hình vẽ trên bản đồ tỉ lệ 1:1000 có
chiều dài 5cm, chiều rộng 3cm. Tính diện tích mảnh đất đó với đơn vị đo là mét
vuông?
Nhiều học sinh giải như sau:
Bài giải:
Diện tích mảnh đất hình chữ nhật trên bản đồ là:
4


5 x 3 = 15 (cm2)
Diện tích trên thực tế mảnh đất hình chữ nhật là:
15 x 1000 = 15000(cm2)
Đổi 15000cm2 = 1,5 m2
Đáp số: 1,5 m2
Nguyên nhân: Sai lầm trên là học sinh đã nhầm lẫn tỉ lệ của đại lượng đo độ
dài với đại lượng đo diện tích.
Biện pháp khắc phục: Khi dạy các dạng toán trên giáo viên cần lưu ý cho
học sinh hiểu tỉ lệ 1: 1000 là tỉ lệ của các số đo độ dài chứ không phải là tỉ lệ của
số đo diện tích nên phải tính các số đo độ dài trên thực tế trước.
Bài giải đúng sẽ là:
Bài giải:
Chiều dài trên thực tế của mảnh đất hình chữ nhật là:
5 x 1000 = 5000(cm)
Chiều rộng trên thực tế của mảnh đất hình chữ nhật là:
3 x 1000 = 3000(cm)
Diện tích thực tế của mảnh đất hình chữ nhật là:
5000 x 3000 = 15000000(cm2)
Đổi: 15000000 cm2 = 1500 m2
Đáp số: 1500 m2
*Sai lầm khi giải toán về tỉ số phần trăm:
Ví dụ: Một lớp học có 25 học sinh, trong đó có 13 học sinh nữ. Hỏi số học
sinh nữ chiếm bao nhiêu phần trăm số học sinh của lớp học đó?
Nhiều học sinh giải như sau:
Bài giải:
Học sinh nữ chiếm số phần trăm học sinh cả lớp là:
13 : 25 = 0,52 x 100 = 52%
Nguyên nhân: Sai lầm trên là do học sinh không hiểu hết qui tắc tính
(SHDH Toán 5 tập 1 trang 125 ).
Xin nêu nguyên văn qui tắc: Muốn tìm tỉ số phần trăm của hai số 256 và
500 ta làm như sau:
+Tìm thương của 256 và 500.
+Nhân thương đó với 100 và viết thêm kí hiệu % vào bên phải tích tìm
được.
Biện pháp khắc phục: Khi dạy dạng bài này giáo viên cần cho học sinh
hiểu rõ bản chất tỉ số và tỉ số phần trăm. Thực ra tìm tỉ số phần trăm của hai số là
viết tỉ số của hai số đó dưới dạng một phân số có mẫu số là 100.
Ở ví dụ trên ta có: 13 : 25 = 0,52.
Viết : 0,52 dưới dạng một phân số có mẫu số là 100.
0,52 x 100 : 100 = 52 : 100.
52 : 100 viết gọn là 52% .
Trong tư duy của học sinh phải hiểu được như trên. Trong thao tác học sinh
cần thực hiện: 13 : 25 = 0,52 nhân nhẩm 0,52 với 100 rồi ghi kết quả kèm theo kí
hiệu %.
Vậy tỉ số phần trăm của 13 và 25 là : 13 : 25 = 0,52 = 52%.
5


