Tải bản đầy đủ

Dạy học chương 2 tin học 11 với sự hỗ trợ của e learning

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
----------

TÊN ĐỀ TÀI
DẠY HỌC CHƯƠNG 2 TIN HỌC 11
VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA E-LEARNING

Giáo viên hướng dẫn: Trần Văn Hưng
Lớp 16SPT
Nhóm 3

1


Đà Nẵng, năm 2018

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Xã hội loài người đã bước sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của trí tuệ, của nền
kinh tế tri thức, kỷ nguyên với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật và công
nghệ. Trong sự phát triển chung ngành công nghệ thông tin và truyền thông được

xem là có những đóng góp đáng kể, có vai trò then chốt. Đảng và nhà nước ta cũng
đưa ra những nghị quyết, quyết định… về việc đổi mới trong giáo dục.
Trong quá trình đổi mới, chú trọng đến thay đổi phương pháp dạy học trong đó
phương tiện dạy học đóng vai trò rất quan trọng. Các phương tiện dạy học hiện đại có
ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng phổ biến rộng rãi với ưu thế vượt trội đã tạo
ra hiệu quả tích cực cho quá trình dạy học. Hơn nữa, việc học tập không chỉ bó gọn
trong việc học phổ thông, học đại học mà là học suốt đời. E-learning chính là một
giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề này. Hình thức giáo dục điện tử (E- education)
và đào tạo từ xa (Distance learning) gọi chung là E-Learning, dựa vào công cụ máy
tính và môi trường Web(CBT/WBT), ra đời như là một hình thức học tập mới đã
mang đến cho người học môi trường học tập hiểu quả với tinh thần tự giác và tích
cực.
Sử dụng E-Learning vào dạy học giúp giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy,
tạo động cơ học tập, kích thích hứng thú nhận thức của học sinh, tích cực sang tạo
hơn trong việc học tập, qua đó các kỹ năng học được rèn luyện và năng lực tự học
của bản thân được nâng lên. Vận dụng E-Learning vào dạy học giúp giáo viên thay
đổi phương pháp dạy của mình theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học
sinh. Trên cơ sở đó, học sinh tự điều chỉnh phương pháp học tập, rèn luyện kĩ năng
chiếm lĩnh tri thức theo hướng phát huy tính tự học và tự nghiên cứu môt cách hiệu
quả nhất.

2


Thực trạng cho thấy, phương pháp truyền thống thì giáo viên và học sinh gặp một
số khó khăn như: học sinh không có nhiều điều kiện tự học các kiến thức, tự kiểm tra,
đánh giá, … nên học sinh gặp khó khăn khi điều chỉnh kế hoạch học tập phù hợp với
cá nhân học sinh. Giáo viên khó khăn trong việc quản lý, kiểm tra, đánh giá quá trình
tự học của học sinh.
Phát huy tính tích cực cho học sinh trong dạy học tin học nói chung và dạy học
“Chương 2- Tin học 11” nói riêng là một mục tiêu quan trọng của đổi mới phương
pháp dạy học tin học ở trường THPT. Thực tiễn dạy học “Chương 2- Tin học 11” còn
gặp phải một số khó khăn như chưa được làm quen với một số dịch vụ cơ bản của
Turbo Pascal hoặc Free Pascal trong việc soạn thảo, lưu trữ, dịch và thực hiện
chương trình, một số kiến thức khi dạy bằng phương pháp truyền thống thì học sinh
rất khó tiếp thu bài và không phát huy được tính tích cực của học sinh.
Những khó khăn này có thể được giải quyết nếu chúng ta ứng dụng E-Learning
nhằm khai thác những lợi thế của công nghệ thông tin và truyền thông vào trong quá
trình dạy học.
Do đó, chúng ta cần ứng dụng những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật nhất là ứng
dụng công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp dạy học. Đặc biệt, E-Learning
đáp ứng những vấn đề nêu trên, E-Learning hỗ trợ quá trình học tập, cho phép người
học mọi lúc mọi nơi và học suốt đời.
Với những lí do nói trên, chúng lựa chọn đề tài: “Dạy học “Chương 2- Tin học
11” với sự hỗ trợ của E-Learning.” - do thầy Trần Văn Hưng hướng dẫn.
Xin chân thành cảm ơn thầy đã hướng dẫn tận tình trong thời gian vừa qua.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài:
2.1 Tình hình phát triển và ứng dụng E-Learning ở nước ngoài
E-learning phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới. E-learning phát
triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ. ở châu Âu E-learning cũng rất có triển vọng,
trong khi đó châu Á lại là khu vực ứng dụng công nghệ này ít hơn.
Tại Mỹ, dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của
Chính phủ ngay từ cuối những năm 90. Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và
Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development, ASTD), năm 2000
Mỹ có gần 47% các trường đại học, cao đẳng đã đưa ra các dạng khác nhau của mô
hình đào tạo từ xa, tạo nên 54.000 khoá học trực tuyến. Theo các chuyên gia phân

3


tích của Công ty Dữ liệu quốc tế (International Data Corporation, IDC), cuối năm
2004 có khoảng 90% các trường đại học, cao đẳng Mỹ đưa ra mô hình E-learning, số
người tham gia học tăng 33% hàng năm trong khoảng thời gian 1999 - 2004. Elearning không chỉ được triển khai ở các trường đại học mà ngay ở các công ty việc
xây dựng và triển khai cũng diễn ra rất mạnh mẽ. Có rất nhiều công ty thực hiện việc
triển khai E-learning thay cho phương thức đào tạo truyền thống và đã mang lại hiệu
quả cao. Do thị trường rộng lớn và sức thu hút mạnh mẽ của E-learning nên hàng loạt
các công ty đã chuyển sang hướng chuyên nghiên cứu và xây dựng các giải pháp về
E-learning như: Click2Learn, Global Learning Systems, Smart Force...
Trong những gần đây, châu Âu đã có một thái độ tích cực đối với việc phát triển
công nghệ thông tin cũng như ứng dụng nó trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc
biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo dục. Các nước trong Cộng đồng châu Âu đều
nhận thức được tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin mang lại trong việc mở rộng
phạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục.
Công ty IDC ước đoán rằng thị trường E-learning của châu Âu sẽ tăng tới 4 tỷ
USD trong năm 2004 với tốc độ tăng 96% hàng năm. Ngoài việc tích cực triển khai
E-learning tại mỗi nước, giữa các nước châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia
trong lĩnh vực E-learning. Điển hình là dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu
EuroPACE. Đây là mạng E-learning của 36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc
các quốc gia như Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty Elearning của Mỹ Docent nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực như khoa học,
nghệ thuật, con người phù hợp với nhu cầu học của các sinh viên đại học, sau đại
học, các nhà chuyên môn ở châu Âu.
Tại châu á, E-learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều thành
công vì một số lý do như: các quy tắc, luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ưa chuộng đào
tạo truyền thống của văn hóa châu á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ
tầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia châu á. Tuy vậy, đó chỉ là
những rào cản tạm thời do nhu cầu đào tạo ở châu lục này cũng đang trở nên ngày
càng không thể đáp ứng được bởi các cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc gia
châu á đang dần dần phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà E-learning
mang lại. Một số quốc gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn tại châu
á cũng đang có những nỗ lực phát triển E-learning tại đất nước mình như: Nhật Bản,
Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc, ...
Nhật Bản là nước có ứng dụng E-learning nhiều nhất so với các nước khác trong
khu vực. Môi trường ứng dụng E-learning chủ yếu là trong các công ty lớn, các hãng
sản xuất, các doanh nghiệp... và dùng để đào tạo nhân viên.

