Tải bản đầy đủ

Thực trạng và giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã ngọc minh, huyện vị xuyên, tỉnh hà giang

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÝ THỊ LINH
Tên đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
CÂY TRỒNG TRÊN ĐỊA BÀN XÃ NGỌC MINH, HUYỆN VỊ XUYÊN,
TỈNH HÀ GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa:

Kinh tế và PTNT

Khóa học:


2014 – 2018

Thái Nguyên, năm 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÝ THỊ LINH
Tên đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
CÂY TRỒNG TRÊN ĐỊA BÀN XÃ NGỌC MINH, HUYỆN VỊ XUYÊN,
TỈNH HÀ GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Lớp:

K46 – KTNN - N02

Khoa:

Kinh tế và PTNT

Khóa học:

2014 – 2018

Giảng viên HD: TS. Nguyễn Văn Tâm

Thái Nguyên, năm 2018


i

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp vừa qua, để hoàn thành được khóa
luận tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được rất nhiều sự
quan tâm giúp đỡ của các tập thể, các cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo
Khoa KT & PTNT – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi
điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS. Nguyễn
Văn Tâm đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí cán bộ UBND xã Ngọc
Minh, cùng nhân dân trong xã đã giúp đỡ tôi nhiệt tình trong thời gian tôi
thực tập tại địa phương.
Trong quá trình thực tập mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng nhưng do
thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế và bước đầu làm quen với
công tác nghiên cứu nên bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót.
Tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và
bạn bè để bản khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Sinh viên

Lý Thị Linh


ii

DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Ngọc Minh qua 3 năm 2015-2017 ...25
Bảng 4.2: Tình hình chăn nuôi của xã trong giai đoạn 2015 – 2017 .............. 27
Bảng 4.3: Tình hình dân số của xã qua 3 năm 2015 – 2017 ........................... 28
Bảng 4.4: Cơ cấu diện tích các loại cây trồng chủ yếu trên địa bàn xã Ngọc
Minh qua 3 năm 2015 – 2017 ....................................................... 32
Bảng 4.5: Nãng suất một số cây trồng chủ yếu tại ðịa phýõng qua 3 năm
2015- 2017 .................................................................................... 34
Bảng 4.6: Cơ cấu giá trị sản xuất một số cây trồng chủ yếu trên địa bàn xã
Ngọc Minh qua 3 năm 2015 – 2017 ............................................. 36
Bảng 4.7: Cơ cấu diện tích gieo trồng theo mùa vụ trên địa bàn xã Ngọc Minh
qua 3 năm 2015 - 2017 ................................................................. 38
Bảng 4.8: Cơ cấu giống lúa trên địa bàn xã Ngọc Minh năm 2017................ 40
Bảng 4.9: Cơ cấu giống của một số cây trồng hàng năm trên địa bàn xã Ngọc
Minh năm 2017 ............................................................................. 41
Bảng 4.10: Một số công thức luân canh trên đất lúa của địa phương qua 3 năm
2015 - 2017 ................................................................................... 44
Bảng 4.11: Hiệu quả kinh tế của một số công thức luân canh ........................ 46


iii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
NGHĨA

STT CHỮ VIẾT TẮT
1

AN- QP

An ninh- quốc phòng

2

BQC

Bình quân chung

3

CLB

Câu lạc bộ

4

CNH-HĐH

Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

5

CN-TTCN-XD

Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng

6

GĐVH

Gia đình văn hóa

7

HĐND

Hội đồng nhân dân

8

HTX

Hợp tác xã

9

KHKT

Khoa học kỹ thuật

10 KT&PTNT

Kinh tế và phát triển nông thôn

11 TDTT

Thể dục thể thao

12 THCS

Trung học cơ sở

13 TTCN

Tiểu thủ công nghiệp

14 UBND

Ủy ban nhân dân


iv

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC BẢNG ......................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT ....................................................... iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Tính cấp thiết của để tài ............................................................................. 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài .................................................................. 2
1.2.1. Mục tiêu chung ........................................................................................ 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể ........................................................................................ 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa học tập ....................................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 2
Phần 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ......................................................... 3
2.1. Cơ sở lý luận về đề tài ................................................................................ 3
2.1.1. Các khái niệm cơ bản .............................................................................. 3
2.1.2. Các quan điểm về chuyển dịch cơ cấu cây trồng .................................... 5
2.1.3. Ý nghĩa của việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng...................................... 8
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài ........................................................................... 9
2.2.1. Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên thế giới ............................. 9
2.2.2. Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại Việt Nam .......................... 10
2.2.3. Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng của tỉnh Hà Giang ................. 14
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
......................................................................................................................... 19
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 19
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 19


v

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 19
3.2. Địa điểm, thời gian và nội dung nghiên cứu ............................................ 19
3.2.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 19
3.3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 19
3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu ................................................................ 19
3.3.2. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu .......................................................... 21
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................. 23
4.1. Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu ............................................................ 23
4.1.1. Điều kiện tư nhiên ................................................................................. 23
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ...................................................................... 26
4.1.3. Điều kiện văn hóa - xã hội .................................................................... 28
4.2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng của địa phương qua 3 năm 2015
– 2017 .............................................................................................................. 31
4.2.1. Cơ cấu diện tích các cây trồng chủ yếu tại địa phương qua 3 năm 2015
– 2017 .............................................................................................................. 31
4.2.2. Năng suất một số cây trồng chủ yếu tại địa phương qua 3 năm 2015 – 201734
4.2.3. Giá trị sản xuất của một số cây trồng chính trên địa bàn xã Ngọc Minh
qua 3 năm 2015 - 2017 .................................................................................... 35
4.2.4. Cơ cấu diện tích gieo trồng theo mùa vụ tại địa phương ...................... 37
4.2.5. Cơ cấu giống một số cây trồng chính của địa phương năm 2017 ........ 40
4.2.6. Một số công thức luân canh trên đất lúa ............................................... 42
4.2.7. So sánh hiệu quả kinh tế của 1 số công thức luân canh ........................ 46
4.3. Những thuận lợi và khó khăn của xã Ngọc Minh trong việc chuyển dịch
cơ cấu cây trồng .............................................................................................. 47
Phần 5. CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY
TRỒNG .......................................................................................................... 49
5.1. Các giải pháp ............................................................................................ 49


vi

5.1.1. Giải pháp về khoa học kỹ thuật ............................................................. 49
5.1.2. Phát triển nguồn nhân lực ..................................................................... 49
5.1.3. Giải pháp về đất đai............................................................................... 50
5.1.4. Giải pháp về thị trường ......................................................................... 50
5.1.5. Giải pháp về vốn ................................................................................... 51
5.2. Kết luận và kiến nghị ............................................................................... 51
5.2.1. Kết luận ................................................................................................. 51
5.2.2. Kiến nghị ............................................................................................... 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 53


