Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của tuyến trùng meloidogyne sp hại cà tím và biện pháp phòng trừ theo hướng quản lý tổng hợp tại lâm đồng (tt)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
---------------------------------------------

TRẦN THỊ MINH LOAN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA TUYẾN
TRÙNG Meloidogyne sp. HẠI CÀ TÍM VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
THEO HƯỚNG QUẢN LÝ TỔNG HỢP TẠI LÂM ĐỒNG

Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số: 9620112

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

Hà Nội, 2019



Công trình được hoàn thành tại:Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Phạm Thị Vượng
2. PGS.TS. Nguyễn Văn Kết

Phản biện 1: ......................................................................
Phản biện 2: ......................................................................
Phản biện 3: ......................................................................

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện họp tại.....(ghi rõ nơi bảo vệ
luận án cấp Viện) ngày .. tháng... năm...

Có thể tìm hiểu luận án tại:
1. Thư Viện Quốc gia
2. Thư viện Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Thư Viện.....(ghi tên các thư Viện nộp luận án)


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Cà tím là cây rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, được phát triển, mở rộng
diện tích gieo trồng ở Việt Nam cũng như địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Mặc dù, cà tím là cây trồng dễ
trồng và chăm sóc nhưng nhược điểm lớn nhất trong việc sản xuất cà tím đó là chúng bị rất nhiều loại
bệnh gây hại như bệnh héo xanh, đốm lá và tuyến trùng ký sinh thực vật gây hại.
Tuyến trùng nốt sần rễ (Meloidogyne spp.) là nhóm tuyến trùng gây hại phổ biến trên hầu
hết các loại cây trồng rộng khắp trên toàn thế giới. Trong số những nhóm tuyến trùng đã phát
hiện ở Việt Nam thì tuyến trùng nốt sần rễ là đối tượng gây hại nghiêm trọng nhất, là đối tượng
chủ yếu nhất và phát triển mạnh trong những năm gầy đây. Ở Lâm Đồng tuyến trùng nốt sần rễ
là một trong những nhóm gây hại chủ yếu trên các loại cây rau họ cà nói chung và trên cà tím nói
riêng, làm ảnh hưởng đến năng suất chất lượng và làm gia tăng các bệnh hại khác. Mặc dù, tuyến
trùng nốt sần rễ đã và đang gây thiệt hại nặng nề, ảnh hưởng lớn đến năng suất cũng như chất
lượng quả cà tím và trở thành một trong những bệnh hại nguy hiểm nhất trên các loại cây trồng
ở Việt Nam. Tuyến trùng nốt sần rễ gây hại trên cà tím đã được phát hiện, tuy nhiên, chưa có
nghiên cứu sâu về sự phân bố, đặc điểm sinh học, sinh thái của loài tuyến trùng nốt sần rễ gây hại
trên cây họ cà nói chung và cây cà tím nói riêng tại khu vực Lâm Đồng để làm cơ sở cho việc
phòng trừ hiệu quả. Với những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh
học, sinh thái của tuyến trùng Meloidogyne sp. hại cà tím và biện pháp phòng trừ theo hướng
quản lý tổng hợp tại Lâm Đồng” nhằm xác định thành phần loài tuyến trùng nốt sần rễ gây hại
cây cà tím, nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học và đưa ra giải pháp quản lý tổng hợp
tuyến trùng nốt sần rễ phục vụ sản xuất cà tím an toàn, hiệu quả cho tỉnh Lâm Đồng và cả nước.
2. Mục đích, đối tượng, phạm vi và yêu cầu của đề tài
Mục đích: Xác định thành phần loài tuyến trùng nốt sần rễ hại cà tím, đặc điểm sinh học, sinh
thái học loài tuyến trùng nốt sần rễ M. incognita, đề xuất biện pháp phòng chống chúng theo hướng
quản lý tổng hợp, góp phần sản xuất cà tím nói riêng, nhóm cây họ cà nói chung an toàn, hiệu quả và
bền vững.
Yêu cầu: Thu thập, xác định được thành phần loài tuyến trùng nốt sần rễ hại cà tím một số
vùng trồng rau họ cà chủ yếu của tỉnh Lâm Đồng; Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học
của tuyến trùng nốt sần rễ M. incognita; Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng chống tuyến trùng
nốt sần rễ hại cà tím theo hướng quản lý tổng hợp.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án
Ý nghĩa khoa học: Đề tài đã bổ sung dẫn liệu khoa học mới về thành phần loài tuyến trùng
nốt sần rễ, đặc điểm sinh học, sinh thái và qui luật phát sinh phát triển, gây hại của loài tuyến
trùng M. incognita trên cà tím tại Lâm Đồng. Trên cơ sở đó đã đề xuất được các giải pháp phòng
chống tuyến trùng nốt sần rễ hiệu quả, bảo vệ môi trường và góp phần sản xuất cà tím an toàn,
hiệu quả cao cho các vùng sản xuất rau tại Lâm Đồng. Luận án là tài liệu tham khảo cho sinh viên
các trường đại học, cao đẳng nông nghiệp, cho cán bộ nghiên cứu và giảng dạy có chuyên môn
liên quan.
Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất được các biện pháp phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ an toàn,
hiệu quả, góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất cà tím theo hướng IPM, phục vụ sản xuất ổn
định, hiệu quả và bền vững cho vùng trồng rau của tỉnh Lâm Đồng nói riêng, cả nước nói chung
trong điều kiện đang lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học để phòng trừ tuyến trùng trong sản
xuất như hiện nay, đồng thời là nguồn tài liệu giúp cán bộ quản lý, cán bộ chỉ đạo sản xuất và

