Tải bản đầy đủ

Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố (tt)

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

HỒ HỮU ĐẠI

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10

Đà Nẵng - 2019


Công trình được hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN

Ngƣời hƣớng dẫn KH: PGS.TS. Bùi Quang Bình


Phản biện 1: PGS.TS. Đặng Văn Mỹ
Phản biện 2: PGS.TS. Trần Nhuận Kiên

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ Quản lý kinh tế họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại
học Đà Nẵng vào ngày 9 tháng 3 năm 2019

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai là một tỉnh miền núi đang trong
giai đoạn phát triển mạnh về kinh tế-xã hội, điều kiện sống và mức
thu nhập của người dân đang ngày một tăng nhanh, vì vậy vấn đề
ATTP hiện nay đặt ra nhiều thách thức cho cơ quan quản lý nhà
nước (QLNN) về ATTP. Bên cạnh những mặc làm được trong công
tác QLNN về ATTP tại thành phố Pleiku, hiện nay vẫn còn tồn tại
nhiều bất cập như chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan
QLNN về ATTP, chưa có cán bộ chuyên môn chuyên sâu (đặc biệt là
ở các phường, xã có người dân tộc thiểu số sinh sống) có khả năng
đảm nhiệm trong công tác quản lý vệ sinh ATTP, trong khi đó lại
phải kiêm nhiệm quản lý nhiều lĩnh vực, nên công tác quản lý vệ
sinh ATTP chưa đạt kết quả như mong đợi; những yếu kém trong
công tác quản lý, thực thi, thi hành pháp luật và các tồn tại trong
công tác tuyên truyền, giáo dục, phố biến kiến thức pháp luật về
ATTP đến các chủ thể sản xuất, chế biến, kinh doanh và người tiêu
dùng thực phẩm. Vì vậy công tác quản lý nhà nước về vệ sinh ATTP
hiện nay được xem là vấn đề cấp bách mà toàn bộ hệ thống chính trị
cần quan tâm giải quyết.
Trong những năm gần đây, việc sơ chế, bảo quản, sản xuất, chế
biến thực phẩm của một số tổ chức, cá nhân còn lạm dụng các loại
hóa chất độc hại vì mục đích lợi nhuận cho bản thân thu lợi bất
chính, bất chấp các quy định của pháp luật về ATTP gây ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng, làm cho nguy cơ thực
phẩm bị nhiễm bẩn ngày càng gia tăng. Quy trình sản xuất, chế biến,
cơ sở giết mổ không đảm bảo vệ sinh ATTP là một trong những
nguyên nhân làm cho thực phẩm bị nhiễm bẩn, nhiễm khuẩn. Bên


2
cạnh đó các loại thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ, không có
nhãn sản phẩm hoặc có nhãn nhưng không ghi ngày sản xuất, hạn sử
dụng, thực phẩm kém chất lượng vẫn còn trôi nổi trên thị trường khó
kiểm soát của cơ quan chức năng…
Thời gian qua, chính quyền thành phố Pleiku đã chú trọng ban
hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về ATTP đưa ra nhiều biện
pháp, giải pháp nhằm đảm bảo ATVSTP, tăng cường công tác thanh,
kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm pháp luật về an toàn thực
phẩm. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ,
công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về thực phẩm vẫn chưa
đạt chất lượng theo yêu cầu cấp thiết hiện nay. Việc xử lý vi phạm
hành chính về vệ sinh an toàn thực phẩm chưa thực sự nghiêm khắc,
chưa măng tính răng đe đối với chủ cơ sở sản xuất, chế biến, kinh
doanh thực phẩm, còn qua loa, đại khái gây bức xúc trong trong xã
hội và người tiêu dùng thực phẩm.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành chọn nghiên cứu đề
tài “Quản lý nhà nƣớc về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn
Thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai” làm đề tài nghiên cứu luận văn
của mình nhằm góp phần tăng cường công tác quản lý nhà nước về
vệ sinh ATTP và giải quyết những tồn tại hạn chế và nguyên nhân
của những tồn tại hạn chế trong quá trình triển khai.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
2.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Trên cơ sở đánh giá tình hình quản lý về VSATTP, làm rõ
những lý luận cơ bản, đánh giá đúng thực trạng từ đó đề xuất một số
giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vệ sinh an toàn thực
phẩm trên địa bàn TP Pleiku, tỉnh Gia Lai.