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của để tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp với điểm xuất phát thấp, hiện nay
vẫn còn trên 70% dân số sống ở nông thôn và 70% lao động xã hội làm việc
trong lĩnh vực nông nghiệp ( nguồn trích dẫn: Báo nông nghiệp Việt Nam
năm 2015) [10]. Năng suất khai thác ruộng đất và năng suất lao động còn
thấp, sản xuất còn manh mún nhỏ lẻ, chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có của
đất nước. Nông nghiệp chưa đáp ứng nhu cầu cải thiện đời sống nhân dân,
chưa cung cấp đủ nguyên liệu cho công nghiệp hàng hoá và xuất khẩu, chưa
tạo được động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông
thôn. Để giải quyết những vấn đề này thì thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp nói chung và cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp nói riêng có ý nghĩa
vô cùng quan trọng đối với nước ta trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất
nước.
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhằm phát huy mọi tiềm năng sản xuất
của mỗi vùng hướng tới sản xuất chuyên môn hóa phát triển nền nông nghiệp
sản xuất hàng hoá lớn, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện
mức sống cho người nông dân. Do đó, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu
cây trồng trong nông nghiệp trên phạm vi cả nước cũng như với từng địa phương
là rất cần thiết.
Huyện Vị Xuyên đã đưa ra một số mô hình chuyển đổi đem lại hiệu
quả kinh tế cao. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên toàn huyện đã đạt
được nhiều thành tựu và chuyển biến tích cực. Ngọc Minh là một trong những
xã của huyện Vị Xuyên có nhiều tiềm năng thuận lợi cho quá trình chuyển
dịch cơ cấu cây trồng, phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên cơ cấu sản xuất nông
nghiệp còn chuyển đổi chậm trong khi nhiều tiềm năng của vùng chưa được
khai thác hết. Từ thực tiễn của xã Ngọc Minh trong thời gian thực tập tại địa
phương tôi đã chọn nghiên cứu đề tài "Thực trạng và giải pháp nhằm
chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã Ngọc Minh, huyện Vị Xuyên,
tỉnh Hà Giang”


2

1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã, phân
tích những thuận lợi và khó khăn của vùng từ đó đưa ra phương hướng và giải
pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã Ngọc Minh.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội liên quan đến sự chuyển
dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã Ngọc Minh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
- Đánh giá thực trạng cơ cấu cây trồng và sự chuyển dịch cơ cấu cây
trồng trên địa bàn xã Ngọc Minh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
- Đưa ra những giải pháp chủ yếu mang tính khả thi nhằm đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu cây trồng của toàn xã.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa học tập
-Nghiên cứu đề tài giúp cho sinh viên tổng hợp và củng cố những kiến
thức đã được học.
- Có được tư duy một cách lôgic và biết cách vận dụng những kiến thức
đã học vào thực tiễn, đồng thời học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong thực tế
và cũng là cơ hội gặp gỡ, học tập trao đổi kiến thức với những người có kinh
nghiệm và người dân địa phương.
- Quá trình thực hiện đề tài thực tập sẽ nâng cao năng lực cũng như rèn
luyện kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân mỗi sinh viên.
- Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các
cơ quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở để các nhà quản lý, các cấp lãnh đạo địa
phương đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng
hợp lý, hiệu quả để nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân
tại xã Ngọc Minh nói riêng và người dân nông thôn nói chung.


3

Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận về đề tài
2.1.1. Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1. Khái niệm về cơ cấu cây trồng
Cơ cấu cây trồng là thành phần các giống và các loại cây được bố trí
theo không gian và thời gian trước một hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận
dụng hợp lý nhất các nguồn lực về tự nhiên kinh tế xã hội sẵn có của vùng.
Cơ cấu cây trồng là một biện pháp kinh tế và kỹ thuật tổng hợp nhằm
đẩy mạnh sự phát triển của sản xuất nông nghiệp, thể hiện cụ thể của phương
hướng sản xuất về mặt trồng trọt. Cơ cấu cây trồng cũng quyết định sự phát
triển của ngành chăn nuôi và các ngành phụ khác của nông nghiệp. Sự chuyên
môn hoá, tập trung sản xuất phải được phản ánh cụ thể trong cơ cấu cây trồng.
Cơ cấu cây trồng cũng là kết quả của quy hoạch sử dụng ruộng đất và quan
trọng nhất là sử dụng ruộng đất nào để trồng cây gì thì có hiệu quả kinh tế cao
nhất. Ngoài ra cơ cấu cây trồng còn có quan hệ chặt chẽ với việc đầu tư vốn
và sử dụng lao động, tuỳ cơ cấu cây trồng mà mức độ đầu tư vốn và lao
động vào ruộng đất sẽ thay đổi. Cũng như cơ cấu cây trồng có quyết định
độ màu mỡ của đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái có khả năng làm giảm
sự phát triển của sâu bệnh hại cây trồng. Đặc biệt cơ cấu cây trồng làm
giảm tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập trên một đơn
vị diện tích gieo trồng [4].
2.1.1.2. Khái niệm về cơ cấu cây trồng hợp lý
Cơ cấu cây trồng hợp lý là cơ cấu cây trồng phù hợp với phương thức
sản xuất của từng vùng hay đơn vị sản xuất nông nghiệp. Đáp ứng được yêu
cầu của đơn vị sản xuất của người lao động, khai thác hết tiềm năng về tự
nhiên kinh tế xã hội và lợi thế sẵn có của vùng. Để nâng cao năng suất lao
động, năng suất cây trồng, tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích. Nâng cao


