Tải bản đầy đủ

Giải pháp bồi dưỡng học sinh viết chữ đẹp

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số ………………
1. Tên sáng kiến: “Giải pháp bồi dưỡng học sinh viết chữ đẹp lớp 2”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Ngành giáo dục
3. Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết:
* Ưu điểm:
Nhà trường trong nhiều năm qua duy trì tốt phong trào vở sạch chư
đẹp.
Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học cũng như rèn chư viết cho học
sinh.
Đa số học sinh chuẩn bị đồ dùng học tập đầy đủ, học sinh có thói quen
giư gìn sách vở và luôn có ý thức rèn luyện chư viết.
* Hạn chế:
Lớp 2 là lớp học sinh đầu cấp Tiểu học vừa từ lớp 1 lên, khả năng viết
chư của học sinh còn hạn chế nên việc viết chư đẹp lại càng khó khăn hơn.
* Sự cần thiết đề xuất: Giúp học sinh chưa đạt chuẩn về chư viết ngày

càng tiến bộ về chư viết - chư viết rõ ràng, đẹp, đúng mẫu chư quy định theo
chương trình chư viết ở lớp 1 cũng như theo kịp một số quy định mới về mẫu
chư, cách phát âm bảng chư cái ở lớp 2.
3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
- Mục đích của giải pháp: Giúp học sinh đạt chuẩn về chư viết đẹp ở lớp
2 từ đó làm tiền đề để các em học tập tốt hơn ở các lớp tiếp theo.
- Nội dung giải pháp:
Trong nhưng năm học qua, việc ban hành mẫu chư mới với kiểu chư
truyền thống được dạy ở Tiểu học đã nhận được sự ủng hộ đồng tình của giáo
viên, học sinh và phụ huynh. Tuy nhiên việc thay đổi mẫu chư từ cải cách sang
mẫu chư hiện hành làm cho học sinh không khỏi lúng túng. Nhất là đối với các
em học sinh lớp 2 vừa từ lớp 1 lên, các em mới bước đầu làm quen với cách
viết chư nhỏ, kỹ năng viết chư của các em còn nhiều hạn chế. Ở lớp 2, giáo viên
muốn rèn chư viết đẹp cho các em một cách bài bản, đúng yêu cầu đòi hỏi phải
có phương pháp tốt. Chính vì vậy tôi quyết định chọn viết sáng kiến: “Giải
pháp bồi dưỡng học sinh viết chữ đẹp lớp 2”.
Sau khi nghiên cứu tôi tiến hành áp dụng các giải pháp theo trình tự như
sau:
Giúp học sinh khắc sâu biểu tượng về chữ mẫu:


Để thực hiện tốt yêu cầu này, khi giới thiệu về biểu tượng của chư viết
trong giờ tập viết, giáo viên cần tập cho các em có thói quen biết kết hợp mắt
nhìn, tai nghe, tay luyện tập. Điều này giúp học sinh chủ động phân tích hình
dáng, kích thước cấu tạo chư, tìm sự giống nhau và khác nhau của chư cái hoa
đang học và chư cái hoa đã học trước đó trong cùng một nhóm bằng thao tác so
sánh tương đồng.
Bên cạnh đó, chư mẫu của giáo viên khi viết bảng sẽ giúp cho học sinh
nắm được thứ tự viết các nét của chư cái hoa, cách nối các chư cái trong một
chư nhằm đảm bảo yêu cầu viết liền mạch, viết đúng tốc độ. Khi viết mẫu giáo
viên phải viết chậm, đúng quy tắc, vừa viết vừa phân tích cho học sinh nắm, tạo
điều kiện để cho học sinh nhìn thấy tay của giáo viên viết từng nét chư. Ngoài
ra, giáo viên cần lưu ý chư viết của mình khi chưa bài, chấm bài của học sinh,
chư viết của giáo viên trong lúc này cũng được coi là chư mẫu, vì thế, giáo viên
cần có ý thức viết chư đẹp, đúng mẫu, rõ ràng.
Tuyên truyền, phối hợp với cha mẹ học sinh:
Giáo viên tuyên truyền cho cha mẹ học sinh biết về vai trò quan trọng của
“Giư vở sạch - Viết chư đẹp”, hướng dẫn họ trong việc mua sắm sách vở, bút
viết, bao bìa sách vở,…Hàng tháng, từng học kỳ giáo viên chủ nhiệm sẽ trao đổi
với phụ huynh về nhưng mặc tồn tại trong chư viết của các em để phụ huynh
cùng kèm cặp và rèn luyện với các em.
Hướng dẫn học sinh thực hiện các nguyên tắc về tư thế khi ngồi viết:
Không viết khi quá mệt, buồn ngủ uể oải, phân tán vì chuyện khác, gò bó,
gượng ép, cưỡng bức…
Ánh sáng phải đủ độ và thuận lợi chiều; chiếu sáng từ bên trái sang, không
bị sấp bóng.
Tư thế ngồi viết phải thoải mái, không gò bó. Tay trái để xuôi theo chiều
ngồi, giư lấy mép vở cho khỏi lệch, tay phải cầm chắc bút bằng 3 ngón tay ( cái,
trỏ, giưa). Đầu ngón tay trỏ cách đầu ngòi bút chừng 2,5 cm. Lúc viết, điều
khiển cây bút bằng các cơ sở cổ tay và các ngón tay
Khoảng cách từ mắt đến vở tầm 25 cm- 30 cm.
Cột sống lưng luôn ở tư thế thẳng đứng, vuông góc với mặt ghế ngồi. Hai
chân thoải mái không để chân co, chân duỗi khiến cột sống phải lệch vẹo và chư
viết sẽ xiên lệch theo.
Sử dụng bút trong khi viết:
Cầm bút xuôi theo chiều ngồi. Góc độ bút đặt so với mặt giấy khoảng 450.
Đưa bút từ trái sang phải, từ trên xuống dưới. Các nét đưa lên hoặc sang
ngang phải thật nhẹ, không ấn mạnh đầu bút vào mặt giấy.
Sau khi viết:

