Tải bản đầy đủ

Kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại kho bạc nhà nước kon tum (tt)

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-----------

LÊ VĂN HUÊ

KIỂM SOÁT THANH TOÁN
VỐN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI
KHO BẠC NHÀ NƢỚC TỈNH KON TUM

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01

Đà Nẵng, Năm 2019


Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ,ĐHĐN

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Đình Khôi Nguyên


Phản biện 1:PGS.TS Hoàng Tùng
Phản biện 2: PGS.TS Huỳnh Đức Lộng

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ Kế toán họp tại Trường Đại học kinh tế,Đại học Đà Nẵng
vào ngày 09 tháng 3 năm 2019.

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
-

Trung tâm Thông tin-Học liệu,Đại học Đà Năng

-

Thư viện trường Đại học Kinh tế,ĐHĐN


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN) Việt Nam, từ
năm 2000 KBNN Kon Tum được Bộ Tài chính giao nhiệm vụ kiểm
soát, thanh toán vốn đầu tư cho các dự án đầu tư từ nguồn vốn
NSNN và các nguồn vốn vay trong và ngoài nước cho đầu tư xây
dựng. Xác định nhiệm vụ kiểm soát thanh toán vốn đầu tư là hết sức
quan trọng, do đó những năm qua KBNN Kon Tum đã thực hiện tốt
vai trò trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, trước sự phát triển đổi mới
mạnh mẽ của nền kinh tế, xu hướng hội nhập quốc tế, công tác kiểm
soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản còn bộc lộ một số điểm
hạn chế bất cập ở nhiều khâu, từ khâu quyết định phê duyệt dự án,sử
dụng vốn đến việc kiểm soát thanh toán, quyết toán vốn đầu tư, tình
trạng chồng chéo giữa các văn bản hướng dẫn đã dẫn đến việc sử
dụng vốn kém hiệu quả thậm chí gây lãng phí và thất thoát không
nhỏ nguồn NSNN. Thống kê trong 3 năm từ 2015 - 2017 KBNN Kon
Tum đã từ chối thanh toán 2.433 hồ sơ với số tiền 6,6 tỷ đồng, góp
phần tiết kiệm đáng kể cho NSNN. Từ khi thành lập đến nay hệ
thống KBNN tỉnh Kon Tum chưa có một báo cáo hay nghiên cứu
khoa học nào về lĩnh vực kiểm soát thanh toán vốn đầu tư tại KBNN
Kon Tum.
Xuất phát từ tầm quan trọng và thực tiễn, với những kinh
nghiệm công tác của bản thân và kiến thức đã được học tập, nghiên
cứu tại trường, học viên đã lựa chọn đề tài "Kiểm soát thanh toán
vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Kho bạc Nhà nước Kon Tum” với
mongg muốn góp phần tìm hiểu sâu hơn công tác này qua KBNN


2
Kon Tum để đóng góp một phần cho ngành hoàn thành tốt nhiệm vụ
này trong thời gian tới.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát
thanh toán vốn đầu tư, luận văn nhằm đạt được các mục tiêu sau:
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm soát thanh
toán vốn đầu tư XDCB nguồn NSNN qua KBNN Kon Tum giai đoạn
2015 - 2017.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu mang tính khả thi nhằm
nâng cao hiệu quả kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB qua
KBNN Kon Tum trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác kiểm soát
thanh toán vốn đầu tư XDCB nguồn NSNN qua KBNN Kon Tum.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu công tác kiểm soát thanh
toán vốn đầu tư XDCB giai đoạn 2015-2017 qua KBNN Kon Tum.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài sử dụng các phương
pháp nghiên cứu chủ yếu gồm: Phương pháp định tính mô tả, đối
sánh, giải thích,quan sát,khám phá,và một số phương pháp nghiên
cứu khác.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6. Bố cục dự kiến của luận văn
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát thanh toán vốn đầu tư
xây dựng cơ bản qua Kho bạc Nhà nước.


3
Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây
dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Kon
Tum.
Chƣơng 3: Giải pháp tăng cường kiểm soát thanh toán vốn
đầu tư từ Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Kon Tum.
7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Để thực hiện đề tài “Kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây
dựng cơ bản tại Kho bạc Nhà nước Kon Tum”, tác giả đã tham
khảo các luận văn và các nghiên cứu khoa học có liên quan, cụ thể
như sau:
Luận văn “Nâng cao hiệu quả kiểm soát thanh toán vốn đầu tư
công qua Kho bạc Nhà nước Quận 7-Thành phố Hồ Chí Minh” của
Phạm Hoàng Diệu (2016).
Luận văn “Kiểm soát chi đầu tư xây dựng cơ bản qua Kho bạc
Nhà nước Hà Nội” của Hà Thị Ngọc (2015).
Luận văn “Hoàn thiện công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư
XDCB tại KBNN Đà Nẵng” của Đoàn Kim Khuyên (2012)
Các luận văn này là những công trình khoa học có giá trị, tuy
nhiên, do công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư qua KBNN
thường xuyên được đổi mới theo yêu cầu chung của quá trình cải
cách quản lý tài chính công và hội nhập kinh tế thế giới nên một số
vấn đề cần phải được cập nhật, đồng thời, bên cạnh những kết quả
đáng ghi nhận, công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư từ NSNN
qua KBNN Kon Tum hiện nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất
định và cho đến nay sau gần 20 năm được giao nhiệm vụ kiểm soát
thanh toán vốn đầu tư, nhưng vẫn chưa có đề tài, nghiên cứu nào về
kiểm soát thanh toán vốn đầu tư tại KBNN Kon Tum, nên đề tài tập