4

hiệu quả sử dụng đất đai cho thu nhập lớn, góp phần nâng cao đời sống vật
chất cũng như tinh thần của người dân.
Cơ cấu cây trồng hợp lý còn là sự thể hiện tính hiệu quả của mỗi quan
hệ giữa các cây trồng được bố trí trên đồng ruộng. Thể hiện mỗi quan hệ
tương hỗ trợ nhau cùng nhau phát triển, sinh trưởng bằng cách tạo ra môi
trường thuận lợi về sinh dưỡng ánh sáng cho nhau. Làm cơ sở cho nông nghiệp
phát triển một cách mạnh mẽ toàn diện vững chắc theo hướng thâm canh không
ngừng nâng cao hiệu suất lao động và bảo vệ môi trường sinh thái [3].
2.1.1.3. Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu cây trồng
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng là sự thay đổi về tỷ lệ phần trăm diện tích
gieo trồng, giá trị sản lượng của nhóm cây trồng trong tổng thể ngành trồng
trọt về từng loại cây trồng trong nhóm cây trồng chịu sự thay đổi của các yếu
tố tự nhiên, kinh tế xã hội và thị trường. Nó là một quá trình thực hiện bước
chuyển dịch từ hiện trạng của một cơ cấu cây trồng cũ sang một cơ cấu cây
trồng mới, nhằm đáp ứng những yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông
nghiệp nông thôn [5].
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng là sự thay đổi tỷ lệ từng loại cây trồng
trên một đơn vị diện tích đất canh tác. Là việc đưa vào ngành sản xuất trồng
trọt những loại cây có năng suất, chất lượng, giá trị cao để thay thế cho những
cây trồng, giống cây trồng cũ có năng suất, chất lượng, giá trị thấp hơn để đạt
được hiệu quả kinh tế cao hơn trong sản suất nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất
nông nghiệp phát triển theo hướng phù hợp với nhu cầu thị trường [4].
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng thực chất là phá thế độc canh trong nông
thôn để hình thành một cơ cấu cây trồng mới phù hợp với điều kiện tự nhiên
kinh tế xã hội, khí hậu, sinh thái của vùng đồng thời đạt hiệu quả kinh tế cao
dựa vào những đặc tính sinh học của từng loại cây trồng. Đây chính là quá
trình tổng hợp lại các công thức luân canh các thành phần giống cây trồng và
các cây trồng, đảm bảo các thành phần trong cơ cấu có mỗi quan hệ tương tác


5

với nhau, thúc đẩy lẫn nhau nhằm khai thác tốt nhất các nguồn lực sẵn có về
điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của địa phương để nâng cao hiệu quả sản
xuất nông nghiệp bảo vệ môi trường sinh thái [3].
2.1.2. Các quan điểm về chuyển dịch cơ cấu cây trồng
2.1.2.1. Quan điểm phát triển sản xuất hàng hóa
Sản xuất nông sản hàng hoá là một yếu tố khách quan của nền kinh tế
thị trường. Nó là sự thể hiện của lực lượng sản xuất tiến bộ. Sản xuất hàng
hoá phát sinh là do lực lượng sản xuất phát triển và có liên quan đến sở hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất. Sản xuất hàng hoá gắn liền với thị trường và có
sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, vì thị trường là nơi tiêu thụ của hàng hoá,
trao đổi và giao lưu hàng hoá chỉ có thị trường mới phản ánh được giá trị
hàng hoá. Nhà nước sẽ điều chỉnh cung cầu của thị trường thông qua các
chính sách thuế khoán, tài chính, tiền tệ. Trong quá trình tái sản xuất bao
gồm bốn khâu: Sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu thụ (theo Paul A.
Samelson, kinh tế học 1989, dịch ra tiếng việt). Mọi nền sản xuất đều sản
xuất đều giải quyết ba vấn đề cơ bản là: Sản xuất cái gì với tổng lượng bao
nhiêu? Sản xuất như thế nào bằng những công nghệ và tài nguyên nào? Hàng
hoá được sản xuất cho ai? Tất cả đều phải gắn chặt với thị trường. Nông
nghiệp nói chung và cơ cấu cây trồng nói riêng cũng là ngành sản xuất vật
chất và nó cũng không thể dừng lại ở một khâu nào trong bốn khâu trên, mà
nó là một chuỗi liên tục chi phối trong mỗi quan hệ tương tác lẫn nhau theo
hướng hoàn thiện trong từng hoàn cảnh cụ thể, theo sự thay đổi của thị
trường. Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng từ tự cung tự cấp theo hướng
sản xuất hàng hoá cũng là một yếu tố khách quan đối với sự phát triển của
nền kinh tế nông nghiệp hiện đại. Trong điều kiện nước ta hiện nay thì thị
trường có tác động mạnh mẽ vào sản xuất nông nghiệp. Đòi hỏi sản xuất
nông nghiệp phải đa dạng hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản
phẩm đáp ứng được nhu cầu thị trường ở mọi lúc, mọi nơi. Do vậy, vấn đề


