Tải bản đầy đủ

Lí luận triết học đối với tư duy lí luận và thế giói quan 10

A. Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài:
Nh Ph.Ăng ghen đã từng nói Một dân tộc muốn đứng
vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có
t duy lí luận

(1)

. Nói nh vậy thì con ngời muốn có hiểu biết

sâu rộng thì trớc hết cũng phải cần đến t duy lí luận mà
để có t duy lí luận thì không có gì khác hơn là phải
nghiên cứu triết học.
Triết học là một trong những môn khoa học xuất hiện
vào loại sớm nhất của con ngời (khoảng thế kỉ VIII đến thế
kỉ VI trớc CN). Từ đó đến nay, triết học đã trải qua một quá
trình lịch sử lâu dài với nhiều cuộc đấu tranh giữa các trờng phái để tìm ra chân lí. Trong các quan điểm khác
nhau đó vẫn có đặc điểm chung là xem xét thế giới trong
tính chỉnh thể và khái quát, tìm ra các quy luật chi phối
trong tính chỉnh thế đó bao gồm tự nhiên xã hội con ngời.
Triết học ra đời từ đời sống xã hội và tự nhiên của mình nên

lẽ dĩ nhiên triết học có vai trò rất quan trọng đối với cuộc
sống hiện tại nhất là bản chất mỗi con ngời với đời sống.
Sự ra đời của triết học Mác Lênin vào cuối XIX đầu
XX đã chấm dứt cuộc khủng hoảng dài trong t tởng triết học,
nó giúp con ngời có cái nhìn đúng đắn hơn về các vấn đề
tự nhiên và xã hội. Đối với thời đại ngày nay lí luận triết học
có vai trò cực kì quan trọng bởi hai chức năng cơ bản của
triết học là chức năng thế giới quan và chức năng của phơng
pháp luận là hai điều kiện cơ bản đối với sự phát triển t duy
và nhận thức của mỗi con ngời. Chúng ta đều nhận thấy
1


rằng tất các quốc gia từ các trờng học từ bậc THPT trở lên
đều cho học sinh học triết học để có một cái nhìn toàn
diện biện chứng về thế giới.
Becơli đã từng nói Triết học bắt đầu chính là sự
bùng nổ nỗi lo lắng sống động của cá nhân con ngời. Còn
G.Hêghen khẳng định Tôi biết nhiều nghành khoa học
tuyệt vời nhng tôi không biết ngành khoa học nào tuyệt vời
hơn triết học. Dù cố gắng mà không quan tâm đến triết
học, Các khoa học khác thiếu nó thì vẫn không có sự sống,
tinh thần chân lí

(2)

. Nh vậy triết học không chỉ đóng vai

trò to lớn đối với bản thân mỗi con ngời mà nó còn đặc biệt
quan trọng với chính ngời nghiên cứu nó. Càng học lên cao
thì sự tiếp xúc và nghiên cứu của con ngời về triết học lại
càng đợc nhân cao chứng tỏ lí luận triết học đối với hiện tại
đợc biểu hiện rõ con ngời và mối quan hệ của cuộc sống vô
cùng mật thiết với nhau. Bản thân tôi là sinh viên đầu khoá
nhng đã từng học khá kĩ về lịch sử triết học và nội dung cơ
bản của triết học ở trờng phổ thông và giờ đây khi đã trở
thành một sinh viên đại học, chúng tôi lại tiếp tục đợc nghiên
cứu sâu hơn Lí luận triết học đối với t duy lí luận và thế
giói quan. Qua việc học tập và nghiên cứu triết học và cũng
nh để nhìn một cách cụ thể hơn nên tôi đã chọn đề tài
Lí luận triết học đối với cuộc sống hiện tại.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Bàn về Lí luận triết học đối với cuộc sống hiện tại từ
trớc đến nay đã có rất nhiều ngời. Nhng tôi xin trích ra một
số bài tiêu biểu
2


- Cùng triết học vững bớc tiến vào kỉ nguyên mới (Bùi
Quang Minh)
Sản xuất 27/04/2003 Hà Nội Software Jsc.
- Triết học và cuộc sống Lê Thi/ - chungta.com
(7/9/2005).
- Triết học Mác với thời kì hiện tại ngày nay Mang
Nguyên Chính (Ban nghiên cứu giảng dạy Triết học trờng
Đảng TWĐCSTQ).
- Vấn đề chức năng dự báo Triết học Nguyễn Tiến
Dũng đăng trên tạp chí Triết học.
- Triết học có thể đóng vai trò gì trong cuộc sống?
GS.TS Lê Hữu Tầng. Tạp chí Triết học (06/08/2006).
- Vai trò định hớng của Triết học trong nhận thức và
giải quyết những vấn đề toàn cầu ở thời đại hiện nay Đặng Hữu Toàn Tạp chí Triết học (01/11/2006).
Và mới đây nhà nớc mới đăng cai tổ chức Hội thảo
quốc tế nhận thức lại lí luận triết học đối với cuộc sống hiện
tại diễn ra tại Hà Nội. Tôi không đợc may mắn dự hội thảo
và cũng không đợc biết hết về những nội dung cuộc thảo
luận đó. Hay bài viết trên cũng mới chỉ bàn về lí luận triết
học trong cuộc sông hiện tại đợc diễn ra trong quá trình
công nghiệp hoá và xu thế toàn cầu hoá trong thời đại ngày
nay, cha có sự khái quát đầy đủ và hệ thống về lí luận
triết học đối với cuộc sống hiện tại.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài.
3.1. Mục đích
3