4
trung nghiên cứu “Kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản
tại Kho bạc Nhà nước Kon Tum”.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THANH TOÁN VỐN
ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN QUA KHO BẠC NHÀ NƢỚC
1.1. TỔNG QUAN VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CHO
ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN
1.1.1. Những khái niệm cơ bản
a) Đầu tư công
b) Dự án đầu tư công
c) Vốn đầu tư công từ ngân sách nhà nước
1.1.2. Đặc điểm vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN
1.1.3. Nguyên tắc quản lý vốn đầu tƣ công
a) Nguyên tắc tuân thủ pháp luật
b) Sử dụng vốn đúng quy định, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả
và chống lãng phí, thất thoát vốn
c) Thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình
1.1.4. Nội dung và phân loại chi xây dựng cơ bản từ ngân
sách nhà nƣớc
1.2. KIỂM SOÁT THANH TOÁN VỐN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG
CƠ BẢN QUA KHO BẠC NHÀ NƢỚC
1.2.1. Khái niệm kiểm soát thanh toán vốn đầu tƣ xây
dựng cơ bản qua Kho bạc Nhà nƣớc
1.2.2. Quy trình kiểm soát thanh toán vốn đầu tƣ qua
KBNN


5
Bƣớc 1: Cán bộ KSC tiếp nhận chứng từ, kiểm soát hồ sơ,
chứng từ.
Bƣớc 2: Cán bộ KSC kiểm soát dự toán (nhập chứng từ trên
chương trình TABMIS).
Bƣớc 3: Lãnh đạo Phòng KSC thực hiện kiểm soát chứng từ
trên giấy.
Bƣớc 4: Lãnh đạo KBNN kiểm soát hồ sơ chứng từ và ký
duyệt hồ sơ, chứng từ giấy
Bƣớc 5: Cán bộ KSC chuyển bút toán trên hệ thống TABMIS
sang KTV và bàn giao chứng từ giấy cho KTV.
Bƣớc 6: KTV tiếp nhận chứng từ giấy, thực hiện kiểm tra và
định khoản, ký trên chứng từ giấy, đệ trình bút toán trên TABMIS
đến Kế Toán trưởng (KTT), chuyển chứng từ giấy đến KTT.
Bƣớc 7: KTT hoặc Phụ trách Kế toán (gọi chung là KTT)
kiểm soát, phê duyệt bút toán trên TABMIS, ký chứng từ .
Bƣớc 8: KTV thực hiện áp thanh toán cho khách hàng hoặc
Thủ quỹ chi tiền cho khách hàng theo đúng quy trình chi tiền mặt.
Bƣớc 9: KTV thanh toán (TTV) thực hiện chạy giao diện sang
chương trình thanh toán liên ngân hàng (TTLNH), KTT phê duyệt
trên chương trình TTLNH.
Bƣớc 10: KTV nhận lại chứng từ đóng dấu “KẾ TOÁN” lên
các liên chứng từ và trả các liên chứng từ cho cán bộ KSC.
Bƣớc 11: Cán bộ KSC tiếp nhận chứng từ, lưu 01 liên cùng
hồ sơ thanh toán, trả 01 liên cho đơn vị giao dịch.
Thời hạn hoàn thành quy trình giải quyết hồ sơ: tối đa là 03
ngày làm việc, tại Phòng KSC là 02 ngày và tại Phòng Kế toán là 01
ngày.


6
Thủ tục kiểm soát thanh toán vốn đầu tư tại KBNN
1.2.3. Những rủi ro trong kiểm soát thanh VĐTtƣ XDCB
• Nhóm rủi ro thanh toán vốn đầu tư khi hồ sơ thủ tục pháp lý
chưa đầy đủ .
• Nhóm rủi ro do cán bộ KSC không phát hiện mẫu dấu và các
chữ ký không đúng của chủ đầu tư .
• Nhóm rủi ro thanh toán vượt giá trị dự toán đầu tư được
duyệt, thanh toán sai nguồn ngân sách được duyệt cho dự án,sai khối
lượng, hồ sơ không đảm bảo lôgic tuần tự về thời gian,hồ sơ hết hiệu
lực.
• Nhóm rủi ro do ý thức của cán bộ công chức(CBCC) thực
hiện những hành vi vượt thẩm quyền hoặc tác nghiệp theo một cách
thức mạo hiểm,vi phạm đạo đức nghề nghiệp như việc phát hiện hồ
sơ chưa đầy đủ nhưng không từ chối thanh toán, cố tình thực hiện sai
nguyên tắc kiểm soát thanh toán VĐT.
• Nhóm rủi ro do năng lực chuyên môn của cán bộ chưa
nghiên cứu kỹ cơ chế chính sách nên khi kiểm soát chi đòi hỏi đơn vị
và lưu những hồ sơ không thuộc trách nhiệm KSC của KBNN;
• Rủi ro cán bộ KBNN vi phạm quy trình nghiệp vụ kiểm soát
chi khi chuyển tiền vào tài khoản đơn vị hưởng sai với tài khoản ghi
trong hợp đồng.
1.2.4. Công tác giám sát trong kiểm soát thanh toán vốn
đầu tƣ từ ngân sách nhà nƣớc