*Sai lầm về tìm số dư của phép chia:
Ví dụ: Tìm số dư trong phép chia 375,23 : 69 nếu chỉ lấy đến 2 chữ số ở
phần thập phân của thương .
375,23 69
30 2 5,43
2 63
56
Nhiều học sinh sẽ nhận nhầm số dư là 56.
Nguyên nhân: Học sinh đưa ra kết quả chỉ dựa vào trực quan chứ chưa hiểu
bản chất của phép chia số thập phân.
Biện pháp khắc phục: Khi dạy đến dạng bài này giáo viên cần lưu ý cho học
sinh hiểu khi ta chia đến số 3 ở hàng phần trăm thì số dư của phép chia này phải là
56/100 hay 0,56.
Dạy đúng, đủ chương trình là nhiệm vụ, trách nhiệm của giáo viên nhưng
biết dự đoán trước được những sai lầm có thể xảy ra trong quá trình học tập của
học sinh để từ đó có những phương án, biện pháp giúp học sinh tránh được được
những sai lầm đó cũng là rất cần thiết.
* Tính mới và sáng tạo của giải pháp:
Mỗi buổi học, trước khi vào học khoảng 10 phút các em tự truy bài lẫn
nhau. Từ đó các em dần dần hình thành thói quen tự học, tự quản được lớp học. Vì
thế tôi mất ít thời gian kiểm tra bài, tôi chỉ nhấn mạnh và bổ sung những mặt còn
hạn chế thiếu sót của các em.
Tôi điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho phù hợp với từng đối tượng học
sinh và lập kế hoạch, nội dung để phụ đạo phù hợp với từng em.
Giáo viên là người thiết kế các hoạt động học từ các kiến thức trong sách
giáo khoa. Tổ chức cho học sinh tự hoạt động trong từng tiết học toán để học sinh
được phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tìm tòi để tự hình thành, chiếm
lĩnh kiến thức cho mình trong học toán.
Hằng ngày vào đầu mỗi buổi học, tôi thường cho các em đọc lại bảng cửu
chương hoặc những công thức, quy tắc toán học thay cho những bài hát văn nghệ
đầu giờ. Trong mỗi bài học, đến phần củng cố, tôi thường cho các em thi đua với
nhau, vừa kiểm tra việc nắm kiến thức của các em vừa tạo không khí sôi nổi gây
hứng thú cho các em học tập những tiết tiếp theo.
Dạy đúng, đủ chương trình là nhiệm vụ, trách nhiệm của giáo
viên nhưng biết dự đoán trước được những sai lầm có thể xảy ra trong quá trình
học tập của học sinh để từ đó có những phương án, biện pháp giúp học sinh
tránh được được những sai lầm đó cũng là rất cần thiết.
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp:
Giải pháp này đã được áp dụng thành công trong việc củng cố và nâng cao
giải toán cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học và đã áp dụng có hiệu quả tại lớp 5C
trường Tiểu học. Có khả năng áp dụng nhân rộng cho cả tỉnh và các tỉnh tương
đồng trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng giải pháp:
- Hiệu quả về kĩ thuật:
6


Đối với học sinh:
Đa số học sinh đều nắm vững được kiến thức một cách có hệ thống và vận
dụng kiến thức đã học để giải các dạng bài tập, thực hành thành thạo các phép
tính, biết trình bày bài giải của bài toán có lời văn, học sinh yếu kém khắc phục
được những kiến thức bị hỏng, tiếp thu được những kiến thức mới tạo sự hưng
phấn trong học tập, giúp học sinh khá giỏi có điều kiện phát huy năng lực học
toán của mình, góp phần vào việc khắc phục học sinh yếu kém ở tiểu học.
Học sinh hăng hái tham gia học tập hơn, nề nếp lớp học có tiến bộ rõ nét;
Kích thích được sự tò mò, ham học hỏi của học sinh; Tạo sự tin tưởng của học
sinh vào kiến thức bộ môn với việc tự bản thân thực hiện các thao tác khi giáo
viên truyền đạt; Học sinh khắc sâu kiến thức tạo tiền đề cho việc giải quyết các
yêu cầu của bài học; Học sinh chủ động tích cực, ghi nhớ hơn trong giờ học, trong
các bài kiểm tra; Tạo không gian học tập thân thiện với học sinh; đảm bảo khách
quan trong kiểm tra, đánh giá.
Đối với giáo viên:
Góp phần đổi mới phương pháp trong giảng dạy; Đổi mới trong kiểm tra,
đánh giá học sinh; Có nhiều thời gian đầu tư cho việc tìm ra những ý tưởng mới
phục vụ công việc giảng dạy; Có điều kiện thuận lợi áp dụng phương pháp mới
vào hoạt động giáo dục. Cụ thể là:
Thời gian
Trước khi áp
Sau khi áp
Tăng
Nội dung
dụng giải pháp
dụng giải pháp (giảm)
Tổng số học sinh
29
29
6 em
16em
Tăng
Học sinh hoàn thành tốt
(Chiếm 20,68 %) (Chiếm 55,17%) 34,49%
18em
13em
Giảm
Học sinh hoàn thành
(Chiếm 62,07%) (Chiếm 44,83%) 17,24%
Học sinh chưa hoàn thành
5 em
0em
Giảm
(Chiếm 17,24 %)
(Chiếm %)
17,24%
- Hiệu quả về kinh tế:
Giáo viên tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức cả vật chất lẫn tinh thần
trong việc đánh giá học sinh và đặc biệt dành nhiều thời gian cho việc soạn giảng,
truyền thụ kiến thức mới cho học sinh;
Học sinh có thói quen học tập mới, có cách tự học và quen dần với môi trường
học tập của tập thể, của lớp. Phụ huynh tiết kiệm được nhiều về thời gian, về kinh tế
trong việc hướng dẫn con học ở nhà.
- Hiệu quả về xã hội:
Góp phần thực hiện tốt Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế của Đảng đã đề ra. Qua những lời nhận xét cụ thể của giáo viên, học
sinh biết được điểm yếu để rèn luyện thêm trong quá trình học tập của mình; tâm
lý giáo viên đã cảm thấy nhẹ nhàng đỡ áp lực khi chấm bài cho học sinh.
Học sinh có điều kiện để tự đánh giá chính mình qua các hoạt động trong và
ngoài lớp để có hướng khắc phục hạn chế và phát huy sở trường của mình; phụ
huynh tham gia tốt vào quá trình đánh giá chính con mình, thể hiện vai trò và
7