3
2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
+ Hệ thống toàn bộ cơ sở lý luận và tình hình thực tiễn về vệ
sinh an toàn thực phẩm hiện nay.
+ Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an
toàn thực phẩm tại TP Pleiku, tỉnh Gia Lai.
+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về vệ
sinh an toàn thực phẩm.
+ Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác
quản lý nhà nước vệ sinh ATTP tại Tp Pleiku, tỉnh Gia Lai.
3. Đối tƣợng, phạm vị nghiên cứu đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận
và tình hình thực tiễn về công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an
toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai giai đoạn
2013-2017.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:- Về nội dung: Luận văn tập trung
nghien cứu nội dung quản lý nhà nuớc về v sinh an toàn thực phẩm
tren địa bàn thành phố Pleiku.
- Về không gian: Nghien cứu tren địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh
Gia Lai.
- Về thời gian: Tiến hành trong thời gian từ đầu năm 2013 đến
năm 2017 và đề xuất một số giải pháp cho những năm tiếp theo.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
Gồm phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và phương pháp thu
thập số liệu sơ cấp
4.1.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
- Nghiên cứu các văn bản quản lý nhà nước về VSATTP nói
chung và các văn bản chỉ đạo, các chính sách về công tác quản lý nhà


4
nước về vệ sinh ATTP của thành phố Pleiku nói riêng xây dựng ban
hành, triển khai áp dụng; các tạp chí, sách tham khảo,… và các báo
cáo tổng hợp của các cơ quan quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh
thực phẩm trên địa bàn thành phố Pleiku.
- Trong phương pháp này luận văn còn sử dụng các nguồn dữ
liệu đã được công bố, ban hành của Tổng cục thống kê, Bộ Y tế, Bộ
Công Thương; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đồng thời
sử dụng các quan điểm, đánh giá của các chuyên gia đầu ngành về
chính sách quản lý nhà nước về VSATTP đã công bố áp dụng.
- Sau khi đã thu thập, thống kê được các số liệu thứ cấp tiến
hành lựa chọn, phân tích, đánh giá, sử dụng số liệu phù hợp, kết hợp
với phương pháp phỏng vấn, hình thành nên khung lý thuyết nghiên
cứu về thực trạng của chính sách quản lý nhà nước về vệ sinh ATTP
tại thành phố Pleiku giai đoạn 2013 - 2017.
4.1.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Gồm: phương pháp phỏng vấn, phương pháp điều tra và phương
pháp quan sát.
4.1.2.1. Phương pháp phỏng vấn
Dựa trên cơ sở quá trình thông tin giao tiếp bằng lời nói luận văn
sử dụng sử dụng phương pháp phỏng vấn nhằm thu thập thông tin
một cách nhanh chóng, chính xác.
Có 2 loại phỏng vấn gồm: Phỏng vấn trực tiếp cá nhân và phỏng
vấn nhóm.
Đối tượng phỏng vấn: Cán bộ lãnh đạo, công chức, cộng tác
viên phụ trách công tác quản lý nhà nước về VSATTP trên địa bàn
TP.
4.1.2.2. Phương pháp điều tra khảo sát
Đây là một trong những phương pháp thu thập số liệu bằng việc


5
xây dựng trước các bảng câu hỏi; tập trung vào 2 nhóm đối tượng
chủ yếu đó là:
- Chủ các tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, kinh doanh thực
phẩm; số lượng dự kiến 45 người.
- Công chức phụ trách ATTP của Phòng Y tế, Trung tâm Y tế
thành phố và công chức quản lý trong Ban chỉ đạo ATTP.
- Chọn mẫu là toàn bộ tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, kinh
doanh thực phẩm trên địa bàn thành phố.
+ Người tham gia sản xuất, chế biến: 60 người.
+ Cỡ mẫu về cửa hàng kinh doanh thực phẩm: 45 cơ sở.
Dựa trên kết quả số liệu đã điều tra khảo sát, cần phân tích kết
quả đạt được nhằm đưa ra những giải pháp, nhận định đúng đắn nhất
về vấn đề cần nghiên cứu giải quyết.
4.1.2.3. Phương pháp quan sát
Đây là một trong những phương pháp thu thập dữ liệu đơn giản
nhất, dễ thực hiện nhưng rất hữu ích, đầy đủ các nội dung cần thu
thập. Người quan sát có thể sử dụng trực tiếp bằng tai, mắt, để nghe,
nhìn quan sát.
Luận văn sẽ tập trung quan sát trực tiếp điều kiện hoạt động,
phương thức sản xuất, chế biến thực phẩm, địa điểm kinh doanh thực
phẩm và cách thức quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước về
VSATTP trên địa bàn thành phố Pleiku.
4.2. Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp phân tích: Dùng phương pháp này để phân tích dựa
trên các phương pháp thống kê truyền thống để so sánh, khái quát
hóa số liệu từ đó đưa ra kết luận chung nhất về vấn đề cần nghiên
cứu về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Pleiku.
Phương pháp so sánh: Từ những số liệu thu thập được thông qua


