Tải bản đầy đủ

Phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy

Đề bài : Phân tích bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy
1, Mở bài: Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã từng nhận định: “Tác phẩm vừa là sự kết tinh của tâm hồn người sáng
tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà người nghệ sĩ mang trong lòng”. Với bài thơ “Ánh trăng”
của Nguyễn Duy nhận định đó trở nên đúng đắn và xác thực hơn bao giờ hết. Qua mạch cảm xúc dâng trào
mãnh liệt ta cảm nhận được một ngòi bút sâu sắc, một trái tim tinh tế rung động, trước những thay đổi nhỏ bé
nhất, và cả một khát khao ước vọng truyền cho moi người lẽ sống, cách sống trọn vẹn, tình nghĩa.
2, Thân Bài:
* Bài thơ được viết năm 1978, sau ba năm ngày giải phóng đất nước. Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ là
chiến sĩ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Đây là thế hệ từng trải qua bao thử thách gian
khổ, từng chứng kiến bao hy sinh lớn lao của đồng đội, nhân dân trong chiến tranh, cùng sống gắn bó, cùng
thiên nhiên nghĩa tình.
*Thưở ấu thơ là quãng thời gian đẹp và thơ mộng của mỗi đời người. Đó là những năm tháng rong chơi,
vùng vẫy với thiên nhiên. Nhà thơ Nguyễn Duy cũng đã co những thuở ấu thơ như thế:
“ Hồi nhỏ sống với đồng - với sông rồi với bể”
- “Đồng”, “sông”, “bể”, là nơi rất bình dị thôi nhưng nó đã nuôi lớn tâm hồn thơ dại của nhà thơ. Thời gian cứ
mải niết trôi. Thời tuổi thơ hồn nhiên đã qua đi, những kỉ niệm gắn bó với quê hương đã trôi vào dĩ vãng. Và khi
trở thành người lính, trăng và người vẫn gắn bó với nhau”
“hồi chiến tranh ở rừng - vầng trăng thành tri kỉ”
- Vầng trăng đẹp đẽ ân tình, gắn với những kỉ niệm thời ấu thơ và những tháng năm chinh chiến. Vẻ đẹp của
trăng xoa dịu những vết thương do chiến tranh gây ra, xoa dịu những mỏi mệt, buồn đau của cuộc sống ấy, trăng
vỗ về con người bằng những chia sẻ lặng im, bằng những đêm sát cánh bên nhau “đầu súng trăng treo”. Trăng

theo ta trên mọi bước đường đời, là người bạn đồng hành tin cậy nhất.
*Vì thế ấy, trăng chính là hiện thân của quá khứ, của kí ức chan hòa tình nghiã:
“Trần trụi với thiên nhiên - hồn nhiên như cây cỏ - ngỡ không bao giờ quên - cái vầng trằn tình nghĩa”
- Có lẽ rằng chính cảnh rừng núi hoang vắng,buồn bã đã khiến cho trăng và người xích lại gần nhau.
- Vầng trăng đã được nhân hóa cao độ để trở thành người bạn tinh thần của nhà thơ, một người bạn tri âm, tri
kỉ tưởng rằng sẽ không bao giờ quên được. Bởi thế, tác giả đã tự hẹn với lòng mình về mối tình thủy chung, son
sắt với vầng trăng “ngỡ không bao giờ quên”. Từ “ngỡ” vừa bâng khuâng, vừa nối tiếc như báo trước một sự
thay đổi lớn.
* Giữa trăng và người tưởng chừng đã có tình cảm sâu đậm chẳng thể nào xa cách được vậy mà:
“Từ hồi về thành phố - Quen ánh điện cửa gương - Vầng trăng đi qua ngõ - Như người dưng qua đường”
- “ánh điện”, “cửa gương” là cách nói hoán dụ cho cuộc sống hiện đại, xa rời thiên nhiên.
- Từ những đổi thay trong hoàn cảnh sống, mà phải chăng lòng người cũng dần đổi thay, khó nhận ra hay là
nhận ra rồi nhưng cố tình quên đi.
- Vầng trăng từ chỗ người bạn thân thiết, gắn bó nay trở thành “người dưng qua đường” . Vầng trăng thì một
mực thủy chung tình nghĩa “đi qua ngõ” như đợi người bạn cũ nhận ra, thế nhưng người bạn cũ năm nào nay đã
quen với ánh sáng của đèn điện vàng vọt giả tạo, giam mình trong bốn bức tường bê tông gạch đá chật hẹp tù
túng mà tưởng rằng cuộc sống đã sung sướng hơn xưa.
- Sống cuộc sống như thế, phải chăng ta đã đánh đổi cái giàu có trong tâm hồn để lấy những tiện nghi hiện đại
phù phiếm, khi mà hạnh phúc đích thực lại chính là một trái tim tràn đầy yêu thương!
* Sự lãng quên ấy có thể là mãi mãi nếu không có một chuyển biến bất ngờ: thành phố mất điện. Hoàn cảnh
bài thơ là một bước ngoặc tạo cảm xúc dâng trào, giúp nhà thơ bộc lộ rõ nét cảm xúc, tư tưởng chủ đề của tác
phẩm
“Thình lình đèn điện tắt - phòng buyn-đinh tối om - vội bật tung cửa sổ - đột ngột vầng trăng tròn.”
- Các từ ngữ “thình lình”, “vội”, “bật tung” tạo nhịp thơ nhanh, mạnh để rồi như sững lại, lặng đi bởi “vầng
trăng tròn” “đột ngột” và lung linh.
- Chính khoảng khắc ấy đã làm nổi bật ý nghĩa của toàn bài: con người vội vã, gấp gắp với cuộc sống hiện đại
khi nhận ra vẻ đẹp của thiên nhên, cuộc sống thì bỗng bàng hoàng, sững sờ.
- Khoảng khắc trăng và người đối mặt với nhau thì tình xưa nghĩa cũ dâng đến tràn đầy.