trách nhiệm của mình trong việc phối hợp giáo dục; giáo viên đã thực hiện đánh
giá thường xuyên đảm bảo thể hiện mức độ hoàn thành của học sinh và biện pháp
hỗ trợ để giúp học sinh rèn luyện thêm.
- Hiệu quả về môi trường: Qua áp dụng giải pháp trang bị cho các em một
hệ thống kiến thức cơ bản, vững chắc nhằm nâng cao chất lượng tránh để học sinh
ngồi nhầm lớp để các em tự tin bước vào thời đại mới, thời đại công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước; Giáo viên ân cần, gần gũi với học sinh từ đó góp phần xây
dựng môi trường học tập thân thiện, tích cực trong và ngoài nhà trường.
3.5. Tài liệu kèm theo gồm:
- Đơn xin công nhận sáng kiến cấp cơ sở
- Một bảng so sánh số liệu trước và sau khi tác động.
…………, ngày 9 tháng 4 năm 2019
Người mô tả

BẢNG ĐIỂM KIỂM TRA TRƯỚC VÀ SAU TÁC ĐỘNG
8


TT

Họ Và Tên
HS
Lớp 5C

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22

Huỳnh
Quang Thiên
Anh
Viên Ngọc
Bích
Hoàng Minh
Chánh
Danh Diễn
Nguỵ Thị
Mộng Diệu
Lương Hữu
Đức
Lý Quốc Đô
Đặng Quốc
Đại
Lê Thành
Đạt
Lê Đình
Đình
Nguyễn Gia
Hào
Diệp Thế
Khải
Đặng Hoài
Mải
Trần Huỳnh
Nhả
Nguyễn
Trạng
Nguyên
Lê Thị Ái
Như
Hồ Thị Kim
Ngân
Trần Văn
Quỳnh
Võ Thanh
Thoảng
Nguyễn Thị
Bảo Trang
Nguyễn Hữu
Trí
Nguyễn

Nhóm thực nghiệm
Điểm kiểm tra
Trước
Sau TĐ


Họ Và Tên HS

Nhóm đối chứng
Điểm kiểm tra

Lớp 5A
Nguyễn Thị
Khả Ái

Trước TĐ

Sau TĐ

5

6

8

9

8

9

7

9

5

7

5

8

9

10

4

7

6

9

7

9

5

8

Danh Hoàng Di

4

6

4

7

Nguyễn Minh
Duy

5

6

9

10

Trần Anh Đô

6

9

7

9

Trần Khánh
Huy

6

7

9

10

Trần Quốc Kha

6

8

9

10

5

7

9

10

6

8

5

7

7

9

7

9

Bùi Thanh Nhã

5

7

7

9

Lâm Ngọc Nhi

7

9

7

10

Nguyễn Hoàng
Phú

5

6

6

9

Phan Đình Phúc

6

6

5

6

Trịnh văn Thật

6

7

8

9

7

9

6

9

5

6

5

8

6

6

5

8

5

6

Trần Thị Hồng
Anh
Nguyễn Thị
Trâm Anh
Ngô Bội Bội
Trịnh Huỳnh
Chánh

Đặng Hồng
Muội
Thái Phương
Ngân
Phan Thị Tuyết
Ngân

Lê Thị Hồng
Thơ
Nguyễn Minh
Thuận
Trần Trung
Thuận
Trần Quốc Tiến

9


23
24
25
26
27
28

Minh Trí
Cam Trọng
Tín
Dương Quốc
Tuấn
Huỳnh Thị
Bảo Trân
Nguyễn
Tường Vy
Phan Thuý
Vy