7
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Trong phần lý luận chung, đề tài đã làm sáng tỏ những vấn
đề cơ bản về dự án đầu tư công; đặc điểm và nguyên tắc quản lý vốn
đầu tư; nội dung và phân loại chi XDCB từ NSNN.
Phần thứ hai của chương 1, đề tài đã nêu quy trình,thủ tục
kiểm soát thanh toán vốn đầu tư qua KBNN; phân tích những rủi ro
trong kiểm soát thanh toán vốn đầu tư và công tác giám sát trong
thanh toán vốn đầu tư XDCB qua KBNN,làm cơ sở cho việc phân
tích đánh giá nguyên nhân kết quả kiểm soát thanh toán VĐT qua
KBNN trong thời gian qua.
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT THANH TOÁN VỐN ĐẦU TƢ
XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TẠI
KHO BẠC NHÀ NƢỚC KON TUM
2.1. TỔNG QUAN VỀ CHI ĐẦU TƢ XDCB TẠI KON TUM
2.1.1. Tình hình chi ngân sách cho đầu tƣ XDCB tại Kon
Tum
2.1.2. Tình hình chi đầu tƣ XDCB tại Kon Tum
Theo số liệu quyết toán vốn đầu tư XDCB tại KBNN Kon
Tum trong 3 năm từ 2015-2017 chi đầu tư từ ngân sách chiểm từ 2737% bình quân là 31,5% tổng chi của NSNN.
2.2. MÔI TRƢỜNG KIỂM SOÁT LIÊN QUAN ĐẾN KIỂM
SOÁT THANH TOÁN VỐN ĐẦU TƢ TẠI KBNN KON TUM
2.2.1. Cơ cấu tổ chức và phân công trách nhiệm liên quan
kiểm soát thanh toán vốn đầu tƣ
2.2.2. Các quy định chế tài trong kiểm soát chi đầu tƣ công


8
2.3. THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT THANH TOÁN VỐN ĐẦU
TƢ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TẠI KBNN KON TUM
2.3.1. Mục tiêu kiểm thanh toán vốn đầu tƣ qua Kho bạc
Nhà nƣớc Kon Tum
2.3.2. Nguyên tắc và trách nhiệm kiểm soát thanh toán vốn
đầu tƣ từ NSNN qua KBNN Kon Tum.
2.3.3. Quy trình kiểm soát thanh toán VĐT tại KBNN Kon
Tum
a) Quy trình thanh toán trước, kiểm soát sau
b) Quy trình kiểm soát trước,thanh toán sau
2.3.4. Thông tin phục vụ công tác kiểm soát thanh toán
VĐT công
2.3.5. Công tác giảm sát hoạt động thanh toán VĐTcông
2.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT THANH
TOÁN VỐN ĐẦU TƢ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC QUA
KHO BẠC NHÀ NƢỚC KON TUM
2.4.1. Kết quả đạt đƣợc trong kiểm soát thanh toán vốn
đầu tƣ
2.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong công
tác kiểm soát thanh toán VĐT tại KBNN Kon Tum
a) Những hạn chế


9
-Trình độ, năng lực của một số cán bộ làm nhiệm vụ kiểm soát
thanh toán vốn đầu tư còn nhiều hạn chế
- Luân chuyển chứng từ thanh toán giữa hai Phòng là chưa phù
hợp,quá trình kiểm soát còn rườm rà trên chứng từ có 5 chữ ký của
cán bộ và lãnh đạo KBNN.
-Việc áp dụng 3 chương trình tin học phục vụ kiểm soát thanh
toán vốn đầu tư là rườm rà mất thời gian nhập dữ liệu.
- Việc thanh toán tạm ứng còn chậm.
- Chưa có quy định chặt chẽ điều kiện để được phép thay đổi
HĐ.
-Thực hiện kế hoạch chậm,hàng năm chuyển nguồn lớn.
- Các chủ đầu tư chưa quan tâm quyết toán các dự án hoàn
thành.
-Tình trạng thất thoát lãng phí trong đầu tư ở các dự án hầu
như diễn ra ở nhiều công trình(xem bảng 2.18) .
Bảng 2.18 Kết quả kiểm toán vốn đầu tƣ XDCB từ 2015-2017 tại
Kon Tum của Kiểm toán Nhà nƣớc Khu vực XII
Đơn vị: tỷ đồng
T

Chỉ tiêu

T
1

2015

2016

2017

1.708,3

1.261

1.164,8

khác sau kiểm toán

8,096

4,3

2,325

Tỷ lệ (%) thu hồi

0,47%

0,34%

0,19%

Vốn kiểm soát thanh toán
qua KBNN Kon Tum

2

3

Năm

Số thu hồi nộp NS và xử lý

Nguồn Báo cáo kết quả kiểm toán Khu vực XII từ 2015-2017


10
b) Nguyên nhân của những hạn chế
Nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân chủ quan
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
Trong chương 2 luận văn đã trình bày khái quát tình hình
KT-XH tỉnh Kon Tum và tình hình đầu tư XDCB tại Kon Tum; sự
hình thành phát triển của KBNN Kon Tum, cơ cấu tổ chức và phân
công trách nhiệm liên quan đến kiểm soát thanh toán vốn đầu tư. Đề
tài cũng đã phân tích các chế tài áp dụng trong kiểm soát thanh toán
vốn đầu tư qua KBNN Kon Tum; phân tích đánh giá những quy trình
thực tế áp dụng và công tác tổ chức thông tin,kiểm soát,giám sát
trong quá trình thanh toán vốn. Đề tài đã đi sâu phân tích những kết
quả đạt được trong giai đoạn 2015-2017, những hạn chế cần khắc
phục, phân tích đánh giá những nguyên nhân khách quan, chủ quan
ảnh hưởng,chi phối những hạn chế, đây là cơ sở quan trọng để đề
xuất các giải pháp ở chương 3.
CHƢƠNG 3
GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG KIỂM SOÁT THANH TOÁN
VỐN ĐẦU TƢ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC QUA KHO BẠC
NHÀ NƢỚC KON TUM
3.1. CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG KIỂM SOÁT
THANH TOÁN VỐN ĐẦU TƢ TẠI KHO BẠC NHÀ NƢỚC
KON TUM