Trong bớc chuyển to lớn của chủ nghĩa xã hội, thế giới
quan triết học thể hiện tầm vóc lớn lao của mình. Chúng ta
tìm đến và đề cao vai trò Lí luận triết học với mỗi ngời và
nền văn hoá chung của nhân loại. Nh lời C.Mác nói, t tởng
triết học ở mỗi thời đại là Sự kết tinh tinh thần của thời
đại. Triết học không vốn chỉ là thành quả t duy và văn
minh nhân loại có ý thức và không có ý thức mà là nhu cầu
không thể thiếu của con ngời từ xa đến nay. Dù là con ngời
của các thời đại trớc hay của thế giới hôm nay thì cũng phải
tự tìm câu trả lời về ý nghĩa cuộc sống, về hiện tại và tơng lai của mình, về cách thức đấu tranh cho hạnh phúc cá
nhân và của mọi ngời. ý tởng triết học luôn là những kết
luận sâu sắc, sáng tạo, toàn diện trả lời không có giới hạn
cho các vấn đề mà Tinh thần của thời đại đặt ra và đòi
hỏi phải đợc giải quyết.
Bài viết này tôi nhằm mục đích khái quát lí luận triết
học đối với cuộc sống hiện tại một cách đầy đủ và khái quát
nhất khẳng định sự to lớn của triết học đối với hiện tại ở
nhiều mặt khác nhau. Trong đó khẳng định lí luận triết
học mang định hớng thế giới quan và phơng pháp luận của
triết học Mác Lênin.
3.2.Nhiệm vụ
Khái quát lại lí luận triết học đối với cuộc sống hiện tại
đồng thời nhìn nhận đánh giá nhiều mặt của triết học.
4. Phơng pháp nghiên cứu

4


Trong quá trình nghiên cứu tôi đã thu thập tài liệu, đọc
tài liệu thống kê so sánh, phân tích. Trên cơ sỏ vận dụng
phơng pháp biện chứng duy vật xử lí các tài liệu liên quan
để làm rõ nội dung đề tài.
5. ý nghĩa đề tài
Thấy đợc lí luận triết học trong nhận thức và t duy, vận
dụng những lí luận triết học vào cuộc sống bản thân để
góp phần phát triển triết học Mác Lênin vào hiện tại cuộc
sống kinh tê xã hội nớc ta: Công cuộc công nghiệp hoá - hiện
đại hoá trong xu thế toàn cầu trong qúa trình xây dựng
chế độ chủ nghĩa xã hội ngày càng phát triển hơn.
6. Bố cục đề tài
Gồm ba chơng. Mỗi chơng sẽ nêu cụ thể về:
- Sự ra đời và phát triển triết học.
- Quan điểm lí luận triết học với cuộc sống hiện tại.
- Lí luận triết học đối với cuộc sống hiện tại ngày
nay.
Đợc nêu cụ thể nh sau:
Chơng I: Sự ra đời và phát triển của triết học
1 Khái niệm triết học
2 Sự phát triển và lí luận của triết học trớc Mác
3 Sự phát triển và lí luận của triết học Mác - xít
Chơng II: Quan điểtm về lí luận triết học
1 Quan điểm tuyệt đối hoá lí luận triết học
5


2 Quan điểm phủ nhận lí luận triết học
3 Quan điểm đúng đắn về lí luận triết học
Chơng III: Lí luận triết học đối với cuộc sống hiện tại
1 Lí luận triết học với thế giới quan khoa học biện chứng
2 Lí luận triết học với phơng pháp luận khoa học biện
chứng
3 Lí luận triết học đối với các ngành khoa học khác
4 Sự cần thiết phải học tập triết học

B. Nội dung
6


Chơng I: Sự ra đời và phát triển của triết học
1. Khái niệm triết học
F. Becơn đã nói rằng : Con ong khai thác vật liệu từ
hoa ngoài vờn và ruộng động, nhng sự dụng và biến đổi nó
phù hợp với khả năng và chủ định của mình. Công việc của
nhà triết học cũng không khác gì công việc đó

(1)

. Chúng

ta đã biết triết học không ra đời cùng với sự xuất hiện của
loài ngời. Nó chỉ ra đời khi nhận thức của con ngời phát
triển đến mức cao đã nhận thức đợc sự vật hiện tợng một
cách khái quát gián tiếp. Nghĩa là khi đó có sự phân chia
giữa lao động chân tay và lao động trí óc. Sự ra đời của
các t tởng triết học và các nhà triết học không phải là ngẫu
nhiên mà nó đợc hình thành trên những điều kiện lịch sử
và kinh tế xã hội nhất định. Điều đó giải thích vì sao vào
thế kỉ VIII VI trớc CN triết học lại ra đời ở những quốc gia
có nền văn minh tiên tiến nh ấn Độ, Trung Quốc...
Triết theo nghĩa Hán là trí bao hàm sự hiểu biết
nhận thức sâu rộng về mọi mặt và đạo lí.
Theo ấn Độ triết đợc gọi là darshana nghĩa là sự
chiêm ngỡng dựa trên lí trí là con đờng suy ngẫm để dẫn
dắt con ngời đến với lẽ phải.
ở phơng Tây, triết học bát nguồn từ hai chữ phileo
và sophia nghĩa là lòng yêu mến sự thông thái
Nhà triết học thông thái có khả năng nhận thức đợc
chân lí, làm sáng tỏ bản chất của sự vật

(2)