4


2.2 Tình hình phát triển và ứng dụng E-Learning ở Việt Nam
Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về E-learning
ở Việt Nam không nhiều. Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu E-learning ở
Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn. Gần đây các hội nghị, hội thảo về
công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề E-learning và khả
năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo nâng cao chất lượng
đào tạo ĐHQGHN năm 2000, Hội nghị giáo dục đại học năm 2001 và gần đây là Hội
thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II về
nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda
9/2004, và hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do Viện Công
nghệ Thông tin (ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà
Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về E-learning đầu tiên
được tổ chức tại Việt Nam.
Các trường đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu và triển khai Elearning. Một số đơn vị đã bước đầu triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo và cho
các kết quả khả quan: Đại học Công nghệ - ĐHQGHN, Viện CNTT - ĐHQGHN, Đại
học Bách Khoa Hà Nội, ĐHQG TP. HCM, Học viện Bưu chính Viễn thông,... Gần
đây nhất, Trung tâm Tin học Bộ Giáo dục & Đào tạo đã triển khai cổng E-learning
nhằm cung cấp một cách có hệ thống các thông tin E-learning trên thế giới và ở Việt
Nam. Bên cạnh đó, một số công ty phần mềm ở Việt Nam đã tung ra thị trường một
số sản phẩm hỗ trợ đào tạo đào tạo. Tuy các sản phẩm này chưa phải là sản phẩm lớn,
được đóng gói hoàn chỉnh nhưng đã bước đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển Elearning ở Việt Nam.

3. Mục đích nghiên cứu:
Xây dựng và sử dụng được hệ thống E-Learning tin học có hiệu quả trong dạy
học “Chương 2-Tin học 11” theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
Sử dụng moodle để xây dựng hệ thống học tập trực tuyến trong Chương 2 lớp
11 của học sinh trung học phổ thông.

4. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu của đề tài, cần phải thực hiện những nhiệm
vụ sau:
-

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức hoạt động nhận thức tích cực
cho học sinh trong dạy học tin học.
5


-

Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc xây dựng và sử dụng hệ thống E-Learning
vào tổ chức hoạt động nhận thức tích cực cho học sinh.
Nghiên cứu thực trạng việc sử dụng hệ thống E-Learning trong dạy học tin học
ở trường THPT.
Xây dựng hệ thống E-Learning nhằm tổ chức hoạt động nhận thức tích cực
cho học sinh trong dạy học “Chương 2- Tin học 11”.
Xây dựng tiến trình dạy học các bài trong phần “Chương 2- Tin học 11”với sự
hỗ trợ của hệ thống E-Learning đã xây dựng.
Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá khả thi, kiểm chứng hiệu quả của
việc sử dụng hệ thống E-Learning trong tổ chức hoạt động nhận thức tích cực
cho học sinh.

4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Xây dựng hệ thống E-Learning (cấu trúc hệ thống, nội dung) và sử dụng hệ
thống E-Learning trong dạy học “Chương 2- Tin học 11”.
-

Nội dung nghiên cứu: sử dụng hệ thống E-Learning trong dạy học “Chương 2tin học 11”
Học sinh: lớp 11 THPT
Công cụ: E-Learning
Thời gian nghiên cứu: 8/2018- 1/2019

5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
5.1 Khách thể nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu của đề tài là hệ thống E-Learning dùng trong dạy học tin
học.
5.2 Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động dạy và học “Chương 2- Tin Học 11”.
Tài liệu về Elearning.
Hệ thống Moodle 3.5.
6. Giả thuyết khoa học:
Nếu xây dựng được hệ thống E-learning đáp ứng các yêu cầu của lý luận dạy học
và sử dụng hệ thống E-Learning đó trong dạy học “Chương 2- Tin học 11” thì sẽ tăng
cường hứng thú, phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập từ đó năng cao
chất lượng dạy học tin học lớp 11 THPT.

6


7. Phương pháp nghiên cứu:
Đọc tài liệu, tổng kết và kết hợp với thực hành trên hệ thống.
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Chúng tôi tham khảo một số sách, báo, các bài khóa luận, các bài nghiên cứu khoa
học có các vấn đề có liên quan tới việc hỗ trợ của E-learning trong dạy học chương 2
tin học 11.
7.2 Phương pháp quan sát khoa học
- Kiểm chứng các giả thuyết hay các lý thuyết đã có. Qua thực tiễn kiểm chứng
mới khẳng định được độ tin cậy của lý thuyết.
- Đối chiếu các kết quả nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn để tìm ra sự sai lệch
của chúng, mà tìm cách bổ khuyết, hoàn thiện lý thuyết.
7.3 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
Chúng tôi xem xét lại những thành quả của các hoạt động thực tiễn trong quá khứ
để rút ra những kết luận bổ ích cho khoa học và thực tiễn.
7.4 Phương pháp chuyên gia
Đây là phương pháp quan trọng sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia của chuyên
ngành công nghệ thông tin để hướng dẫn, xem xét, nhận định bản chất của một công
trình nghiên cứu khoa học.