1


người trồng cà tím xác định kịp thời nguyên nhân gây hại do M. incognita trên cà tím, các giải
pháp quản lý hiệu quả tuyến trùng nốt sần rễ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tuyến trùng gây bệnh sưng rễ (Meloidogyne sp.) gây hại trên cây cà
tím.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Xác định thành phần tuyến trùng gây nốt sần rễ hại cây cà tím; Đặc điểm sinh
học của tuyến trùng nốt sần rễ M. incognita hại cà tím; Nghiên cứu một số điều kiện sinh thái
(loại đất, các loại phân hữu cơ, lượng mưa, độ ẩm đất, nhiệt độ và các giống cà tím khác nhau)
ảnh hưởng đến phát sinh và gây hại của loài M. incognita trên cà tím; Nghiên cứu các giải pháp
phòng chống loài tuyến trùng nốt sần rễ M. incognita hại cà tím theo hướng quản lý tổng hợp
(biện pháp canh tác, biện pháp sinh học, biện pháp vật lý, biện pháp hóa học).
Địa điểm: Thí nghiệm thu thập thành phần loài, nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện sinh
thái tới tuyến trùng và thí nghiệm ngoài đồng ruộng được thực hiện tại vùng trồng rau chủ yếu
của tỉnh Lâm Đồng là Đơn Dương, Đức Trọng và Đà Lạt. Thí nghiệm trong chậu vại được thực
hiện tại nhà che phủ, tại Khoa Nông Lâm, trường Đại học Đà Lạt. Các thí nghiệm in vitro, tách
lọc, phân loại được thực hiện tại phòng thí nghiệm bảo vệ thực vật của Khoa Nông Lâm trường
Đại học Đà Lạt và phòng thí nghiệm của bộ môn tuyến trùng tại Viện nghiên cứu Nông nghiệp
và thủy sản, tỉnh đông Flander, vương quốc Bỉ.
5. Đóng góp mới của luận án
Luận án đã cung cấp một số dẫn liệu mới về thành phần loài tuyến trùng nốt sần rễ
(Meloidogyne spp.) hại cà tím tại khu vực Lâm Đồng, một số đặc điểm sinh học, sinh thái học
của loài tuyến trùng nốt sần rễ M. incognita hại cà tím.
Đề xuất được biện pháp phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ hại cà tím tại Lâm Đồng theo
hướng quản lý tổng hợp góp phần giảm thiệt hại do chúng gây ra, giảm sử dụng thuốc BVTV hóa
học phòng trừ tuyến trùng và hoàn thiện quy trình sản xuất cà tím an toàn, hữu cơ cho Lâm Đồng
nói riêng và cả nước nói chung.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Cà tím là cây rau ăn quả, có tên khoa học là Solanum melongena thuộc họ cà (Solanaceae),
có giá trị kinh tế cao. Trên thế giới có khoảng 1.600.000 ha trồng cà tím. Ở Việt Nam, cà tím chỉ
mới được chú trọng phát triển trong những năm gần đây và được trồng khá phổ biến ở nhiều địa
phương trong cả nước. Tại Lâm Đồng, trong năm 2017 diện tích trồng cà tím đạt khoảng 1.944
ha, với năng suất trung bình là 47,6 tấn/ha.
Mặc dù cà tím cho thu nhập cao nhưng sản xuất rất không ổn định, do cà tím là cây trồng
dễ bị nhiều loại sâu bệnh, côn trùng và tuyến trùng gây hại, trong đó giống Meloidogyne là đối
tượng gây hại quan trọng ảnh hưởng đến năng suất cà tím. Tuyến trùng nốt sần rễ là nhóm tuyến
trùng có vai trò gây hại quan trọng và phổ biến nhất trên thế giới và là nhóm gây thiệt hại kinh tế
cho cây trồng nông nghiệp ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tuyến trùng nốt sần rễ có thể
làm giảm năng suất của cà tím lên đến 95% (Di Vito, 1986). Thành phần loài tuyến trùng nốt sần
rễ gây hại trên cây cà tím rất đa dạng. Ở khu vực Nam Á, Nepal và Ấn Độ có 2 loài tuyến trùng
nốt sần rễ gây hại là M. incognita, M. javanica, ở Ai Cập có 3 loài là M. incognita, M. arenaria
và M. javanica gây hại trên cà tím.

