Tải bản đầy đủ

Thực trạng và giải pháp tăng cường hoạt động quản lý hàng tồn kho tại công ty General Motor Việt Nam

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành báo cáo thực tập, em đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ, tận tình hướng dẫn và góp ý nhiệt tình từ nhiềuphía.
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng
dẫn-người đã giúp đỡ, chỉ bảo và động viên em trong cả quá trình thực hiện báo cáo
thực tập này. Nhờ đó mà với kiến thức cũng như kinh nghiệm còn ít ỏi em đã hoàn
thành được báo cáo thực tập này.
Nhân đây, em cũng gửi lời cảm ơn chân thành với Ban lãnh đạo trường, các thầy
cô giảng dạy trong trường đã tạo điều kiện học tập tốt nhất, truyền cho em nhiều cảm
hứng đam mê trong học tập, xây dựng một môi trường học tập lành mạnh, giúp em có
được nền tảng về chuyên ngành học như hiện nay để có thể hoàn thành đề tài nghiên
cứu này.
Để hoàn thành báo cáo thực tập này, em cũng không quên cảm ơn đến Ban lãnh
đạo Công ty General Motor Việt Nam. Công ty đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em có
những tư liệu thực tế để nghiên cứu, áp dụng được lý thuyết vào thực tiễn để đúc rút
nhiều kinh nghiệm cho bản thân.
Cuối cùng, em xin được kính chúc các Thầy, Cô cùng giáo viên hướng dẫn có
được sức khỏe tốt để tiếp tục công tác và thành công hơn trong sự nghiệp to lớn của
mình. Đồng kính gửi các Bác, các Cô, các Chú, các Anh, các Chị trong Tại công ty
General Motor Việt Nam dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và đạt được nhiều thành công
trong sự nghiệp và cuộc sống.

Em xin chân thành cảm ơn!

1


MỤC LỤC

2


DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, để có thể tồn tại và phát triển mỗi đơn vị sản xuất
kinh doanh phải đảm bảo tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và có
lợi nhuận. Muốn thực hiện được điều đó các doanh nghiệp sản xuất phải quan tâm đến
tất cả các khâu nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của xã hội như chất lượng sản phẩm
cao, giá thành hạ, góp phần thúc đẩy vòng quay của vốn, đảm bảo sự phát triển của
doanh nghiệp trong đó có hoạt động quản lý hàng tồn kho.
Quản lý hàng tồn kho là một công việc khá phức tạp, đòi hỏi nhà quản lý doanh
nghiệp phải biết vận dụng sáng tạo các phương pháp quản lý vào thực tiễn hoạt động
của doanh nghiệp mình. Đồng thời, hàng tồn kho lại bao gồm rất nhiều thành phần với
đặc điểm khác nhau, mỗi thành phần lại có độ tương thích khác nhau với các phương
thức quản lý đó. Vì thế, chúng ta không thể coi nhẹ hoạt động này trong doanh nghiệp.
Với tầm quan trọng đó của quản lý hàng tồn kho em đó chọn đề tài “Thực trạng
và giải pháp tăng cường hoạt động quản lý hàng tồn kho tại công ty General Motor
Việt Nam” cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình. Hy vọng bài viết này sẽ góp
ích phần nào vào việc hoàn thiện công tác quản lý hàng tồn kho tại công ty General
Motor Việt Nam và là tài liệu tham khảo cho các đối tượng quan tâm.
Nội dung của khóa luận được trình bày trong các phần chính như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý hàng tồn kho trong hoạt động quản lý tài sản
lưu động của doanh nghiệp.
Chương II: Thực trạng hiệu quả hoạt động quản lý hàng tồn kho tại Công ty
General Motor Việt Nam
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý hàng tồn kho tại
Công ty General Motor Việt Nam

3


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÍ HÀNG TỒN KHO TRONG
QUẢN LÍ TÀI SẢN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Hàng tồn kho của doanh nghiệp
1.1.1. Cơ cấu bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp
Khi đánh giá về một doanh nghiệp, thông tin tài chính nội bộ - các báo cáo tài
chính chính là nguồn thông tin cơ bản nhất. Trong đó, Bảng cân đối kế toán là một báo
cáo tài chính rất quan trọng đối với các đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh
doanh và quan hệ quản lý với doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán chính là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính
của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Thông thường, Bảng cân
đối kế toán được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán: một
bản phản ánh tài sản và một bản phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp. Những đối
tượng quan tâm hoặc có liên quan đến hoạt động quản lý tài sản của doanh nghiệp có
thể xem xét Bảng cân đối kế toán như nguồn tư liệu đầu tiên để đánh giá chất lượng
của hoạt động này tại doanh nghiệp được nghiên cứu. Cơ cấu tài sản được thể hiện rất
rõ trên Bảng cân đối kế toán. Vì thế, người quan tâm có thể có được cái nhìn tổng quan
về tỉ trọng giữa tài sản lưu động và tài sản cố định cũng như biến động của các loại tài
sản trong doanh nghiệp qua các thời kì kế tiếp nhau. Trong một doanh nghiệp sản xuất,
tài sản lưu động mà đặc biệt là hàng tồn kho luôn chiếm một tỉ trọng nhất định trong
cơ cấu tài sản. Theo dõi Bảng cân đối kế toán qua nhiều năm tài chính có thể thấy rõ vị
trí và giá trị của hàng tồn kho trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Hàng tồn kho
không chỉ liên quan đến các hoạt động đầu vào mà còn liên quan đến tình hình tiêu thu
và các chính sách quản lý khác nhau. Nếu xét khía cạnh các năm tài chính, tỉ trọng và
cơ cấu hàng tồn kho trên Bảng cân đối kế toán thay đổi đột biến qua các kì liên tiếp sẽ
là một vấn đề đặt ra cho hoạt động quản lý hàng tồn kho nói riêng và quản lý tài sản
lưu động nói chung của doanh nghiệp.
Để có thể nghiên cứu nội dung quản lý hàng tồn kho, trước hết ta cần nắm bắt
những vấn đề chung về tài sản lưu động và hàng tồn kho của doanh nghiệp.
1.1.2. Các vấn đề chung về tài sản lưu động và hàng tồn kho của doanh nghiệp
Tài sản lưu động
4