6
xử lý, phân tích định lượng, so sánh, tổng hợp, phương pháp thống
kê mô tả … so sánh các chỉ tiêu tương ứng giữa các năm để tìm ra ưu
điểm, nhược điểm của hoạt động QLNN về VSATTP từ đó đưa ra
những giải pháp để hoàn thiện công tác QLNN về VSATTP trên địa
bàn thành Pleiku.
Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp thống kê số liệu thông qua các
báo cáo hằng năm, báo cáo chuyên đề của các cơ quan quản lý nhà
nước về vệ sinh an toàn thực phẩm.
4.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
- Thống kê về trình đọ chuyên môn nghiệp vụ của cán bọ làm
cong tác VSATTP:
+ Số luợng cán bọ, công chức.
+ Trình đọ: Chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ.
+ Hi u quả cong vi c.
- Nhóm phản ánh về quy mo trong công tác quản lý, điều hành:
- Nhóm chỉ tieu về hoạt đọng quản lý nhà nuớc về VSATTP:
5. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, đề tài cần giải
quyết các câu hỏi cụ thể sau:


Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm ở Tp. Pleiku hiện nay

như thế nào?


Những thuận lợi và khó khăn trong quản lý vệ sinh an toàn

thực phẩm ở Tp. Pleiku?


Giải pháp nào để quản lý tốt an toàn vệ sinh thực phẩm trên

địa bàn thành phố hiện nay?.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
7. Kết cấu nghiên cứu luận văn


7
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
1.1. KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VỆ SINH AN
TOÀN THỰC PHẨM
1.1.1 Một số khái niệm
a. Thực phẩm
b. Vệ sinh an toàn thực phẩm
c. An toàn thực phẩm
d. Chuỗi thực phẩm
đ. Khái niệm quản lý nhà nước
e. Quản lý nhà nước về vệ sinh ATTP
Như vậy, “Quản lý nhà nước về VSATTP là hoạt động có tổ
chức của nhà nước thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ,
chính sách của nhà nước sẽ tác động đến tình hình thực hiện
VSATTP của đơn vị sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng trên cả
nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các
vấn đề về VSATTP”.
1.1.2. Đặc điểm của hệ thống quản lý nhà nƣớc về vệ sinh an
toàn thực phẩm
Ở nước ta hiện nay, công tác QLNN về ATTP do nhiều Bộ,
ngành nhiều cơ quan thực hiện. Việc đảm bảo ATTP là trách nhiệm
của cả hệ thống chính trị nhưng trên hết vẫn là trách nhiệm quản lý
của các cơ quan nhà nước đã được quy định tại Luật An toàn thực
phẩm năm 2010 và các quy định của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của luật An toàn thực phẩm. Tại Điều 61, Luật An
toàn thực phẩm Chính phủ thống nhất QLNN về ATTP, Bộ Y tế chịu
trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện QLNN về ATTP; Trách


8
nhiệm của Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn được quy định tại Điều 63 và Điều 64 Luật An toàn thực phẩm;
Trách nhiệm của ủy ban nhân dân các cấp được quy định tại Điều 65
Luật An toàn thực phẩm, cụ thể:
Một số đặc điểm trong QLNN về ATTP: Trên cơ sở quy chuẩn
kỹ thuật tương ứng, quy định do cơ quan QLNN có thẩm quyền ban
hành và tiêu chuẩn do tổ chức, cá nhân sản xuất tự công bố áp dụng;
phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực
phẩm trên cơ sở phân tích các mối nguy đối với ATTP; phải bảo đảm
phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành; phải đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và tính trách nhiệm của các tổ chức,
cá nhân sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm do mình sản xuất.
1.1.3. Sự cần thiết phải quản lý nhà nƣớc về an toàn thực
phẩm
QLNN về ATTP nhằm định hướng các cơ sở sản xuất, kinh
doanh, chế biến thực phẩm có môi trường kinh doanh lành mạnh,
bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh dựa trên hệ thống pháp luật
về ATTP. Đây là một trong những lý do cần phải có sự quản lý của
cơ quan QLNN về ATTP.
Bên cạnh đó, hoạt động QLNN về ATTP góp phần định hướng
cho người dân lựa chọn được sản phẩm an toàn, được chăm sóc và
được bảo vệ sức khỏe, yên tâm hơn khi sử dụng sản phẩm thực phẩm
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VỆ SINH AN
TOÀN THỰC PHẨM
1.2.1. Việc ban hành văn bản về vệ sinh ATTP
Các văn bản quản lý trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm
gồm: Luật An toàn thực phẩm năm 2010 và các Nghị định hướng
dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm; Nghị định 115/2018/NĐ-CP