7


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀ DẠY HỌC TIN HỌC
VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA E-LEARNING.
1.1 Hệ thống E-Learning và vai trò của hệ thống E-Learning trong dạy học.
1.1.1Khái niệm E-Learning
Đào tạo trực tuyến hay còn gọi là E-learning (Electronic Learning) là thuật ngữ
không còn xa lạ với chúng ta. Hiện nay theo các quan điểm và dưới các hình thức
khác nhau có rất nhiều cách hiểu về E-Learning.
-

E-Learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập (William
Horton).

-

E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên
công nghệ thông tin và truyền thông (Compare Infobase Inc).

-

E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc
quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác
nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục (MASIE Center).

-

Việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử. Việc truyền
tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ thống
giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính ( CBT ) (Sun
Microsystems, Inc).

-

Việc truyền tải các hoạt động, quá trình, và sự kiện đào tạo và học tập thông
qua các phương tiện điện tử như Internet, intranet, extranet, CD-ROM, video
tape, DVD, TV, các thiết bị cá nhân... (e-learningsite).

-

"Việc sử dụng công nghệ để tạo ra, đưa các dữ liệu có giá trị, thông tin, học tập
và kiến thức với mục đích nâng cao hoạt động của tổ chức và phát triển khả
năng cá nhân." (Định nghĩa của Lance Dublin, hướng tới e-learning trong
doanh nghiệp).

-

E-Learning là cách thức học mới qua mạng Internet, qua đó học viên có thể
học mọi lúc, mọi nơi, học theo sở thích và học suốt đời (EDUSOFT LTD.).

8


Về cơ bản theo chúng tôi, E-Learning là môi trường học tập sử dụng các
phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong việc cung cấp,
truyền tải thông tin và quản lý các hoạt động, quá trình, dữ liệu dạy và học.
Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ E-Learning được định nghĩa chi
tiết hóa, đây là phương thức học ảo thông qua một máy vi tính, điện thoại thông
minh thông qua mạng internet dưới dạng các khóa học và được quản lí bởi hệ
thống máy chủ đảm bảo sự hợp tác đáp ứng nhu cầu dạy học mọi lúc, mọi nơi.
Trong đó nội dung học tập chủ yếu được số hóa, người dạy và người học có giao
tiếp với nhau qua mạng dưới dạng các hình thức như: Email, thảo luận trực tuyến,
diễn đàn, hội thảo trực tuyến.
Trong mô hình này, hệ thống đào tạo gồm 4 thành phần, toàn bộ hoặc một
phần của những thành phần này được chuyển tải tới người học thông qua các
phương tiện truyền thông điện tử.
• Nội dung: Các nội dung đào tạo, bài giảng được thể hiện dưới dạng
các phương tiện truyền thông điện tử, đa phương tiện.
Ví dụ các bài giảng điện tử, các bài viết bằng toolbookII,…
• Phân phối: Việc phân phối các nội dung đào tạo được thực hiện thông qua
các phương tiện điện tử. Ví dụ: Tài liệu được gửi cho học viên thông qua
máy tính, mạng vệ tinh, mạng internet, intranet,…; Học viên học trên
Website, học qua đĩa CD-Rom, qua các phương tiện nghe nhìn,
multimedia,…
• Quản lý: Quá trình quản lí đào tạo được thực hiện hoàn toàn nhờ phương
tiện truyền thông điện tử. Ví dụ: Học viên muốn học thì đăng lý học qua
mạng, bằng bản tin nhắn SMS,…; Việc theo dõi tiến độ học tập (điểm
danh) của học viên được thực hiện qua mạng internet,…
• Hợp tác: Sự hợp tác, trao đổi của người học trong quá trình học tập cũng
được thông qua phương tiện truyền thông điện tử.
Ví dụ: học viên trao đổi với nhau, với người dạy thông qua việc trao đổi
thảo luận thông qua chat, diễn đàn (Rorum) trên mạng, hội thảo video,…

9


Với cách hiểu như vậy theo chúng tôi, E-Learning là môi trường học tập
với sự hỗ trợ của truyền thông
đa
phương
tiện(Internet,
Intranet, TV, video, CD-ROM,
DVD..) giúp người học chủ
động để lĩnh hội kiến thức một
cách hiệu quả dưới các hình
thức như e-mail, thảo luận trực
tuyến (chat), diễn đàn (forum),
hội thảo video,…

Mô hình E-Learning
Ưu điểm:
E-Learning đang phát triển mạnh mẽ và được coi là phương thức đào tạo cho
tương lai. Vậy điều gì khiến cho E-Learning được coi trọng như vậy?
1.1.1.1

Tất nhiên về bản chất, có thể coi E-learning cũng là một hình thức đào tạo từ xa.
Vì vậy nó có những đặc điểm khác biệt chung của đào tạo từ xa so với đào tạo truyền
thống. Những đặc điểm nổi bật của E-Learning so với đào tạo truyền thống được liệt
kê ở dưới đây:
• Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian: Sự phổ cập rộng rãi của
Internet đã dần xoá đi khoảng cách về thời gian và không gian cho E-Learning.
Một khoá học E-learning được chuyển tải qua mạng tới máy tính của người
học, điều này cho phép các học viên học bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu.
• Tính hấp dẫn: Với sự hỗ trợ của công nghệ multimedia, những bài giảng tích hợp
text, hình ảnh minh hoạ, âm thanh tăng thêm tính hấp dẫn của bài học. Người học
giờ đây không chỉ còn nghe giảng mà còn được xem những ví dụ minh hoạ trực
quan, thậm chí còn có thể tiến hành tương tác với bài học nên khả năng nắm bắt
kiến thức cũng tăng lên.
• Tính linh hoạt: Một khoá học E-learning được phục vụ theo nhu cầu người học,
chứ không nhất thiết phải bám theo một thời gian biểu cố định. Vì thế người học
có thể tự điều chỉnh quá trình học, lựa chọn cách học phù hợp nhất với hoàn cảnh
của mình.
• Dễ tiếp cận và Truy nhập ngẫu nhiên: Bảng danh mục bài giảng sẽ cho phép học
viên lựa chọn đơn vị tri thức, tài liệu một cách tuỳ ý theo trình độ kiến thức và
điều kiện truy nhập mạng của mình. Học viên tự tìm ra các kĩ năng học cho riêng
mình với sự giúp đỡ của những tài liệu trực tuyến.