Một trong những điều kiện thiết yếu nhất để tiến hành các hoạt động sản xuất –
kinh doanh là đối tượng lao động. Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động chỉ
tham gia và một chu kì sản xuất nhất định. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, dưới
tác động của lao động, chúng bị tiêu hao toàn bộ hoặc thay đổi hình thái vật chất ban
đầu để tạo ra hình thái vật chất của sản phẩm. Chính vì vậy, đến chu kì sản xuất sau lại
phải sử dụng các đối tượng lao động khác. Những đặc điểm trên là xuất phát điểm
quan trọng để nhận biết cũng như tổ chức quản lý tài sản lưu động. Từ đây ta có khái
niệm chung về tài sản lưu động:
Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong
quá trình sản xuất – kinh doanh.
Mỗi một loại tài sản đều có vai trò, vị trí nhất định đối với các nhiệm vụ và mục
tiêu mà doanh nghiệp đặt ra. Đối với một doanh nghiệp, đặc biệt là một doanh nghiệp
sản xuất công nghiệp, giá trị của tài sản lưu động thường chiếm một tỉ trọng khá cao
và ổn định trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Vì thế, yêu cầu đặt ra đối với bộ
máy điều hành doanh nghiệp là nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản lưu động
để góp phần hoàn thành các mục tiêu và kế hoạch đó đề ra. Để đạt được điều này,
Doanh nghiệp cần phải quản lý tốt từng bộ phận của tài sản lưu động bao gồm:
* Tiền mặt
* Chứng khoán có tính thanh khoản cao
* Các khoản phải thu
* Dự trữ/Hàng tồn kho
Hàng tồn kho
Trong những bộ phận trên của tài sản lưu động, hàng tồn kho luôn được đánh giá
là trung tâm của sự chú ý trong các lĩnh vực kế toán – tài chính, kiểm toán… cũng như
trong các cuộc thảo luận của các chuyên gia tài chính.
Có một số lí do chính khiến hàng tồn kho trở nên đặc biệt quan trọng:
* Hàng tồn kho thường chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng số tài sản lưu động của
một doanh nghiệp và rất dễ bị xảy ra các sai sót hoặc gian lận lớn trong hoạt động
quản lý;
* Mỗi một doanh nghiệp sẽ lựa chọn các phương pháp khác nhau để định giá
hàng tồn kho cũng như các mô hình dự trữ phù hợp với doanh nghiệp mình. Vì mỗi
5


một phương pháp, mô hình khác nhau sẽ đem lại những kết quả khác nhau nên yêu cầu
đặt ra với các doanh nghiệp là phải đảm bảo tính thống nhất trong việc sử dụng các
phương pháp định giá cũng như mô hình dự trữ giữa các kì, các năm tài chính;
* Giá trị hàng tồn kho ảnh hưởng trực tiếp tới giá vốn hàng bán và do vậy có ảnh
hưởng trọng yếu tới lợi nhuận thuần trong năm;
* Công việc xác định chất lượng, tình trạng và giá trị hàng tồn kho luôn là công
việc phức tạp và khó khăn hơn hầu hết các tài sản khác. Hàng tồn kho là loại tài sản
lưu động kết chuyển hết giá trị vào một chu kì sản xuất – kinh doanh nên quản lý hàng
tồn kho càng trở nên phức tạp và quan trọng;
* Hàng tồn kho là một khái niệm rộng, bao gồm rất nhiều loại khác nhau. Có rất
nhiều khoản mốc khó phân loại và định giá như các linh kiện điện tử phức tạp, các
công trình xây dùng cơ bản dở dang, các tác phẩm nghệ thuật, kim khí, đá quý…Đồng
thời, do tính đa dạng của mình, các loại hàng tồn kho được bảo quản và cất trữ ở nhiều
nơi khác nhau, điều kiện đảm bảo khác nhau và do nhiều người quản lý. Vì thế, công
tác kiểm soát vật chất, kiểm kê, quản lý và sử dụng hàng tồn kho là một công việc
phức tạp trong công tác quản lý tài sản nói chung và tài sản lưu động nói riêng.
Từ những lí do trên ta thấy được sự cần thiết của việc nghiên cứu về hàng tồn
kho trong một doanh nghiệp sản xuất.
Nội dung hàng tồn kho
Hàng tồn kho: Là những tài sản:
+ Được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường;
+ Đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang;
+ Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất,
kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ.
Tóm lại, tồn kho là bất kì nguồn nhàn rỗi nào được giữ để sử dụng trong tương
lai. Bất kì lúc nào mà ở đầu vào hay đầu ra của một doanh nghiệp có các nguồn không
sử dụng ngay khi nó sẵn sàng, tồn kho sẽ xuất hiện.
Tuỳ từng loại hình doanh nghiệp, các dạng hàng tồn kho sẽ khác nhau và nội
dung hoạch định, kiểm soát hàng tồn kho cũng khác nhau.
Đối với các doanh nghiệp làm công tác dịch vụ, sản phẩm của họ là vụ hình như
dịch vụ của các công ty tư vấn, các công ty giải trí… thì hàng tồn kho chủ yếu là các
6


dụng cụ, phụ tùng và phương tiện vật chất – kĩ thuật dùng vào hoạt động của họ. Đối
với lĩnh vực này, nguyên vật liệu và sản phẩm tồn kho có tính chất tiềm tàng và có thể
nằm trong kiến thức tích tụ, tích luỹ trong năng lực và kiến thức của nhân viên làm
những công việc đó.
Đối với lĩnh vực thương mại, doanh nghiệp mua hàng để bán kiếm lời. Hàng tồn
kho của họ chủ yếu là hàng mua về và hàng chuẩn bị đến tay người tiêu dùng. Trong
lĩnh vực này, doanh nghiệp hầu như không có dự trữ là bán thành phẩm trên dây
chuyền như trong lĩnh vực sản xuất.
Đối với lĩnh vực sản xuất chế tạo, sản phẩm của họ phải trải qua một quá trình
chế biến lâu dài để biến đầu vào là nguyên liệu thành sản phẩm làm ra cuối cùng. Vì
thế hàng tồn kho bao gồm hầu hết các loại, từ nguyên vật liệu, đến bán thành phẩm
trên dây chuyền và bán thành phẩm cuối cùng trước khi đến tay người tiêu dùng.
1.1.3. Phân loại hàng tồn kho
Về cơ bản hàng tồn kho có thể bao gồm ba loại chính:
* Nguyên vật liệu thụ phục vụ cho quá trình sản xuất – kinh doanh. Nguyên vật
liệu là những đối tượng lao động đó được thể hiện dưới dạng vật hoá như: sắt, thép
trong doanh nghiệp cơ khí chế tạo, sợi trong doanh nghiệp dệt, da trong doanh nghiệp
đóng giày, vải trong doanh nghiệp may mặc…Đây là một yếu tố không thể thiếu được
của quá trình sản xuất, có vai trò rất lớn để quá trình này được tiến hành bình thường
dù nó không trực tiếp tạo ra lợi nhuận;
* Sản phẩm dở dang bao gồm sản phẩm chưa hoàn thành và sản phẩm hoàn
thành chưa làm thủ tục nhập kho thành phẩm. Tồn kho trong quá trình sản xuất chủ
yếu là sản phẩm chưa hoàn thành. Đó là các loại nguyên liệu nằm tại từng công đoạn
của dây chuyền sản xuất. Trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm làm ra đòi hỏi trình
độ công nghệ cao. Vì thế quá trình sản xuất ngày càng có nhiều công đoạn, giữa những
công đoạn này bao giờ cũng tồn tại những bán thành phẩm – những bước đệm nhỏ để
quá trình sản xuất được diễn ra liên tục. Nếu dây chuyền sản xuất càng dài, càng phức
tạp, có nhiều công đoạn nhỏ phân tách thì sản phẩm dở dang sẽ càng nhiều;
* Thành phẩm bao gồm thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán. Tồn kho
thành phẩm luôn tồn tại trong một doanh nghiệp tại một thời kì nhất định. Sau khi
hoàn thành các công đoạn sản xuất, hầu như tất cả các doanh nghiệp đều chưa thể tiêu
7