9
ngày 04/9/2018 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính
về an toàn thực phẩm; các Thông tư, Chỉ thị và các văn bản hướng
dẫn khác của Bộ Y tế, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn,… Đảm bảo các nội dung sau:
- Đảm bảo tính thống nhất quản lý.
- Đảm bảo tính công khai minh bạch.
- Đảm bảo tính cụ thể rõ ràng.
- Đảm bảo tính phổ thông, đại chúng.
1.2.2. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nƣớc về VSATTP
Tổ chức bộ máy QLNN về ATTP phải bảo đảm tinh gọn, điều
hành tập trung, giải quyết kịp thời, thống nhất, thông suốt, linh hoạt,
đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó, Luật
An toàn thực phẩm đã được ban hành năm 2010 với nhiều nội dung
đổi mới quan trọng, như: Tiếp cận quản lý ATTP trong toàn bộ quá
trình sản xuất, bảo đảm truy xuất nguồn gốc thực phẩm, thu gọn đầu
mối quản lý ATTP từ 05 Bộ xuống còn 03 Bộ chịu trách nhiệm chính
trong quản lý về ATTP, gồm: Bộ Y tế, Bộ Công Thương, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn và có sự phân công nhiệm vụ cụ thể
cho từng Bộ về quản lý ATTP tại Điều 62,63 và 64 Luật ATTP.
1.2.3. Công tác tuyên truyền về vệ sinh an toàn thực phẩm
Thông tin, tuyên truyền về vệ sinh an toàn thực phẩm là chuyển
tải thông tin, phổ biến kiến thức pháp luật về vệ sinh an toàn thực
phẩm nhằm nâng cao nhận thức góp phần thay đổi hành vi trong quá
trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm bằng những hình thức
cụ thể, phù hợp.
1.2.4. Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật
về vệ sinh an toàn thực phẩm
Ngoài việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật thì các


10
cơ quan QLNN cần phải thực hiện các hoạt động thanh tra, kiểm tra,
giám sát việc thực thi các chính sách pháp luật của nhà nước về vệ
sinh ATTP. Thực hiện đúng quy định về trình tự thủ tục, thời gian
thanh tra, kiểm tra nhằm kịp thời phát hiện những sai phạm để xử lý
theo quy định pháp luật.
1.2.5. Xử lý vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm
Để thực hiện việc xử lý vi phạm hành chính về ATTP, Chính
phủ đã ban hành Nghị định 178/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm
2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về ATTP
đến nay đã được thay thế bằng Nghị định 115/2018/NĐ-CP ngày 04
tháng 9 năm 2018 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành
chính về ATTP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/10/2018. Theo
quy định, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về ATTP tại địa
phương thuộc UBND các cấp; Đối với ngành Y tế thẩm quyền được
giao cho Thanh tra Sở Y tế, thanh tra viên và người được giao thực
hiện công tác thanh tra chuyên ngành.
1.3. MỘT SỐ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VỆ SINH ATTP
1.3.1. Yếu tố về điều kiện tự nhiên
1.3.2. Yếu tố về tình hình kinh tế xã hội
1.3.3. Yếu tố về chính trị
1.3.4. Yếu tố về quyền lực
1.3.5. Yếu tố về thông tin
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1


11
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VỆ SINH
AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
PLEIKU, TỈNH GIA LAI
2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA THÀNH
PHỐ PLEIKU ẢNH HƢỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
2.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
b. Địa hình
c. Thời tiết, khí hậu
2.1.2. Đặc điểm kinh tế-xã hội
a. Dân số, mật độ dân số
Thành phố Pleiku có dân số đông, có 14 phường, 09 xã, dân số
230.489 người (số liệu thống kê năm 2016), bao gồm 28 dân tộc
đang sinh sống; người kinh chiếm đa số (87,5%); còn lại là các dân
tộc khác, chủ yếu là các dân tộc Jrai và Ba Na (12,5%).
b. Lao động, trình độ lao động
Trong những năm gần đây, đời sống kinh tế của người dân tại
thành phố Pleiku đã được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân một
lao động đang làm việc tại thành phố Pleiku tăng qua các năm, ước
tính năm 2017, thu nhập bình quân một lao động là 3,7 triệu đồng.
c. Tăng trưởng kinh tế-xã hội
Trong những năm gần đây Kinh tế thành phố Pleiku tiếp tục
chuyển dịch đúng hướng và đạt mức tăng trưởng 10,05%; Trong đó,
nông-lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,53%, công nghiệp và xây dựng
tăng 9,02%, dịch vụ tăng 11,29%; kim ngạch xuất khẩu đạt 298,4
triệu USD, tăng 59,48%. Tổng thu ngân sách nhà nước theo phân cấp
đạt 448,6 tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ. Hiện nay toàn Thành


12
phố có 2.398 doanh nghiệp và 21 Hợp tác xã đang hoạt động.
d. Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế của thành phố chuyển dịch theo hướng tích cực
tăng tỷ trọng các ngành thương mại, công nghiệp-xây dựng, nông
nghiệp, giảm tỷ trọng các dịch vụ, thuỷ sản.
Bảng 2.2. Cơ cấu kinh tế của thành phố Pleiku, giai đoạn 2013-2017