2


Sau khi viết cần nhận xét " nét nào được, nét nào hỏng". Tìm nguyên nhân
vì sao hỏng sau khi phát hiện ra nguyên nhân chỗ viết hỏng cần giúp trẻ rút kinh
nghiệm, tránh vấp phải viết sai tương tự ở lần sau.
Khi viết thấy mỏi tay, mồ hôi tay ra nhiều, hoặc hoa mắt, nhức đầu, có ý
nghĩa là đã ngồi quá lâu, phải nghỉ giải lao. Sau 10 đến 15 phút trở lại ngồi viết
sẽ có hiệu quả hơn.
Coi trọng mối quan hệ giữa âm và chữ viết:
Để việc dạy chư viết không đơn điệu, cần phân tích tìm ra mối quan hệ
giưa âm và chư viết, tức là giưa đọc và viết. Vì thế, trong tiến trình dạy tập viết,
nhất là tập viết nhưng âm mà địa phương dễ nhằm lẫn, giáo viên cần đọc mẫu.
Việc viết đúng sẽ củng cố việc dạy đọc đúng và ngược lại đọc đúng đóng vai trò
quan trọng để đảm bảo viết đúng.
Tạo sự gần gũi, thân thiện giữa thầy và trò:
Sự nhiệt tâm chu đáo của giáo viên là một trong nhưng yếu tố đảm bảo sự
thành công trong việc rèn viết chư đẹp cho học sinh.
Đối với một số em có chư viết còn xấu, giáo viên cầm tay hướng dẫn cho
học sinh viết một đến hai chư đầu tiên, cho học sinh tự nhận xét chư viết của
mình và bạn, biết tự tham gia chưa lại chỗ sai.
Đối với nhưng em có chư viết đúng mẫu giáo viên hướng dẫn các em luyện
viết chư sáng tạo (chư viết nghiêng), chư nét thanh nét đậm.
Giáo dục học sinh nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của chư viết
qua các hình thức như: nêu gương, kể cho học sinh nghe gương rèn chư viết của
ông Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu.
Quan tâm đến cơ sở vật chất:
Khi thấy các điều kiện về cơ sở vật chất không đảm bảo các yêu cầu phục
vụ cho công tác giảng dạy, giáo viên cần tham mưu kịp thời với Ban giám hiệu,
Hội phụ huynh, các đoàn thể trong nhà trường để có biện pháp khắc phục.
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp:
Giải pháp đã áp dụng thành công ở lớp 2A trường Tiểu học, đã nhân rộng
ở tất cả các khối lớp khác trong trường và nhân rộng ở các trường bạn trong toàn
huyện.
3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải
pháp: Từ khi thực hiện giải pháp, bản thân tôi nhận thấy đa số học sinh trong
lớp có nhiều tiến bộ, số lượng các em viết chư đẹp tăng lên rõ rệt. Cụ thể về số
lượng, chất lượng chư viết trong học kì I của lớp 2A với 32 học sinh, kết quả
như sau:
+ Trước khi chưa áp dụng giải pháp (xét theo mức đánh giá rất đẹp, đẹp,
chuẩn, chưa chuẩn): Tỉ lệ học sinh viết chính tả đạt mức “rất đẹp” là 1 em,
3