2


Cho đến hiện nay, việc điều tra thu thập và đánh giá vai trò gây hại của tuyến trùng nốt sần
rễ gây ra trên các loại cây trồng ở Việt Nam chưa nhiều, các công bố chủ yếu tập trung trên một
số cây công nghiệp dài ngày. Một số kết quả điều tra xác định thành phần loài tuyến trùng nốt
sần rễ trên cây rau ở khu vực miền Nam và Lâm Đồng được thực hiện vào những năm 90 của thế
kỷ XX. Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu này không công bố về thành phần loài tuyến trùng nốt
sần rễ hại cà tím.
Trên thế giới, đã có một số công trình nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện sinh thái
như nhiệt độ, độ ẩm, các yếu tố khí hậu đến vòng đời của tuyến trùng nốt sần rễ M. incognita trên
cà tím cũng như các biện pháp phòng chống. Tuy nhiên, ở Việt Nam, chưa có kết quả nghiên cứu
về đặc điểm sinh học hoặc sinh thái học cũng như biện pháp phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ trên
cà tím.
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.2.1.1 Lịch sử nghiên cứu, phân bố và mức độ gây hại của tuyến trùng nốt sần rễ trong nông nghiệp
Tuyến trùng nốt sần rễ (root-knot nematodes) có nhiều cách gọi khác nhau như tuyến trùng
nốt sần rễ, tuyến trùng u sưng, tuyến trùng sần rễ, ký sinh bắt buộc và nhóm có vai trò gây hại
quan trọng, ký sinh trên hầu hết cây trồng bậc cao, gây thiệt hại rất lớn đối với nền kinh tế nông
nghiệp. Những nghiên cứu đầu tiên liên quan đến tuyến trùng ký sinh thực vật được biết đến vào
giữa thế kỷ 18 (1743) khi Needham quan sát loài gây hại trên lúa mì trên kính hiển vi có khả năng
di chuyển. Tuy nhiên, mãi đến giữa thế kỷ 19, những báo cáo mô tả đặc trưng về tuyến trùng nốt sần
rễ mới rõ ràng.
Triệu chứng điển hình của tuyến trùng nốt sần rễ gây hại trên cây trồng là tạo ra những nốt
sần rễ ở rễ. Tuyến trùng nốt sần rễ gây hại trên cà tím chủ yếu là M. incognita, M. javanica và M.
arenaria, trong đó loài M. incognita là loài gây hại quan trọng. Cũng giống như các tác nhân gây
hại khác trên cây trồng, tuyến trùng nốt sần rễ cũng là nguyên nhân chính làm giảm năng suất của
cây trồng. Theo Taylor và Sasser (1978), đối với những khu vực bị tuyến trùng nốt sần rễ, nếu
không sử dụng các biện pháp để phòng trừ kịp thời thì năng suất có thể giảm đến 24,5%, trong
trường hợp bị nặng, thiệt hại năng suất có thể lên đến 85%.
1.2.1.2 Phân loại và định danh tuyến trùng nốt sần rễ
Tuyến trùng nốt sần rễ Meloidogyne thuộc giới Animalia, ngành Nematoda Potts 1932, lớp
Chromadorea Inglis, 1983, bộ Rhabditida Chitwood, 933, phân bộ Tylenchida Thorne, 1949, họ
Meloidogynidae Skarbilovich, 1959, giống Meloidogyne Goldi, 1987. Ban đầu kỹ thuật định danh
tuyến trùng nốt sần rễ thường chủ yếu dựa vào đặc điểm hình thái trên cơ sở mô tả đặc điểm vân
mẫu vùng chậu (prenial pattern) của con cái và chiều dài của ấu trùng tuổi 2. Tuy nhiên, vào cuối
thế kỷ XX, tuyến trùng nốt sần rễ đã được định danh bằng phương pháp isozyme và sinh học phân
tử.
1.2.1.3 Đặc điểm sinh học, sinh thái học của tuyến trùng nốt sần rễ
Tuyến trùng nốt sần rễ có nhiều giai đoạn sinh trưởng và phát triển, biến đổi qua nhiều hình
dạng khác nhau, có thể gọi là lưỡng hình. Con cái hình quả lê, ít di chuyển nằm trong rễ. Ấu trùng
tuổi 1 nằm trong trứng. Ấu trùng tuổi 2 hình giun di chuyển trong đất. Sau khi xâm nhiễm vào rễ,
ấu trùng tuổi 2 phát triển thành ấu trùng tuổi 3 và tuổi 4, sau đó phình to ra thành con cái trưởng
thành hoặc cũng có thể hình thành con đực hình giun di chuyển trong đất. Thông thường thời gian
sinh trưởng và phát triển của tuyến trùng nốt sần rễ phụ thuộc vào loài, ký chủ và nhiệt độ, nhìn
chung biến động từ 15 ngày đến 70 ngày và phụ thuộc vào nhiệt độ.
Đặc điểm sinh thái học của tuyến trùng nốt sần rễ
3