10


Tính cập nhật: Nội dung khoá học thường xuyên được cập nhật và đổi mới nhằm
đáp ứng và phù hợp tốt nhất cho học viên.
• Học có sự hợp tác, phối hợp (Collaborative learning): Các học viên có thể dễ dàng
trao đổi với nhau qua mạng trong quá trình học, trao đổi giữa các học viên và với
giảng viên. Các trao đổi này hỗ trợ tích cực cho quá trình học tập của học viên.
Tất nhiên E-learning cũng có một số cách học khác. Ví dụ như, các lớp học thông
qua trang Web dùng phần mềm hội thảo video trên mạng, và các phần mềm khác cho
phép học viên ở xa tham gia một khoá học trên lớp học truyền thống. Một số khoá
học trên trang Web theo yêu cầu có giảng viên (hoặc người hướng dẫn) tương tác
thường xuyên với từng học viên hoặc với các nhóm học viên.


1.1.1.2 Nhược điểm:
Bên cạnh những ưu điểm nổi trội của e-Learning kể trên, hình thức dạy học này
còn tiềm ẩn một số hạn chế sau:
Về phía người học:
• Tham gia học tập dựa trên e-Learning đòi hỏi người học phải có khả năng làm
việc độc lập với ý thức tự giác cao độ. Bên cạnh đó, cũng cần thể hiện khả năng hợp
tác, chia sẻ qua mạng một cách hiệu quả với giảng viên và các thành viên khác
• Người học cũng cần phải biết lập kế hoạch phù hợp với bản thân, tự định hướng
trong học tập, thực hiện tốt kế hoạch học tập đã đề ra.
Về phía nội dung học tập:
• Trong nhiều trường hợp, không thể và không nên đưa ra các nội dung quá trừu
tượng, quá phức tạp. Đặc biệt là nội dung liên quan tới thí nghiệm, thực hành mà
Công nghệ thông tin không thể hiện được hay thể hiện kém hiệu quả.
• Hệ thống e-Learning cũng không thể thay thế được các hoạt động liên quan tới
việc rèn luyện và hình thành kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng thao tác và vận động.
Về yếu tố công nghệ:
• Sự hạn chế về kỹ năng công nghệ của người học sẽ làm giảm đáng kể hiệu quả,
chất lượng dạy học dựa trên e-Learning.
Bên cạnh đó, hạ tầng công nghệ thông tin (mạng internet, băng thông, chi phí…)
cũng ảnh hưởng đảng kể tới tiến độ, chất lượng học tập.

11


1.1.2 Quy định về chuẩn của hệ thống E-Learning
Cũng có các chuẩn trong E-Learning. Đối với những người làm việc trong lĩnh
vực E_learning, các chuẩn E-Learning có vai trò rất quan trọng. Không có chuẩn
E-Learning chúng ta sẽ không có khả năng trao đổi với nhau và sử dụng lại các đối
tượng học tập.
Trong một buổi trình bày tại TechLearn, Wayne Hodgins đã khẳng định rằng
chuẩn E-Learning có thể giúp chúng ta giải quyết các vấn đề sau:
-

Khả năng truy cập nội dung bài học từ một nơi xa và phân phối cho nhiều nơi
khác.
Khả năng sử dụng được nội dung học tập mà phát triển tại ở một nơi, bằng
nhiều công cụ và nền khác nhau tại nhiều nơi và hệ thống khác nhau.
Khả năng đưa ra nội dung và phương pháp đào tạo phù hợp với từng tình
huống và từng cá nhân.
Khả năng một nội dung học tập tạo ra có thể được sử dụng ở nhiều ứng dụng
khác nhau.
Khả năng vẫn có thể sử dụng được các nội dung học tập khi công nghệ thay
đổi, mà không phải thiết kế lại.
Khả năng tăng hiệu quả học tập rõ rệt trong khi giảm thời gian và chi phí.

1.1.3 Đặc điểm của E-Learning
E-Learning đang phát triển mạnh mẽ và được coi là phương thức đào tạo cho
tương lai. Vậy điều gì khiến cho E-Learning được coi trọng như vậy. Những đặc
điểm nổi bật của E-Learning so với phương thức đào tạo truyền thống được liệt
kê ở dưới đây:
Học mọi lúc mọi nơi: Sự phổ cập rộng rãi của Internet đã dần xoá đi
khoảng cách về thời gian và không gian cho E-Learning. Một khoá học ELearning được chuyển tải qua mạng tới máy tính của Bạn. Điều này cho phép
Bạn học bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu.
Học liệu hấp dẫn: Với sự hỗ trợ của công nghệ Multimedia, những bài giảng
tích hợp text, hình ảnh minh hoạ, âm thanh tăng thêm tính hấp dẫn của bài học.
Bạn giờ đây không chỉ còn nghe giảng mà còn được xem những ví dụ minh hoạ
trực quan, thậm chí còn có thể tiến hành tương tác với bài học nên khả năng nắm
bắt kiến thức cũng tăng lên.

12


Hình 3.3. Bài giảng đa phương tiện
có cả Hình ảnh minh họa; Video GV
giảng bài; Tích hợp sẵn tính năng hỗ
trợ như giải thích từ ngữ; trắc
nghiệm…

13

Hình 3.4. Thực hành trong lớp
học 3 chiều; Trải nghiệm môi
trường làm việc thực tế.


Linh hoạt về khối lượng kiến thức cần tiếp thu: Một khoá học E-Learning
được phục vụ theo nhu cầu người học, chứ không nhất thiết phải bám theo một
thời gian biểu cố định. Vì thế người học có thể tự điều chỉnh quá trình học, lựa
chọn cách học phù hợp nhất với hoàn cảnh của mình.
Nội dung thay đổi phù hợp cho từng cá nhân: Danh mục bài giảng đa
dạng sẽ cho phép học viên lựa chọn đơn vị tri thức, tài liệu một cách tuỳ ý theo
trình độ kiến thức và điều kiện truy nhập mạng của mình. Học viên tự tìm ra các
kĩ năng học cho riêng mình với sự giúp đỡ của những tài liệu tự học được phát
và tài liệu trực tuyến.
Cập nhật mới nhanh: Nội dung khoá học thường xuyên được cập nhật và
đổi mới nhằm đáp ứng và phù hợp tốt nhất cho học viên.
Học có sự hợp tác, phối hợp (Collaborative learning): Các học viên có
thể dễ dàng trao đổi với nhau qua mạng trong quá trình học, trao đổi giữa các
học viên và với giảng viên. Các trao đổi này hỗ trợ tích cực cho quá trình học
tập của học viên.
Tiến trình học được theo dõi chặt chẽ và cung cấp công cụ tự đánh
giá: Các lớp học E-Learning cung cấp cho người học kế hoạch học tập chi tiết
đến từng tuần. Cung cấp các công cụ điện tử để tự đánh giá (Ví dụ trắc nghiệm
trực tuyến; Bài tập trực tuyến). Cho phép lưu vết các hoạt động của người học.
Các dịch vụ đào tạo được triển khai đồng bộ: Trên nền tảng của hệ thống
E-Learning các dịch vụ phục vụ đào tạo cũng được triển khai đồng bộ. Như
dịch vụ giải đáp trực tuyến; Tư vấn học tập; Tư vấn hướng nghiệp; Hỗ trợ tìm
kiếm việc làm; …
1.1.4 Lợi ích của E-Learning
E-learning được xem là phương thức đào tạo cho tương lai. Về bản chất, có
thể coi E-Learning cũng là một hình thức đào tạo từ xa và nó có những đặc điểm
khác biệt so với đào tạo truyền thống. Những đặc điểm nổi bật của e-learning so
với đào tạo truyền thống là:
-