7


Từ khi ra đời cho đến nay đã có rất nhiều ý kiến khác
nhau nhất là định nghĩa về triết học trớc đây. Có thể quy
triết học theo nghĩa rộng về các vấn đề sau đây: tôi biết
gì? làm gì? tôi sẽ hy vọng vào gì? con ngời là gì? Và theo
giả thiết triết học Mác Lênin, triết học là một hệ thống lí
luận chung nhất của con ngời về thế giới, về bản thân con
ngời và vị trí của con ngời trong thế giới đó.
Khái niệm đó cho thấy đặc điểm nổi bật của triết
học mang tính chất khái quát và trừu tợng. Nó là hình thái xã
hội cổ xa nhng khác với khoa học, đạo đức nghệ thuật nó
xem xét thế giới trong một chỉnh thể, nhận thức bản chất
của thế giới, vạch ra những động lực phát triển và biến đổi
của thế giới. Chính vì vậy lí luận học là Hạt nhân lí luận
thế giới khách quan, giữ vai trò định hớng cho quá trình
củng cố phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân mỗi cộng
đồng lịch sử

(3)

.

Tuy nhiên không phải triết học luôn khẳng định vị trí
của mình trong đời sống hiện tại mà quá trình triết học từ
thời cổ đại đến nay đã cho thấy sự phức tạp của hiện thực
đời sống khi đánh giá vấn đề gì.
2. Sự phát triển lí luận của triết học trớc Mác
Quá trình phát triển của hệ thống lí luận chung nhất
về con ngời và thế giới đợc diễn ra trong một quá trình phát
triển lịch sử lâu dài không phải lúc nào cũng thuận lợi mà
đây khó khăn trắc trở. Chính những điều đó đã làm nên
sự đa dạng phong phú cho hệ thống nhân loại. Quá trình tr-

8


ớc Mác có thể chia làm hai hệ thống chính là: triết học phơng Đông và triết học phơng Tây.
2.1. Đặc điểm và lí luận triết học phơng Đông
2.1.1. Triết học ấn Độ
ấn Độ không có các nhà triết học tiêu biểu nhng thành
chín trờng phái triết qua các thời kì tri thức và thế giới hết
sức đồ sộ. Đặc điểm của triết học ấn Độ là chịu ảnh hởng
sâu sắc của t tởng tôn giáo và nghi lễ huyền bí. Vì thế
triết học tập trung nghiên cứu các vấn đề nhân sinh quan
tôn giáo dới góc nhìn tâm linh. Mặc dù mang yếu tố duy
tâm nhng các phái này đã đa ra tri thức, mang biện chứng
có sự đóng góp vào kho tàng tri thức. Tiếu biểu cho phái
này là phật giáo với những t tởng tiến bộ. Phật giáo ngày
naylà một trong bốn tôn giáo lớn có ảnh hởng rất lớn tới cuộc
sống hiện tại.
2.1.2. Triết học Trung Quốc
Triết học Trung Quốc cổ đại xuất hiện trong thời kì nô
lệ tan rã chuyển sang chế độ nô lệ cát cứ nêu ra giải quyết
vấn đề chính trị. Triết học Trung Quốc cũng là một kho tri
thức khổng lồ đề cập đến vấn đề cơ bản của triết học
nh vật chất, ý thức, lí luận, quan điểm triết học nhân sinh.
Những t tởng này có vai trò quan trọng ảnh hởng sâu rộng
đến các vấn đề tri thức ở Trung Quốc và các nớc lân cận
nh Việt Nam.
Kết luận

9


Triết học phơng Đông do xuất phát điểm của các nhà
triết học là các chính trị gia nên họ u tiên giải quyết vấn đề
chính trị và mang tính chất hớng nội. Mặt khác các trờng
phái ra sau đều thừa nhận những ngời đi trớc. Đồng thời do
chịu sự ảnh hởng sâu sắc của tôn giáo cuối cùng duy tâm
và nhị nguyên luận. Vì thế triết học phơng Đông có sự trì
trệ, tạo nên sức ỳ trong một thời gian dài. Ngời ta nói Phơng Đông đi trớc về sau chính là vậy.
2.2. Đặc điểm lí luận của triết học phơng Tây
2.2.1. Triết học phơng Tây thời cổ đại
Khác với các triết học phơng Đông, triết học phơng Tây
mà tiêu biểu là triết học Hi Lạp đã đề ra rất nhiều vấn đề
thế giới quan về bản chất lí luận, về nguồn gốc, sự tồn tại,
về nguồn gốc của thế giới Do có sự hoà lẫn của các ngành
khoa học nên nếu là triết học duy vật thì mang tính chất
duy vật thô sơ chất phác, nếu là triết học duy tâm thì
cũng gắn liền với tôn giáo, tín ngỡng của nó cũng rất đa
dạng: duy tâm khách quan, duy tâm hoài nghi, không thể
biết. Giữa hai trờng phái này có sự đấu tranh gay gắt
không khoan nhợng là biện chứng và siêu hình.
Có thể khẳng định triết học Hi Lạp cổ đại đã đặt ra
hầu hết vấn đề cơ bản mà sau này các học thuyết khác sẽ
từng bớc giải quyết. Triết học cổ đại cũng đặt ra nền móng
của khoa học tự nhiên. Đó là thuyết nguyên tử Heraclit Lời
đánh giá của Các Mác Ngời Hi Lạp vẫn mãi là ngời thầy của
chúng ta