11
3.2.1 Hoàn thiện tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực, trình
độ, phẩm chất của đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm soát thanh
toán vốn đầu tƣ
Nhiệm vụ kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB là rất phức
tạp, cơ chế kiểm soát, quản lý đầu tư XDCB qua nhiều tầng, nấc,
nhiều cấp quản lý, Trong khi năng lực, trình độ chuyên môn của một
bộ phận cán bộ KSC còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý
trong tình hình mới. Vì vậy cán bộ kiểm soát thanh toán không
những phải nắm vững nghiệp vụ Kho bạc, mà còn phải có được
những kiến thức cơ bản của lĩnh vực XDCB, nắm bắt được kịp thời
thay đổi của cơ chế mới trong đầu tư xây dựng và trong đấu thầu.
Mặt khác, trong thời gian qua rất nhiều bộ luật mới liên quan đến đầu
tư công được sửa đổi như: Luật NSNN, Luật Đầu tư công, Luật Xây
dựng, Luật Đấu thầu… Vì thế, các Nghị định, Thông tư và các văn
bản hướng dẫn của Chính phủ, Bộ, ngành thay đổi theo, nên yêu cầu
cán bộ kiểm soát chi KBNN phải được cập nhật kiến thức mới, thông
qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, về các kỹ
năng kiểm soát thanh toán vốn đầu tư . Việc nâng cao năng lực và
trình độ chuyên môn trên cơ sở sử dụng các ứng dụng tin học, sử
dụng những máy móc thiết bị tiến tiến, hiện đại phù hợp với trình độ
quản lý.
KBNN Kon Tum cần quan tâm công tác đào tạo và đào tạo lại
cán bộ công chức kiểm soát chi, tổ chức các lớp bồi dưỡng ngắn
ngày, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ KBNN theo hướng
chuyên nghiệp, đủ tiêu chuẩn năng lực và phẩm chất đạo đức để cán
bộ công chức nắm bắt được các yêu cầu, nhiệm vụ mới. Bên cạnh
việc đào tạo nâng cao trình độ cán bộ kiểm soát chi, sự cần thiết phải


12
tăng cường phẩm chất đạo đức, tác phong của người cán bộ, làm việc
với tinh thần trách nhiệm cao, yêu ngành, yêu nghề, tránh việc sách
nhiễu, vụ lợi cá nhân.
Định kỳ, thực hiện thi khảo sát đánh giá năng lực,và trình độ
nhận thức các chế độ chính sách mới, thực hiện luân phiên, luân
chuyển cán bộ đối với các cán bộ không đáp ứng được yêu cầu qua
các đợt khảo sát hàng năm.
Quy trình kiểm soát thanh toán hiện nay khá rườm rà mất
nhiều thời gian để xử lý . Vì vậy việc kiểm soát và thanh toán vốn
đầu tư nên tập trung vào một đầu mối đó là phòng KSC. Điều này
cũng phù hợp với xu thế chung trong việc cải cách thủ tục hành
chính,sắp xếp tinh gọn bộ máy và ứng dụng tiến bộ khoa học vào
quản lý hiện nay.
Giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong công tác kiểm soát thanh
toán vốn đầu tư, thường xuyên tổ chức học tập trao đổi nghiệp vụ
trong toàn tỉnh về nghiệp vụ kiểm soát thanh toán vốn để thống nhất
thực hiện; ban hành sổ tay quản lý kiểm soát thanh toán VĐT; cảnh
báo các rủi ro,cách phòng ngừa trong kiểm soát thanh toán để cán bộ
công chức học tập vận dụng vào thực tiễn.
Thường xuyên phát động các phong trào thi đua yêu nước, gắn
với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức phong cách Hồ
Chí Minh”, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong giải quyết
công việc liên quan đến kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB;
thực hiện tốt mười điều kỷ luật của ngành và văn minh, văn hóa nghề
Kho bạc.
3.2.2 Áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kiểm
soát, thanh toán vốn đầu tƣ


13
Hiện nay, cùng với tốc độ phát triển vũ bão của công nghệ
thông tin thì việc ứng dụng nó trong công tác thanh toán vốn đầu tư
XDCB là một vấn đề cấp thiết. Chương trình ĐTKB-LAN để quản lý
đầu tư trên mạng diện rộng nhưng đã bộc lộ nhiều hạn chế cần phải
khắc phục đó là: Chương trình chưa tổng hợp được những báo cáo
cần thiết theo quy định của Bộ Tài chính,dẫn đến phải chạy chương
trình song hành là chương trình THBC,cán bộ phải nhập lại số liệu
sau khi thanh toán vào chương trình THBC rất mất thời gian công
sức; chương trình ĐTKB-LAN đã quản lý được tổng mức đầu tư,dự
toán,nhưng chưa theo dõi được thời điểm thanh toán hợp đồng,thời
hạn thanh toán hợp đồng và thời hạn bảo lãnh số tiền tạm ứng để báo
cho người sử dụng biết khi cần thiết,đây là những hạn chế mà
chương trình chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý hiện nay. Do đó,
cần bổ sung hoàn thiện chương trình ĐTKB-LAN bằng cách tích hợp
chương trình báo cáo vào chương trình ĐTKB-LAN để không mất
thời gian nhập liệu vào chương trình THBC; thiết kế bổ sung phần
theo dõi hợp đồng đối với từng dự án theo dõi số lần thanh toán,thời
điểm thanh toán,thời hạn thanh toán và thời hạn bảo lãnh tạm ứng,
như vậy sẽ đáp ứng được nhu cầu quản lý kiểm soát thanh toán theo
hợp đồng như hiện nay.
Chương trình TABMIS là hệ thống thông tin ngân sách và Kho
bạc được sử dụng trên toàn quốc dùng để hạch toán kế toán,theo dõi
quản lý quỹ ngân sách nhà nước các cấp;chương trình ĐTKB-LAN
được chạy riêng cho từng Kho bạc tỉnh và phục vụ quản lý kiểm soát
thanh toán vốn đầu tư,chương trình mục tiêu. Vì vậy ,để giảm thời
gian thao tác trên 2 chương trình thì cần thiết kế chương trình
ĐTKB-LAN khi nhập số thanh toán là chỉ cần chạy giao diện sang