Đào tạo mọi lúc mọi nơi: truyền đạt kiến thức theo yêu cầu. Học viên có thể
truy cập các khóahọc từ bất kỳ nơi đâu như văn phòng làm việc, tại nhà, tại
14


-

-

những điểm Internet công cộng, 24giờ một ngày, 7 ngày trong tuần. Đào tạo
bất cứ lúc nào và bất cứ ai cũng có thể trở thành học viên
.
Tính linh động: học viên có thể lựa chọn cách học và khoá học sao cho phù
hợp với mình. Cóthể học khoá học có sự hướng dẫn của giáo viên trực tuyến
hoặc học các khoá học tự tương tác (Interactive self–pace course) và có sự
trợ giúp của thư viện trực tuyến.
Tiết kiệm chi phí: học viên không cần tốn nhiều thời gian và chi phí cho
việc đi lại. Bất cứ lúcnào muốn học đều có thể học được mà không mất thời
gian phải lên lớp cả ngày mà chi cầnngồi ở nhà hay trên xe bus cũng được.
Học viên chỉ tốn chi phí cho việc đăng ký khoá học và
cho Internet

-

Tối ưu: bạn có thể tự đánh giá khả năng của mình hoặc một nhóm để lập ra
mô hình đào tạo sao cho phù hợp với nhu cầu của mình.

-

Đánh giá: E-Learning cho phép các học viên tham gia các khóa học có thể
theo dõi quá trình và kết quả học tập của mình. Ngoài ra qua những bài kiểm
tra giáo viên quản lý cũng dễ dàng đánh giá mức độ tiến triển trong quá
trình học của các học viên trong khóa học.

Sự đa dạng: hàng tram khóa học chuyên sâu về kỹ năng thương mại, công
nghệ thông tin… sẵn sàng phục vụ cho việc học.
1.1.5 E-Learning xu thế sử dụng tất yếu trong dạy học của tương lai
Về bản chất E-Learning là một trong những hình thức tổ chức dạy học theo
hướng đổi mới. Điểm khác biệt của E-Learning là sử dụng tối đa những tiện ích
có thể có của công nghệ thông tin và truyền thông vào việc thực hiện chương
trình giáo dục, học tập, đào tạo, bồi dưỡng. E-Learning là đỉnh cao của công
nghệ dạy học đáp ứng được mọi tiêu chí của giáo dục đào tạo: học mọi nơi,
học mọi lúc, học mọi thứ, học mềm dẻo, học với mọi lứa tuổi, mọi đối tượng, học
một cách mở và học suốt đời.
-

Xét về góc độ nội dung chương trình học tập, dựa trên công nghệ mang kỹ
thuật đồ họa, kỹ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán e -Learning bổ sung rất tốt
cho phương pháp truyền thống. E -Learning có tính tương tác cao do đó người
học có thể chủ động học tập cho mình và có thể khai thác bất cứ tính năng
Multimedia (đa phương tiện) nào theo nhu cầu. Đồng thời e -Learning có cấu
trúc mở, mềm dẻo, nó phá bỏ cấu trúc cổ điển theo một trình tự cứng nhắc, mà
15


ở cấu trúc này các trang thông tin được coi trọng như nhau, giá trị như nhau và
có thể tiếp cận bất kỳ kiến thức nào mà không cần thiết phải thông thạo các kiến
thức khác [2].
Tính ưu việt của e -Learning được thể hiện rõ ở chỗ người học có thể học
bất cứ khi nào, ban ngày hay ban đêm, tại bất cứ nơi đâu. Với người học, e
-Learning đã mở ra một thế giới học tập mới, dễ dàng và linh hoạt hơn mà trước
đó người học không hy vọng tới, họ có thể được học với những người thầy giỏi
nhất trên thế giới với chỉ một vài phút vào mạng. E-Learning đã xóa nhòa ranh
giới địa lý, mang giáo dục đến với mọi người, mọi hoàn cảnh, lứa tuổi đặc biệt là
những người ở vùng sâu, vùng xa hoặc những người tần tật không có khả năng
đến trường. Thêm vào đó, e-Learning giúp việc học tập trở nên thú vị hơn, hấp
dẫn hơn và đặc biệt là thuyết phục hơn. Các môn học khó hoặc nhàm chán trở
nên dễ hiểu và thú vị hơn.
Với những ưu điểm như trên, hiện nay e-Learning đang thu hút được sự
quan tâm các nước trên thế giới trong đó đặc biệt là lĩnh vực giáo dục. E
-Learning đang trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức khi mà người ta
coi học tập là suốt đời.