Các loại cây trồng khác nhau thì mức độ gây hại của tuyến trùng nốt sần rễ sẽ khác nhau.
Mật độ của tuyến trùng nốt sần rễ trong đất phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện sinh thái đất và khí
hậu. Sự thay đổi thành phần loài, mật độ tuyến trùng đất có liên quan đến 65% lượng mưa và
58% liên quan đến nhiệt độ đất. Đặc điểm kết cấu của đất cũng ảnh hưởng đến mật đố tuyến
trùng. Tuyến trùng nốt sần rễ thường thích hợp với đất cát hơn là đất sét. Mật độ tuyến trùng
trong đất liên quan đến vật liệu hữu cơ bổ sung vào đất. Nhìn chung, sự sinh trưởng, mật độ và
khả năng sống sót của tuyến trùng nốt sần rễ phụ thuộc vào ký chủ, các điều kiện sinh thái như
nhiệt độ, độ ẩm đất, hàm lượng hữu cơ và sa cấu đất.
1.2.1.4 Biện pháp phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ
Sử dụng các biện pháp phòng chống tuyến nốt sần rễ nhằm hạn chế tác hại của tuyến trùng
đến cây trồng, ổn định năng suất và chất lượng, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Có 6 biện pháp tác
động vào cây trồng nhằm hạn chế sự phát triển của tuyến trùng gây hại, bao gồm: luân canh cây
trồng, nhổ bỏ gốc, sử dụng gen kháng, biện pháp sinh học, biện pháp vật lý và sử dụng thuốc trừ
tuyến trùng. Để tăng hiệu quả và hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thì biện pháp phòng
chống tuyến trùng theo hướng quản lý dịch hại tổng hợp được nghiên cứu và triển khai.
1.2.2 Những nghiên cứu trong nước
1.2.2.1 Lịch sử nghiên cứu, phân loại, phân bố và đặc điểm sinh học, sinh thái tuyến trùng nốt sần rễ
Ở Việt Nam, nghiên cứu về tuyến trùng đầu tiên do nhà khoa học Andrassy người Hungary
công bố vào năm 1970 với hơn 30 loài tuyến trùng ký sinh thực vật và sống tự do. Theo Nguyễn
Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thánh, tuyến trùng thực vật được chia thành 30 giống, 11 họ, 4 bộ
khác nhau. Trong đó, tuyến trùng nốt sần rễ ký sinh thực vật ở Việt Nam gồm 10 loài là M.
arenaria, M. cynariensis, M. graminicola, M. incognita, M. javanica, M. exigua, M. cofeicola,
M. enterolobii, M. hapla và M. daklakensis thuộc giống Meloidgyne, họ Heteroderidae, thuộc
phân bộ Tylenchina và bộ Tylenchida. Những nghiên cứu về điều tra phân loại tuyến trùng nốt
sần rễ ở Việt Nam chủ yếu dựa vào phương pháp hình thái. Đến năm 2005, phương pháp định
danh bằng phương pháp sinh học phân tử được ứng dụng để phân loại một số loài tuyến trùng ở
Việt Nam nhưng không có kết quả định danh giống tuyến trùng Meloidogyne. Đến năm 2012, đã
định danh được loài M. graminicola và M. incognita bằng phương pháp sinh học phân tử. Năm
2018, dựa trên đặc điểm hình thái, gen và gen ty thể Trinh et al. đã định danh được loài mới M.
daklakensis.
Nghiên cứu đầu tiên về đặc điểm sinh học của tuyến trùng nốt sần rễ đã được công bố trên
đối tượng là loài M. arenaria hại lúa, M. incognita, nghiên cứu tác động của M. incognita,
Rotylenchulus reniformis & Tylenchorhynchus brassicae và mức độ gây hại trên cà chua và thuốc
lá. Chưa có công bố nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của tuyến trùng nốt sần rễ trên
cà tím.
1.2.2.2 Biện pháp phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ
Ở Việt Nam, công bố đầu tiên về biện pháp phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ vào năm
1981, sau đó là những công bố về đề xuất các biện pháp phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ trên
cây hồ tiêu và biện pháp phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ tại một số vùng trồng rau ở Hà Nội.
Các nghiên cứu về biện pháp phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ ở Việt Nam cũng được thực
hiện dựa trên những phương pháp nghiên cứu phổ biến ở ngoài nước, trên một số cây trồng như
lúa, thuốc lá, cà phê, hồ tiêu, cải thảo và xà lách. Các biện pháp phòng trừ chủ yếu là luân canh
cây trồng, sử dụng giống kháng, biện pháp vật lý, biện pháp sinh học, biện pháp hóa học và biện
pháp phòng trừ tổng hợp. Tuy nhiên, chưa có công trình nào công bố về biện pháp phòng trừ
tuyến trùng nốt sần rễ trên cà tím ở Việt Nam cũng như Lâm Đồng.
4