thụ hết ngay các sản phẩm của mình. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra hiện tượng này.
Để tiêu thụ sản phẩm có thể cần phải sản xuất đủ cả lô hàng mới được xuất kho, có
“độ trễ” nhất định giữa sản xuất và tiêu dùng, quy trình chế tạo nhiều công đoạn tốn
nhiều thời gian hoặc doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng mang tính thời vụ…
Ngoài ra, hàng tồn kho có thể bao gồm một số loại khác như:
* Hàng hoá mua về để bán (thường xuất hiện trong các doanh nghiệp thương
mại) bao gồm: Hàng hoá tồn kho, hàng mua đang đi trên đường, hàng gửi đi bán, hàng
hóa gửi đi gia công chế biến;
* Công cụ, dụng cụ tồn kho, gửi đi gia công chế biến và đó mua đang đi trên
đường.
Trên đây là cách phân loại hàng tồn kho theo các bộ phận cấu thành. Người ta
cũng có thể phân loại hàng tồn kho theo thời gian mà hàng tồn kho tồn tại. Tồn kho
trong các doanh nghiệp có thể duy trì liên tục và cũng có thể chỉ tồn tại trong khoảng
thời gian ngắn không lặp lại. Trên cơ sở đó hàng tồn kho có thể được phân chia làm
hai loại:
- Tồn kho một kì: Bao gồm các mặt hàng mà nó chỉ được dự trữ một lần mà
không có ý định tái dự trữ sau khi nó được tiêu dùng;
- Tồn kho nhiều kì: Gồm các mặt hàng được duy trì tồn kho đủ dài, các đơn vị
tồn kho đó tiêu dùng sẽ được bổ sung. Giá trị và thời hạn bổ sung tồn kho sẽ được điều
chỉnh phù hợp với mức tồn kho đáp ứng nhu cầu. Tồn kho nhiều kì thường phổ biến
hơn tồn kho một kì.
1.1.4. Đặc điểm của các loại hàng tồn kho
1.1.4.1. Nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố không thể thiếu được trong quá trình
sản xuất - kinh doanh ở các doanh nghiệp. Nói đến hoạt động quản lý hàng tồn kho,
quản lý nguyên vật liệu thường được nhắc đến đầu tiên. Quản lý tốt khâu thu mua, dự
trữ và sử dụng nguyên vật liệu là điều kiện cần thiết để đảm bảo chất lượng sản phẩm,
tiết kiệm chi phí, giảm giá thành, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Nguyên vật liệu sử dụng trong doanh nghiệp bao gồm rất nhiều loại, mỗi loại có
vai trò công dụng khác nhau. Với điều kiện nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp

8


phân loại nguyên vật liệu tốt thì mới tổ chức tốt việc hạch toán và quản lý nguyên vật
liệu.
Trong thực tế của công tác quản lý và hạch toán ở các doanh nghiệp, đặc trưng
dùng để phân loại nguyên vật liệu thông dụng nhất là theo vai trò và tác dụng của
nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất – kinh doanh. Theo đặc trưng này, nguyên vật
liệu thường phân ra làm các loại sau:
* Nguyên liệu và vật liệu chính (NVLC): Là nguyên liệu, vật liệu mà sau quá
trình gia công chế biến sẽ cấu thành hình thái vật chất của sản phẩm. Nguyên liệu ở
đây chính là các đối tượng lao động chưa qua chế biến công nghiệp;
* Vật liệu phụ: Là những vật liệu có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất – kinh
doanh, được sử dụng kết hợp với NVLC để hoàn thiện và nâng cao tính năng, chất
lượng của sản phẩm hoặc được sử dụng để đảm bảo cho công cụ lao động hoạt động
bình thường, hoặc dùng để phục vụ cho nhu cầu kĩ thuật, nhu cầu quản lý;
* Nhiên liệu: Là những thứ dùng để tạo nhiệt năng như than đá, củi, xăng, dầu…
Nhiên liệu trong các doanh nghiệp thực chất là một loại vật liệu phụ, tuy nhiên nó
được tách ra thành một loại riêng vì việc sản xuất và tiêu dùng nhiên liệu chiếm một tỉ
trọng lớn và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nhiên liệu cũng có
yêu cầu và kĩ thuật quản lý hoàn toàn khác với các loại vật liệu phụ thông thường;
- Phụ tùng thay thế: Là loại vật tư được sử dụng cho hoạt động sửa chữa, bảo
dưỡng tài sản cố định;
- Thiết bị và vật liệu XDCB: Là các loại thiết bị, vật liệu phục vụ cho hoạt động
xây lắp, xây dùng cơ bản;
- Vật liệu khác: Là các loại vật liệu đặc chủng của từng doanh nghiệp hoặc phế
liệu thu hồi.
Để đảm bảo thuận tiện, tránh nhầm lẫn cho công tác quản lý và hạch toán số
lượng và giá trị của từng loại nguyên vật liệu, các doanh nghiệp trên cơ sở phân loại
theo vai trò và công dụng của nguyên vật liệu phải tiếp tục chi tiết và hình thành nên
“Sổ danh điểm nguyên vật liệu “. Sổ này xác định thống nhất tên gọi, số hiệu, quy
cách, số hiệu, đơn vị tính, giá hạch toán của từng danh điểm nguyên vật liệu.