ĐVT: %
Năm

Tổng số

2013
2014
2015
2016

100,00
100,00
100,00
100,00

Nông, lâm
Công nghiệp
nghiệp và thủy
và xây dựng
sản
6,53
29,43
6,30
30,00
6,14
30,31
5,49
30,72

Dịch vụ
49,12
49,57
49,79
50,22

(Nguồn: Niên giám Thống kê thành phố Pleiku năm 2016)
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VỆ SINH AN
TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PLEIKU
GIAI ĐOẠN 2013-2017
2.2.1. Ban hành văn bản pháp luật về VSATTP
Bảng 2.3. Tổng hợp các chính sách về quản lý VSATTP trên
Số ký hiệu
02/CT-UB

06/CTUBND

địa bàn thành phố Pleiku
Ngày ban
Trích yếu
hành
Ngày
Về tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo
28/01/2015 đảm ATTP và phòng, chống
NĐTP trong tình hình mới trên địa
bàn thành phố Pleiku giai đoạn
2015 – 2020
Ngày
Về tăng cường trách nhiệm
10/6/2016
QLNN về ATTP trên địa bàn
thành phố Pleiku


13
Số ký hiệu
865/QĐUBND

Ngày ban
hành
25/05/2016

41-CTr/TU

10/05/2017

1752/KHUBND

31/8/2017

1510/CTrPHUBNDUBMTTQ
66/QĐ-BCĐ

03/8/2017

03/05/2017

67/QĐ-BCĐ

03/05/2017

Trích yếu
Về việc kiện toàn Ban chỉ đạo liên
ngành về vệ sinh ATTP trên địa
bàn thành phố Pleiku
Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số
08-CT/TW ngày 21/10/2011 của
Ban Bí thư (khóa XI) về “tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối
với vấn đề ATTP trong tình hình
mới”
Về thực hiện Chương trình số 40CTr/TU ngày 24/04/2017của Tỉnh
ủy Gia Lai
Về phối hợp vận động và giám sát
bảo đảm ATTP trên địa bàn thành
phố Pleiku giai đoạn 2017-2020
Về việc ban hành Quy chế làm
việc của BCĐ LN VSATTP thành
phố Pleiku
Về việc ban hành Quy chế phối
hợp liên ngành trong công tác bảo
đảm ATVSTP trên địa bàn thành
phố

2.2.2. Công tác thông tin, tuyên truyền về vệ sinh an toàn
thực phẩm
Qua công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật phần nào giúp cải
thiện được công tác đảm bảo ATTP trên địa bàn Thành phố, nâng
cao ý thức của người dân trong việc lựa chọn, tiêu dùng thực phẩm
an toàn, bên cạnh đó các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm ngày
càng có xu hướng tuân thủ pháp luật.


14
Bảng 2.4. Tình hình tuyên truyền, phổ biến kiến thức về VSATTP
giai đoạn 2015-2017 trên địa bàn thành phố Pleiku
Hoạt động
truyền thông

ĐVT

Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016

Truyền hình

Lượt

46

59

72

Phát thanh

Lượt

1.876

1.927

2.115

69

92

95

Tờ

950

1200

1550

Quyển

600

820

1425

Buổi

05

05

05

Tuyên

truyền

Lần

miệng
Tờ rơi
Sách ATTP
Hội thảo

(Nguồn: Phòng Y tế thành phố Pleiku)
Cơ quan QLNN về ATTP thường xuyên triển khai tổ chức các
lớp tập huấn về kiến thức ATTP cho các nhóm đối tượng sản xuất,
chế biến, kinh doanh thực phẩm theo phân cấp quản lý.
Bảng 2.5. Phổ biển các quy định về ATTP cho các đối tượng
sản xuất kinh doanh, chế biến thực phẩm giai đoạn 2014-2016.
ĐVT: lượt người
Phạm vi
Phổ biến kiến thức ATTP

Số người tham dự
2014
1.720

2015
1.950

2016
2.280

(Nguồn: Phòng Y tế thành phố Pleiku)
2.2.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nƣớc về VSATTP
a. Bộ máy quản lý nhà nước về VSATTP
b. Nguồn nhân lực quản lý nhà nước về VSATTP


15
Bảng 2.6. Tổng hợp số lượng cán bộ làm công tác QLNN
về VSATTP thành phố Pleiku
ĐVT: người
Tổng số
cán bộ
05

Đơn vị
Phòng Y tế thành phố

Cán bộ tham gia
quản lý VSATTP
02

Trung tâm y tế thành phố
07
03
Trạm y tế phường, xã
92
23
Cán bộ chuyên trách phường,
23
23