6

hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng phải gắn liền với việc nghiên cứu thị
trường và chỉ có thông qua thị trường mới đánh giá được hiệu quả của nó. Vì
vậy cần phải nhận thức đầy đủ về quan hệ cung cầu để hành động phù hợp
với các quy luật của nó [8].
2.1.2.2. Quan điểm phát triển hàng hóa xuất khẩu
Muốn phát triển nền kinh tế toàn diện và vững chắc thì cần phải có sự
giao lưu trao đổi hàng hoá trên thị trường trong và ngoài nước. Bởi vì việc
giao lưu mở rộng mối quan hệ với các nước trên thế giới là rất cần thiết và
quan trọng trong việc tăng cường vốn, khoa học kỹ thuật trang thiết bị máy
móc hiện đại vào sản xuất để khai thác những tiềm năng của mỗi vùng mỗi
quốc gia. Mỗi vùng mỗi quốc gia chuyên môn hoá cần chú trọng tăng cường
một hay một số hàng hoá nông sản có giá trị kinh tế cao phù hợp với điều kiện
tự nhiên khí hậu, đất đai của vùng.
Thực tế trong những năm vừa qua, cùng với quá trình công nghiệp hoá
đô thị hoá, thị trường hoá, sản xuất trong các ngành ở các nước đều có sự phát
triển, thoả mãn ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu của con người. Song mục đích
cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất đều là tối đa hoá lợi nhuận. Trong hoạt
động sản xuất nông nghiệp thì vấn đề chuyển dịch cơ cấu cây trồng cũng
không nằm ngoài mục đích đó. Do chạy theo lợi nhuận trước mắt mà các hộ
nông dân, các chủ thể sử dụng đất nông nghiệp có những hoạt động sản xuất
đã vắt kiệt sức sản xuất của đất đai, khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên
đất nước. Tối thiểu chi phí và tối đa hoá lợi nhuận dẫn đến hiện tượng thoái
hoá đất, bạc màu đất, tính chất vật lý, hoá học của đất cũng thay đổi. Vấn đề
đặt ra ở đây là chuyển dịch cơ cấu cây trồng muốn đạt được hiểu quả kinh tế
cao và bề vững thì đòi hỏi các hộ nông dân, các nhà sản suất phải nắm được
các đặc tính sinh học, khả năng chống chịu với điệu kiện ngoại cảnh của cây
trồng. Để có những biện pháp tác động đúng và thích hợp nhằm cải tạo đất và
làm sạch môi trường sinh thái [5].


7

2.1.2.3. Quan điểm chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng nông nghiệp
bền vững
Như chúng ta đã biết nông nghiệp có vai trò quan trọng trong nền kinh
tế nước ta và có ý nghĩa quyết định ở giai đoạn đầu của sự phát triển kinh tế.
Một nền nông nghiệp phát triển mới tạo tiền đề vững chắc cho sự nghiệp
CNH-HĐH đất nước. Do vậy để chương trình xoá đói giảm nghèo có hiệu quả
thì cần phải quan tâm tới sản xuất nông nghiệp nhất là vẫn đề an toàn lương
thực, không chỉ đơn thuần là về mặt số lượng mà nó còn bao gồm cả chất
lượng. Chính điều này đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong
cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn được chú ý và phát triển, tạo cho nông
nghiệp phát triển bền vững [7].
2.1.2.4. Quan điểm bảo vệ môi trường sinh thái
Thực tế trong những năm vừa qua, cùng với quá trình công nghiệp hoá
đô thị hoá, thị trường hoá, sản xuất trong các ngành ở các nước đều có sự phát
triển, thoả mãn ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu của con người. Song mục đích
cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất đều là tối đa hoá lợi nhuận. Trong hoạt
động sản xuất nông nghiệp thì vấn đề chuyển dịch cơ cấu cây trồng cũng
không nằm ngoài mục đích đó. Do chạy theo lợi nhuận trước mắt mà các hộ
nông dân, các chủ thể sử dụng đất nông nghiệp có những hoạt động sản xuất
đã vắt kiệt sức sản xuất của đất đai, khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên
đất nước. Tối thiểu chi phí và tối đa hoá lợi nhuận dẫn đến hiện tượng thoái
hoá đất, bạc màu đất, tính chất vật lý, hoá học của đất cũng thay đổi. Vấn đề
đặt ra ở đây là chuyển dịch cơ cấu cây trồng muốn đạt được hiểu quả kinh tế
cao và bền vững thì đòi hỏi các hộ nông dân, các nhà sản suất phải nắm được
các đặc tính sinh học, khả năng chống chịu với điệu kiện ngoại cảnh của cây
trồng. Để có những biện pháp tác động đúng và thích hợp nhằm cải tạo đất và
làm sạch môi trường sinh thái [7].


8

2.1.3. Ý nghĩa của việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng
Ở bất cứ nước nào dù giàu hay nghèo, nông nghiệp đều chiếm vị trí quan
trọng. Nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu của nền kinh tế cung cấp những
sản phẩm cần thiết phục vụ cho đời sống con người tồn tại và phát triển.
Trong sản xuất nông nghiệp nước ta trồng trọt là ngành sản xuất chủ
yếu, sản xuất ra lương thực, thực phẩm. Sản xuất lương thực tăng nhanh bình
quân mỗi năm tăng lên trên 1,3 triệu tấn. Nó không những cung cấp lương
thực, thực phẩm phục vụ cho đời sống con người, làm thức ăn cho gia súc,
cung cấp nhiên liệu cho sản xuất công nghiệp, giữ gìn và bảo vệ môi trường
sinh thái, mà còn là nguồn hàng xuất khẩu đem lại hiệu quả kinh tế cao tạo ra
nguồn thu nhập ngoại tệ lớn cho đất nước thông qua xuất khẩu các sản phẩm
nông nghiệp tạo tiền đề vững chắc cho công cuộc CNH-HĐH đất nước.
Cơ cấu cây trồng hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển nền
sản xuất nông nghiệp từ chỗ độc canh cây lương thực sang nền nông nghiệp
đa dạng hoá cây trồng. Tạo ra các loại cây trồng, những nông sản phẩm có
chất lượng giá trị cao, có hiệu quản kinh tế cao phù hợp với điều kiện thời
tiết, khí hậu, phương hướng sản xuất của vùng, cũng như đáp ứng được nhu
cầu của thị trường trong và ngoài nước, nhu cầu của con người và xã hội.
Cơ cấu cây trồng hợp lý dẫn đến việc sử dụng các yếu tố đầu vào đầy
đủ và hợp lý hơn. Nó còn là căn cứ để xây dựng kế hoạch đầu tư vốn, sử dụng
lao động, đất đai, các tư liệu sản xuất và các yếu tố đầu vào khác trong sản
xuất nông nghiệp một cách có hiệu quả; giảm bớt tính thời vụ trong sản xuất
nông nghiệp và hạn chế được lao động nông nghiệp có tính chất thời vụ trong
sản xuất nông nghiệp.
Cơ cấu cây trồng còn có vai trò quan trọng trong việc cải tạo và bồi
dưỡng đất, hạn chế sự phát triển của sâu bệnh, tăng năng suất cây trồng và
tăng giá trị hàng hoá. Đặc biệt cơ cấu cây trồng còn thúc đẩy sự chuyển dịch