(1)

cho thấy sự ảnh hởng lớn lao của triết học Hi Lạp

đối với sự phát triển của nhân loại.
10


2.2.2. Triết học phơng Tây thời trung cổ
Ra đời trên xã hội phong kiến Tây Âu, chịu ảnh hởng
sâu sắc của t tởng phong kiến và nhà thờ cơ đốc triết học.
Thời kì tôn giáo và nhà thờ, với ý đồ xoay triết học về một
hớng khác, tôn giáo đã pha trộn nhiều nguyên lí với lời dạy của
kinh thánh thành một mớ lí luận huyền bí, viễn vông, độc
đoán đến lí trí dựa vào lòng tin, lấy tâm linh giải thích
thân thể, lấy tinh thần để chứng thực vật chất và tam
đoạn luận lên thành mục đích tối đa của triết học. Việc
đem tôn giáo vào tất cả các lĩnh vực hoạt động của trí tuệ
với phơng pháp suy luận hình thức không làm một cái gì mới
cho triết học, khoa học không có thành tựu. Hơn thế nữa nó
còn kìm hãm sự phát triển của Châu Âu trong quá trình dài
Đêm trờng Trung cổ. Tuy nhiên xu hớng duy vật đã trỗi dậy
cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên đã trở thành bớc
đệm cho sự phát triển của triết học duy vật trong thời đại
giai đoạn mới.
2.2.3. Triết học phơng Tây thời kì phục hng
Phong trào phục hng phát triển mạnh mẽ cùng với việc
phát hiện ra những thành tựu vĩ đại của nền văn hoá Hi Lạp
làm cho mọi ngời thấy đợc tác động ghê gớm của nhà thờ và
triết học kinh viện. Nhng t tởng này tác động sâu sắc tới sự
phát triển dẫn đến sự phát triển giai cấp. Nó dẫn tới những
đong giáng mạnh vào chế độ phong kiến Tây Âu với sự xuất
hiện liên tục của cuộc cách mạng t sản nh cách mạng t sản
Anh, cách mạng t sản Phápmở đờng cho sự phát triển của
chủ nghĩa t bản.
11


Nh vậy, triết học ở thời kì này chịu ảnh hởng nhiều
của khoa học tự nhiên. Nhiều nhà triết học và khoa học nh
Copécnic, Bruno, Galilêvà đã khôi phục những yếu tố khoa
học chất phác thời cổ đại và góp phần đa khoa học phát
triển. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của
phơng pháp suy hình do quá trình tuyệt đối hoá.
2.2.4. Triết học phơng Tây thời cận đại
Những điều kiện kinh tế - xã hội Tây Âu giai đoạn này
cũng đã tác động sâu sắc đến sự phát triển của triết học
tiêu biểu đó chính là triết học phơng Tây thời kì khai sáng
triết học cổ điện Đức. Thời kì bày mang nhiều điều kiện
tiến bộ xác định đợc các vấn đề lâu nay cãi cọ giữa triết
học duy tâm và triết học duy vật . Quan niệm Thế giới là
vật chất muôn màu muôn vẻ và vô cùng vô tận, trong không
gian và thời gian với sự vận động không ngừng

(1)

đã dánh

bại tôn giáo và thần học tạo nên sự phát triển vũ bão của khoa
học và chủ nghĩa cổ điển Đứcdo thùa kế triết học và những
thành tựu mới nhất đa ra phép biện chứng phát triển hoàn
thiện hơn. Chính triết học Đức là tiền đề lí luận cho sự
phát triển của chủ nghĩa Mác.
Kết luận
Dù là triết học phơng Đông hay phơng Tây triết học
đều ảnh hởng sâu sắc đến đời sống kinh tế xã hội và
trên cơ sở đó đặt ra những vấn đề mang ý nghĩa thời
đại, giải quyết mộ số bào toán đặt ra. Lẽ dĩ nhiên, những t
tởng triết học này trong những thời điểm ấy đã đi sâu vào
kết cấu hạ tầng và quay lại giúp triết học phát triển. Có thể
12


khẳng định mong ớc khám phá thế giới của con ngời là vô
tận và vì thế những t tởng khác nhau của triết học ngày
càng phong phú.
3. Sự phát triển lí luận triết học Mác xít
3.1. Sự ra đời của lí luận học thuyết triết học trớc Mác
Nh ta đã nói ở trên triết học trớc Mắc ra đời không phải
là ngẫu nhiên mà đó là quá trình vận đông lâu dài của
lịch sử xã hội loài ngời đợc ghi dấu bằng những cuộc đáu
tranh không khoan những giữa các trờng phái triết học trên
cơ sở thành tựu kinh tế xã hội và khoa học kĩ thuật.
Vào những năm 40 của thế kỉ XIX khi chủ nghĩa đã
hệ thống và giai cấp công nhân đã bứớc lên võ đài. Mác và
Ăng ghen cũng trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh ấy của
giai cấp công nhân để đáp ứng những đòi hỏi khách quan
của thực tiễn khách quan. Hai ông đã coi nhiệm vụ của triết
học là phải gắn liền với thực tiễn khách quan, đấu tranh
chính trị. Việc tham gia vào các cuộc đấu tranh của giai
cấp công nhân đã giúp cho các ông có sự chuyển biến sâu
sắc về t tởng để họ nghiên cứu một cách có hệ thống bản
chất của CNTB, từ đó xác định con đờng cho giai cấp công
nhân là phải tiến hành cuộc cách mạng để đứng lên làm
chủ xã hội.
Những nghiên cứu của hai ông đã giúp chủ nghĩa phát
triển lên một giai đoạn mới. Cơ sở của chủ nghía Mác Lênin
là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử đợc thừa kế có phản ánh toàn bộ triết học trớc đó đặc
biệt là quan điểm biện chứng của Hêghen. Mác và Ăng ghen
13