14
chương trình TABMIS mà không cần phải nhập lại số liệu; đối với
số dự toán cơ quan tài chính đã nhập vào TABMIS thì chỉ cần cán bộ
KSC chạy giao diện để đẩy từ TABMIS sang chương trình ĐTKBLAN để đưa vào KHV của dự án tương ứng,như vậy sẽ tiết kiệm
được một nửa thời gian nhập liệu và tránh được sai sót khi cùng một
chứng từ phải nhập vào 2 chương trình.
3.2.3 Tăng cƣờng công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ
Cán bộ làm công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư của
KBNN Kon Tum cần tổ chức kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất các chủ
đầu tư về tình hình thực hiện dự án, kiểm tra sử dụng vốn tạm ứng,
kiểm tra việc chấp hành chế độ, chính sách về tài chính và tình hình
quản lý sử dụng vốn đầu tư; tổ chức kiểm tra khảo sát thực tế tại hiện
trường thi công nhằm nắm bắt tình hình thi công và tiến độ giải ngân
để phối hợp với các chủ đầu tư tháo gỡ vướng mắc. Phát hiện những
khó khăn vướng mắc phát sinh vượt quá thẩm quyền, cán bộ KBNN
Kon Tum kịp thời báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của KBNN, UBND
tỉnh. Việc kiểm tra này này là cần thiết, vì hầu hết các chủ đầu tư
thường chậm trễ trong việc tập hợp hồ sơ thủ tục thanh toán, quyết
toán vốn đầu tư, hiện nay nhiều dự án thi công chậm chễ,nên công
tác kiểm tra của KBNN là nhằm đảm bảo việc chi tiêu đúng mục
đích, đúng đối tượng, tiết kiệm và hiệu quả, góp phần thúc đẩy nhanh
tiến độ thực hiện dự án,đẩy nhanh việc hoàn thành hồ sơ nghiệm thu
thanh toán mang đến Kho bạc để được giải ngân đúng tiến độ .
Lãnh đạo phòng KSC cần bố trí công tác kiểm tra chéo thường
xuyên, đảm bảo mọi hồ sơ thanh toán của một cán bộ đều được một
cán bộ khác kiểm tra một lần .


15
Thanh tra KBNN Kon Tum tăng cường thanh tra, kiểm tra tiến
trình cấp phát vốn đầu tư theo kế hoạch vốn năm, bao gồm: cấp phát
tạm ứng, thu hồi tạm ứng và cấp phát thanh toán khối lượng hoàn
thành, kiểm tra tiêu chuẩn định mức, hồ sơ thủ tục thanh toán …
Tăng cường kiểm tra báo cáo tình hình thanh toán vốn đầu tư
để có đánh giá phân tích đúng về tình hình giải ngân,tình hình tạm
ứng và thanh toán khối lượng hoàn thành,kịp thời có báo cáo đề xuất
kiến nghị với UBND tỉnh, Bộ ngành những dự án chậm giải
ngân,hoặc số dư tạm ứng lớn,thời gian quá hạn chưa thu hồi để cơ
quan có thẩm quyền có biện pháp xử lý.
3.2.4 Kiểm soát chặt chẽ vốn tạm ứng, thu hồi tạm ứng
góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nƣớc
Cán bộ kiểm soát chi của KBNN Kon Tum cần thực hiện tốt
nhiệm vụ quản lý, kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, thực hiện kiểm
soát thanh toán vốn đầu tư đúng quy trình và chế độ hiện hành của
Nhà nước. Nhiệm vụ kiểm soát thanh toán vốn đầu tư là một trong
những công đoạn cuối của quá trình đầu tư, mọi sai sót trong cả quá
trình chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư đều tập trung về cơ quan
KBNN. Nên, cán bộ KBNN kiểm soát chặt chẽ mức tạm ứng, thời
gian thu hồi ứng, mức thu hồi tạm ứng từng kỳ theo hợp đồng kinh tế
giữa chủ đầu tư và nhà thầu . Cán bộ KBNN theo dõi số tạm ứng đôn
đốc chủ đầu tư thanh toán thu hồi tạm ứng, tổ chức kiểm tra, giám sát
đảm bảo quản lý chặt chẽ, an toàn và hiệu quả vốn tạm ứng và thu
hồi vốn tạm ứng kịp thời qua các lần thanh toán khối lượng hoàn
thành. Các khoản vốn tạm ứng xây lắp chậm thu hồi quá thời hạn 6
tháng kể từ thời điểm phải thực hiện khối lượng theo tiến độ ghi
trong hợp đồng, phải có văn bản đôn đốc, đề nghị Chủ đầu tư thực