1.1.6 Hệ thống E-Learning
1.1.6.1 Cấu trúc của hệ thống E-Learning
Về cơ bản, E-Learning sẽ có hai thành phần cơ bản, đây cũng chính là hai
thành phần chức năng tổng quát của một hệ thống e-learning.
Hệ thống quản lý học tập (LMS-Learning Management System) là một hệ thống
dịch vụ quản lý việc phân phối và tìm kiếm nội dung học tập cho người học, tức là
LMS quản lý các quá trình học tập.
Hệ thống quản lý nội dung học tập (LCMS – Learning Content Management
System): Một LCMS là một môi trường đa người dùng, ở đó các cơ sở đào tạo có
thể tạo ra, lưu trữ, sử dụng lại, quản lý và phân phối nội dung học tập trong môi
trường số từ một kho dữ liệu trung tâm. LCMS quản lý các quá trình tạo ra và phân
phối nội dung học tập.
Căn cứ vào hoạt động dạy học, đặc điểm của hệ thổng E-Learning, chuẩn
của hệ thống E-Learning theo một tổ chức chuyên nghiên cứu và khuyến khích
phát triển, phân phối học liệu sử dụng các công nghệ mới(Advanced Distributed
learning), cấu trúc của hệ thống E-learning được thể hiện qua sơ đồ sau:

16


Sơ đồ cấu trúc hệ thống E-Learning:
Kết quả dự kiến

Giảng viên (A)

Học viên
(B)

Cổng thông tin người dùng
Các công cụ thiết kế
bài giảng điện tử
-Phần cứng
-Phần mềm

Phòng xây dựng
chương trình

Hệ thống quản
lý nội dung
LCMS

Ngân hàng
kiến thức

Hệ thống
quản lý học
tập LMS

Ngân hàng bài
giảng điện tử

Các công cụ:
-Thư viện điện tử
-Trò chơi
-Phòng thực hành ảo
-Các công cụ ảo

Phòng quản lí
đào tạo

1.1.6.2 Chức năng của hệ thống E-Learning
17


Các chuyên viên
phát triển nội dung

Giảng viên

1 LCMS
2

LMS

Công cụ
thiết kế nội
dung học
tập

Dịch vụ
từ xa

Hồ sơ Học
viên

Quản lí hồ sơ
người dùng

Ngân hàng
nội dung

Môi trường
phân phối

LMS từ xa

Quản lí
khóa học

Quản lý nội
dung học tập

LCMS từ xa

Dịch vụ
từ xa

Công cụ
cho giảng
viên

Công cụ tích
hợp nội
dung học
tập

Công cụ truy
nhập, đánh giá

Công cụ theo
dõi trình độ học
tập

Quản lí
đăng nhập

Môi trường
phân phối

H

c

Sơ đồ chức năng hệ thống E-Learning

1.1.6.3 Mô hình ứng dụng E-Learning trong trường học
E-Learning

Mô hình kết hợp

Lớp học truyền thống
Mức 1: E-Learning bố sung 18
cho lớp học truyền thống


Mức 2: E-Learning giúp
đào tạo một nội dung học
tập hoàn toàn trên mạng
Mức 3: E-Learning giúp
đào tạo một khóa học
hoàn toàn trên mạng

Mức một, giáo viên có thể thiết kế, đóng gói và truyền tải nội dung học tập, tạo
diễn đàn, hướng dẫn tự học trên mạng song song với việc học trên lớp truyền thống
tức là E-Learning bổ sung cho lớp học truyền thống
Mức hai, Giáo viên yêu cầu học sinh phải tham học trên mạng một đơn vị, một
phần nào đó trong chương trình giảng dạy mà không được đào tạo trên lớp truyền
thống.
Mức ba, giáo viên tiến hành giảng dạy một môn học nào đó hoàn toàn trên mạng,
có sự kết hợp chặt chẽ với nhà trường, học sinh tham gia và được đánh giá kết quả
trực tiếp trên mạng.
1.1.7 Vai trò của hệ thống E-Learning
Vai trò của hệ thống E-Learning trong dạy học tin học trong việc phổ biến
kiến thức cho mọi người:
-

Đổi mới phương pháp dạy học
Hỗ trợ quá trình giảng dạy của giáo viên
Hỗ trợ quá trình học tập của học sinh
Làm công cụ quản lí hoạt động dạy và học

1.1.8 Thực trạng dạy học tin học hiện nay.
+ Hiện tại Tin học đã được Bộ Giáo dục & Đào tạo chính thức đưa vào
chương trình phân ban cho khối THPT, bắt đầu từ năm học tới (2006-2007) việc
triển khai môn học này sẽ trở thành bắt buộc trên phạm vi toàn quốc. Đồng thời Bộ
cũng đã thiết lập khung chương trình môn Tin học là môn học tự chọn cho các cấp
Tiểu học và Trung học Cơ sở.
+ Đã có khá nhiều Tỉnh, Thành phố đã và đang triển khai các chương trình
này. Tuy nhiên trên thực tế các nhà trường và giáo viên vẫn đang rất lúng túng
19


trong việc triển khai giảng dạy môn học này. Các khó khăn phát sinh từ rất nhiều
nguyên nhân khác nhau: không có hoặc không đủ phòng thực hành, giáo viên
giảng chay không có máy tính trình diễn, bất cập trong chương trình sách giáo
khoa với thực tế, cấu hình máy tính quá thấp, chưa có kinh nghiệm trong việc
giảng dạy môn học này,... Và tất nhiên là còn rất nhiều nguyên nhân khác nữa.
+ Ngoài ra chương trình dạy học tin học hiện nay cũng không phù hợp đối
với học sinh. Hiện nay trên thế giới lĩnh vực tin học nói riêng hay CNTT nói chung
đang có những bước phát triển vượt bậc. Nhưng nhìn lại chương trình tin học nước
ta vẫn chưa cập nhập, kiến thức vẫn như cũ, tụt hậu so với kiến thức tin học của thế
giới. Điều này làm cho cả học sinh và giáo viên đều khó khăn trong việc tiếp cận,
cập nhập và tiếp thu những kiến thức mới về tin học.
1.1.9 Thực trạng sử dụng E-Learning trong dạy học
Qua điều tra thực trạng về ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông
trong dạy học, thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông
của giáo viên và học sinh có những thuận lợi và khó khăn sau:
1.1.9.1 Thuận lợi
Thứ nhất, đối với nội dung học tập:
-

-

Hỗ trợ các “đối tượng học” theo yêu cầu cá nhân hóa việc học. Nội dung
học đã được phân chia theo từng linh lĩnh vực, ngành nghề rõ ràng thuận lợi
cho học sinh có thể chọn những khóa học phù hợp với nhu cầu học tập của
mình.
Nội dung môn học được cập nhật, phân phối dễ dàng, nhanh chóng. Với sự
phát triển nhanh chóng của trình độ kỹ thuật công nghệ, các chương trình
đào tạo được thay đổi, cập nhật thường xuyên phù hợp với thông tin, kiến
thức của từng giai đoạn phát triển của thời đại. Đối với hệ thống ELearning, việc hoàn toàn đơn giản vì để cập nhật nội dung môn học chỉ cần
sao chép các tập tin được cập nhật từ một máy tính địa phương tới máy chủ.
Tất cả các học sinh sẽ có được phiên bản mới nhất trong máy tính trong lần
truy cập sau. Hiệu quả tiếp thu bài học của học viên được nâng lên vượt bậc
vì học sinh sẽ được chọn học với giáo viên tốt nhất, tài liệu mới nhất cùng
với giao diện đẹp mắt với những hình ảnh sinh động, vui nhộn…