(Nguồn: Phòng Y tế thành phố Pleiku)
Trình đọ chuyên môn nghiệp vụ của cán bọ làm công tác Quản
lý VSATTP trên địa bàn thành phố tương đối đồng đều, hi n tại đang
đáp ứng đuợc yêu cầu nhiệm vụ. Tuy nhiên, mọt số cán bọ chưa
được trang bị về an toàn thực phẩm và yếu về chuyên môn dẫn đến
gạp nhiều khó khan trong triển khai nhi m vụ. Truớc những yêu cầu
ngày càng cao của xã hội, đòi hỏi vi c nâng cao kiến thức về chuyên
môn nghiệp vụ cho số cán bộ này ngày càng trở nên cấp bách.
Bảng 2.7. Tổng hợp trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác
Quản lý nhà nước về VSATTP
Đơn vị

Trình độ
chuyên môn

Số lượng

Tỷ lệ
(%)

Phòng Y tế thành phố

Đại học

2

100

Trung tâm Y tế thành

Bác sỹ

2

66,6

phố

khác

1

33,4

Bác sỹ

18

78

Y sỹ, khác

05

22

Cán bộ quản lý VSATTP

Đại học

06

26

các phường, xã

Trung cấp

17

74

Trạm Y tế phường, xã


16
2.2.4. Công tác thanh tra, kiểm tra vệ sinh an toàn thực
phẩm
Hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện trong
thời gian qua được tăng cường, qua đó kịp thời phát hiện và xử lý
nhiều vụ vi phạm pháp luật về ATTP; Theo số liệu báo cáo của
phòng Y tế Thành phố, từ năm 2015 đến năm 2017 thành lập 13 Ban
chỉ đạo liên ngành về ATTP, tổng số cơ sở sản xuất, chế biến, kinh
doanh thực phẩm được kiểm tra 1.317 cơ sở.
Bảng 2.8. Tình hình thanh tra, kiểm tra VSATTP trên địa bàn
Tp Pleiku giai đoạn 2015-2017
Năm

Năm

Năm

2015

2016

2017

STT

Nội dung

ĐVT

1

Tổng số cơ sở được kiểm

Cơ sở

281

419

617

Cơ sở

238

346

542

%

85

83

88

tra về thực phẩm, dịch vụ
ăn uống
2

Số cơ sở vi phạm

3

Tỷ lệ vi phạm

(Nguồn: Phòng Y tế thành phố Pleiku)
Hoạt động thanh tra, kiểm tra thông thuờng, m i nam tiến hành
thành lập ít nhất 03 đợt kiểm tra vào các thời điểm Tết Nguyên đán,
tháng hành đọng vì chất luợng VSATTP (từ ngày 15/4 – 15/5 hàng
nam), dịp Tết trung thu… và các đợt kiểm tra đọt xuất theo chuyên
đề (nếu có). Kết quả hoạt đọng thanh, kiểm tra cho thấy số luợt co sở
đuợc thanh tra, kiểm tra hàng nam/co sở tang. Điều đó thể hi n sự
quản lý của nhà nước về công tác vệ sinh ATTP ngày càng chặt chẽ,
sâu sát hơn; các co sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, dịch
vụ an uống và thức an đuờng phố có xu huớng tang và khó quản lý vì
liên tục nhiều co sở đuợc thành lập mới.


17
Bảng 2.9. Các nội dung sai phạm chủ yếu trong kinh doanh
trên địa bàn thành phố Pleiku giai đoạn 2013– 2017
Nội dung vi phạm

Stt

Tỷ lệ (%)

1

Điều kiện vệ sinh cơ sở

3,8

2

Điều kiện trang thiết bị dụng cụ

13

3

Điều kiện con người

27

4

Ghi nhãn thực phẩm

9

5

Chất lượng sản phẩm thực phẩm

6

Tập huấn kiến thức ATTP

16

7

Nguồn gốc thực phẩm

11

8

Hàng hóa đã quá hạn sử dụng

9

Vi phạm khác

12,5

3
25

(Nguồn: Phòng Y tế thành phố Pleiku)
2.2.5. Công tác xử lý vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm
Công tác thanh tra, kiểm tra qua các năm đạt đuợc nhiều kết quả
tốt, tuy nhiên vi c xử lý vi phạm chua đuợc tốt. Số co sở vi phạm nam
sau nhiều hon nam truớc, và hình thức xử lý chủ yếu là nhắc nhở, cảnh
cáo... chua đủ mạnh để ran đe các hành vi vi phạm, đồng thời c ng chỉ
ra rằng thiếu phuong pháp và chế tài trong xử lý các co sở vi phạm.
Bảng 2.10. Tình hình xử lý vi phạm VSATTP trên địa bàn thành
phố Pleiku giai đoạn 2015– 2017
Nội dung

ĐVT

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2017

Số

Số

Tỷ lệ

Số

Tỷ lệ

lƣợng

(%)

lƣợng

(%)

Tỷ lệ

lƣợng (%)
Tổng số cơ sở

Cơ sở

281

Số cơ sở vi phạm Cơ sở

281

được kiểm tra

419
100

419

617
100

617

100


18

Nội dung

ĐVT

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2017

Số

Số

Tỷ lệ

Số

Tỷ lệ

lƣợng

(%)

lƣợng

(%)