CHƯƠNG 2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ năm 2014 đến hết năm 2017
2.2 Vật liệu, thiết bị và dụng cụ nghiên cứu
Giống cà tím TN525 Green King, đất sét pha cát (49% cát, 10% limon và 41% sét) và đất
sét (32% cát, 1% limon, 67% sét) và đất cát sông (70% cát, 20% limon và 10% sét); túi và chậu
trồng cây; Các loại vật liệu hữu cơ và phân bón NPK Yara 15-15-15; hóa chất để nhuộm tiêu bản
tuyến trùng; dụng cụ lấy mẫu, rây lọc tuyến trùng và các thiết bị thí nghiệm.
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thu thập, xác định thành phần, triệu chứng và mức độ gây hại của tuyến trùng nốt
sần rễ (Meloidogyne spp.) hại cà tím tại Lâm Đồng và diễn biến của chúng ngoài sản xuất
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài tuyến trùng nốt sần rễ M. incognita
gây hại quan trọng cây cà tím tại Lâm Đồng
- Nghiên cứu biện pháp phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ (M. incognita) hại cây cà tím
theo hướng quản lý tổng hợp
- Xây dựng thử nghiệm áp dụng một số giải pháp quản lý tổng hợp trong phòng chống tuyến
trùng nốt sần rễ (M. incognita) hại cây cà tím tại Lâm Đồng
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp điều tra thu thập, xác định thành phần tuyến trùng gây nốt sần rễ hại cà
tím tại Lâm Đồng
4.4.1.1 Phương pháp điều tra phỏng vấn nông dân
Điều tra nông dân bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi
4.1.1.2 Phương pháp điều tra sâu bệnh hại chính trên cà tím ngoài đồng ruộng
Chọn thửa ruộng trồng cà tím của 85 hộ. Trên thửa ruộng chọn một ô ngẫu nhiên khoảng
100m2. Xác định điều tra 5 điểm theo qui tắc đường chéo để xác định một số nhóm đối tượng gây
hại chính trên đồng ruộng dựa vào triệu chứng điển hình trên thân, lá, quả của cà tím theo mô tả
về một số sâu bệnh hại chính của Daunay (2008) và Srinivasan (2009).
2.4.1.3 Phương pháp lấy mẫu đất và rễ cà tím ngoài đồng ruộng
Mẫu đất và rễ được lấy theo qui tắc đánh dấu bản đồ theo hình zich zắc (W) trên 85 vườn
trồng cà tím tại Lâm Đồng. Bảo quản ở tủ ổn nhiệt ở nhiệt độ 15oC.
2.4.1.4 Phương pháp tách lọc tuyến trùng nốt sần rễ trong đất và rễ
Tách lọc ấu trùng tuổi 2 di động trong đất bằng phương pháp Baermann cải tiến sử dụng
khay nông (Modified Baermann method). Tách lọc ấu trùng di động trong rễ cà tím bằng phương
pháp Baermann cải tiến (Modification of the Baermann Funnel techniques). Ủ mẫu trong vòng
48 giờ.Tiến hành đếm ấu trùng tuổi 2 di chuyển trên kính lúp có độ phóng đại 40 lần.
2.4.1.5 Phương pháp xác định tỉ lệ rễ bị hại và mức độ gây hại do tuyến trùng nốt sần rễ gây ra trên rễ cà
tím
Mức độ gây hại của tuyến trùng nốt sần rễ được đánh giá bằng mức độ xâm nhiễm được xác
định từ 0 -10 theo Zeck (1971), Bridge and Page (1980).
Phương pháp xác định độ bắt gặp tuyến trùng nốt sần rễ
𝑠ố 𝑣ườ𝑛 đ𝑖ề𝑢 𝑡𝑟𝑎 𝑏ắ𝑡 𝑔ặ𝑝
Độ bắt gặp tuyến trùng nốt sần rễ (%) =
. 100
𝑡ổ𝑛𝑔 𝑠ố 𝑣ườ𝑛 đ𝑖ề𝑢 𝑡𝑟𝑎
𝑆ố 𝑙ầ𝑛 đ𝑖ề𝑢 𝑡𝑟𝑎 𝑏ắ𝑡 𝑔ặ𝑝
Tần suất xuất hiện loài (%) =
. 100
𝑇ố𝑛𝑔 𝑠ố 𝑙ầ𝑛 đ𝑖ề𝑢 𝑡𝑟𝑎