Võ Thuý Vy
29
Hồ Thuý Vy
Mốt (Mode)
Trung vị (Median)
Giá trị trung bình( Mean)
Max
Min
Độ lệch chuẩn(SD)
Mức độ ảnh hưởng ES

5

8

Châu Lê Quốc
Trung

5

5

4

6

Lâm Vĩ Văn

6

7

9

10

Trần Quốc Việt

5

6

6

9

Lê Trí Vỹ

5

6

6

8

5

8

4

7

4

5

Nguyễn Huỳnh
Yến
Nguyễn Thị
Cẩm Tiên

3
6
5
9
6
9
6.241379 8.448276
9
10
3
6
1.825517 1.297971

5
6
5
7
5.71428571 7.1071429
8
9
4
5
1.04906106 1.3427249
0.998814458

Kết quả giá trị trung bình của bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm
là 8,448275862, kết quả giá trị trung bình của bài kiểm tra nhóm đối chứng là
7,107142857. Độ chênh lệch điểm số giữa hai nhóm là 1,341133005. Điều đó cho
thấy điểm giá trị trung bình của hai lớp thực nghiệm và lớp đối chứng đã có sự
khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm trung bình cao hơn lớp đối chứng .
Sử dụng công thức tính mức độ ảnh hưởng ES = 0,998814458 đối chiếu với
bảng tiêu chí của Cohen cho thấy ảnh hưởng của tác động là lớn.
Qua kết quả thu nhận được trong quá trình ứng dụng, tôi nhận thấy rằng việc
hướng dẫn cho học sinh lớp 5C phương pháp học tích cực, sáng tạo đã nâng cao
chất lượng học tập cho học sinh, học sinh tích cực, chủ động học tập, các bài tập
được làm nhiều hơn, lời giải có lập luận chặt chẽ. Lớp học sôi nổi và tất cả các em
đều hăng say tham gia phát biểu, trao đổi. Các em hăng hái tham gia vào các hoạt
động học tập, tinh thần thoải mái.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
10


Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng sáng kiến huyện
Họ và tên:
Ngày, tháng, năm sinh:.
Nơi công tác:.
Chức vụ: Giáo viên.
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Giáo dục Tiểu học
Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: Một số giải pháp giúp học
sinh củng cố và nâng cao giải toán cho học sinh lớp 5C trường Tiểu học
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: áp dụng trong ngành Giáo dục.
- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Ngày 15
tháng 09 năm 2018
Mô tả bản chất của sáng kiến:
Nội dung giải pháp
a. Các giải pháp chính thực hiện:
(i) Giải pháp 1: Khảo sát chất lượng, phân loại học sinh đầu năm học.
(ii) Giải pháp 2: Tìm hiểu nguyên nhân yếu, kém của học sinh.
(iii) Giải pháp 3: Tạo môi trường học tập cho học sinh.
iv) Giải pháp 4: Sử dụng nhiều phương pháp học tập cho học sinh.
v) Giải pháp 5: Ôn tập và củng cố kiến thức cho học sinh.
vi)Giải pháp 6: Dự đoán trước được những sai lầm có thể xảy ra trong quá
trình học tập của học sinh.
b. Cách thức thực hiện các giải pháp:
(i) Giải pháp 1: Khảo sát chất lượng, phân loại học sinh đầu năm học.
Ngay từ đầu năm học, sau khi khảo sát chất lượng của các em tôi đã
xây dựng nề nếp cơ bản của lớp, phân loại năng lực học tập của từng em để
từ đó chỉ định chỗ ngồi của các em.
(ii) Giải pháp 2: Tìm hiểu nguyên nhân yếu, kém của học sinh.
Để giúp các em học tập tiến bộ tôi thường xuyên theo dõi kết quả học tập
của các em, theo dõi việc làm bài tập ở lớp, bài tập ở nhà, kết quả tham gia hoạt
động nhóm
(iii) Giải pháp 3: Xây dựng môi trường học tập cho học sinh.
Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục, phải tâm huyết với
nghề, tận tụy với công việc, yêu thương học sinh, biết động viên khuyến khích
học sinh tham gia học tập, giáo dục, xây dựng được môi trường thân thiện
iv) Giải pháp 4: Sử dụng nhiều phương pháp, hình thức học tập cho học
sinh.
Tuỳ theo nội dung bài học mà tôi có những biện pháp dạy học khác nhau,
tôi dùng phương pháp dạy học mở dẫn dắt các em đi từ dễ đến khó, từ
không biết gì, không hiểu gì đến nắm được bài.
11