9


Kí hiệu
Nhó
m

Danh điểm NVL

Tên, nhón hiệu,

Đơn vị

quy cách NVL

tính

Đơn giá hạch toán

Ghi
chú

Mẫu “Sổ danh điểm nguyên vật liệu”
Nguyên vật liệu được nhập xuất kho thường xuyên. Chính vì vậy đã phát sinh
yêu cầu quản lý kiểm soát nguyên vật liệu nhập xuất kho cho các doanh nghiệp. Tuy
nhiên, mỗi doanh nghiệp sẽ có các phương thức kiểm kê khác nhau. Dưới đây là hai
phương pháp tổng hợp để kiểm kê nguyên vật liệu:
Phương pháp kê khai thường xuyên (KKTX): Là phương pháp theo dõi, phản ánh
thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn kho vật tư, hàng hoá trên
sổ sách kế toán. Tình hình biến động tăng giảm của vật tư hàng hoá được thể hiện rõ
ràng, giá trị nguyên vật liệu ở bất cứ thời điểm nào trong kì hạch toán đều có thể nắm
bắt được. Cuối kì hạch toán, căn cứ vào số liệu kiểm kê thực tế nguyên vật liệu tồn
kho, so sánh đối chiếu với số liệu tồn trên sổ kế toán ta sẽ xác định được số vật tư
thừa, thiếu và truy tìm nguyên nhân để có giải pháp xử lí kịp thời. Phương pháp này có
nhiều ưu điểm nên được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất và các đơn vị
thương nghiệp kinh doanh mặt hàng có giá trị lớn.
Phương pháp kiểm kê định kì (KKĐK): Là phương pháp hạch toán căn cứ vào
kết quả kiểm kê thực tế để phản ánh giá trị hàng tồn kho cuối kì trên sổ kế toán tổng
hợp và từ đó tính ra giá trị nguyên vật liệu đã xuất trong kì theo công thức:
Tổng trị giá vật

Trị giá vật tư,
hàng hoá xuất
kho

=

tư, hàng hoá
mua vào trong

Trị giá vật tư,
+

hàng hoá tồn

Trị giá vật tư,
-

hàng hoá tồn

đầu kì
cuối kì

Theo phương pháp KKĐK, mọi biến động nguyên vật liệu sẽ không được theo
dõi, phản ánh trên các tài khoản hàng tồn kho. Giá trị vật tư, hàng hoá mua và nhập
kho được phản ánh trên tài khoản “mua hàng”.
Phương pháp này thường áp dụng đối với các doanh nghiệp có nhiều chủng loại
nguyên vật liệu với quy cách, mẫu mã khác nhau, giá trị thấp và được xuất thường
xuyên. Ưu điểm của phương pháp này là giảm nhẹ công việc hạch toán, tuy nhiên độ
10


chính xác về nguyên vật liệu xuất dùng cho các mục đích khác nhau phụ thuộc vào
chất lượng công tác quản lý tại kho, quầy, bến bãi.
1.1.4.2. Bán thành phẩm
Bán thành phẩm hay còn gọi là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang là một loại
hàng tồn kho dù ít dù nhiều cũng luôn tồn tại ở các doanh nghiệp. Bán thành phẩm là
những sản phẩm mới kết thúc quy trình công nghệ sản xuất (trõ công đoạn cuối cùng)
được nhập kho hay chuyển giao để tiếp tục chế biến hoặc có thể bán ra ngoài. Tồn kho
bán thành phẩm thường có thể phân thành ba loại hình: bán thành phẩm vận chuyển,
bán thành phẩm quay vòng, bán thành phẩm an toàn, được lần lượt thiết lập bởi các
mục đích khác nhau, đồng thời chịu ảnh hưởng của các nguyên nhân khác nhau.
Trong mô hình JIT, một trong những mục tiêu trọng tâm là giảm tối đa lượng
hàng tồn kho bán thành phẩm chứ không phải là rút ngắn chu kì sản xuất hay giảm chi
phí sản xuất. Chu kì sản xuất sản phẩm là thời gian bắt đầu từ khi nguyên vật liệu được
đưa vào cho đến khi đưa ra được thành phẩm. Đó chính là thời gian để nguyên vật
liệu, linh kiện thông qua hệ thống chế tạo sản xuất. Giữa thời gian nguyên vật liệu
thông qua hệ thống, lượng hàng tồn kho bán thành phẩm và năng suất có mối quan hệ
như sau:
Thời gian thông

=

Lượng tồn kho bình quân bán thành phẩm
Năng suất của hệ thống

qua bình quân
Công thức này được gọi là định luật Little. Nó chứng minh rõ ràng rằng nếu giảm
lượng hàng tồn kho bán thành phẩm của hệ thống có thể làm cho thời gian nguyên vật
liệu thông qua hệ thống (chu kì sản xuất) được rút ngắn. Khi tồn kho bán thành phẩm
được giảm thiểu sẽ có thể đem đến nhiều kết quả như:
+ Sản lượng tồn kho bán thành phẩm có hai hiệu ứng quan trọng đối với việc rút
ngắn chu kì sản xuất – vừa giảm tử số của định luật Litte, vừa tăng mẫu số, vừa giảm
chi phí lại vừa rút ngắn chu kì sản xuất như một mũi tên bắn trúng hai đích;
+ Việc giảm sản lượng bán thành phẩm còn rút ngắng chu kì sản xuất, khiến cho
biên độ dao động của thời gian hoàn thành gia công linh kiện sớm sẽ được rút ngắn, từ
đó lượng tồn kho dự phòng cần thiết lập sẽ được giảm đi.
Đây chính là nguyên nhân mô hình JIT coi việc giảm lượng tồn kho bán thành
phẩm là mục tiêu chính.
11