9

cơ cấu sản xuất nông nghiệp trên một đơn vị diện tích. Từ đó làm tăng thu
nhập cho người nông dân làm cho đời sống của họ được nâng cao.
Cơ cấu cây trồng hợp lý còn là cơ sở làm cho nông nghiệp phát triển
một cách mạnh mẽ, toàn diện vững chắc. Lợi dụng một cách tốt nhất các điều
kiện tự nhiên khí hậu, đất đai, nguồn nước với đặc tính sinh học của cây trồng
để có năng suất, sản lượng cao nhất trên một đơn vị diện tích. Tránh được tác
hại của sâu bệnh, bồi dưỡng và cải tạo đất tốt.
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên thế giới
2.2.1.1. Nhóm các nước phát triển
Đặc điểm nổi bật của các nước này là chuyên môn hoá, tập trung cao
độ hình thành các vùng chuyên canh lớn, các trang trại lớn.Việc ứng dụng
khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp ở mức tiên tiến. Sản phẩm sản
xuất theo nhu cầu của thị trường với khối lượng lớn, chất lượng giá trị cao,
sản phẩm làm ra được ngành công nghiệp chế biến tiêu thụ và phục vụ xuất
khẩu. Cơ cấu cây trồng không đơn thuần vì mục đích thu sản phẩm mà còn vì
mục đích cải tạo môi trường sinh thái, để phát triển nền nông nghiệp bền
vững. Tuy nhiên cơ cấu cây trồng thường bị biến đổi, lệ thuộc vào nền kinh tế
thị trường mang tính chất sản xuất hàng hoá cao độ [4].
2.2.1.2. Nhóm các nước đang phát triển
Đặc điểm của những nước này là mới đi vào chuyên môn hoá và tập
trung. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp còn nhiều
hạn chế, trình độ quản lý chưa cao, thiếu vốn trong sản xuất, năng suất cây
trồng vẫn thấp. Sản xuất mang tính truyền thống tự nhiên chưa mang tính sản
xuất hàng hoá, thị trường. Một phần các nước này còn gặp khó khăn về giải
quyết lương thực, cơ cấu cây trồng chưa vì mục đích bảo vệ môi trường [5].


10

2.2.1.3. Nhóm các nước nghèo
Phần lớn các nước này nằm ở Châu Phi và một số nước ở Châu Á. Đặc
điểm nổi bật đáng chú ý ở các nước này là sản xuất nông nghiệp mang nặng
tính tự nhiên, tự cung tự cấp, kỹ thuật canh tác thủ công lạc hậu. Chủ yếu là
quảng canh, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, bóc lột đất đai và môi trường một
cách vô thức. Ở các vùng này đời sống nhân dân nói chung, đặc biệt các hộ
nông dân còn gặp nhiều khó khăn. Tình trạng đói nghèo vẫn tồn tại nhiều,
thiếu vốn, khoa học kỹ thuật. Áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông
nghiệp còn rất hạn chế [3].
2.2.2. Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại Việt Nam
2.2.2.1. Giai đoạn trước đổi mới (trước năm 1986)
Ở nước ta các nhà khoa học cũng đi từ những nghiên cứu riêng rẽ từng
cây, tách rời môi trường tự nhiên, môi trường xã hội đến nghiên cứu hệ thống
cây trồng trong một môi trường cụ thể. Truyền thống xây dựng đê điều, thuỷ
lợi, kỹ thuật làm đất bằng trâu, bò, tập quán đầu tư nhiều lao động sống, tận
dụng phân chuồng, phân xanh đi liền với việc thâm canh đã làm nên nền văn
minh lúa nước của dân tộc Việt Nam. Ngay từ những năm 1960 viện sĩ Đào
Thế Tuấn đã cùng các nhà nghiên cứu khoa học của viên khoa học kỹ thuật
nông nghiệp Việt Nam nghiên cứu đưa cây lúa vụ xuân với các giống lúa gắn
ngày có tiềm năng năng suất cao và tập đoàn cây vụ đông vào chân đất hai vụ
lúa, đưa cây màu vụ xuân vào chân đất một vụ mùa, đã tạo nên bước chuyển
biến rõ nét về sản lượng lương thực, thực phẩm trong vùng đồng bằng sông
Hồng. Năm 1970 nhờ chuyển vụ mạnh, năng suất lúa chiêm xuân toàn miền
Bắc được nâng lên 19,73 tạ/ ha so với năng suất lúa chiêm xuân từ 1960 1969 đến 18,94 tạ/ ha. Năm 1974 sản lượng lúa miền Bắc chỉ đạt 5,48 triệu
tấn, năng suất lúa đạt 34,2 tạ/ ha, lương thực đầu người chỉ đạt 276 kg, lương
thực nhập khẩu lên tới 1,5 triệu tấn. Từ 1975 đến năm 1980 lương thực cả
nước dậm chân tại chỗ (năm 1975 là 13,4 triệu tấn, năm 1980 là 14,4 triệu