những là những thiên tài vĩ đại đã biết khái quát những
kinh nghiệm lịch sử và giải quyết các vấn đề cấp bách. Lần
đầu tiên giai cấp vô sản và ngời lao động xây dựng t tởng
đấu tranh để giải phóng giai cấp khỏi ách thống trị.
Chủ nghĩa Mác đã giành thắng lợi trên bề rộng có ảnh
hởng tích cực tới phong trào cách mạng thế giới, tiêu biểu là
cách mạng tháng 10 Nga.
3.2. Lênin bảo vệ và phát triển triết học
Vào đầu thế kỉ XX, CNTB phát triển lên giai đoạn mới
làm chủ đế quốc. Nớc Nga đã trở thành trung tâm mâu
thuẫn của chủ nghĩa đế quốc. Nhng yếu tố kinh tế xã hội
và một số thành tựu khoa học tự nhiên đặc biệt là ngành
khoa học Vật lý đã làm đảo lộn về mặt thế giói quen (họ
cho rằng vật chất đã biến mất). Tình hình đó đòi hỏi sự
phát triển của nhiều trờng phái để tiếp bớc lí luận triết học.
Lênin đã vận dụng học thuyết Mác vào cuộc sống dẫn
đến sự thành công của cách mạng tháng 10 Ngavào năm
1917. Thực tiễn nớc Nga đã giúp Lênin phát triển hoàn thiện
hơn. Lí luận hình thái kinh tế xã hội sứ mệnh lịch sử của
giai cấp vô sản, các nguyên lí của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và đặc biệt là lí luận về thời kì quá độ xây dựng
CNXHNhững nội dung này làm cho chủ nghĩa duy vật
phong phú và sức chiến đấu hơn, Vận dụng vào thực tĩên
cách mạng của nhiều nớc. Chính nội dung này đã làm giai
cấp công nhân có lòng tin vào cách mạng đi lên t tởng xoá
bỏ áp bức và bất công.

14


Triết học Mác xít dới sự soi sáng của cách mạng tháng 10
và t tởng của Lênin là nguyên nhân làm cho phong trào cách
mạng phát triển nh vũ bảo giúp các dân tộc bị áp bức giành
lại chính quyền vào thập kỉ 50,60 của thế kỉ XX. Nó khẳng
định sự đúng đắn của học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa
học của Mác.
Những t tởng của học thuyết Mác Lênin đợc các nhà
yêu nớc và cách mạng nh : Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Mao Trạch
Đông, Piden Castrơ vận dụng vào điều kiện cách mạng cụ
thể của mỗi nớc đã làm nên những chiến tích thần kì. Mặc
dù hệ thống CNXH bị sụp đổ vào năm 70 của thế kỉ XX nhng với nhiều nớc đã kiên trì định hớng XHCN nh Trung Quốc,
Việt Nam và CuBa. Trong thế kỉ XXI đã có sự trỗi dậy của
một số nớc nh Mĩ La Tinh mà tiêu biểu là Venezuela đã một
lần nữa khẳng định tính khoa học và cách mạng của hệ t
tởng Mác xít.
Kết luận
Nh vậy, quá trình phát triển của triết học Mác và phơng pháp của nó lại khẳng định: Sự xuất hiện của triết học
Mác là một bớc ngoặt cách mạng trong triết học. Nó đã đa
chủ nghĩa duy vật biện chứng phát triển hơn về chất. Nó
không ngừng ở lĩnh vực tự nhiên mà đợc vận dụng vào
nghiên cứu lĩnh vực xã hội phức tạp và phong phú. Thực tế
cho thấy sự ra đời của triết học Mác có tác động sâu sắc
đến thế giới.

15


Chính phong trào giải phóng dân tộc đã tạo nên lực lỡng cân bằng với CNTB khi một loạt nhà nớc CNXh ra đời làm
cho CNXH trở thành hệ thống thế giới.
Chơng II. Các quan điểm về lí luận triết học
trong cuộc sống
hiện nay
Từ khi ra đời cho đến nay loài ngời luôn đặt ra các
câu hỏi muôn thủa nh: triết học là gì? triết học có giá trị
gì? triết học có ích gì? trong cuộc sốngQuá trình hỏi
đáp về những câu hỏi này là quá trình suy t về nhận thức
không phải là lý thuyết do các suy t đó gây ra. Đó chính là
sự băn khoăn của triết học ngày nay. Từ trớc đến nay có
những quan điểm khác nhau về bai trò của triết học tựu
chung lại có thể chia làm 3 quan điểm nh sau
1. Quan điểm tuyệt đối hoá lí luận của triết học
Khi mới ra đời, triết học thời cổ đại đợc coi là triết học
tự nhiên bao hàm tri thức thời hiện đại cả trong toán, lí,
thiên văn họccho đến mỹ học, đạo đức học nh đã trình
bày ở trên. Đó chính là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh
quan niệm cho rằng: Triết học là khoa học của mọi khoa
học. ở Hi Lạp và một số nhà triết học sau này họ cho rằng
chỉ cần nắm đợc triết học thì sẽ giải quyết đợc các vấn
đề trong hiện tại ngày nay.
Tiêu biểu cho quan điểm này là Fraxi Becơn (15611626). Theo ông triết học có hai cách hiểu: theo nghĩa rộng
là toàn bộ các ngành khoa học, theo nghĩa hẹp là bộ phận
16


cơ bản của khoa học mang tính lí luận và khái quát cao
Triết học là t duy mang tính trí tuệ nhất

(1)

và cho nhiệm

vụ của triết học là Đại phục hồi khoa học nghĩa là cải tạo lại
toàn bộ tri thức. Tuyệt đối hoá vai trò của triết học Becơn
ông coi Tri thức là sức mạnh

(2)

mà muốn nghiên cứu phải có

triết học. Tiếp theo là Tômát Hôpxơ (1588-1679) ông cũng
xem triết học bao gồm các khoa học nh hình học vật lí
Triết học của G.Hêghen (1770-1830) là học thuyết cuối cùng
mang tham vọng đó, G.Hêghen xem triết học của mình là
một hệ thống phổ biến là một hệ thống của sự nhận thức
trong đó chỉ có những nghành khoa học riêng biệt Những
mắt khâu phụ thuộc vào triết học

(3)

của nhà triết học này.