5


𝑆ố 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑟ễ 𝑏ị 𝑛ố𝑡 𝑠ầ𝑛
. 100
𝑇ố𝑛𝑔 𝑠ố 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑟ễ 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑑õ𝑖
2.4.1.6 Phương pháp tách lọc và làm tiêu bản với con cái
Tách tuyến trùng Meloidogyne dưới kính lúp soi nổi bằng cách mổ dọc nốt sần rễ, dùng dao
tách phần u lồi của rễ, tuyến trùng trong rễ sẽ bị bung ra. Dùng panh kẹp gắp ít nhất 20 con cái
vào cốc nhỏ có chứa 0,9% NaCl, cố định con cái và giải phẫu vùng chậu con cái.
2.4.1.6 Phương pháp giải phẫu vùng chậu con cái
Dùng panh để gắp tuyến trùng cái Meloidogyne sp. vào lam kính, cố định tuyến trùng, dùng
dao cắt bỏ phần đầu, dùng que cấy bỏ phần ruột của tuyến trùng. Tiếp tục cắt và bỏ nửa phần đầu
của con cái, cắt nhẹ nhàng và lấy lại phần vùng chậu có chứa hậu môn, lỗ sinh dục cái. Vùng
chậu con cái được cố định lại trên tiêu bản.
2.4.1.7 Phương pháp làm tiêu bản tươi và tiêu bản cố định tuyến trùng
Cách làm tiêu bản tươi, tiêu bản cố định theo Bezooijen (2006) và Ravichandra (2010).
2.4.1.8 Phương pháp mô tả đặc điểm hình thái
Mô tả các đặc điểm về vân mẫu, hình dạng kim hút, khoảng cách từ thực quản đến tuyến
lưng, chiều dài của ấu trùng tuổi 2, con đực, con cái bằng phần mềm Bel capture dựa vào thanh
đo.
2.4.1.9 Định danh tuyến trùng bằng sinh học phân tử
Định danh tuyến trùng nốt sần rễ bằng phương pháp sinh học phân tử dựa vào mồi đặc
hiệu của nhóm tuyến trùng nốt sần rễ vùng nhiệt đới.
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài tuyến trùng nốt sần
rễ (M. incognita) có vai trò gây hại quan trọng cây cà tím
2.4.2.1 Phương pháp nhân nuôi và làm thuần loài
Nhân nuôi và làm thuần loài tuyến trùng M. incognita trên rễ cà chua nuôi cấy trong môi
trường bán lỏng Gamborg - B5.
2.4.2.2. Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh vật học (vòng đời của tuyến
trùng, tỉ lệ nở trứng của loài M. incognita) trong điều kiện phòng thí nghiệm
Theo dõi hình thái, đặc điểm của các pha phát dục của tuyến trùng nốt sần rễ M. incognita
ở điều kiện nhiệt độ là 24±1oC với 3 ngưỡng độ ẩm đất khác nhau là 30-40%, 40-50%, 50-60%.
Xác định hình thái và các pha phát triển của tuyến trùng nốt sần rễ bằng phương pháp nhuộm rễ.
Nhuộm rễ bằng acid fucshin. Xác định tỉ lệ nở trứng bằng phương pháp đếm số lượng ấu trùng
tuổi 2 hình thành trên tổng số trứng theo dõi trong 3 môi trường khác nhau bao gồm nước cất;
dịch chiết rễ cà tím 1 tháng tuổi; rễ cà tím 6 tháng tuổi.
2.4.2.3 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của một số điều kiện sinh thái đến diễn biến mật độ
của loài tuyến trùng nốt sần rễ ngoài sản xuất
Phương pháp chuẩn bị cây giống sạch bệnh
Hạt giống được khử trùng, gieo trên giá thể đã được khử trùng trong điều kiện nhà che phủ.
Phương pháp nhiễm tuyến trùng vào chậu trồng cây trong nhà che phủ
Tách lọc ấu trùng tuổi 2 loài M. incognita từ rễ cà chua nuôi cấy trong phòng thí nghiệm,
nhiễm vào các chậu cà tím với mật độ 2000 cá thể/chậu trồng.
Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất, lượng mưa, chế độ nhiệt đến diễn
biến mật độ của tuyến trùng M. incognita ngoài đồng ruộng
Thí nghiệm được thực hiện tại vườn trồng cà tím ngoài điều kiện sản xuất với giống cà tím
TN 252 Green King tại thôn suối thông B, xã Đạ Ròn, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Thu
thập số liệu thứ cấp về nhiệt độ và lượng mưa qua các tháng trong năm từ 2014-2017 từ trạm khí
Tỉ lệ nốt sần rễ (%) =