11

tấn). Lương thực bình quân đầu người giảm dần từ 274 kg năm 1975 xuống
257 kg năm 1980, đặc biệt năng suất lúa bình quân cả nước rất thấp lại còn
giảm năm 1975 là 22,3 tạ/ ha, năm 1980 là 21,1 tạ/ ha. Năm 1985 năng suất
chung miền Bắc đạt 31,9 tạ/ ha. Điển hình các tỉnh Thái Bình bình quân tăng
năng suất 42 tạ / ha, Hải Hưng 38 tạ/ha. Có những xã đạt năng suất cao như:
HTX Vũ Thắng 70 tạ/ ha,Trực Đông - Hải Hậu 72 tạ/ ha [13]. Sản xuất nông
nghiệp nước ta nói chung và trồng trọt nói riêng, giai đoạn này rất còn lạc
hậu, mang tính tự nhiên, tự cung tự cấp. Cây trồng chủ yếu là cây lúa nước
nên năng suất và giá trị kinh tế thấp, lúa thường xuyên bị sâu bệnh và thiên
nhiên tàn phá, nhiều nơi còn bị mất trắng. Ngoài cây lúa, một số cây trồng
khác như: Ngô, khoai, sắn cũng được gieo trồng nhưng chỉ là sản xuất nhỏ,
manh mún và không có sự đầu tư, chỉ đạo đúng đắn. Cơ cấu cây trồng ở thời
kỳ này đơn giản, chủ yếu vẫn là độc canh cây lương thực. Hơn nữa, sản xuất
lại chịu ảnh hưởng của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, trình độ
dân trí thấp, thiếu hiểu biết về khoa học kỹ thuật... dẫn đến không hình thành
vùng chuyên canh. Sản lượng thấp không phát huy được tiềm năng sẵn có, lợi
thế so sách của mỗi địa phương. Đời sống của nhân dân nhất là nông dân còn
gặp nhiều khó khăn, diện đói nghèo tăng. Nhà nước phải nhập khẩu mỗi năm
trên dưới một triệu tấn lương thực, nhập khẩu 5,6 tấn lương thực trong những
năm 1976 - 1980. Qua đó ta có thể nói những năm cuối thập kỷ 70 tình hình
kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn và lâm vào tình trạng thiếu lương thực,
thực phẩm một cách trầm trọng [8].
2.2.2.2. Giai đoạn sau đổi mới đến nay (sau năm 1986)
Cùng với sự đổi mới kinh tế nói chung, nền nông nghiệp nước ta đang
trong quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Nền nông nghiệp nước ta được hình thành và phát triển từ lâu đời
nhưng chuyển biến sâu sắc và mạnh mẽ nhất từ khi Việt Nam thực hiện thành
công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã


12

hội. Từ những năm cuối thập kỷ 80, dưới ánh sáng của chính sách đổi mới
của Đảng và Chính phủ nền nông nghiệp Việt Nam đã có nhiều biến đổi sâu
sắc. Đẩy mạnh đầu tư, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, đa dạng hoá sản phẩm gắn liền nông nghiệp với thị trường. Điển hình là
hàng loạt các chính sách về nông nghiệp nông thôn đã được ban hành như:
Chỉ thị 100 của ban Bí thư Trung ương Đảng tháng 01 năm 1981, Nghị quyết
10 của Bộ Chính trị tháng 4 năm 1988. Chính sách giao quyền sử dụng đất lâu
dài cho hộ nông dân theo điều 20 luật đất đai năm 1993. Chính sách thuế
nông nghiệp, khuyến nông, trợ giá nông sản. Xây dựng các công trình phòng
chống thiên tai, đê điều, hệ thống kênh máng tưới tiêu, đường giao thông...
Việc nghiên cứu cơ cấu cây trồng nhằm từng bước phá chế độ độc canh cây
lúa đã được triển khai bằng việc cải thiện hệ thống cây trồng theo hướng đa
dạng hoá phát triển theo một số hướng sau: Nhập nội và đưa vào sản xuất
những loại cây trồng mới có năng suất chất lượng cao không phải là cây bản
địa như khoai tây, cà chua, hành tây ngô... đã mang lại những hiệu quả kinh tế
cao hơn. Đặc biệt ta đã tạo chọn và nhập nội nhiều giống cây trồng tốt đưa
vào sản xuất đại trà khá nhanh, có tác dụng hiệu quả cao hơn. Trước hết phải
kể đến việc lai tạo và nhập giống lúa thuần và lúa lai từ Trung Quốc vào miền
Bắc. Ngoài lúa ta cũng nhập khá nhiều giống cây lương thực có nhiều ưu thế
và chất lượng cho năng suất cao, thay thế các giống đã dùng lâu trong sản
xuất như: Ngô lai Bioseed, khoai tây KT03, dưa thái... trong nước giữa các
vùng đã có sự chuyển dịch thâm canh cây trồng từ vùng này sang vùng khác
đã thu được nhiều thắng lợi.
Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT)
Nguyễn Xuân Cường, năm 2016, sản xuất nông, lâm và thủy sản phải đối mặt
với nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, ngành NN&PTNT đã luôn nhận
được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát và hỗ trợ kịp thời của Đảng, Nhà nước; sự
phối hợp chặt chẽ của các bộ, ban, ngành và địa phương; sự chung sức, đồng