16
hiện thu hồi vốn ứng của nhà thầu để hoàn trả vốn đã tạm ứng cho
NSNN hoặc yêu cầu tổ chức tín dụng phát hành bảo lãnh thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh theo quy định.
Đối với Chủ đầu tư có trách nhiệm xác định mức tạm ứng và
thu hồi vốn tạm ứng hợp lý, tạo điều kiện về tài chính cho nhà thầu
thực hiện gói thầu theo tiến độ; đồng thời, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ,
chứng từ để thanh toán tạm ứng vốn đầu tư, chủ động phối hợp với
cơ quan KBNN để quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng vốn tạm
ứng và thu hồi vốn tạm ứng từng lần đối với nhà thầu. Việc quy định
mức tạm ứng tối thiểu và quy định mức tạm ứng tối đa không quá kế
hoạch vốn năm đối với các gói thầu là cần thiết,trong khung quy định
mức tạm ứng trên, chủ đầu tư có trách nhiệm thương thảo và thoả
thuận mức tạm ứng cụ thể với nhà thầu và đảm bảo thu hồi hết tạm
ứng khi thanh toán đạt đến 80% giá trị hợp đồng (gồm cả tạm ứng và
thanh toán khối lượng hoàn thành).
Cần quy định rõ thời gian nghiệm thu từng lần và thời hạn
hoàn thành hồ sơ để mang đến cơ quan thanh toán vốn,tránh tình
trạng một số công trình nghiệm thu xong không thanh toán để thu hồi
tạm ứng(nghiệm thu xong ngâm hồ sơ tại chủ đầu tư). Khi thanh toán
chủ đầu tư và nhà thầu bổ sung phụ lục hợp đồng để hợp lý số lần
thanh toán và thời điểm thanh toán.
Để xử lý vấn đề này cần quy định chủ đầu tư không được bổ
sung thay đổi số lần thanh toán,thời điểm thanh toán như đã ký hợp
đồng nhằm ngăn chặn việc chậm làm thủ tục thanh toán,chậm thu hồi
tạm ứng trừ trường hợp bất khả kháng như thiên tai,hỏa hoạn,chiến
tranh hoặc các nhiệm vụ mới phát sinh nhà nước giao cho chủ đầu tư
mà có ảnh hưởng đến dự án; còn lại nếu thay đổi hợp đồng đều bị


17
phạt chậm hợp đồng theo thời điểm từng lần đã quy định rõ trong
hợp đồng, mức phạt bằng số thuế giá trị gia tăng phải nộp nếu
nghiệm thu thanh toán theo hợp đồng và lãi quá hạn cho số ngày
chậm thanh toán tính trên giá trị khối lượng phải thanh toán trong
hợp đồng.
3.2.5 Đẩy mạnh kiểm soát thanh toán khối lƣợng hoàn
thành,tránh dồn thanh toán vào cuối năm gây áp lực trong kiểm
soát thanh toán và nguy cơ rủi ro cho cán bộ KBNN; hạn chế tối
đa việc chi chuyển nguồn đối với các dự án đầu tƣ
KBNN kiểm soát thanh toán khối lượng hoàn thành theo đúng
tiến độ và kế hoạch vốn đã được cấp có thẩm quyền quyết định. Việc
thanh toán vốn đầu tư cần được thực hiện đúng tiến độ thời gian đã
ghi trong hợp đồng, qua đó sẽ khắc phục được việc dồn hồ sơ thanh
toán khối lượng ở thời điểm cuối năm (31/12 hoặc 31/01 năm sau),
giảm tải việc kiểm soát chi cuối năm của cơ quan KBNN,và phù hợp
với cách quản lý vốn đầu tư XDCB theo kế hoạch vốn trung
hạn,tránh được nguy cơ khối lượng lớn hồ sơ phải giải quyết gấp dễ
dẫn đến bỏ qua công đoạn kiểm soát của cán bộ KBNN,nguy cơ rủi
ro tăng cao.KBNN Kon Tum cần tham mưu cho UBND tỉnh tập
trung giải quyết kịp thời những khó khăn vướng mắc trong thanh
toán vốn đầu tư, thực hiện cơ cấu lại đầu tư các dự án xây dựng,
trước tiên cần cơ cấu lại vốn đầu tư hàng năm để thanh toán nợ đọng
cho các dự án đã hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng nhưng chưa
bố trí đủ vốn, các dự án chuyển tiếp nhưng có khả năng hoàn thành
trong năm, dự án cần thiết, cấp bách, dự án khắc phục thiên tai. Có
cơ chế quy định rõ việc KBNN được từ chối thanh toán vốn đối với
các dự án được ghi kế hoạch đầu tư nhưng hồ sơ dự án lại được phê