chiếm 3,12%; đạt mức “đẹp” là 5 em, chiếm 15,62%; đạt mức “chuẩn” là 15 em,
chiếm 46,88%; đạt mức “chưa chuẩn” là 11 em, chiếm 34,38%
+ Sau khi áp dụng giải pháp chất lượng chư viết được nâng lên rõ rệt (xét
theo mức đánh giá rất đẹp, đẹp, chuẩn, chưa chuẩn): Tỉ lệ học sinh viết chính tả
đạt mức “rất đẹp” là 2 em, chiếm 6,25%; đạt mức “đẹp” là 7 em, chiếm 21,87%;
đạt mức “chuẩn” là 21 em, chiếm 65,63%; đạt mức “chưa chuẩn” là 2 em, chiếm
6,25%.
Ngọc Chúc, ngày 17 tháng 4 năm 2017
Người mô tả

4


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số …….
1. Tên sáng kiến:
Giúp học sinh rèn luyện viết chư đẹp lớp 1 ở trường Tiểu học .
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Áp dụng trong ngành Giáo dục
3. Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết
* Ưu điểm:
Hiện nay việc rèn luyện chư viết cho học sinh Tiểu học nói chung ở lớp 1 nói riêng
được giáo viên quan tâm rèn luyện thường xuyên trong các giờ dạy. Nhiều học sinh tham
gia dự thi viết chư đẹp cấp trường, cấp huyện, cấp tỉnh và đạt được nhiều thành tích cao, góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục.

* Nhược điểm:
Ở mẫu giáo, các em mới được làm quen với đọc và tô các chư cái, chưa có khái
niệm về đường kẻ, dòng kẻ, chưa nắm được cấu tạo của các nét cơ bản, cấu tạo của các
chư cái, chưa nắm được độ cao, độ rộng, của từng con chư, khoảng cách giưa các chư
ghi tiếng, cách viết các chư thường, dấu thanh và các chư số, chưa nắm được quy trình
viết chư cái. Nhiều em còn viết chư ngược, số ngược.
* Sự cần thiết chọn giải pháp để khắc phục nhược điểm:
- Giúp học sinh nắm được các kỹ năng cơ bản cần thiết trong quá trình tập viết
và rèn luyện chư viết đẹp nhằm nâng cao chất lượng học tập.
3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
- Mục đích của giải pháp:
Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp ngay từ lớp 1 là việc làm
cần thiết. Bởi lẽ, chư viết của học sinh có quan hệ mật thiết đến chất lượng học tập ở
các môn học khác. Nếu chư viết đúng mẫu, rõ ràng, tốc độ nhanh thì học sinh có điều
kiện ghi bài tốt, nhờ vậy mà kết quả học tập của học sinh tốt hơn.
- Nội dung giải pháp.
Để rèn luyện học sinh viết chư đẹp, tôi đã tiến hành các biện pháp như sau:
* Tìm hiểu đối tượng.
Giưa học kì I, tôi tiến hành khảo sát 21 học sinh trong lớp và đạt được kết quả
như sau: Viết chuẩn 8 em, chiếm tỉ lệ 38,2%; viết chưa chuẩn 7, chiếm tỉ lệ 33,3%; viết
đẹp 4 em, chiếm tỉ lệ 19%; viết rất đẹp 2 em, chiếm tỉ lệ 9,5%.
*Rèn chữ viết thông qua hướng dẫn của PHHS khi ở nhà:
- Đầu năm họp phụ huynh học sinh tôi phổ biến cho họ biết nhưng quy định cơ
bản giúp học sinh viết chư đẹp khi vào học lớp 1.
- Trao đổi với phụ huynh về yêu cầu và cách giúp con mình viết chư đẹp.
- Tôi chuẩn bị sẵn một bộ vở mới bao bọc, dán nhãn tên đúng quy định để làm
mẫu. Tôi đề nghị hàng tuần phụ huynh phải kiểm tra việc viết chư đẹp của con, nhắc
nhở con em mình thực hiện. Đề nghị phụ huynh khen con khi thấy con mình viết đẹp.
*Rèn chữ viết khi ở lớp học:
Trước tiên, tôi hướng dẫn học sinh nắm được các thuật ngư dòng kẻ:“Dòng kẻ
ngang 1, ngang 2, ngang 3; ngang 4, ngang 5. Ô li 1, ô li 2…ô li 5. Đường kẻ ngang
5