13

hành và sáng tạo của cộng đồng doanh nghiệp và bà con nông dân trên cả
nước và thông tin, tuyên truyền kịp thời của các cơ quan truyền thông. Đồng
thời, ngành đã nỗ lực bám sát thực tiễn, chỉ đạo quyết liệt, tiếp tục đẩy mạnh
thực hiện tái cơ cấu gắn với xây dựng nông thôn mới.
Báo cáo của ngành NN&PTNT cũng chỉ rõ, năm 2016, ngành nông
nghiệp đã góp phần ổn định đời sống, đảm bảo an sinh xã hội cho nhân dân và
phát triển đất nước. Cơ cấu sản xuất tiếp tục được điều chỉnh phù hợp với
định hướng tái cơ cấu và thích ứng với biến đổi khí hậu; sản xuất được duy trì
trong điều kiện thiên tai khắc nghiệt; xuất khẩu tăng cao, tăng trưởng ngành
được phục hồi. GDP toàn ngành đã tăng 1,2% so với năm 2015; giá trị sản
xuất (theo giá so sánh 2010) tăng 1,44%, trong đó: Trồng trọt giảm 0,9%,
chăn nuôi tăng 5,4%; lâm nghiệp tăng 6,17%; thuỷ sản tăng 2,91%. Kim
ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản ước đạt khoảng 32,1 tỷ USD, tăng 5,4%
so với năm 2015; tiếp tục duy trì được 10 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu
từ 1 tỷ USD trở lên. Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
tiếp tục được triển khai rộng khắp, đạt mục tiêu đề ra; các nhiệm vụ xóa đói,
giảm nghèo được quan tâm thực hiện. Đến cuối năm 2016, cả nước có 2.235
xã đạt chuẩn nông thôn mới (hoàn thành mục tiêu có 25% số xã đạt chuẩn
năm 2016) [14].
Tạo được những giống cây trồng mới có năng suất chất lượng cao phù
hợp với điều kiện tự nhiên của vùng. Vụ đông ở miền Bắc thích hợp với cây
trồng có nguồn gốc á nhiệt đới như: Bắp cải, xu hào, cà chua, khoai lang, đậu
tương... mở rộng diện tích cây vụ đông miền Bắc đã đưa vào sản xuất nhiều
giống cây trồng mới có năng suất cao, các giống lúa vụ xuân, vụ mùa ngắn
ngày, giải phóng đất vào tháng 9 để đưa thêm một vụ cây trồng cạn vụ đông
vào chân đất vẫn chủ động nước, đã làm tăng vụ, tăng hệ số quay vòng của
đất và tăng sản lượng lương thực đáng kể. Đây là con đường đúng đắn nhất
trong chiến lược sử dụng, bảo vệ và bồi dưỡng đất đai, nó không chỉ có ý


14

nghĩa to lớn đối với các vùng có điều kiện canh tác thuận lợi, nông dân có
trình độ khá về đầu tư thâm canh mà ngay cả đối với vùng có điều kiện canh
tác khó khăn, kỹ thuật sản xuất lạc hậu. Theo hướng miền Bắc đã có nhiều
tỉnh ở đồng bằng Sông Hồng thực hiện thành công và đạt năng suất cao.
Cơ cấu một vụ đã chuyển dịch theo hướng tăng diện tích lúa đông xuân
và lúa hè thu có năng suất cao, ổn định. Các loại giống lúa mới đã được sử
dụng trên 87% diện tích gieo trồng. Sản lượng lương thực có hạn tăng hàng
năm trên 1,6 triệu tấn lương thực, bình quân lương thực đầu người đã tăng từ
360 kg năm 1995 lên 532 kg năm 2010. Giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1
đơn vị sản xuất nông nghiệp tăng từ 13,5 triệu đồng/ ha năm 1995 lên 55,5
triệu đồng/ha năm 2010 [12]. Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đạt những thành
tựu quan trọng trong công cuộc CNH, HĐH đất nước. Từ một nền kinh tế
nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng
được cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng sự
nghiệp CNH, HĐH, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển.
Diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá,
tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên (đạt ngưỡng thu nhập trung bình); đời
sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thời tạo ra nhu cầu và động lực
phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đội ngũ doanh nghiệp,
doanh nhân thật sự trở thành lực lượng quan trọng để thực hiện đường lối
CNH, HĐH đất nước [16].
2.2.3. Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng của tỉnh Hà Giang
Đô thị phát triển, quỹ đất nông nghiệp ở thành phố Hà Giang ngày càng thu
hẹp. Theo thống kê trung bình mỗi năm diện tích đất nông nghiệp của thành phố
thường bị thu hẹp khoảng 1 ha sang mục đích sử dụng khác. Do vậy để sản xuất
nông nghiệp của thành phố phát triển cần phải chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
Thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố, trong
những năm qua, các cấp Hội Nông dân, Phòng Kinh tế, Trạm Khuyến nông,


15

Trung tâm Giống cây trồng thành phố thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn
nhằm giới thiệu các loại giống cây trồng cho năng suất chất lượng cao. Đồng
thời, tư vấn cho các hộ có nhu cầu mở rộng kinh doanh, sản xuất, mạnh dạn
đưa cây trồng mới vào sản xuất. Bên cạnh đó, thành phố còn đẩy mạnh công
tác hỗ trợ vốn để nông dân đầu tư phát triển những loại cây trồng có giá trị
kinh tế cao, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, hợp tác với nông dân
thông qua các hợp đồng bao tiêu nông sản, chuyển giao kỹ thuật…Đầu tư,
ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất luôn được ngành nông nghiệp thành
phố quan tâm, chỉ đạo thực hiện theo hướng nông nghiệp đô thị.
Thuộc nhóm cây trồng mũi nhọn, sản xuất đậu tương hàng hóa của tỉnh
tập trung ở 7 huyện gồm Hoàng Su Phì, Xín Mần, Yên Minh, Đồng Văn,
Quản Bạ, Bắc Mê, Mèo Vạc, chiếm trên 95% diện tích và sản lượng của tỉnh.
Năm 2014, diện tích đậu tương toàn tỉnh gieo trồng đạt gần 24 nghìn ha, năng
suất bình quân 13 tạ/ha, hiệu quả kinh tế mang lại gần 400 tỷ đồng. Thời gian
tới, tỉnh tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng gắn sản xuất hàng hóa, phấn
đấu đến năm 2015, tổng diện tích đậu tương đạt 25 nghìn ha, sản lượng đạt
trên 40 nghìn tấn, đảm bảo 85% diện tích tương đương 23.134 ha thâm canh,
trong đó 85% giống mới.
Tại huyện Hoàng Su Phì, nhằm phát triển đậu tương hàng hóa gắn với
thâm canh giai đoạn 2011-2015, nhằm nâng cao giá trị/ha đất canh tác, huyện
đã chủ động sản xuất giống đậu tương DT84 tại chỗ để hỗ trợ những hộ, vùng
chưa chủ động giống. Năm 2014, diện tích gieo trồng đậu tương của huyện
đạt trên 5,4 nghìn ha, sản lượng đạt trên 8 nghìn tấn.
Thời gian tới, huyện phấn đấu duy trì diện tích hàng năm trên 5,5 nghìn
ha, sản lượng đạt trên 8,2 nghìn tấn, trong đó diện tích sản xuất hàng hóa tập
trung đạt khoảng 2 nghìn ha tại các xã Chiến Phố, Sán Sả Hồ, Pờ Ly Ngài,
Nàng Đôn, Pố Lồ, Ngằm Đăng Vài, Tụ Nhân... duy trì và phát triển vùng sản
xuất giống đậu tương tại chỗ hàng năm đạt 50 ha tại xã Chiến Phố.