1.1.4.3. Thành phẩm
Thành phẩm là sản phẩm đã được chế tạo xong ở giai đoạn chế biến cuối cùng
của quy trình công nghệ trong doanh nghiệp, được kiểm nghiệm đủ tiêu chuẩn kĩ thuật
quy định và nhập kho. Thành phẩm được sản xuất ra với chất lượng tốt, phù hợp với
yêu cầu của thị trường đã trở thành yêu cầu quyết định sự sống còn của doanh nghiệp.
Việc duy trì, ổn định và không ngừng phát triển sản xuất của doanh nghiệp chỉ có thể
thực hiện được khi chất lượng sản phẩm sản xuất ra ngày càng tốt hơn, đáp ứng được
yêu cầu của thị trường.
Nhiệm vụ đặt ra với các nhà quản lý doanh nghiệp là kiểm soát được tình hình
nhập, xuất kho thành phẩm, các nghiệp vụ khác liên quan đến việc tiêu thụ thành phẩm
vì chỉ có như vậy mới xác định chính xác kết quả sản xuất – kinh doanh của doanh
nghiệp.
Đối với thành phẩm, ta không thường đưa ra các mô hình quản lý dự trữ cụ thể vì
tuỳ đặc điểm của từng doanh nghiệp mà nhà quản lý phải tìm ra biện pháp phù hợp với
doanh nghiệp mình để quản lý thành phẩm thuộc hàng tồn kho. Tuy nhiên luôn có một
số nguyên tắc quản lý và hạch toán chung như:
- Hạch toán nhập, xuất kho thành phẩm phải được phản ánh theo giá thực tế;
- Thành phẩm phải được phân loại theo từng kho, từng loại, từng nhóm và từng
thứ thành phẩm;
- Tổ chức ghi chép kiểm tra lượng, giá trị thành phẩm xuất, nhập kho được thực
hiện đồng thời ở hai nơi: phòng kế toán và ở kho. Nhờ đó, phòng kế toán cũng như ban
quản lý doanh nghiệp có thể phát hiện kịp thời các trường hợp ghi chép sai các nghiệp
vụ tăng, giảm thành phẩm và các nguyên nhân khác làm cho tình hình tồn kho thực tế
không khớp với số liệu ghi chép trên sổ sách kế toán;
- Sản phẩm sản xuất xong sẽ được nhân viên bộ phận kiểm tra chất lượng sản
phẩm xác nhận thứ hạng chất lượng căn cứ vào các tiêu chuẩn quy định và ghi vào
“Bảng công tác của tổ”. Căn cứ vào kết quả kiểm tra chất lượng sản phẩm, tổ trưởng
sản xuất lập “Phiếu nhập kho” và giao thành phẩm vào kho. Mỗi lần xuất kho thành
phẩm để tiêu thụ cần lập “Phiếu xuất kho thành phẩm”. Phiếu này có thể lập riêng cho
mỗi loại hoặc nhiều loại thành phẩm, tuỳ theo tình hình tiêu thụ thành phẩm.

12


Tóm lại, mỗi loại hàng tồn kho đều có những đặc điểm riêng. Vì thế, quy trình
quản lý và kiểm soát cũng có những nét khác biệt đòi hỏi các nhà quản lý doanh
nghiệp nắm vững tính chất hàng tồn kho của doanh nghiệp mình để đưa ra phương
pháp và mô hình quản lý hiệu quả.
1.2. Quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp
1.2.1. Sự cần thiết phải quản lý hàng tồn kho
Quản lý và sử dụng hợp lý các loại tài sản lưu động có ảnh hưởng rất quan trọng
đến việc hoàn thành những nhiệm vụ, mục tiêu chung đặt ra cho doanh nghiệp. Việc
quản lý tài sản lưu động thiếu hiệu quả cũng là một trong những nguyên nhân khiến
cho các công ty gặp nhiều khó khăn trong hoạt động, thậm chí dẫn đến phá sản.
Ba vấn đề cơ bản về quản lý tài chính doanh nghiệp bao gồm: dự toán vốn đầu tư
dài hạn, cơ cấu vốn và quản lý tài sản lưu động. Trong đó, quản lý tài sản lưu động liên
quan đến hoạt động tài chính hàng ngày cũng như các quyết định tài chính ngắn hạn
của doanh nghiệp. Vì vậy, công tác quản lý tài sản lưu động đóng một vai trò khá quan
trọng trong công tác quản lý tài sản nói chung.
Quản lý hàng tồn kho – một bộ phận của tài sản lưu động – có ý nghĩa kinh tế
quan trọng do hàng tồn kho là một trong những tài sản có giá trị lớn trong doanh
nghiệp. Bản thân vấn đề quản lý hàng tồn kho có hai mặt trái ngược nhau là: để đảm
bảo sản xuất liên tục, tránh đứt quãng trên dây chuyền sản xuất, đảm bảo sản xuất đáp
ứng nhanh chóng nhu cầu của người tiêu dùng trong bất cứ tình huống nào, doanh
nghiệp có ý định tăng hàng tồn kho. Ngược lại, hàng tồn kho tăng lên, doanh nghiệp
lại phải tốn thêm những chi phí khác có liên quan đến dự trữ chung. Vì vậy, bản thân
doanh nghiệp phải tìm cách xác định mức độ cân bằng giữa mức độ đầu tư cho hàng
tồn kho và lợi ích do thoả mãn nhu cầu của sản xuất và nhu cầu người tiêu dùng với
chi phí tối thiểu nhất.
Đối với một doanh nghiệp sản xuất chế tạo, yêu cầu quản lý hàng tồn kho càng
gắt gao. Có thể minh họa điều này bằng một vài con số: Bình quân mức tồn kho trong
hệ thống sản xuất chế tạo thường đạt vào khoảng 1,6 doanh số bán/tháng hay khoảng
13% doanh số năm, công ty bán lẻ khoảng 1,4 doanh số bán/tháng hay 12% doanh số
năm, công ty bán buôn khoảng 1,2 doanh số bán/tháng hay 10% doanh số năm. Quản

13


lý hàng tồn kho tốt cũng góp phần hoàn thành kế hoạch sản xuất – kinh doanh của
doanh nghiệp trước những yêu cầu đặt ra ngày càng cao của thị trường như:
- Rút ngắn thời gian cần thiết để hệ thống sản xuất có thể đáp ứng nhu cầu;
- Phân bổ chi phí cố định cho các đơn hàng hay lô sản xuất khối lượng lớn;
- Đảm bảo ổn định sản xuất và số lượng công nhân khi nhu cầu biến đổi;
- Bảo vệ doanh nghiệp trước các sự kiện làm đình trệ sản xuất như đình công,
thiếu hụt trong khâu cung cấp…
- Bảo đảm sự mềm dẻo trong hệ thống sản xuất…
1.2.2. Nội dung của quản lý hàng tồn kho

Luồng dịch chuyển vật chất trong hệ thống sản xuất chế tạo
Vì hàng tồn kho có thể xuất hiện trong mọi công đoạn sản xuất nên ta cần nghiên
cứu luồng dịch chuyển vật chất trong một hệ thống sản xuất – kinh doanh bao gồm
nhiều công đoạn khác nhau để thấy được sự hiện diện của hàng tồn kho cũng như các
loại kho trong từng công đoạn đó.
Hệ thống sản xuất được diễn tả như là sự chuyển hóa các đầu vào qua hộp đen kĩ
thuật thành các đầu ra. Xét trong hệ thống sản xuất chế tạo, các đầu vào là sản phẩm
hữu hình, quá trình chuyển hoá có thể biểu hiện ra như một quá trình dịch chuyển vật
chất từ đầu vào qua suốt các quá trình chuyển hoá thành đầu ra. Cụ thể nguyên vật liệu
ở đầu vào, dịch chuyển từ nơi làm việc này đến nơi làm việc khác trở thành sản phẩm
lan toả khắp các kênh phân phối đến khách hàng cuối cùng.
Ta có thể hình dung dòng dịch chuyển này qua sơ đồ sau:

14


Mua sắm

Người cung cấp
Kho bán thành phẩm

Sơ đồ 1.1: Dòng dịch chuyển vật chất trong hệ thống chế tạo

15

Khách hàng

Kho SP

Kho nhà phân phối

Gửi hàng

Tiếp nhận

Kho NVL
Các giai đoạn sản xuất


Qua sơ đồ ta có thể thấy hàng tồn kho xuất hiện ở mọi công đoạn sản xuất, biểu
hiện của nó chính là các kho nguyên vật liệu, kho thành phẩm và kho bán thành phẩm.
Vì vậy, nội dung của quản lý hàng tồn kho cũng liên quan đến dòng dịch chuyển vật
chất trong hệ thống sản xuất – kinh doanh.
Nội dung của quản lý hàng tồn kho
Quản lý hàng tồn kho là tính lượng tồn kho tối ưu sao cho chi phí tồn kho là nhá
nhất. Hoạt động quản lý hàng tồn kho được đặt trên cơ sở bốn câu hỏi lớn sau:
- Lượng đặt hàng là bao nhiêu đơn vị vào thời điểm quy định;
- Vào thời điểm nào thì bắt đầu đặt hàng;
- Loại hàng tồn kho nào được chó ý;
- Có thể thay đổi chi phí tồn kho hay không.
Để trả lời những câu hỏii này, chóng ta cần phải tìm hiểu về các mô hình quản lý
hàng tồn kho, nghiên cứu kĩ về đặc điểm của từng loại hàng tồn kho cũng như chi phí
tồn kho có thể có.
Chi phí tồn kho
Khi doanh nghiệp tiến hành dự trữ, các loại chi phí tất yếu sẽ phát sinh như chi
phí bốc xếp nguyên vật liệu, hàng hoá…, chi phí bảo quản, chi phí đặt hàng, chi phí
bảo hiểm… Chi phí tồn kho liên quan đến các mô hình dự trữ. Vì thế, việc nghiên cứu
về các loại chi phí tồn kho là cần thiết trước khi đưa ra các mô hình. Chi phí tồn kho
thường bao gồm:
- Chi phí lưu kho (Chi phí tồn trữ)
- Chi phí đặt hàng (Chi phí hợp đồng)
- Chi phí khác
Để có thể hình dung từng bộ phận của chi phí tồn kho ta có bảng minh hoạ sau
với các số liệu giả định:
Chi phí tồn kho (năm)
(% giá trị hàng tồn kho)
I. Chi phí lưu kho
- Chi phí đóng gói hàng

12%

- Chi phí bốc xếp hàng vào kho

0.5%

- Thuế kho

1%
16


- Bảo hiểm

0.5%

- Khấu hao thiết bị kho và thanh lý hàng cũ

12%

Tổng cộng

26%

II. Chi phí đặt hàng
- Phí đặt hàng

Thay đổi theo lô hàng

- Phí vận chuyển

2.5%

III. Các chi phí khác
- Giảm doanh thu (do mất hàng)

Thay đổi

- Mất uy tín với khách hàng

Thay đổi

- Gián đoạn sản xuất

Thay đổi

Chi phí lưu kho
Chi phí này tăng tỉ lệ thuận với lượng hàng tồn kho trung bình hiện có và được
phân ra làm hai loại:
+ Chi phí tài chính: bao gồm chi phí sử dụng vốn như trả lãi tiền vay, chi phí về
thuế, khấu hao…
+ Chi phí hoạt động: bao gồm chi phí bốc xếp hàng hoá, chi phí bảo hiểm hàng
hoá, chi phí do giảm giá trị hàng hoá, chi phí hao hụt mất mát, chi phí bảo quản…
Bảng dưới đây sẽ thống kê những chi phí tồn trữ có thể có:
Nhóm chi phí
1. Chi phí về nhà cửa và kho tàng

Tỉ lệ so với giá trị dự
trữ
Chiếm 3% - 10%

Tiền thuê hoặc khấu hao nhà cửa
Chi phí cho bảo hiểm nhà kho, kho tàng
Chi phí cho thuê nhà đất
2. Chi phí sử dụng thiết bị phương tiện

Chiếm từ 1% - 4%

Tiền thuê hoặc khấu hao dụng cụ, thiết bị
Chi phí năng lượng
Chi phí vận hành thiết bị
3. Chi phí về nhân lực cho hoạt động giám

Chiếm từ 3% - 5%

sát quản lý
4. Phí tồn kho việc đầu tư vào hàng dự trữ
17

Chiếm từ 6% - 24%


Tỉ lệ so với giá trị dự

Nhóm chi phí

trữ

Thuế đánh vào hàng dự trữ
Chi phí cho việc vay mượn (vốn)
Chiếm từ 2% - 5%

Bảo hiểm cho hàng dự trữ
5. Thiệt hại của hàng dự trữ do mất mát, hư

hỏng hoặc không sử dụng được
Nếu doanh nghiệp có nhu cầu về hàng tồn kho là D đơn vị hàng hóa/năm, và N là
số lần đặt hàng trong một năm thì lượng hàng đặt mỗi lần sẽ là Q = D/N
Lượng tồn kho trung bình A

D
2N
=
Giả sử ta có giả thiết về hàng tồn kho của một doanh nghiệp như sau:
D =120,000đơn vị
N = 4 lần đặt hàng
Như vậy, lượng hàng cung ứng mỗi lần Q=D/N=120,000/4=30,000đv/1 lần đặt
hàng
Lượng tồn kho trung bình A=30,000/2=15,000đv
Nhận xét: Ngay sau khi tầu cập bến, lượng hàng tồn kho lớn nhất sẽ là 30,000
đơn vị và trước khi lô hàng mới nhập kho, lượng hàng tồn kho ở mức thấp nhất và
bằng 0. Lượng hàng tồn kho trung bình sẽ là 15,000 đơn vị.
Giả sử hàng tồn kho có giá p = $2/1đv
Giá trị hàng tồn kho trung bình = p x A=2 x 15,000 = $30,000
Chi phí lưu kho = 10% giá trị hàng lưu kho = 10% x 30,000 = $3,000/năm
Chi phí bốc dì, xếp hàng vào kho là $2,000/năm
Chi phí bảo hiểm kho là $500/năm
Khấu hao và thanh lý tài sản cũ không dùng được $1,000/năm
Tổng chi phí tồn kho = 3,000 + 2,000 + 500 + 1,000 = $ 6,500
Như vậy tỉ lệ phí tổn tồn kho/năm = 6,500/30,000 = 0.217
Nếu gọi:
t