trên, ngang dưới của một ô li. Dòng kẻ dọc 1, dòng kẻ dọc 2, … dòng kẻ dọc 5” trong
vở ô li, Vở Tập viết, trên bảng con, bảng lớp.
Tôi hướng dẫn tên gọi và cấu tạo của từng nét cơ bản bao gồm: Nét ngang, nét
sổ, nét xiên trái, nét xiên phải, nét móc trên, nét móc dưới, nét móc hai đầu (là kết hợp
của nét móc trên và nét móc dưới), nét cong hở phải, nét cong hở trái, nét cong khép
kín, nét khuyết trên, nét khuyết dưới, nét thắt, nét khuyết đôi . Từ việc học sinh nắm
chắc cách viết, viết đúng, viết đẹp thành thạo các nét cơ bản sẽ nắm được cấu tạo của
từng chư cái giúp cho việc nối các nét thành chư cái sẽ dễ dàng hơn.
Sau đó, tôi dạy học sinh cách xác định toạ độ của điểm đặt bút và điểm dừng
bút phải dựa trên khung chư làm chuẩn. Hướng dẫn học sinh hiểu điểm đặt bút là điểm
bắt đầu khi viết một nét trong một chư cái hay một chư. Để chư viết không bị rời rạc,
đứt nét, giáo viên nhấn mạnh hơn chỗ nối nét, nhắc các em viết đều nét, liền mạch
đúng kĩ thuật.
Dạy cách rê bút: Là nhấc nhẹ đầu bút nhưng vẫn chạm vào mặt giấy theo
đường nét viết trước hoặc tạo ra việt mờ để sau đó có nét viết khác đè lên.
Dạy cách lia bút: Là dịch chuyển đầu bút từ điểm dừng này sang điểm đặt bút
khác, không chạm vào mặt giấy. Khi lia bút, ta phải nhấc bút lên để đưa nhanh sang
điểm khác, tạo một khoảng cách nhất định giưa đầu bút và mặt giấy.
*Rèn viết đúng trọng tâm các nhóm chữ: Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo nét
và mối quan hệ về cách viết các chư cái, để học sinh viết đúng kĩ thuật, viết đẹp, nắm
chắc mẫu chư. Tôi chia chư viết thành các nhóm và xác định trọng tâm đại diện cho
mỗi nhóm chư gồm nhưng nét nào, nhưng nét chư nào học sinh hay viết sai, học sinh
gặp khó khăn gì khi viết các nhóm chư đó để khắc phục nhược điểm giúp học sinh viết
đúng và đẹp mẫu chư trong trường tiểu học cỡ vừa như sau:
Nhóm 1: Gồm các chư: m, n, u, ư, i, t, v, r, p. Các lỗi học sinh hay mắc: Viết
chưa đúng nét nối giưa các nét, nét móc thường hay bị đổ nghiêng, nét hất lên thường
bị choãi chân ra không đúng. Cách khắc phục: Cho học sinh luyện viết nét sổ có độ
cao 2 ô li, sau đó mới viết nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu có độ cao 2
ô li thật đúng, thật thẳng. Khi học sinh viết thành thạo các nét đó mới cho học sinh
ghép các nét thành chư. Khi ghép chư luôn chú ý điểm đặt bút, điểm dừng bút, độ cao,
độ rộng của mỗi nét để chư viết cân đối, đẹp.
Nhóm 2: Gồm các chư: b, l, h, k, y. Các lỗi học sinh hay mắc: Học sinh hay
viết sai điểm giao nhau của nét, chư viết còn cong vẹo. Cách khắc phục: Trước tiên,
giáo viên cho học sinh viết nét sổ có độ cao 5 ô li một cách ngay ngắn, thành thạo để
rèn tư thế cầm bút chắc chắn cho học sinh, sau đó dạy học sinh viết nét khuyết trên có
độ cao 5 ô li, độ rộng trong lòng 1 ô li. Để giúp học sinh viết đúng điểm giao nhau của
các nét khuyết, hướng dẫn học sinh đặt một dấu chấm nhỏ vào sát đường kẻ dọc, trên
dòng kẻ ngang 2 của ô li thứ tư và rèn cho học sinh luôn đưa bút từ điểm bắt viết nét
khuyết trên có độ rộng bằng 1ô li. Tương tự như vậy, dạy học sinh viết nét khuyết dưới
có độ cao 5 ô li, độ rộng 1 đầu qua đúng chấm rồi mới đưa bút lên tiếp ô li. Khi dạy
viết chư h, hướng dẫn viết nét khuyết trên trước, từ điểm dừng bút của nét khuyết trên
ở đường kẻ ngang 1 rê bút viết tiếp nét móc hai đầu có độ cao 2 li, độ rộng 1 li dừng
bút ở đường kẻ ngang 2. Tương tự như vậy với các chư còn lại.
Nhóm 3: Gồm các chư: o, ô, ơ, a, ă, â, c, x, d, đ, q, g, e, ê, s. Các lỗi học sinh
hay mắc: viết chư o chiều ngang quá rộng hoặc quá hẹp, nét chư không tròn đều đầu
to, đầu bé, chư o méo. Hầu hết các em viết chư o xấu. Cách khắc phục: Để viết được
đúng và đẹp nhóm chư này cần phải viết chư o đúng và đẹp tròn theo quy định. Giáo
viên cho học sinh chấm 4 điểm vuông góc đều nhau như điểm giưa 4 cạnh của hình
6