Sau khí triết học Mác ra đời với những thành tựu mà nó
đạt đợc thì đa quan niệm khoa học đúng đắn nhiều ngời
đã cho triết học Mác xít là đúng hoàn toàn là khuôn mẫu
của t duy. Việc tuyệt đối hoá vai trò triết học Mác xít trong
một thời gian dài là nguyên nhân CN giáo đều và những
quy luật trong những trờng hợp riêng dẫn đến các vấn đề
thất bại. Sự thất bại của hệ thống CNXH trên thế giới sau thời
gian áp dụng máy móc cứng nhắc triết học Mác Lênin là
một ví dụ điểm hình của việc tuyệt đối hoá vai trò triết
học trong các nhà lãnh đạo Mác xít thời Goóc ba chốp.
2. Quan niệm xem thờng và phủ nhận triết học
Triết học từ khi mới ra đời dù phơng Đông hay phơng
Tây dù ở troà lu nào thì nó vẫn mang nội dung cốt lõi và
bao giờ cũng là lí luận chung nhất, những lời giải đáp có
luận chứng về con ngời và thế giới xung quanh Cuộc tranh
17


luận này giữa các trờng phái cũng bắt đầu từ quan niệm
tuyệt đối hoá lí luận triết học. Sự thất bại của CNXH vào
những năm 70 dẫn đến sự hoài nghi và phủ nhận lí luận
triết học.
Những ngời theo quan điểm nay cho rằng Triết học
không có phơng pháp và các trang thiết bị riêng của mình
nh các KHTN nên tính chân lí của các kết quả nghiên cứu
triết học không đợc đảm bảo. Triết học nghiên cứu và giải
quyết vấn đề quá chung nên những kết quả nghiên cứu của
nó không có tác dụng thực tế gì. Thậm chí cho rằng Triết
học chỉ là chuyện tầm phào vô tội vạ. Qúa trình đấu tranh
của các trờng phái là những phân biệt chi li vô ích, là sự
tranh cãi những vấn đề chúng ta không không thể biết đợc
(1)

Nh chúng ta đã biết triết học Mác xít ra đời bên những
điều kiện kinh tế xã hội cuối thế kỉ XIX nên cũng có tất yếu
của những hạn chế lịch sử. Những hạn chế đó đã đợc Lênin
và các trò tiếp nối khắc phục tuỳ theo điều kiện lịch sử cụ
thể của mỗi đất nớc.
Tuy nhiên có sự hiểu biết còn nông cạn và sai lệch rồi
dẫn đến áp dụng máy móc mô hình lí tởng XHCN ở Đôg Âu
và sự khủng hoảng của một số nớc theo mô hình XHCN nh
Việt Nam, Cuba.
3. Xác định quan niệm đúng đắn về lí luận
triết học
Nh trên đã trình bày, hoàn cảnh KT XH và sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học đầu thế kỉ XIX đã dẫn tới sự ra
18


đời của triết học Mác đoạn tuyệt triệt để với quan niệm
Khoa học của các nhà khoa học. Triết học Mác xít xác định
vai trò của triết học. Có khẳng định rằng lí luận triết hoc
trong đời sống và xã hội đợc thể hiện qua nhiều chức năng
của triết học. Triết học có chức năng nh chức năng nhận
thức, chức năng đánh giá và giáo dục , chức năng báonhng
quan trọng nhất là chức năng thế giới quan và
Hai chức năng cơ bản này của triết học là sự định hớng
giúp con ngời có cái nhìn biện chứng về thế giới. Vấn đề
này chúng tôi sẽ trình bày rõ hơn ở chơng sau.
Triết học Mác Lênin với vị trí là một hệ thống phơng
pháp luận tiến bộ nhất, khoa học nhất giúp chúng ta trog quá
trình nhận thức và tiến hành áp dụng vào cuộc sống hiện tại
ngày nay. Nó còn giúp con ngời tụ trau dồi các phẩm chất
chính trị, tinh thần và năng lực t duy sáng tạo, đáp ứng
những đòi hỏi cấp bách trong công cuộc xây dựng đổi mới
đát nớc. Tuy nhiên triết học Mác Lênin không phải là liều
thuốc vạn năng chứa sẵn cách giải quyết vấn đề trong xã
hội. Bởi vậy trong hoạt động nhận thức và hoạt động cuộc
sỗng cần tránh cả hai xem thờng triết học hoặc tuyệt đối
hoá lí luận nh đã trình bày ở trên. Việc phủ nhận lí luận
triết học sẽ rơi vào tình trạng mò mẫm, dễ dàng bằng lòng
với các phơng pháp cụ thể, dễ mất phơng hớng thiếu chủ
động. Còn tuyệt đối hoá lí luận sẽ sa vào chủ nghĩa giáo
điều máy móc sẽ dẫn đến thất bại trong cuộc sống.
Kết luận