6


tượng Thạnh Mỹ, huyện Đơn Dương, thành phố Đà Lạt. Độ ẩm đất được xác định theo phương
pháp khối lượng. Mật độ ấu trùng tuổi 2 được xác định theo chu kỳ 30 ngày trong 3 mùa vụ liên
tiếp để đánh giá mức độ tương quan giữa mật độ ấu trùng tuổi 2 loài M. incognita với lượng mưa, nhiệt
độ và độ ẩm đất.
Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện đất đai (thành phần cấp hạt và
hàm lượng hữu cơ trong đất) đến diễn biến mật độ của tuyến trùng nốt sần rễ
Phương pháp phân tích thành phần cấp hạt đất
Phương pháp xác định thành phần cấp hạt theo Bouyoucos (1962) và xác định tên đất dựa
vào tam giác đất. Đánh giả ảnh hưởng của hàm lượng cát đến mật độ ấu trùng tuổi 2 trong đất.
Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn vật liệu hữu cơ khác nhau đến tuyến
trùng nốt sần rễ M. incognita trên cây cà tím
Thí nghiệm được thực hiện trong nhà che phủ. Vật liệu nghiên cứu bao gồm nguồn vật liệu
hữu cơ như phân gà viên nén, phân lợn, phân dê, phân bò, phân hữu cơ thương phẩm và giống cà
tím là TN 252 Green King. Thí nghiệm được bố trí lặp lại 3 lần với 5 công thức thí nghiệm và 1
công thức đối chứng, thực hiện trong chậu, trên nền đất sét. Nhiễm tuyến trùng nốt sần rễ M.
incognita vào thời điểm 3 tuần sau khi trồng cà tím. Mẫu đất và mẫu rễ được lấy từ 6 chậu trồng
và trộn lại để lấy mẫu chung. Chỉ tiêu thí nghiệm gồm mật độ ấu trùng tuổi 2 trong đất và trong
rễ, tỉ lệ rễ bị nốt sần, số nốt sần rễ trên rễ, số hoa, số quả và năng suất cà tím.
Phương pháp đánh giá phản ứng của một số giống cà tím với tuyến trùng nốt sần rễ
Thí nghiệm được thực hiện trong chậu, trên nền đất sét pha cát, gồm 6 giống cà tím bao
gồm cà tím Thái Lan No1, cà tím TN 252 Green King, cà tím địa phương F1-033, cà tím đen
NV123, cà tím lai Runako và cà tím cơm xanh, bố trí nhắc lại 3 lần. Nhiễm ấu trùng nốt sần rễ
M. incognita vào đất sau 3 tuần trồng. Lấy mẫu đất và rễ từ 6 chậu trồng cây để gộp thành mẫu
chung. Chỉ tiêu thí nghiệm gồm ấu trùng nốt sần rễ tuổi 2 trong đất và trong rễ, tỉ lệ rễ bị nốt sần
rễ, mức độ gây hại, số hoa, số quả và tỉ lệ đậu quả.
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ (Meloidogyne
incognita) hại cây cà tím theo hướng quản lý tổng hợp tại Lâm Đồng
Giống cà tím thực hiện ở các thí nghiệm nghiên cứu biện pháp phòng chống tuyến trùng nốt
sần rễ (M. incognita) là giống TN 252 Green King, thực hiện ở ngoài điều kiện sản xuất tại xã Đạ
Ròn, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Các thí nghiệm được bố trí nhắc lại 3 lần. Mật độ trồng
cây là 17000 cây/ha. Chế độ chăm sóc và tưới nước như nhau ở tất cả các công thức thí nghiệm.
Các chỉ tiêu thí nghiệm gồm: mật độ ấu trùng tuổi 2 trong đất vào thời điểm 30 ngày, 60 ngày,
90 ngày và thời điểm cuối vụ; mật độ ấu trùng trong rễ; hiệu lực phòng chống tuyến trùng nốt sần
rễ được tính theo công thức Henderson – Tilton; tỉ lệ nốt sần rễ, mức độ gây hại và năng suất cà
tím.
2.4.3.1 Phương pháp nghiên cứu biện pháp canh tác trong phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ
Các công thức thí nghiệm bao gồm: luân canh với cải cúc, luân canh với cải thảo, luân canh
với ớt sừng, xen canh với đậu cô ve, luân canh với ngô ngọt, chuyên canh cà tím.
2.4.3.2 Phương pháp nghiên cứu biện pháp vật lý trong phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ
Các công thức thí nghiệm bao gồm: Phơi ải (sau khi thu hoạch cây vụ trước, tiến hành cày
và phơi ải đất trong vòng 4 tuần); Giữ cho đất khô (sau khi thu hoạch cây vụ trước, cày, sau 7
ngày tiến hành xới, lật đất, giữ cho đất khô và độ ẩm đất thấp hơn 35%, thực hiện trong vòng 4
tuần); Phủ bạt (sau khi thu hoạch cây vụ trước, cày đất càng sâu tối thiểu phải đạt 25cm, tưới
nước và dùng bạt nhựa trong phủ lên, lấp kín các mép trong 4 tuần); Đốt đất (sau khi thu hoạch
cây vụ trước, để đất tự nhiên trong vòng 2 tuần, cày đất, làm luống. Vùi một lớp trấu mỏng 57