chư nhật và từ điểm đặt bút của con chư o viết một nét cong tròn đều đi qua 4 chấm thì
sẽ được chư o tròn đều và đẹp. Sau đó hướng dẫn học sinh ghép với các nét cơ bản
khác để tạo thành chư. Để chư viết không bị rời rạc, đứt nét phải nhấn mạnh hơn chỗ
nét nối, nhất là chỗ rê bút, từ điểm dừng bút của con chư vừa viết, rê bút lên viết liền
mạch đến đâu mới được nhấc bút. Ở phần đầu học chư ghi âm, học sinh đã được
hướng dẫn rất kĩ về độ cao, độ rộng của từng nét chư, con chư. Khi dạy sang phần vần
tuy không cần hướng dẫn quy trình viết từng chư song cần thường xuyên cho học sinh
nhắc lại độ cao các chư cái, nhưng chư cái nào có độ cao bằng nhau, nét nối giưa các
chư cái trong một chư ghi tiếng, khoảng cách giưa các chư ghi tiếng (bằng một con
chư o). Khi hướng dẫn học sinh viết chư nét thanh, nét đậm, giáo viên vừa viết mẫu
vừa nói rõ quy trình viết (viết như quy trình), chỉ khác bằng một mẹo nhỏ để học sinh
dễ làm theo: Chú ý viết các nét rê lên đưa nhẹ tay hơn một chút tạo nét thanh bé, nét
kéo xuống theo chiều đầu ngòi bút tạo nét đậm hơn nét thanh một chút. Đối với bút
mực học sinh cần viết úp ngòi xuống, cổ tay, cánh tay để vuông góc.Với học sinh trung
bình, yếu chỉ yêu cầu các em viết đúng cỡ chư, thẳng hàng, ngay ngắn, đều nét, liền
mạch. Đối với học sinh khá giỏi, yêu cầu ở mức độ cao hơn các em viết được chư nét
thanh, nét đậm. Nét chư có độ mịn, mượt, không sần sùi. Chư viết thẳng đứng, các nét
chư song song với nhau, đều nét, liền mạch, ngay ngắn và sạch đẹp. Khi dạy học sinh
cỡ chư nhỏ, giáo viên cũng thường xuyên luyện theo cách đó giúp các em nhớ lâu và
viết đều nét, liền mạch, đúng độ cao, độ rộng các chư cái.
*Khắc phục những lỗi học sinh thường gặp khó khăn
Giáo viên cần nhấn mạnh chỗ ghi dấu thanh luôn luôn ở vị trí âm chính, nếu âm
chính là nguyên âm đôi đi kèm với âm cuối thì thì ghi dấu thanh ở âm thứ hai của
nguyên âm đôi, nếu nguyên âm đôi không đi kèm với âm cuối thì ghi dấu thanh ở
nguyên âm thứ nhất của nguyên âm đôi .Với chư có dấu phụ là dấu mũ như ô, ơ, ê, thì
thanh sắc, huyền, hỏi phải ghi ở bên phải dấu mũ còn thanh ngã thì ghi ở giưa, phía
trên của dấu mũ, các dấu thanh phải ngay ngắn, cân đối nằm đúng dòng li quy định và
không được chạm vào chư cái hay dấu phụ. Trong quá trình chấm chưa bài tôi chưa
nhưng lỗi học sinh sai phổ biến nhất, hướng dẫn kỹ lại cách viết của chư đó để học
sinh khắc sâu cách viết một lần nưa. Cho cả lớp xem bài viết đẹp. Kịp thời động viên,
khích lệ nhưng học sinh có chư viết tiến bộ. Khi chấm bài, giáo viên không chỉ chú ý
đến việc chưa lỗi cho học sinh mà còn kết hợp nhận xét, chỉ bảo, khích lệ, động viên
để học sinh tự tin vào bản thân khi viết bài và nhận ra nhưng lỗi sai cần khắc phục.
Nhưng nét chư sai, giáo viên nhận xét thật rõ và sau đó tôi viêt mẫu cho các em sửa lại
nhưng chư các em đã viết sai để về nhà các em tập viết theo mẫu đó cho đúng và đẹp.
*Kết hợp song song và đồng bộ với các môn học khác
Để học sinh viết đúng và đẹp thì phải tiến hành song song và đồng bộ việc dạy học Tập viết với các môn học khác. Học sinh không chỉ viết đúng và đẹp ở vở Tập viết
mà cần phải viết đẹp ở tất cả các loại vở. Muốn viết đẹp và thành thạo thì cần phải
nắm được kĩ thuật viết. Muốn viết đúng, không sai, không mắc lỗi thì cần phải đọc
đúng, đọc hiểu. Vì vậy trong quá trình dạy học cần phải rèn cho học sinh không nhưng
viết thạo mà còn phải đọc thông. Để làm được điều này khi dạy Tiếng Việt, giáo viên
luôn chú ý hướng dẫn học sinh phát âm đúng, phân biệt và sửa ngọng cho nhưng học
sinh đọc còn ngọng. Giúp các em đọc đúng, hiểu đúng nhưng từ ngư địa phương hoặc
nhưng tiếng, nhưng từ ngư khó có âm đầu hay nhầm lẫn như : x/s, tr/ch, r/d...
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp
Sáng kiến đã được áp dụng dạy tiết Tập viết ở lớp 1 trường Tiểu học, đồng thời
áp dụng được ở các trường Tiểu học trong toàn huyện.
7