Thứ hai, đối với học viên:
Hệ thống E_Learning hỗ trợ theo khả năng cá nhân, học sinh có thể học bất
kì thời gian nào và có thể chọn phương pháp học thích hợp cho riêng mình. Bên
20


cạnh đó, học sinh có thể chủ động thay đổi tốc độ học sao cho phù hợp với bản
thân, giảm căng thẳng và tăng hiệu quả học tập.
Thứ ba, Đối với giáo viên:
Giáo viên có thể theo dõi học sinh dễ dàng hơn. E-Learning cho phép dữ
liệu được tự động lưu trên máy chủ, thông tin này có thể được thay thế từ phía
người truy cập khóa học. Giáo viên có thể đánh giá chất lượng học tập của học
sinh. Thông qua việc giao bài tập, chữa bài và tiếp thu các ý kiến trao đổi của
học sinh, giáo viên có thể nắm được học sinh hiểu bài, những vướng mắc học
sinh gặp phải, đánh giá ý thức học tập của học viên thường xuyên và chính xác
hơn.
Thứ tư, chi phí triển khai thấp:
Hiện nay, Học viện đang xây dựng hệ thống E-Learning dựa trên công
nghệ Moodle. Đây là một phần mềm mã nguồn mở (miễn phí) nên bất kỳ tổ
chức, cá nhân nào cũng có thể nghiên cứu, thay đổi và cải tiến phù hợp với mục
đích của mình. Do vậy, việc xây dựng và quản lý hệ thống E-learning không
tốn kém nhiều chi phí và nhân lực.
1.1.9.2 Khó khăn
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, qua trình áp dụng bài giảng có sự hỗ
trợ của E-Learning cũng gặp phải một số bất cập và khó khăn sau đây:
- Vẫn còn nhiều học sinh ý thức tự học chưa cao, tính chủ động trong học tập
còn hạn chế. Sử dụng phương pháp học tập E-learning đòi hỏi người học phải
có khả năng làm việc độc lập với ý thức tự giác cao, tuy vậy nhiều học viên
vẫn chưa chủ động khai thác hết tiện ích mà E-Learning đem lại. Ngoài ra, kỹ
năng dùng máy tính của các học viên chưa đồng đều, học viên có sự chênh lệch
về độ tuổi, thực tế công tác. Do đó, có nhiều học viên gặp khó khăn trong việc
sử dụng hệ thống E-learning để phục vụ học tập.
Hạ tầng công nghệ thông tin chưa được đầu tư đầy đủ, lực lượng quản trị hệ
thống còn mỏng, chưa được trang bị kiến thức sâu rộng để chủ động xử lý các
sự cố xảy ra. Ngoài ra, hệ thống E-learning của Học viện mới được triển khai
trong mạng nội bộ, chưa triển khai trên mạng Internet, nên chỉ học viên trong
khu vực Học viện có thể truy cập vào hệ thống E-learning. Điều này sẽ gây
khó khăn cho những học sinh không tập trung, học sinh địa phương hoặc đối
với học sinh trong thời gian nghỉ hè không sử dụng được hệ thống E-learning.
21


-

Một số giáo viên chưa có đủ điều kiện, thời gian cần thiết để áp dụng có hiệu
quả phương pháp giảng dạy mới theo mô hình E-Learning. Trên thực tế, để
triển khai áp dụng phương pháp giảng dạy này, Giáo viên cần nhiều thời gian
để chuẩn bị bài giảng điện tử, thường xuyên cập nhật thông tin, giải đáp các
thắc mắc cho học viên qua e-mail, diễn đàn… Tuy vậy, hiện nay một số giáo
viên vẫn phải lên lớp quá nhiều, không có đủ thời gian cần thiết để chuẩn bị bài
giảng điện tử, nghiên cứu thay đổi phương pháp dạy học mới, chủ yếu giao bài,
chữa bài qua mạng của E-learning.
- Kỹ năng xây dựng bài học theo chuẩn E-Learning của một số giáo viên chưa
đáp ứng được yêu cầu đặt ra, phần lớn mới dừng lại ở việc soạn bài để giảng
dạy trực tiếp, dưới hình thức Power Point. Bên cạnh đó, hệ thống tài liệu tham
khảo các môn học đưa lên mạng còn sơ sài, chất lượng chưa cao, nguồn gốc
chưa rõ ràng, dễ nảy sinh nhiều vấn đề về bản quyền, những tài liệu dung
lượng lớn hơn 20MB chưa được hệ thống hỗ trợ upload.

1.2 Kết luận chương 1
Chương 1 đã góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng
dụng hệ thống E-Learning hỗ trợ dạy học môn tin học theo hướng tăng cường tích
cực, chủ động cho người học.
Trong chương này chúng tôi đã hệ thống hóa quan điểm của một số tác giả về
phương pháp dạy học tích cực, chủ động, sáng tạo của người học trong học tập. Từ
đó đưa ra được những biện pháp tốt hơn để phát huy tính tích cực của học sinh
trung học phổ thông.
Qua chương 1 chúng tôi đã trình bày được tổng quan về E-learning. Thực trạng
cho thấy ứng dụng E-Learning vào dạy học ở thế giới và Việt Nam mang lại rất
nhiều ưu điểm, phù hợp với những đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn
hiện nay. Điều đó khẳng định được sự cần thiết của việc ứng dụng công nghệ thông
tin vào quá trình dạy học nói chung hay sử dụng hệ thống E-Learning hỗ trợ quá
trình dạy học nói riêng.
Như vậy, E-Learning có nhiều ưu điểm hơn so với phương pháp dạy học truyền
thống, tạo ra được môi trường rất tốt phục vụ cho phương pháp dạy học tương tác,
cá nhân hóa người học. Tuy vậy, cùng với những nhược điểm nêu trên, E-Learning
không phải là một giải pháp tối ưu và không thể thay thế hoàn toàn phương pháp
dạy truyền thống.