18
duyệt trong năm kế hoạch, việc này là một trong những nguyên nhân
gây chậm trễ trong thực hiện đầu tư (có kế hoạch nhưng hồ sơ thủ
tục chưa đầy đủ,nên chậm đấu thầu, chậm khởi công dẫn đến thực
hiện kế hoạch đầu tư công rất chậm).
Nghiêm cấm việc nghiệm thu nhưng chậm làm hồ sơ thanh
toán với KBNN. Trong hợp đồng đã quy định rõ số lần thanh
toán,thời điểm thanh toán nên khi nghiệm thu xong phải mang hồ sơ
đến KBNN để thanh toán không được “ ngâm” hồ sơ tại chủ đầu
tư,không được bổ sung phụ lục hợp đồng thay đổi lần và thời gian
thanh toán nếu không có lý do bất khả kháng; giao cho KBNN thực
hiện phạt chậm hợp đồng khi chủ đầu tư đến thanh toán vốn.
Trong quá trình kiểm soát thanh toán vốn, KBNN cần công
bố công khai danh sách các chủ đầu tư, nhà thầu vi phạm quy định về
nghiệm thu, thanh toán khối lượng hoàn thành. Để có cơ sở xử lý
đối với các chủ đầu tư nhà thầu,cần bổ sung thay đổi Nghị định
192/NĐ-CP trong đó quy định KBNN xử phạt đối với Chủ đầu tư,
Ban quản lý dự án, nhà thầu có hành vi vi phạm quy định về nghiệm
thu, chậm lập hồ sơ thanh toán thu hồi tạm ứng, thanh toán khối
lượng hoàn thành và quyết toán công trình,trừ lý do khách quan bất
khả kháng như thiên tai,chiến tranh .
Việc chi chuyển nguồn chỉ thực hiện đối với các dự án cấp
bách, bất khả kháng do thiên tai, bão lũ xảy ra hoặc lý do khách quan
chưa thể triển khai được nên phải chuyển nguồn sang năm sau;
nghiêm cấm việc chuyển nguồn không đúng đối tượng, không đúng
nội dung chương trình dự án được phép chuyển sang năm sau hoặc
quá thời hạn chuyển nguồn quy định,cơ quan chủ quản kiểm điểm
phê bình những chủ đầu tư không thực hiện hết KHV năm mà không


19
phải do bất bất khả kháng; cần thiết điều chỉnh thay đổi chủ đầu tư.
Bổ sung cơ chế quy định rõ KBNN được từ chối thanh toán
khi hồ sơ mang đến thanh toán vốn đầu tư mà dự án và dự toán của
công trình phê duyệt trong năm kế hoạch, theo điều 4 thông tư
08/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài chính Quy định về quản
lý,thanh toán vốn đầu tư đã quy định việc thẩm tra phân bổ vốn đầu
tư,đối với dự án khởi công mới thì quyết định đầu tư phải được phê
duyệt trước ngày 31/10 năm trước năm kế hoạch. Thực tế thì các thủ
tục đầu tư rất phức tạp,từ khi có Quyết định đầu tư đến khi phê duyệt
dự toán,phê duyệt kế hoạch và tổ chức đấu thầu,thương thảo hợp
đồng mất rất nhiều thời gian . Do đó cần bổ sung thêm quy định là
dự án được phân bổ vốn đầu tư để khởi công mới khi có quyết định
đầu tư và dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước ngày
31/10 năm trước năm kế hoạch. KBNN không thanh toán vốn khi các
chủ đầu tư không thực hiện đúng quy định này trừ các dự án cấp
bách,đặc biệt theo quy định của Chính phủ.
Đối với quyết toán vốn đầu tư xây dựng hoàn thành: Các Bộ,
ngành địa phương, các chủ đầu tư cần nghiêm túc thực hiện Chỉ thị
27/CT-TTg ngày 27/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy
mạnh công tác quyết toán vốn đầu tư các dự án hoàn thành sử dựng
vốn NSNN,Thông tư 09/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài
chính quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn
NSNN và Thông tư số 64/2018/TT-BTC sửa đổi bổ sung Thông tư
09; xử lý dứt điểm quyết toán các dự án do thiếu hồ sơ; làm rõ trách
nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị và thực hiện nghiêm
các chế tài để xử lý các dự án chậm quyết toán. Hiện nay UBND tỉnh
đã thành lập ban chỉ đạo quyết toán các dự án đầu tư hoàn thành,đôn


20
đốc các chủ đầu tư bước đầu đã có kết quả. Tuy nhiên cần chỉ đạo
rà soát tất cả các dự án đầu tư đã hoàn thành và các dự án dừng thực
hiện vĩnh viễn để thực hiện quyết toán hợp đồng với các bên và
quyết toán với NSNN,tổ chức thu hồi ngay những chi phí bất hợp
lý,thanh toán thừa so với quyết toán được duyệt . Thực hiện nghiêm
chủ trương không bố trí dự án mới cho các chủ đầu tư hoặc điều
chỉnh chủ đầu tư đối với các chủ đầu tư chậm trễ trong thực hiện lập
hồ sơ quyết toán dự án đã hoàn thành.
Tăng cường chế tài xử phạt các chủ đầu tư chậm nộp báo cáo
quyết toán dự án hoàn thành làm ảnh hưởng đến việc quản lý vốn
đầu tư của Nhà nước, việc quy định xử phạt phải đủ sức răn đe cả
chủ đầu tư và nhà thầu. Quy định rõ trách nhiệm của chủ đầu tư và
người quyết định đầu tư đối với việc quyết toán vốn đầu tư xây dựng
hoàn thành; ràng buộc chặt chẽ nhà thầu trong việc hoàn thiện hồ sơ
quyết toán, chịu trách nhiệm về tính chính xác đối với số liệu, tài liệu
có liên quan công tác quyết toán đối với các dự án đầu tư hoàn thành.
Thực hiện công khai danh sách các chủ đầu tư, ban quản lý dự án vi
phạm thời gian lập báo cáo quyết toán chậm so với thời gian quy
định để các cơ quan có thẩm quyền làm cơ sở xử lý hành chính các
chủ đầu tư .
3.2.6 Hoàn thiện các chế tài đủ mạnh để quản lý chặt chẽ
vốn đầu tƣ ngay từ khâu lập dự án,thẩm định phê duyệt dự
toán,đấu thầu; bổ sung chế tài của Nghị định 192 về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực Kho bạc
Công tác tư vấn lập dự án, thẩm định và phê duyệt dự án đầu
tư, thiết kế dự toán; thẩm định, phê duyệt thiết kế, tổng dự toán của
các cấp có thẩm quyền chưa chú trọng đến chất lượng,khối lượng