3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
giải pháp
Qua quá trình thực hiện giải pháp đến giưa học kỳ II tôi tiến hành khảo sát và
đạt được kết quả như sau: Viết chuẩn 5 em, chiếm tỉ lệ 23,8%; viết chưa chuẩn 0; viết
đẹp 9 em, chiếm tỉ lệ 42,9%; viết rất đẹp 7 em, chiếm tỉ lệ 33,3%. Tôi nhận thấy chư
viết của các em chuẩn và đẹp hơn so với giưa học kỳ I và không chỉ dừng lại ở đây mà
sẽ giúp cho các em phát huy hơn đến nhưng năm học sau. Giải pháp tôi đã áp dụng
nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh.
3.5. Tài liệu kèm theo gồm:
- Một bản so sánh số liệu.
Giồng Riềng, ngày 10 tháng 4 năm 2017
Người mô tả

8


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số:………….
1. Tên sáng kiến:
Một số biện pháp rèn kĩ năng viết chư cho học sinh lớp 1 trường Tiểu
học.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
Áp dụng trong ngành giáo dục.
3. Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết
* Ưu điểm:
- Trong thời gian qua việc viết chư đẹp trong trường học được quan tâm
và chỉ đạo thành phong trào đối với học sinh và giáo viên: hằng năm đều có các
phong trào thi viết chư đẹp từ vòng trường, huyện, tỉnh.
- Việc rèn luyện chư viết học sinh được giáo viên quan tâm rèn luyện
thường xuyên trong các giờ dạy.
- Học sinh được gia đình quan tâm trang bị đầy đủ dụng cụ học tập.
* Nhượt điểm:
- Học sinh chưa nắm được các kĩ năng cơ bản để chuẩn bị cho quá trình
viết chư.
- Học sinh lớp 1 thường hiếu động, thiếu kiên trì, khó thực hiện các động
tác đòi hỏi sự khéo léo, cẩn thận nên khó rèn kĩ năng viết chư cho các em.
- Quan niệm của một số giáo viên viết chư chỉ đơn thuần là viết được chư,
giáo viên còn nghèo vốn sư phạm về phân môn tập viết và chư viết của một số
giáo viên chưa đủ đẹp để làm mẫu cho học sinh quan sát.
- Khoa học kĩ thuật ngày càng hiện đại có nhiều phương tiện in ấn làm
cho phụ huynh ít quan tâm đến chư viết.
* Sự cần thiết chọn giải pháp để khắc phục nhượt điểm:
- Rèn cho học sinh kĩ năng viết chư.
- Góp phần nâng cao về năng lực, phẩm chất và kết quả học tập của học
sinh.
3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
- Mục đích của giải pháp:
+ Giúp học sinh viết đúng và đẹp.
+ Rèn tính kiên trì, sự khéo léo và cẩn thận cho học sinh.
+ Góp phần tích cực cho học sinh đạt được trình độ chuẩn kiến thức kĩ
năng; đạt phẩm chất và năng lực.
- Nội dung của giải pháp:

9


* Hướng dẫn kĩ năng cơ bản để chuẩn bị cho quá trình dạy tập viết
và rèn luyện chữ viết cho học sinh:
Đầu tiên tôi hướng dẫn cho học sinh tư thế ngồi viết: ngồi ngay ngắn, lưng
thẳng, không tỳ ngực vào bàn, đầu hơi cúi, mắt cách vở từ 25 - 30 cm, bàn tay
trái để bên trái lề vở giư vở không bị xê dịch.
Bước thứ hai hướng dẫn học sinh chuốt bút chì sao cho đầu bút chì không
quá nhọn vì di chuyển bút trên giấy khó, không quá to làm nét chư lớn không
đẹp; Sử dụng tẩy bôi chư sai cho nhẹ nhàng, không làm dơ tập, rách giấy.
Bước thứ ba hướng dẫn học sinh cách cầm bút: cầm bút bằng 3 ngón tay của
bàn tay phải: ngón trỏ, ngón cái, ngón giưa. Đầu ngón trỏ đặt trên thân bút,đầu
ngón cái giư bên trái thân bút, đầu ngón giưa tựa vào bên phải thân bút.Khi viết
3 ngón tay này sẽ giư bút và điểu khiển bút dịch chuyển. Ngoài ra cần có sự phối
hợp của cổ tay, cánh tay, khuỷu tay.
Cuối cùng hướng dẫn các em xác định đường kẻ, dòng kẻ.
Chú ý hướng dẫn học sinh tư thế ngồi và cách cầm bút không chỉ hướng dẫn
trong giờ tập viết mà hướng dẫn ở tất cả các giờ học trong ngày. Mỗi giờ học,
mỗi buổi học khi phát hiện học sinh ngồi không đúng tư thế, cầm bút sai là tôi
nhắc nhở, sửa sai cho các em và cứ như vậy cho đến khi đạt yêu cầu.
* Rèn chữ viết cho học sinh:
Rèn chư viết cho học sinh trong nhà trường là vô cùng quan trọng để giúp
học sinh viết đúng cỡ chư, viết đẹp, viết nhanh thì không thể coi thường phần
luyện viết các nét cơ bản. Có các nét cơ bản sau mà tôi yêu cầu học sinh phải
nhớ và tập luyện viết chính xác: Nét ngang, nét thẳng, nét xiên trái, nét xiên
phải, nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu, nét cong hở phải, nét cong
hở trái, nét cong kín, nét khuyết trên, nét khuyết dưới, nét thắt. Để có định
hướng đúng về chư viết đẹp, vở sạch. Trước khi dạy viết tôi giới thiệu cho học
sinh xem nhưng cuốn vở viết sạch và đẹp của năm học trước để khơi gợi ở các
em động lực, niềm say mê rèn chư viết. Quá trình dạy viết chư và rèn viết chư
trên lớp được tiến hành qua các bước sau:
- Dựa vào mẫu chư và tập cho học sinh thói quen đọc thầm, phân tích hình
dáng, cấu tạo, độ cao chư sắp viết.
- Viết mẫu trên bảng thật chậm, đúng theo quy tắc với nét chư chuẩn, học
sinh sẽ tận mắt nhìn tay cô viết từng nét chư đồng thời hướng dẫn học sinh nhận
ra cách nối nét sao cho đẹp là yếu tố quan trọng góp phần rèn nét chư viết đẹp
của học sinh. Do đó tôi luôn giúp học sinh nhận ra điểm chưa đẹp khi nối nét.
- Hướng dẫn cho học sinh tập viết trên bảng con: Bảng con là phương
tiện tối ưu giúp cho giáo viên chỉnh sửa kịp thời, nhanh chóng nhưng lỗi sai của
học sinh để đi đến việc viết vào vở sẽ đúng và đẹp.
- Học sinh viết vào vở: Khi viết tôi hướng dẫn cho học sinh từng chư, từng
dòng. Trong thời gian học sinh viết giáo viên theo dõi, kiểm tra để chỉnh sửa cho
các em. Khi viết tôi luôn nhắc nhở học sinh giư gìn vở viết cẩn thận, không để
vở quăn góc,….
- Đến giai đoạn viết bút mực tiến đến viết chư nhỏ tôi quy định cho cả lớp
sử dụng một màu mực, giới thiệu một số bút viết nét đẹp để phụ huynh mua cho
10