v) Giải pháp 5: Ôn tập và củng cố kiến thức cho học sinh.
Học sinh có nhu cầu thường xuyên được ôn tập, củng cố kiến thức. Chính
vì vậy, trước mỗi đợt kiểm tra định kì tôi thường dành một khoảng thời gian để
ôn tập cho các em. Đây là khâu quan trọng không thể thiếu trong quá trình giảng
dạy. Ngoài ra, hàng tháng tôi thông báo tình hình học tập của các em cho phụ
huynh nắm. Đối với những phụ huynh chưa quan tâm đúng mức tôi liên hệ
thường xuyên hơn. Thấy được sự nhiệt tình giảng dạy của giáo viên nên phụ
huynh cũng đã hỗ trợ việc học ở nhà bằng cách kiểm tra hoặc nhắc nhở việc học
bài và làm bài. Vì vậy, sau một thời gian thấy học sinh có tiến bộ đáng kể.
vi)Giải pháp 6: Dự đoán trước được những sai lầm có thể xảy ra trong quá
trình học tập của học sinh.
Dạy đúng, đủ chương trình là nhiệm vụ, trách nhiệm của giáo
viên nhưng biết dự đoán trước được những sai lầm có thể xảy ra trong quá trình
học tập của học sinh để từ đó có những phương án, biện pháp giúp học sinh
tránh được được những sai lầm đó cũng là rất cần thiết.
* Tính mới và sáng tạo của giải pháp:
Mỗi buổi học, trước khi vào học khoảng 10 phút các em tự truy bài lẫn
nhau. Từ đó các em dần dần hình thành thói quen tự học, tự quản được lớp học.
Vì thế tôi mất ít thời gian kiểm tra bài, tôi chỉ nhấn mạnh và bổ sung những mặt
còn hạn chế thiếu sót của các em.
Tôi điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho phù hợp với từng đối tượng
học sinh và lập kế hoạch, nội dung để phụ đạo phù hợp với từng em.
Giáo viên là người thiết kế các hoạt động học từ các kiến thức trong sách
giáo khoa. Tổ chức cho học sinh tự hoạt động trong từng tiết học toán để học
sinh được phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tìm tòi để tự hình thành,
chiếm lĩnh kiến thức cho mình trong học toán.
Hằng ngày vào đầu mỗi buổi học, tôi thường cho các em đọc lại bảng cửu
chương hoặc những công thức, quy tắc toán học thay cho những bài hát văn
nghệ đầu giờ. Trong mỗi bài học, đến phần củng cố, tôi thường cho các em thi
đua với nhau, vừa kiểm tra việc nắm kiến thức của các em vừa tạo không khí sôi
nổi gây hứng thú cho các em học tập những tiết tiếp theo.
Dạy đúng, đủ chương trình là nhiệm vụ, trách nhiệm của giáo
viên nhưng biết dự đoán trước được những sai lầm có thể xảy ra trong quá trình
học tập của học sinh để từ đó có những phương án, biện pháp giúp học sinh
tránh được được những sai lầm đó cũng là rất cần thiết.
-Khả năng áp dụng của giải pháp:
Giải pháp này đã được áp dụng thành công trong việc củng cố và nâng
cao giải toán cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học và đã áp dụng có hiệu quả tại
lớp 5C trường Tiểu học. Có khả năng áp dụng nhân rộng cho cả tỉnh và các tỉnh
tương đồng trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Muốn thực hiện được
những điều trên người giáo dục nên cần: thiết nhất là giáo viên phải mạnh dạn
đổi mới phương pháp dạy học, thật sự quan tâm đến học sinh yếu, có tinh thần
trách nhiệm cao, phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, chịu thương, chịu khó, phải
nắm vững tâm lí học sinh, tình hình học tập từng lúc của học sinh để có biện
12