19


Nhiệm vụ của chúng ta là từ các quan niệm đúng đắn
và khoa học của triết học Mác Phải thế giới quan duy vật và
rèn luyện t duy biện chứng. đề phòng chủ nghĩa chủ quan
duy ý chí, tránh phơng pháp t duy siêu hình. Nó là t tởng và
kim chỉ nam cho suy nghĩ hành động cách mạng của chúng
ta, bắt nguồn từ phép biện chứng thế giới khách quan và phơng pháp luận triết học Mác. Đó cũng là kết quả là mục
đích của việc học tập nghiên cứu triết học nói chung và
triết học Mác Lênin nói riêng.
Chơng III. Lí luận triết học đối với cuộc sống ngày
nay
Nh chúng ta đã trình bày ở trên, lí luận triết học vô
cùng rộng lớn có tác động sâu sắc đến toàn bộ xã hội. Mỗi
con ngời chúg ta mặc dù trớc đay họ không đợc học triết học
nhng cách nhận thức các vấn đề trong cuộc sống của họ bao
giờ cũng thiên vê thế giới khách quan duy tâm và duy vật
theo phơng pháp biện chứng sinh hình. Còn trong lịch sử
triết học trớc Mác đã tồn tại hai trào lu triết học chính đối
lập nhau là chủ nghĩa duy vật (CNDV) và chủ nghĩa duy
tâm (CNDT).
Hai chủ nghĩa này là sản phẩm của sự phát triển xã hội
đồng thời là thành quả của lí luận nhân loại. nếu nh những
nhà duy vật có nhiều đóng góp vào việc xây dựng và thừa
kế, phát triển quan điểm duy vật thì các nhà duy tâm lại
có đóng góp vào việc thừa kế phát triển phép biện chứng.
CNDV bù đắp cho CNDt sự thiếu hụt về quan điểm biện
chứng. Đến một giai đoạn phát triển nhất định, lịch sử phải
20


đòi hỏi sự thừa kế và phát triển là những hạt nhân hợp lí
của cả hai trào lu là quan điểm duy vât và biện chứng.
Nhiệm vụ đã đợc Mác, Ăng ghen và Lênin hoàn thành một
cách xuất sắc. Lí luận triết học là vấn đề cơ bản đợc xem
xét trên cơ sở chức năng của triết học. Và triết học Mác
Lênin là hệ thống cung cấp sao cho chúng ta có thế giới quan
duy vật, phơng pháp luận khoa học đúng đắn nhất.

1. Lí luận triết học với thế giới quan khoa học
biện chứng
Nh C.Mác đã từng nói t tởng triết học ở mỗi thời đại là
sự kết tinh tinh thần của thời đại . Lí luận triết học không
chỉ là thành quả t duy và văn minh ý thức hay không có ý
thức mà còn là nhu cầu không thể thiếu của con ngời từ xa
đến nay. Dù là con ngời ở thời đại trớc hay sau thì đều áp
dụng lí luận vào hiện tại để đạt cách thức cuộc sống.
ý tởng triết học luôn là kết quả sâu sắc, sáng sủa toàn
diện hiện đại hoá cách thức của nhân loại, vấn đề mà Tinh
thần của thời đại đặt ra và đóng vai trò đợc giải quyết.
Trong bớc chuyển to lớn của đời sống xã hội, thế giới
quan triết học thể hiện tầm vóc lớn lao của mình. Công
cuộc đổi mới sự nghiệp công nghiệp hoá đòi hỏi chúng ta
xác định có một thế giới quan đúng đắn sẽ hớng con ngời
theo sự phát triển logic góp phần tiến bộ xã hội. Vì thế giới
quan là trụ cột về mặt t tởng và nhân cách là cơ sở đạo
đức của hành vi triết học, giải quyết vấn đề cơ bản và tập
trung nghiên cứu thế giới quan phơng pháp luận.
21


2. Lí luận triết học với quan điểm duy vật biện
chứng
Các nhà triết học Mác xít Liên Xô đã phân chia biện
chứng duy vật thành ba bộ phận chủ yếu là hai nguyên lí, ba
quy luật và sáu cặp phạm trù giải quyết vấn đề nhận thức
của con ngời trên cơ sỏ đa phạm trù và thực tiễn vào cuộc
sống ngày nay, đồng thời giải quyết vấn đề cơ bản của lí
luận triết học.
Lí luận triết học có mối quan hệ với thế giới quan là
chức năng nhân văn. Triết học không những giúp con ngời
phản ánh về chính bản thân nó tức là ý nghĩa cuộc sống và
mối quan hệ của nó với thế giới xung quanh mà còn định hớng cho con ngời và xã hội tự nhiên. Tránh đợc nhiều sai lầm
trong mối quan hệ xã hội tự nhiên. Bởi con ngời khác con
vật ở nhận thức xây dựng thế giới khách quan quả không hề
đơn giản. Loài ngời luôn phải đấu tranh với các thế lực phản
động để vơn lên cái tốt đẹp nhất.
Trên cơ sở đó thế giới quan duy vật biện chứng còn góp
phần xây dựng giá trị tức là nghiên cứu giá trị nh chân,
thiện, mĩ, cônng bằng từ đó đa ra quan điểm xã hội Đó
cũng chính là quan điểm đúng đắn mấu chốt. Đó cũng
chính là giá trị chân thiện mĩ trong bản chất của xã hội mà
cần đợc khám phá.
Thế giới quan triết học góp phần quan trọng vào việc
hình thành nhân cách, sự hình thành cái chân thiện mĩ ,
giúp đợc con ngời sự hời hợt thiện cận với vai trò t duy, hiểu
đúng hơn mâu thuẫn những diễn biến xảy ra trong thế giới
22