16

Vụ Đông - xuân năm nay, huyện Xín Mần thực hiện xây dựng mô hình
liên kết trồng ngô hàng hoá giữa hộ nông dân với Công ty Cổ phần và phát
triển Xín Mần. Theo đó, Công ty đầu tư toàn bộ giống, huyện hỗ trợ 50% giá
giống, phân bón doanh nghiệp đầu tư, hỗ trợ KHKT, doanh nghiệp bao tiêu
100% sản phẩm theo giá thị trường cho nông dân. Mức thu mua đảm bảo cho
nông dân có lãi ít nhất trên 35% nếu thị trường giá xuống thấp.
Tham gia trồng ngô liên kết có 624 hộ, thuộc 6 xã: Nấm Dẩn, Bản
Ngò, Bản Díu, Xín Mần, Nàn Ma và Cốc Pài. Trong suốt quá trình trồng,
chăm sóc, đồng bào được cán bộ Khuyến nông, doanh nghiệp kèm cặp, trao
đổi cách chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu hại, dịch bệnh cho từng giai đoạn
cây ngô phát triển. Kết quả, cây ngô đã cho thu hoạch tốt, năng suất đạt gần
50 tạ/ ha, cao gần gấp 2 lần ngô trồng đại trà trong vụ Đông-Xuân. Doanh
nghiệp thu mua cho bà con với giá 6.500đ/kg, sau khi trừ chi phí đầu tư, công
chăm bón, thu hoạch nhà nông còn lãi xấp xỉ 30 triệu đồng/ha.
Bà con tham gia mô hình khẳng định: Trồng ngô liên kết đã giúp nông dân
chuyển đổi tư duy cũng như cánh làm, quan trọng hơn là giúp bà con không
phải lo đầu ra cho sản phẩm, yên tâm sản xuất.
Từ năm 2013, xã Tả Nhìu, huyện Xín Mần đã vận động nhân dân
chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng rau hàng hóa. Hiện toàn xã
có 5 thôn thực hiện chuyển đổi đất trồng lúa một vụ kém hiệu quả sang trồng
rau với tổng diện tích khoảng 10ha. Chủ yếu là các thôn ở vùng thấp, giáp với
thị trấn Cốc Pài, thuận tiện cho việc buôn bán, vận chuyển rau. Thu nhập từ
trồng rau cao hơn hẳn so với trước khiến người dân thay đổi nhiều trong cách
nghĩ và cách làm. Ngày càng có nhiều hộ tích cực chuyển đổi cơ cấu cây
trồng nhằm nâng cao thu nhập.
Bình quân mỗi hộ trồng rau cho thu nhập từ 100 – 200.000 đồng/ngày.
So với trồng lúa một vụ trước đây thì hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn. Tuy
nhiên, hiện bà con chỉ sản xuất các loại rau truyền thống như: Rau cải, rau bí,


17

đỗ, ớt, rau thơm các loại... Chưa trồng được những loại rau trái vụ hiệu quả
cao để cung cấp ra thị trường.
Tại huyện Mèo Vạc, bà con đã dần hình thành thói quen sản xuất thâm
canh tăng vụ, chuyển đổi giống cơ cấu cây trồng, vật nuôi để tăng năng suất,
sản lượng. Năm 2015, tổng sản lượng lương thực (có hạt) toàn huyện ước đạt
34.516,8 tấn, tăng 8.516 tấn so với năm 2010; bình quân lương thực đầu
người ước đạt 442 kg/người/năm, tăng 19,46% so với năm 2010. Giá trị sản
xuất/ha canh tác cây hàng năm ước đạt 31,84 triệu đồng/ha, tăng 10,73 triệu
đồng/ha so với năm 2010.
Hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững, huyện xác định tiếp tục mở
rộng diện tích gieo trồng, tập trung thâm canh tăng năng suất, sản lượng các
loại cây trồng; tích cực chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, chú trọng phát triển cây vụ
Đông, tăng hệ số sử dụng đất; chuyển đổi các loại giống mới có năng suất,
chất lượng cao phù hợp với điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng, thực hiện cải tạo
và phát triển các loại cây ăn quả; tăng cường đầu tư thâm canh, đa dạng hóa
sản phẩm. Phấn đấu đến năm 2020, giá trị sản xuất ngành trồng trọt đạt
301,18 tỷ đồng, chiếm 39,86% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp.
Tại huyện Quang Bình, trên cơ sở phương án sản xuất lúa, ngô hàng
hóa của tỉnh, huyện đã chỉ đạo xây dựng các phương án, đề án cụ thể phù hợp
với điều kiện của địa phương. Đồng thời, tăng cường ứng dụng các tiến bộ
KHKT mới vào sản xuất, đẩy mạnh thâm canh, đưa một số giống mới vào
gieo trồng trên diện rộng, xây dựng mô hình cánh đồng thâm canh, cánh đồng
mẫu lớn, quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung tại các xã có điều kiện
thuận lợi.
Thực hiện việc trồng cây vụ 3, cây vụ Đông, trong đó trọng tâm vào
trồng ngô hàng hóa, huyện đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân
dân tích cực thực hiện các chương trình, mô hình như: Mô hình lúa năng suất
cao, cánh đồng thâm canh, ủ phân xanh hữu cơ, nông dân sản xuất giỏi... Năm


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×