pháp bồi dưỡng, uốn nắn kịp thời. Giáo viên phải có phương pháp dạy học phù
hợp với từng đối tượng học sinh và hình thành cho các em tác phong học tập,
tinh thần làm việc hợp tác, có ý chí vượt khó, cẩn thận, tự tin. Giáo viên phải
thật sự tôn trọng học sinh, kịp thời khen thưởng trước lớp, trước trường những
học sinh có tiến bộ trong học tập để các em cảm thấy sung sướng, hãnh diện. Từ
đó các em sẽ phấn đấu hơn, đồng thời giáo viên phải nhẹ nhàng, tế nhị khuyên
bảo những học sinh còn chậm tiến bộ để các em không cảm thấy tự ti mặc cảm.
-Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
giải pháp:
- Hiệu quả về kĩ thuật:
Đối với học sinh:
Đa số học sinh đều nắm vững được kiến thức một cách có hệ thống
và vận dụng kiến thức đã học để giải các dạng bài tập, thực hành thành thạo
các phép tính, biết trình bày bài giải của bài toán có lời văn, học sinh yếu kém
khắc phục được những kiến thức bị hỏng, tiếp thu được những kiến thức mới tạo
sự hưng phấn trong học tập, giúp học sinh khá giỏi có điều kiện phát huy năng
lực học toán của mình, góp phần vào việc khắc phục học sinh yếu kém ở tiểu
học.
Học sinh hăng hái tham gia học tập hơn, nề nếp lớp học có tiến bộ rõ nét;
Kích thích được sự tò mò, ham học hỏi của học sinh; Tạo sự tin tưởng của học
sinh vào kiến thức bộ môn với việc tự bản thân thực hiện các thao tác khi giáo
viên truyền đạt; Học sinh khắc sâu kiến thức tạo tiền đề cho việc giải quyết các
yêu cầu của bài học; Học sinh chủ động tích cực, ghi nhớ hơn trong giờ học,
trong các bài kiểm tra; Tạo không gian học tập thân thiện với học sinh; đảm bảo
khách quan trong kiểm tra, đánh giá.
Đối với giáo viên:
Góp phần đổi mới phương pháp trong giảng dạy; Đổi mới trong kiểm tra,
đánh giá học sinh; Có nhiều thời gian đầu tư cho việc tìm ra những ý tưởng mới
phục vụ công việc giảng dạy; Có điều kiện thuận lợi áp dụng phương pháp mới
vào hoạt động giáo dục. Cụ thể là:
Thời gian
Trước khi áp
Sau khi áp
Tăng
Nội dung
dụng giải pháp
dụng giải pháp (giảm)
Tổng số học sinh
29
29
6 em
16em
Tăng
Học sinh hoàn thành tốt
(Chiếm 20,68 %) (Chiếm 55,17%) 34,49%
18em
13em
Giảm
Học sinh hoàn thành
(Chiếm 62,07%) (Chiếm 44,83%) 17,24%
Học sinh chưa hoàn thành
5 em
0em
Giảm
(Chiếm 17,24 %)
(Chiếm %)
17,24%
- Hiệu quả về kinh tế:
Giáo viên tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức cả vật chất lẫn tinh
thần trong việc đánh giá học sinh và đặc biệt dành nhiều thời gian cho việc soạn
giảng, truyền thụ kiến thức mới cho học sinh;
Học sinh có thói quen học tập mới, có cách tự học và quen dần với môi
trường học tập của tập thể, của lớp. Phụ huynh tiết kiệm được nhiều về thời gian,
13


về kinh tế trong việc hướng dẫn con học ở nhà. - Hiệu quả về xã hội:
Góp phần thực hiện tốt Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế của Đảng đã đề ra. Qua những lời nhận xét cụ thể của giáo
viên, học sinh biết được điểm yếu để rèn luyện thêm trong quá trình học tập của
mình; tâm lý giáo viên đã cảm thấy nhẹ nhàng đỡ áp lực khi chấm bài cho học
sinh.
Học sinh có điều kiện để tự đánh giá chính mình qua các hoạt động trong
và ngoài lớp để có hướng khắc phục hạn chế và phát huy sở trường của mình;
phụ huynh tham gia tốt vào quá trình đánh giá chính con mình, thể hiện vai trò
và trách nhiệm của mình trong việc phối hợp giáo dục; giáo viên đã thực hiện
đánh giá thường xuyên đảm bảo thể hiện mức độ hoàn thành của học sinh và
biện pháp hỗ trợ để giúp học sinh rèn luyện thêm.
- Hiệu quả về môi trường: Qua áp dụng giải pháp trang bị cho các em một
hệ thống kiến thức cơ bản, vững chắc nhằm nâng cao chất lượng tránh để học
sinh ngồi nhầm lớp để các em tự tin bước vào thời đại mới, thời đại công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước; Giáo viên ân cần, gần gũi với học sinh từ đó góp
phần xây dựng môi trường học tập thân thiện, tích cực trong và ngoài nhà
trường.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật
và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
………………………………….., ngày 9 tháng 4 năm 2019
Người nộp đơn

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×