Tỷ lệ

lƣợng (%)
Số cơ sở bị xử lý

Cơ sở

238

85

346

83

542

88

Cảnh cáo

Cơ sở

18

6,5

27

6,5

44

7,2

Nhắc nhở

Cơ sở

25

8,9

46

10,9

31

5

Phạt tiền

Cơ sở

238

85

346

83

542

88

Số tiền phạt

Tr.đồng

164

189

197,750

(Nguồn: Phòng Y tế thành phố Pleiku)
Bảng 2.11. Tình hình ngộ độc thực phẩm giai đoạn 2015-2017
trên địa bàn thành phố Pleiku
Chỉ tiêu

STT

ĐVT

Năm Năm Năm
2014 2015 2016

1

Số vụ NĐTP

Vụ

0

03

01

2

Số người mắc

Người

0

19

07

3

Số người chết do NĐTP

Người

0

0

0

(Nguồn: Phòng Y tế thành phố Pleiku)
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ PLEIKU, GIAI ĐOẠN 2013-2017
2.3.1. Những thành công và hạn chế
a. Những thành công
b. Một số tồn tại hạn chế chủ yếu
2.3.2. Những nguyên nhân cơ bản
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2


19
CHƢƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VỆ SINH ATTP
3.1 CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG GIẢI PHÁP
3.1.1. Ban hành văn bản QLNN và chƣơng trình đảm bảo vệ
sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Pleiku giai đoạn
2015-2020
Vấn đề bảo đảm an toàn thực phẩm vẫn còn nhiều yếu kém.
Nhiều cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm chạy theo lợi
nhuận không quan tâm đến quyền lợi, sức khỏe của người tiêu dùng.
Ngộ độc thực phẩm đang diễn biến phức tạp và có xu hướng gia
tăng, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của người dân, giống nòi và sự
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hiệu lực và hiệu quả của
công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế.
Để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về
VSATTP trên địa bàn tỉnh Gia lai nói chung và TP Pleiku nói riêng
cần nhìn nhận sâu sắc những vấn đề đã làm được và những tồn tại
hạn chế trong thời gian qua trong công tác quản lý nhà nước về
VSATTP.
Trên cơ sở Luật an toàn thực phẩm năm 2010; Nghị định số
38/2012/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ATTP;
Quyết định số 20/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt
Chiến lược quốc gia An toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2020 và tầm
nhìn 2030; Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku đã ban hành
một số quyết định, Chỉ thị chỉ đạo về công tác QLNN về ATTP trên
địa bàn thành phố Pleiku


20
3.1.2. Chƣơng trình đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trên
địa bàn thành phố Pleiku giai đoạn 2015-2025
Giám sát, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ hàng hoá lưu thông, phân
phối trong phạm vi thành phố; cương quyết ngăn chặn việc kinh
doanh thực phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng, thực phẩm nhập
lậu, không rõ nguồn gốc xuất xứ,…..
100% cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, kinh
doanh dịch vụ ăn uống có kiến thức cơ bản và thực hành đúng về an
toàn thực phẩm. Tăng cường công tác phòng chống ngộ độc thực
phẩm có thể xảy ra, các bệnh truyền qua thực phẩm.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện công tác ban hành văn bản
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đối với công tác
bảo đảm an toàn thực phẩm. Thường xuyên chú trọng việc lãnh đạo,
chỉ đạo công tác bảo đảm an toàn thực phẩm, vận động toàn dân tự
giác thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm để
góp phần không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của người
dân; đưa các tiêu chí đánh giá về an toàn thực phẩm vào kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Ban hành chính sách h trợ kinh phí cho địa phương quy hoạch
vùng nuôi trồng, sản xuất thực phẩm an toàn đủ về số lượng, đảm
bảo về chất lượng cung cấp cho người dân địa.
Nâng cao năng lực cán bộ và chất lượng quản lý nhà nước về an
toàn thực phẩm.
Tăng cường công tác phối hợp kiểm tra và giám sát việc thực
hiện các quy định của pháp luật liên.
Đẩy mạnh công tác vận động, tuyên truyền, giáo dục pháp luật