các em sử dụng. Trong quá trình viết bút mực tôi luôn dặn dò học sinh viết phải
cẩn thận, hạn chế sự sai sót.. Trong giai đoạn này một số học sinh gặp khó khăn
khi viết chư theo ô li nhỏ vì vậy tôi quan tâm, theo sat để giúp đỡ các em, kịp
thời điểu chỉnh khi các em viết chư không đều nét, sai độ cao, sai khoảng cách.
Việc dạy học sinh viết đúng, viết đẹp tôi không chỉ quan tâm rèn luyện ở môn
tập viết mà đối với các môn học khác tôi cũng luôn nhắc nhở và hướng dẫn học
sinh có ý thức rèn luyện.
*Đối với bản thân giáo viên:
Bản thân tôi luôn cố gắng rèn luyện chư viết của mình thể hiện qua từng
bài dạy, cách trình bày bảng phải rõ ràng, khoa học, chư viết đúng mẫu để học
sinh noi theo. Đồng thời trong quá trình giảng dạy tôi chỉnh sửa nhưng lỗi viết
sai của học sinh trong lúc chấm, trả bài một cách cụ thể, rành mạch.. Ngoài ra
trong giảng dạy tôi luôn động viên, khuyến khích, biểu dương học sinh nhằm
động viên khích lệ học sinh viết tốt, tổ chức thi đua giưa các cá nhân với cá
nhân, giưa các tổ để khơi dậy ý thức phấn đấu cao hơn, thích học, thích viết và
chăm rèn luyện.
*Đối với phụ huynh học sinh:
- Tạo cho học sinh có góc học tập ở gia đình hợp lí.
- Quản lí, theo dõi, giúp đỡ cho các em học và rèn luyện chư viết.
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp
Giải pháp trên đã áp dụng rèn chư viết cho học sinh lớp 1 tại trường Tiểu
học Ngọc Chúc 1. Đồng thời được nhân rộng ra cho các khối lớp trong toàn
trường và các trường Tiểu học trong toàn huyện.
3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng giải pháp
Trong quá trình thực hiện giải pháp trong việc rèn chư viết cho học sinh
đến giưa học kì 2 đã đạt kết quả như sau: Học sinh viết chưa đúng: 0 em, chiếm
tỉ lệ 0%. Học sinh viết đúng 17 em, chiếm tỉ lệ 63%. Học sinh viết đẹp: 10 em,
chiếm tỉ lệ: 37%. Tôi nhận thấy kết quả rèn chư viết của các em được nâng dần
lên so với giưa kì 1. Kết quả này không chỉ dừng lại ở đây mà sẽ còn đạt kế quả
cao hơn ở cuối năm học này và nhưng năm học sau. Giải pháp đã áp dụng nhằm
phát triển được kĩ năng viết chư cho học sinh đồng thời rèn cho các em tính kiên
trì, sự khéo léo và cẩn thận cho học sinh.
3.5. Tài liệu kèm theo gồm:
- Một bản so sánh số liệu.
Giồng Riềng, ngày 14 tháng 4 Năm 2017
Người mô tả

11


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BẢN SO SÁNH SỐ LIỆU
( Kết quả học tập của học sinh lớp 1 A )

TS
Giưa kì 1

27

Viết chưa đúng
7

Viết đúng

Viết đẹp

20

0
12


Giưa kì 2

27

25,9%

74,1%

0%

0

17

10

0%

63%

37%

Người lập bảng

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×