21
dẫn đến chất lượng thấp công trình có nhiều sai sót từ khâu lập và
phê duyệt dẫn đến nguy cơ thất thoát lãnh phí.
Báo cáo kết quả Kiểm toán hàng năm đã chỉ rõ những sai
phạm này,thất thoát lãnh phí vốn đầu tư công hầu như diễn ra ở khắp
nơi và chủ yếu tập trung ở khâu thiết kế, lập dự toán sai về tính toán
khối lượng và định mức; chức năng thẩm định của các cơ quan nhà
nước chưa được phát huy đúng mức,còn thiếu chặt chẽ qua loa trong
công tác thẩm định và phê duyệt. Từ việc phê duyệt dự án, dự toán
đã có sự sai sót về khối lượng,định mức và nguy cơ thất thoát lãng
phí lớn,điều này đã dẫn đến sai sót trong tổ chức đấu thầu với hành
vi thông thầu,hoặc quân xanh quân đỏ, thông báo đấu thầu công khai
rộng rãi nhưng lại không bán hồ sơ rộng rãi. Những hành vi sai phạm
này đã gây nên sự thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB mà Kiểm
toán Nhà nước Khu vực XII đã thu hồi nộp ngân sách nhà nước trong
những năm gần đây.
Do đó, sự cần thiết phải nâng cao chất lượng công tác lập và
thẩm định thiết kế dự toán. Nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước
đới với công tác thẩm định chuyên ngành trước khi trình duyệt dự án.
Quy định rõ trách nhiệm của Sở chuyên ngành chịu trách nhiệm về
khối lượng định mức khi thẩm định dự án. Nếu thanh tra kiểm tra
xuất toán sai khối lượng định mức đầu tư thì cán bộ thẩm định của
Sở chuyên ngành đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật để thất
thoát lãng phí xảy ra.
Đối với cơ quan, tổ chức tư vấn lập dự án và dự toán,nếu cố
tình nâng khống khối lượng,sai định mức để nâng giá trị công
trình,đã bị cơ quan thanh tra kiểm toán xuất toán đối với công trình
đó thì cần có chế tài đủ mạnh là phạt vi phạm hành chính đúng với


22
bằng số tiền bị thu hồi; cấm không được tham gia lập các dự án đầu
tư khác trong thời gian nhất định.
Về công tác đấu thầu cần nâng cao chất lượng công tác đấu
thầu: Trên thế giới hiện nay, phương thức giao thầu chủ yếu là thông
qua đấu thầu xây dựng. Đấu thầu yêu cầu sự cạnh tranh giữa các nhà
thầu trong việc đưa ra những phương án thi công hiệu quả, cũng như
giá bỏ thầu cạnh tranh. Áp dụng nghiêm túc, khách quan các nguyên
tắc, điều kiện đấu thầu vào thực tế sẽ đem lại hiệu quả lớn đối với
kinh tế -xã hội.
Thực tế nước ta hiện nay cho thấy, việc áp dụng đấu thầu vẫn
còn nhiều bất cập. Những trường hợp thực hiện sai công tác tổ chức
đầu thầu vẫn ngang nhiên xảy ra. Do đó cần nâng cao chất lượng
đấu thầu để hạn chế hiện tượng tiêu cực. Để thực hiện điều này, cần
nâng cao công tác tư vấn trong đấu thầu xây dựng, cũng như phải
đảm bảo sản phẩm tư vấn đáp ứng được yêu cầu chất lượng, kĩ thuật
mà mục tiêu dự án đề ra. Kiểm soát chặt chẽ và có chế tài ngay từ
khâu bán hồ sơ mời thầu phải đảm bảo công khai,rộng rãi theo quy
định của từng gói thầu,ngăn chặn tình trạng khép kín từ khâu lập,phê
duyệt dự án, đấu thầu,tổ chức thi công.
Cần nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư trong việc giám sát
chất lượng,khối lượng thanh toán. Hiện nay đối với các chủ đầu
tư,qua thanh tra kiểm toán nếu phát hiện phải nộp ngân sách,giảm chi
thì chủ đầu tư phối hợp nhà thầu thực hiện theo kết luận của kiểm
toán ,nhưng chủ đầu tư không bị xử lý kỷ luật hoặc hình sự cho các
hành vi để thất thoát ,lãng phí này. Nếu không thanh tra,kiểm toán
phát hiện thì sự thất thoát lãng phí không thu hồi được. Rõ ràng đã sử
dụng ngân sách gây lãng phí thất thoát,thậm chí tham nhũng nhưng


23
không có ai bị xử lý chỉ đến khi thanh tra,kiểm tra phát hiện thu hồi
nộp lại ngân sách thế là xong. Vì vậy cần có quy định rõ trách nhiệm
của các chủ đầu tư,phải chịu trước pháp luật các hình thức kỷ luật
hành chính,hình sự cho các trường hợp này ở mức nghiêm minh có
tính răn đe để ngăn chặn thất thoát các dự án đầu tư,nếu chỉ thu hồi
nộp ngân sách là xong,chủ đầu tư không bị các chế tài xử lý thì thiết
nghĩ việc thất thoát lãng phí sẽ còn xảy ra ở nhiều nơi nhiều ngành
nhiều cấp.
Đối với các tổ chức tư vấn giám sát khối lượng,chất lượng
cũng cần có chế tài xử phạt hành chính tương đương với số tiền mà
cơ quan kiểm toán, thanh tra thu hồi đồng thời nghiêm cấm tham gia
các dự án khác trong thời hạn nhất định hoặc có thể xử lý hình sự ở
mức sai phạm nhất định để răn đe.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×