21
về VSATTP đến các tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, kinh doanh.
Rà soát, kiện toàn hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm
pháp luật từ cấp Trung ương đến cơ sở về lĩnh vực VSATTP.
Các văn bản quy phạm pháp luật QLNN về an toàn thực phẩm
cần đảm bảo tính thống nhất, rõ ràng
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy QLNN về
VSATTP
Đẩy mạnh công tác đào tạo chuyên sâu về ATTP tại các trường
Đại học có chuyên ngành đào tạo, thanh tra về thực phẩm. Liên kết
với các viện nghiên cứu, các trường Đại học triển khai áp dụng các
đề tài nghiên cứu về ATTP, trao đổi kinh nghiệm quản lý, đào tạo
với nước ngoài.
Kiên quyết xử lý cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm, bao che,
buông lỏng trong công tác quản lý nhà nước về ATTP.
Thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành để thực hiện nhiệm vụ
khi có yêu cầu.
Hàng năm xây dựng kế hoạch đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ
đối với cán bộ làm công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra về ATTP để
nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ.
Xây dựng kế hoạch tuyển dụng đội ng cán bộ làm công tác
thanh tra chuyên ngành VSATTP.
Kiện toàn và phát huy tốt vai trò của Ban chỉ đạo liên ngành về
vệ sinh an toàn thực phẩm thành phố.
Tăng số lượng các chỉ tiêu kiểm nghiệm đạt chuẩn ISO/IEC
17025:2005, từng bước đáp ứng yêu cầu về kiểm nghiệm thực phẩm
phục vụ công tác quản lý nhà nước về ATTP.


22
3.2.3. Giải pháp hoàn thiện về công tác đảm bảo, công tác
tuyên truyền vệ sinh ATTP
a. Hoàn thiện về công tác đảm bảo ATTP
Thực hiện công tác quản lý an toàn thực phẩm thường xuyên tại
các Trung tâm thương mại, siêu thị, chợ truyền thống, chợ đầu mối,
chợ tự phát trên địa bàn thành phố. Giám sát, kiểm tra, kiểm soát
nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá là sản phẩm thực phẩm nhập vào thành
phố và hoạt động phân phối, kinh doanh tại các Trung tâm thương
mại, siêu thị, chợ…..
Tăng cường phối hợp, trao đổi thông tin giữa các thành viên ban
chỉ đạo về ATTP.
Phát huy tốt vai trò, trách nhiệm, nhiệm vụ của cơ quan QLNN
về ATTP trong tham mưu chủ trương, chính sách, giải pháp, cơ chế,
và chỉ đạo triển khai thực hiện kiểm tra xử lý các vấn đề nảy sinh về
ATTP.
Xây dựng hệ thống bảo trợ sản phẩm nông nghiệp sản xuất trên
địa bàn thành phố..
Hình thành, kiểm soát chu i cung cấp thực phẩm nông lâm sản
và thuỷ hải sản chất lượng, vệ sinh an toàn, chu i giá trị từ khâu sản
xuất đến nơi tiêu thụ.
Tổ chức cấp giấy phép tiếp nhận công bố hợp quy và cấp giấy
chứng nhận xác nhận phù hợp quy định an toàn thực phẩm đối với
sản phẩm thực phẩm thuộc diện bắt buộc thực hiện việc công bố sản
phẩm. Khuyến cáo người tiêu dùng sử dụng sản phẩm hàng hoá sạch
sẽ, an toàn.
b. Hoàn thiện công tác tuyên truyền vê ATTP
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật rộng khắp
và thường xuyên, đến tận thôn làng, tổ dân phố, trường học.


23
- Tận dụng tối đa hệ thống thông tin, tuyên truyền có sẵn ở địa
phương, bổ sung chức năng và cán bộ chuyên trách về truyền thông,
giáo dục VSATTP.
3.2.4. Giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra và
giám sát về vệ sinh ATTP
Tiến hành các hoạt động về thanh tra, kiểm tra sản phẩm đầu
cuối trong đó tập trung vào quy trình sản xuất và chất lượng chế biến
ra thành phẩm..
Đẩy mạnh công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm
pháp luật về ATTP.
Công bố thông tin các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm
không đảm bảo về ATTP lên các phương tiện thông tin đại chúng để
người tiêu dùng kịp thời cập nhật, đồng thời giới thiệu các cơ sở sản
xuất thực phẩm đã đảm bảo chất lượng về ATTP để người tiêu dùng
lựa chọn được những sản phẩm uy tín, chất lượng.
3.2.5. Giải pháp hoàn thiện công tác xử lý vi phạm VSATTP
Kiên quyết xử lý nghiêm các vi phạm trong sản xuất, chế biến,
kinh doanh thực phẩm theo đúng thẩm quyền và các quy định của
pháp luật về ATTP, đồng thời áp dụng các hình thức xử phạt bổ
sung, biện pháp khắc phục hiệu quả như: đình chỉ hoạt động của cơ
sở sản xuất, chế biến, kinh doanh vi phạm quy định về an toàn thực
phẩm; tịch thu tang vật, phương tiện dừng lưu thông, thu hồi, tiêu
huỷ sản phẩm vi phạm an toàn thực phẩm; Xử phạt thật nặng nhằm
mang tính răng đe để các tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, kinh
doanh thực phẩm không dám vi phạm về an toàn thực phẩm.
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
3.3.1. Kiến nghị với Quốc hội
Tăng nguồn kinh phí chi thường xuyên cho hoạt động quản lý


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×