22


Vì vậy, một giải pháp kết hợp là sử dụng E – Learning và những phương pháp
giảng dạy truyền thống song song. Người học có thể thực hiện mọi hoạt động học
tập có thể trên E-Learning, tham gia như đang học trên một khóa học thực sự. Trừ
giờ thực hành, thí nghiệm sẽ phải lên phòng thí nghiệm để tiếp cận thực sự với
công việc. Ngoài ra, có thể gặp giáo viên trong một số buổi để thảo luận, trao đổi
và giải quyết một số vấn đề nhằm mục đích rèn luyện kĩ năng giao tiếp xã hội.
E-Learning đang là xu hướng chung của giáo dục thế giới. Việc triển khai ELearning trong giáo dục đào tạo là một xu hướng tất yếu nhằm đưa giáo dục Việt
Nam tiếp cận với giáo dục thế giới.

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ KHÓA HỌC TRỰC TUYẾN
TRÊN PHẦN MỀM MOODLE 3.5
2.1 TỔNG QUAN VỀ MOODLE:1
Moodle (viết tắt của Modular Object-Oriented Dynamic Learning
Environment) là một hệ thống quản lý học tập LMS (Learning Management
1 Theo Wikipedia

23


System) mã nguồn mở (miễn phí và có thể chỉnh sửa mã nguồn) cho phép tạo ra
các khóa học trên mạng Internet hoặc các website học tập trực tuyến. Moodle được
sáng lập năm 1999 do Martin Dougiamas, người tiếp tục điều hành và phát triển
chính của dự án.
Moodle được thiết kế với mục đích tạo ra những khóa học trực tuyến với sự
tương tác cao và đây là một nền tảng học tập được thiết kế để hướng tới giáo dục,
cung cấp cho các nhà giáo dục, quản trị viên và người học với một hệ thống mạnh
mẽ, an toàn và tích hợp để tạo ra môi trường học tập cá nhân hóa.
2.2 LỢI ÍCH CỦA MOODLE:2
• Được chứng minh và đáng tin cậy trên toàn thế giới
Cung cấp hàng chục ngàn môi trường học tập trên toàn cầu , Moodle được các tổ
chức và tổ chức tin cậy lớn và nhỏ, bao gồm Shell, Trường Kinh tế London, Đại
học bang New York, Microsoft và Đại học Mở. Số lượng người dùng trên toàn thế
giới của hơn Moodle hơn 90 triệu người dùng trên cả hai lĩnh vực học tập và doanh
nghiệp làm cho nó trở thành nền tảng học tập được sử dụng rộng rãi nhất trên thế
giới.


Được thiết kế để hỗ trợ cả việc dạy và học

Với hơn 10 năm phát triển được hướng dẫn bởi phương pháp sư phạm xây dựng xã
hội , Moodle cung cấp một tập hợp mạnh mẽ các công cụ học tập làm trung tâm và
môi trường học tập cộng tác giúp trao quyền cho cả dạy và học.


Dễ sử dụng

Một giao diện đơn giản, các tính năng kéo và thả, và các tài nguyên được làm tài
liệu cùng với các cải tiến khả năng sử dụng liên tục làm cho Moodle dễ học và sử
dụng.


Miễn phí không có phí giấy phép

Moodle được cung cấp miễn phí dưới dạng phần mềm nguồn mở , theo Giấy phép
Công cộng GNU . Bất cứ ai cũng có thể điều chỉnh, mở rộng hoặc sửa đổi Moodle
cho cả các dự án thương mại và phi thương mại mà không có bất kỳ khoản phí cấp
phép nào và hưởng lợi từ chi phí hiệu quả, tính linh hoạt và các lợi thế khác khi sử
dụng Moodle.


Luôn cập nhật

2 Nguồn Internet

24


Phương pháp tiếp cận nguồn mở của dự án Moodle có nghĩa là Moodle liên tục
được xem xét và cải tiến để phù hợp với nhu cầu hiện tại và phát triển của người
dùng.


Moodle bằng ngôn ngữ của bạn

Khả năng đa ngôn ngữ của Moodle đảm bảo không có giới hạn ngôn ngữ học trực
tuyến. Cộng đồng Moodle đã bắt đầu dịch Moodle sang hơn 120 ngôn ngữ (và
đếm) để người dùng có thể dễ dàng bản địa hóa trang Moodle của họ, cùng với
nhiều tài nguyên, hỗ trợ và thảo luận cộng đồng bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau.


Nền tảng học tập tất cả trong một

Moodle cung cấp bộ công cụ linh hoạt nhất để hỗ trợ cả khóa học kết hợp và các
khóa học trực tuyến 100%. Định cấu hình Moodle bằng cách bật hoặc tắt tính năng
cốt lõi và dễ dàng tích hợp mọi thứ cần thiết cho khóa học bằng cách sử dụng đầy
đủ các tính năng tích hợp sẵn, bao gồm các công cụ cộng tác bên ngoài như diễn
đàn , wiki , trò chuyện và blog .


Tính linh hoạt cao và có thể tùy chỉnh hoàn toàn

Bởi vì nó là mã nguồn mở, Moodle có thể được tùy biến theo bất kỳ cách nào và
phù hợp với nhu cầu cá nhân. Thiết kế mô đun và thiết kế tương thích của nó cho
phép các nhà phát triển tạo các plugin và tích hợp các ứng dụng bên ngoài để đạt
được các chức năng cụ thể. Mở rộng những gì Moodle thực hiện bằng cách sử
dụng các plugin và tiện ích bổ sung miễn phí - khả năng là vô tận!


Có thể mở rộng ở mọi kích thước

Từ một vài sinh viên đến hàng triệu người dùng, Moodle có thể được thu nhỏ để hỗ
trợ nhu cầu của cả hai lớp học nhỏ và các tổ chức lớn. Do tính linh hoạt và khả
năng mở rộng của nó, Moodle đã được điều chỉnh để sử dụng trong các bối cảnh
giáo dục, kinh doanh, phi lợi nhuận, chính phủ và cộng đồng.


Mạnh mẽ, an toàn và riêng tư

Cam kết bảo vệ bảo mật dữ liệu và quyền riêng tư của người dùng , các điều khiển
bảo mật liên tục được cập nhật và triển khai trong các quy trình phát triển và phần
mềm của Moodle để bảo vệ khỏi truy cập trái phép, mất dữ liệu và lạm
dụng. Moodle có thể dễ dàng được triển khai trên một máy chủ hoặc máy chủ bảo
mật riêng để kiểm soát hoàn toàn.


Sử dụng mọi lúc, mọi nơi, trên mọi thiết bị
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×