: Tỉ lệ chi phí lưu kho
18


TCC (Total Carrying Cost) : Tổng chi phí tồn kho
p

: Đơn giá hàng lưu kho

A

: Giá trị tồn kho trung bình

C

: Chi phí lưu kho một đơn vị hàng hoá
1

TCC

= t x p x A = C x Q/2
1

= 0.217 x 2 x 15,000 = $
6,500
Chi phí đặt hàng (Chi phí hợp đồng)
Đây là chi phí cho việc đặt một đợt hàng mới. Chi phí này bao gồm chi phí quản
lý, giao dịch và vận chuyển hàng hoá. Chi phí này thường cố định cho một lô hàng đặt
cho dự lô hàng lớn hay nhá. Do vậy, chi phí đặt hàng thường thấp nếu lô đặt hàng lớn
và ngược lại chi phí này sẽ cao nếu lô hàng đặt nhá. Tổng chi phí đặt hàng vì thế sẽ
tăng lên nếu số lượng mỗi lần cung ứng giảm đi.

19


Nếu gọi:
N

: Số lần đặt hàng trong năm

TOC (Total Ordering Cost) : Tổng chi phí đặt hàng
C

: Chi phí cố định cho một lần đặt hàng và C =$100
2

2

TOC = C x N
2

Mà ta biết: N = D/Q
Do vậy:
D
Q

TOC = C x
2

Theo vớ dô trên ta sẽ có:
120,000
= $400
30,000
Các chi phí khác: bao gồm các chi phí thành lập kho, trả lương cho công nhân
TOC = 100 x

viên ngoài giờ…
Tổng phí tổn tồn kho (Total Inventory Cost) TIC
Tổng chi phí tồn kho được tính bằng công thức:
TIC = TCC + TOC

min

Phương trình tổng quát tính tổng chi phí tồn kho sẽ là:
TIC = C x
1

Q
2

+C x
2

D
Q

min (1)

Phương trình (1) sẽ được áp dụng vào các mô hình quản lý hàng tồn kho dưới
đây.
1.2.3. Các phương pháp quản lý hàng tồn kho
Khi nghiên cứu các phương pháp quản lý hàng tồn kho, chúng ta cần giải quyết
hai câu hỏi trọng tâm là:
- Lượng hàng cho mỗi đơn hàng là bao nhiêu thì chi phí sẽ thấp nhất
- Khi nào thì tiến hành đặt hàng
1.2.3.1. Quản lý dự trữ theo phương pháp cổ điển hay mô hình dự trữ hiệu quả nhất
EOQ (Economic ordering Quantity)
Mô hình kiểm soát dự trữ cơ bản EOQ được đề xuất và ứng dụng từ năm 1915,
cho đến nay nó vẫn được hầu hết các doanh nghiệp sử dụng. Kỹ thuật kiểm soát dự trữ
20


theo mô hình này rất dễ áp dụng, nhưng khi sử dụng nó, người ta đó phải dựa vào
những giả thiết quan trọng, đó là:
- Nhu cầu phải biết trước và nhu cầu không đổi;
- Phải biết trước thời gian kể từ khi đặt hàng cho tới khi nhận được hàng và thời
gian đó không đổi;
- Lượng hàng của mỗi đơn hàng được thực hiện trong một chuyến hàng và được
thực hiện ở một thời điểm đó định trước;
- Chỉ có duy nhất 2 loại chi phí là chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng;
- Sự thiếu hụt trong kho hoàn toàn không xảy ra nếu như đơn đặt hàng được thực
hiện đóng thời gian.
Sơ đồ 1.2: Mô hình hàng tồn kho cơ bản
ơ

Lượng hàng cung ứng
Q*
Q*/2

Dự trữ trung bình

O

A

B

C

Thời gian

Trong đó:
Q* - Sản lượng của một đơn hàng (lượng hàng dự trữ tối đa)
O – Dự trữ tối thiểu
Q*/2 – Lượng dự trữ trung bình
OA = AB = BC là khoảng cách kể từ khi nhận hàng đến khi sử dụng hết hàng của
một đợt đặt hàng dự trữ
Với mô hình này, lượng dự trữ sẽ giảm theo một tỉ lệ không đổi vì nhu cầu không
thay đổi theo thời gian.

a) Xác định các thông số cơ bản của mô hình EOQ
Lượng đặt hàng tối ưu
Mục tiêu của các mô hình dự trữ đều nhằm tối thiểu hoá tổng chi phí dự trữ.
Khi nghiên cứu về chi phí hàng tồn kho ta đó có phương trình:
21


TIC = C x
1

Q
2

+C x
2

D
Q

min

(1)

Xét phương trình (1), ta lấy vi phân TIC theo Q. Từ đó ta có thể tính được
lượng hàng cung ứng mỗi lần tối ưu Q* như sau:

Q* =

2 DC2
C1

Như vậy, lượng dự trữ tối ưu hay lượng đơn hàng tối ưu Q* sẽ là một lượng xác
định sao cho tại đó tổng chi phí TIC là nhá nhất. Q* tối ưu tại điểm có chi phí đặt hàng
và chi phí tồn trữ (chi phí cơ hội) bằng nhau.
Công thức này cũng có thể được thể hiện qua đồ thị sau:
Chi phớ

1

2
Lượng hàng cung ứng

O

Giả sử có số liệu về hàng tồn kho của một công ty sản xuất xe máy như sau:
Toàn bộ số hàng hoá cần sử dụng trong năm là 1600 tấm thộp/năm, chi phí mỗi lần đặt
hàng là 1 triệu đồng, chi phí lưu kho một đơn vị hàng hoá là 0,5 triệu đồng. Lượng
hàng hoá mỗi lần cung ứng tối ưu là:

Q* =

2 ∗1600 ∗1
= 80
0,5

Số lần đặt hàng trong năm là: 1600/80 = 20 lần
Chi phí đặt hàng trong năm là: 20 * 1 = 20 triệu
Chi phí lưu kho hàng hoá là: 0,5 * 80/2 = 20 triệu
22