trong sự phù hợp của van hoá hiện đại và ìtm ra mâu thuẫn
giải quyết một cách phù hợp nhất.
Một số nhiệm vụ quan trọng của lí luận triết học là
nghiên cứu thế giới khách quan với trình độ phát triển hiện
đại với cuộc sống lịch sử đòi hỏi về mặt trí tuệ của con ngời. Và cũng là một hệ thống thông tin năng động và phức tạp
đợc thiết lập để tập hợp phân tích xử lí thông tin với mục
đích tìm thông tin mới. Có thể thấy rằng phép biện chứng
duy vật chính là khoa học về mối liên hệ và về sự phát
triển. Hiểu về mối liên hệ phổ biến của chúng ta sẽ thấy đợc sự ràng buộc, quy định chuyển hoá lẫn nhau giữa các
mặt trong giới tự nhiên.
Đenông ngòi TP Elêthêi đã từng nói Triết học ban
tặng cho con ngời khinh thờng cái chết, Còn Antisphen thì
nói Triết học đem lại khả năng đàm thoại với chính mình.
Quả đúng nh vậy, khi con ngời có một thế giới quan
biện chứng hiểu rõ về sự vận động và phát triển của con
ngời sẽ có cách xử lí phù hợp với thời thế với điều kiện phát
triển lịch sử và đã ghi lại bao tấm gơng sáng về ứng xử
mang tầm minh triết của bậc vĩ đại. Những vần thơ Nhật
kí trong tù cho ta thấy rõ điều đó. Bác luôn tin tởng vào sự
vận động và sự phát triển của con ngời phù hợp với xu thế đi
lên. Hầu nh các tác phẩm trong Nhật kí trong tù đều thể
hiện tính lạc quan, hình ảnh luôn có sự vận động. Nh Bác
đã từng viết:
Sự vật vần xoay đã định sẵn
Hết ma là nắng hửng lên thôi
23



Hết khổ là vui vốn lẽ đời
Hoặc trong kho tàng tục ngữ dân gian Việt cũng cho
ta thấy quan niệm về cuộc sống vô cùng biện chứng. Hầu
nh đều có những danh ngôn tục ngữ đi kèm lí giải hiện
thực cuộc sống: Không thầy đố mày làm nên, Học thầy
không tày học bạn, Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ
nhà rồi mới sinh ônglà một trong những câu tục ngữ đó.
Những vần thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm về
nhân tình thế thái cũng chính là sự đàm thoại với chính
mìnhđể nhận rõ bản chất của cuộc sống trong tình cảnh
rối ren của xã hội. Triết học Mác xít là thế giới quan của giai
cấp công nhân giai cấp tiến bộ và cách mạng của thời đại.
Lần đầu tiên nhân dân lao động có thế giới quan riêng cho
mình. Đó là thế giới quan khoa học và cách mạng là vũ khí t
tởng đấu tranh giai cấp, nhân dân lao động và giải phóng
nhân loại khỏi áp bức.
Kết luận
Nh vậy thế giới quan có vai trò đặc biệt quan trọng với
bản thân của mỗi con ngời, mỗi giai cấp. Mỗi con ngời và xã
hội nói chung thế giới quan là lăng kính xem xét nhìn nhận
thế giới và là tiêu chí phát triển nhân cách con ngời. Với vai
trò mang tính chất định hớng, triết học giúp con ngời có
một thế giới quan có sự thống nhất giữa tri thức, niềm tin và
tình cảm. Vì thế mà có câu nói Các thiên tài đều có một
điểm chung là niềm tin. Chu Dung Cơ, Đẳng Tiến Bình,
Hồ Chí Minh sở dĩ làm nên sự nghiệp vĩ đại là niềm tin
24


chính vào bản thân mình, vào con đờng đã chọn nên
không ngừng đấu tranh không hề mệt mỏi.
3. Lí luận triết học với phơng pháp khoa học biện
chứng
3.1. Khái niệm về phơng pháp luận
Từ xa đến nay, những tri thức triết học không chỉ giúp
con ngời nâng cao năng lực nhận thức mà còn giúp con ngời
nâng cao hành động bởi vì do Cantơ đã nói Lí trí không
phải là năng lực tốt nhất mà là năng lực hớng dẫn của con ngời. Điều đó nghĩa rằng, khi trả lời các vấn đề trên triết học
phải có phơng pháp lí luận rất lớn.
Chính triết học cung cấp cho con ngời các quan niệm,
các nguyên tắc xuất phát và những phơng pháp để tiến
hành hoạt động nhận thức một cách hiểu quả nhất. Đê Cáctơ
từng nói rằng Thà không chịu đi tìm chân lí còn hơn là
đi tìm nó mà không có phơng pháp

(1)

. Đê môcrit đã nói

rằng Sự thông thái sinh ra ba năng lực đa ra các quy định
tuyệt vời, nói đúng và làm việc nên làm

(2)

. Điều đó có

nghĩa là lí luận triết học là phơng pháp trong bất cứ việc
gì cũng đều quan trọng. Nghĩa là triết học không phải là
một cái gì đó xa xôi viễn vông mà ngợc lại nó có quan hệ
thực tế cuộc sống hiện nay xuất phát từ lập trờng đúng
đắn của con ngời có thể giải quyết đúng đắn các vấn đề
đó mà cuộc sống đặt ra. Ngợc lại xuất phát từ quan niệm
sai lầm con ngời khó tránh khỏi hành động lầm. Vì thế bên
cạnh chức năng thế giới quan có chức năng phơng pháp luận.
3.2. Lí luận, phơng pháp luận với khoa học biện chứng
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×