- Cuộc hội ngộ bất ngờ tạo rung động và thức tỉnh lương tâm con người. Cái “đột ngột” không phải ở trăng.mà
là ở chính tâm trạng tác giả - tâm trạng bàng hoàng, ngỡ ngàng trước sự thay đổi của lòng mình và sự vẹn tròn
của trăng để từ đó đi đến những day dứt, suy tư.
* Nếu như khổ thứ tư đầy tình huống đẩy đến cao trào thì khổ thơ thứ năm lại “rưng rưng” trong niềm xúc
động mãnh liệt của nhà thơ:
“Ngửa mặt lên nhìn mặt - có cái gì rưng rưng - như là đồng là bể - như là sông là rừng”
- Nhà thơ đối với trăng trong sự im lặng có phần thành kính. Từ “mặt” cuối câu thơ là từ nhiều nghĩa tạo ý thơ
gợi mở cho người đọc, nhà thơ đối diện với trăng hay thiên nhiên đối mặt với con người, và có lẽ là quá khứ đối
diện với hiện tại, bạc bẽo vô tình với thủy chung gắn bó.
- Trong khoảng khắc xúc động ấy, người lính có cái gì “rưng rưng” . Liệu có phải cái “rưng rưng” đó cảm xúc,
nỗi niềm của lính với vầng trăng tình nghĩa, với những kỉ niệm của quá khứ.
- Vầng trăng đã đánh thức khơi nguồn cho những gì thuộc về quá khứ trôi dạt về tương lai.
- Mọi kỉ niệm về dĩ vãng giờ đây đang sống dậy, đàn ùa về trong tâm trí anh, đó là những nơi anh đã sống, anh
đã đi qua, thế mà có thời gian anh quên nó.
- Trăng như là gió, còn những gì của quá khứ được vùi dưới lớp cát bụi của thời gian. Gió đã đến, xua tan lớp
cát bụi đi để lại những gì nguyên vẹn của thời xưa.
- Nhịp thơ nhanh, với một loạt các từ ngữ liệt kê “đồng”, “biển”, “rừng”, “sông” cuốn người đọc vào mạch
cảm xúc của bài thơ, giúp người đọc cùng chung cảm xúc của bài thơ, với hoàn cảnh trữ tình.
* Từ những hồi tưởng và thức tỉnh, nhà thơ đi đến những suy ngẫm và triết lí nhân sinh sâu sắc khái quát toàn
bộ nội dung bài thơ:
“Trăng cứ tròn vành vạnh - Kể chi người vô tình - Ánh trăng im phăng phắc - đủ cho ta giật mình”
- Không một lời trách móc, trăng vẫn “tròn vành vạnh”, bao dung, độ lượng, vị tha. Vẫn biết bạn mình vô tình
lãng quên tất cả nhưng trăng vẫn ân nghĩa, thủy chung.
- Trăng không oán trách, oán hờn nhưng “ánh trăng im phăng phắc” lại là sự trừng phạt nặng nề nhất khiến cho
bạn mình phải giật mình tỉnh giấc.
- Trăng như một nhân chứng rất nghĩa tình nhưng vô cùng nghiêm khắc nhắc nhở con người đã quên quá khứ.
- Bao năm tháng nuôi hy vọng về sự thức tỉnh của bạn mình, nay trăng đã đạt được. Con người đã tự nhận ra
và hối lối vì cách cư xử của mình.
- Sự cao đẹp của trăng khiến người lính giật mình nhìn lại mình để nhận ra mình đã lãng quên một phần quan
trọng của cuộc đời.
- Khổ thơ khép lại bằng hai vế đối lập, đối lập giữacái đầy đặn của ánh trăng và cái thiếu hụt của lòng người,
giữa cái “im phăng phắc” của ánh trăng và cái “giật mình” của lòng người.
* Thể thơ năm chữ được vận dụng sáng tạo, ngôn ngữ trong sáng, giọng điệu tâm tình, nhịp thơ lúc trầm lắng
lúc suy tư, lúc nhịp nhàng, tha thiết đã góp phần nổi bật chủ đề, tạo nên sự chân thành và sức truyền cảm sâu sắc
của bài thơ.
3, Kết bài: Thế giới trong bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy là vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên, quá khứ
nghĩa tình. Nó khơi dậy trong chúng ta đạo lí sống “uống nước nhớ nguồn” của nhân dân ta. Bài thơ tuy đã khép
lại nhưng đã mở ra trước mắt chúng ta biết bao điều trăn trở, suy tư về cách sống, lẽ sống trên hành trình dài,
rộng cùa mỗi người.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×