Khoảng cách giữa hai lần đặt hàng
Kí hiệu T là khoảng cách giữa hai lần đặt hàng ta có:
Số ngày làm việc trong năm
Số lượng đơn đặt hàng mong muốn (N)
Giả sử trong năm công ty làm việc bình quân 320 ngày, khoảng cách giữa hai
T=

lần đặt hàng sẽ là T = 320/20 = 16 ngày
Tổng chi phí dự trữ
TIC = 0,5 x

80
2

+1x

1600
80

= 40

b) Xác định thời điểm đặt hàng mới
Trong mô hình dự trữ EOQ ta giả định rằng, sự tiếp nhận một đơn đặt hàng là
thực hiện trong một chuyến hàng. Nói cách khác, doanh nghiệp sẽ chê đến khi hàng
trong kho về đến không đơn vị thì mới tiến hành đặt hàng tiếp và sẽ nhận ngay tức
khắc. Tuy nhiên, trong thực tế thời gian giữa lúc đặt hàng và nhận hàng có thể ngắn
trong vòng vài giờ hoặc rất dài đến hàng tháng. Đồng thời không có doanh nghiệp nào
đợi đến khi nguyên vật liệu hay hàng tồn kho trong kho của mình hết rồi mới đặt hàng
tiếp. Cũng không doanh nghiệp nào đặt hàng mới từ quá sớm vì như vậy cũng làm
tăng chi phí tồn trữ hàng hoá.
Do đó để quyết định khi nào sẽ đặt hàng ta phải xác định thời điểm đặt hàng mới
dựa trên số lượng hàng tồn kho sử dụng mỗi ngày nhân với độ dài thời gian giao hàng.
Sơ đồ điểm đặt hàng lại ROP được thể hiện như sau:

23


Lượng hàng tồn kho

Q*

ROP

O

L

A

Thời gian

Sơ đồ 1.3: Sơ đồ điểm đặt hàng lại ROP
Điểm đặt hàng lại: ROP = d x L trong đó:
L: thời gian vận chuyển đơn hàng
d: nhu cầu hàng ngày về hàng tồn kho
D
Số ngày sản xuất trong năm
Vẫn giả thiết về công ty sản xuất xe máy trên. Toàn bộ số hàng tồn kho cần sử
d=

dụng trong năm là 1600 đơn vị, số ngày làm việc mỗi năm là 320 ngày thì hàng tồn
kho được dùng mỗi ngày d = 1600/320 = 5 đơn vị/ngày. Nếu thời gian giao hàng L = 4
ngày không kể ngày nghỉ thì doanh nghiệp sẽ tiến hành đặt hàng khi lượng nguyên liệu
trong kho chỉ còn lại là: ROP = 4 x 5 = 20 đơn vị.
c) Lượng dự trữ an toàn
Đối với một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong kinh doanh là
điều không thể lường trước, đặc biệt là các doanh nghiệp làm ăn theo thời vụ hoặc sản
xuất những sản phẩm nhạy cảm với thị trường. Tính không xác định của nhu cầu và
tính không xác định của thời gian đến sớm khi đặt hàng có thể xảy ra hiện tượng hàng
trong kho bị rỗng trước khi lượng bổ sung hàng đặt đến nơi. Để đảm bảo sản xuất ổn
định, doanh nghiệp cần duy trì lượng hàng tồn kho dự trữ an toàn. Hơn nữa, hàng tồn
kho là loại tài sản lưu động biến đổi hàng ngày, hàng giờ nên yêu cầu về lượng dự trữ
an toàn càng cần thiết hơn.
Nói đến cơ cấu tài sản trong một doanh nghiệp ta thường phân làm ba loại: tài
sản cố định, tài sản lưu động thường xuyên và tài sản lưu động tạm thời. Tài sản lưu
động thường xuyên hay tài sản lưu động rũng (NWC) được xác định là chênh lệch
24


giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn. Thành phần của NWC bao gồm cả ba loại tài sản
là tiền mặt như một tấm đệm cho việc chi tiêu ngoài dự kiến, một số khoản phải thu có
khả năng thu hồi cao và hàng tồn kho. Vì thế, lượng dự trữ an toàn chính là lượng
hàng tồn kho nằm trong tài sản lưu động rũng được duy trì trong suốt quá trình sản
xuất – kinh doanh của doanh nghiệp.
Lượng dự trữ an toàn được hiểu là lượng hàng tồn kho dự trữ thêm vào lượng dự
trữ tại thời điểm đặt hàng.
Với doanh nghiệp sản xuất xe máy trên, ban lãnh đạo của doanh nghiệp này
quyết định mức dự trữ an toàn là 10 đơn vị hàng hoá, điểm đặt hàng mới sẽ là 20 + 10
= 30 đơn vị.
Trên thực tế rất khó xác định lượng dự trữ an toàn thông qua chi phí tổn thất do
thiếu hàng. Người ta thường dựa vào nhu cầu khách hàng có thể đáp ứng bởi hàng tồn
kho dự phòng (lượng dự trữ an toàn) trước khi đơn hàng mới nhập kho. Mức phục vụ
khách hàng được xác định càng cao thì mức độ tồn kho điểm hàng đặt cần phải xác
định càng cao. Vì thế, các doanh nghiệp cần cân nhắc hợp lý giữa chi phí do thiếu
hàng tồn kho và chi phí cho hàng tồn kho dự phòng.
Như vậy, mô hình EOQ đó chỉ ra qui mô đặt hàng tối ưu làm tối thiểu hoá chi phí
đặt hàng và lưu kho. Tuy nhiên, mô hình này cũng có nhược điểm là cần quá nhiều giả
thiết, làm mất tính thực tiễn của nó. Vì vậy, trên cơ sở mô hình này người ta đó thiết
lập mô hình mô hình sản lượng đơn hàng sản xuất (POQ), nới lỏng giả thiết cho rằng
doanh nghiệp nhận được lô hàng trong một khoảng thời gian nhất định và mô hình
đánh giá chiết khấu giảm giá cho các đơn hàng khối lượng lớn để xoá bớt những giả
thiết, tăng cường tính thực tiễn cho mô hình EOQ.
1.2.3.2. Quản lý hàng tồn kho theo phương pháp cung cấp đóng lúc hay dự trữ bằng
không
a) Khái niệm về dự trữ đúng thời điểm
Mục tiêu của hàng tồn kho trong hệ thống sản xuất và cung ứng nhằm dự phòng
những sai lệch, biến cố có thể xảy ra trong cả quá trình sản xuất phân phối tiêu thụ. Để
đảm bảo hiệu quả tối ưu, các doanh nghiệp trên thế giới, đặc biệt là các doanh nghiệp
Nhật Bản (đi đầu là hóng TOYOTA trong những năm ba mưii của thế kỉ trước) đó áp
dụng phương pháp cung cấp đóng lúc (Just in time – JIT). Đôi khi, các nhà quản lý
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×