7cm vào rãnh trồng, phủ lên trên một lớp đất dày 5cm, đốt yếm khí, tưới ẩm đất sau 48 giờ); Đối
chứng (sau khi thu hoạch cây vụ trước, để đất tự nhiên, không xử lý đất, sau 4 tuần làm đất, lên
luống và trồng).
2.4.3.3 Phương pháp nghiên cứu biện pháp sinh học trong phòng trừ tuyến trùng nốt sần rễ
Các công thức thí nghiệm bao gồm: Jianon Chitosan super (Chitosan); Vineem 1500 EC
(neem - azadirachtin); Abuna 15GR (saponin); Biosune one (Trichoderma harzianum,
Trichoderma viride và các nhóm vi sinh vật khác) và đối chứng.
2.4.3.4 Phương pháp nghiên cứu biện pháp hóa học trong phòng trừ tuyến trùng nốt sần rễ
Các công thức thí nghiệm bao gồm Tervigo 020SC( Abamectin), Cazinon 10GR
(Diazinon), Vifu-super 5GR (Carbosulfan) và Map Logic 90WP (Clinoptilote) và đối chứng.
2.4.4 Phương pháp xây dựng thử nghiệm áp dụng một số giải pháp quản lý tổng hợp trong phòng trừ
tuyến trùng gây nốt sần rễ (Meloidogyne incognita) hại cây cà tím theo hướng phòng trừ tổng hợp tại
Lâm Đồng
Cây trồng vụ trước là cây cải cúc. Sau thu hoạch vệ sinh đồng ruộng, cày đất và phơi ải
trong vòng 4 tuần. Sau đó lên luống, sử dụng phân bò đã ủ hoai với lượng dùng là 40m3/ha kết
hợp với chế phẩm sinh học có chứa T. harzianum với lượng dùng là 10 kg/ha. Tiến hành tưới ẩm.
Sau đó dùng phủ đất lại một lớp nhẹ. Dùng nilon đen phủ lên trên luống. Ủ trong vòng 7 ngày để
cho nấm có thể nhân lên sinh khối. Sau 7 ngày ủ tiến hành trồng cây. Sau 10 ngày trồng cà tím,
bón phân gà viên nén, lượng dùng là 300kg/ha. Diện tích của mô hình là 500 m2. Tiến hành đồng
thời với đối chứng theo cách xử lý của nông dân.
Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình và đối chứng
Tính toán chi phí sản xuất bao gồm tổng chi phí lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chi
phí công lao động. Tính tổng tiền thu nhập dựa trên năng suất và giá cà tím giả định là 2,000
đồng/kg (giá tính nếu trong trường hợp giả định là lợi nhuận thu được là thấp nhất), thì tính được
hiệu quả kinh tế như sau:
Tổng tiền thu nhập (ngàn) = giá bán x năng suất
Tổng chi phí: tiền giống + công lao động + phân bón + thuốc bảo vệ thực vật + tưới nước
Hiệu quả kinh tế = tổng thu nhập – tổng chi phí
2.5 Xử lý số liệu
Số liệu được thu thập và xử lý phân tích thống kê ANOVA bằng phần mềm microsoft excel
2013, phần mềm IBM SPSS Statistics Versision 22 và MSTATC. Trắc nghiệm phân hạng LSD
và Duncan với mức độ tin cậy a≥95% (p≤0,05).
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Biện pháp canh tác và phòng chống tuyến trùng hại cà tím của người sản xuất vùng nghiên
cứu
3.1.1 Điều tra tập quán canh tác của người sản xuất cà tím vùng nghiên cứu
Các giống cà tím trồng chủ yếu ở Lâm Đồng gồm 7 giống, trong đó giống cà tím ruột xanh
TN252 Green King được trồng nhiều nhất chiếm 56,47% diện tích, năng suất trung bình 92,72
tấn/ha với mật độ trồng là 17.000 cây/ha, tiếp theo là giống Runako chiếm 12,94% diện tích, năng
suất trung bình là 35,90 tấn/ha, mật độ trồng là 25.000 cây/ha.

8


Bảng 3.1 & 3.3 Diện tích, năng suất của các giống cà tím đang trồng phổ biến ngoài sản xuất
(Lâm Đồng, 4/2014-6/2017)
Giống cà tím
Tỉ lệ
Mật độ
Năng
Tỉ lệ cây
Thiệt hại Thời điểm
diện tích trồng
suất
bị nốt sần năng suất biểu hiện bệnh
(%)
(cây/ha) (tấn/ha)
rễ (%)
(%)
cao nhất
TN252 Green King
56,47
17.000
92,72 79,16
27,13
Mùa mưa
Runako
12,94
25.000
35,90 63,63
20,37
Mùa mưa
Nhật Bản quả tròn
11,76
25.000
36,60 48,00
20,41
Mùa mưa
Thái Lan No.1
8,24
19.000
74,43 71,43
25,34
Mùa mưa
Cà tím đen VN-123
5,88
22.000
72,00 40,00
15,11
Mùa mưa
Địa phương
3,53
19.000
78,33 33,33
Không
đáng kể
Cơm xanh
1,18
25.000
35,00 0
0
Mùa mưa
Diện tích trồng cà tím giống cơm xanh thấp nhất chỉ chiếm 1,18% diện tích và năng suất
chỉ đạt khoảng 35,00 tấn/ha. Khi được hỏi về khả năng nhận biết của nông dân về tuyến trùng hại
cà tím và biện pháp phòng chống, thì chỉ có 34,11% người dân kiểm tra tình trạng nhiễm sâu bệnh
hại của cây giống và thường chỉ kiểm tra bộ phận trên mặt đất như mức độ nhiễm nấm hoặc thối
lá hay thối thân. Nếu vườn ươm cây giống không quản lý đất tốt, cây bị tuyến trùng gây hại, là
nguyên nhân lây lan tuyến trùng từ cây giống trên diện rộng.
Giống TN 252 Green King là giống có tỉ lệ cây bị tuyến trùng hại nhiều nhất (79,16%), tiếp
theo là giống Thái Lan No.1 (71,43%), giống Runako (63,63%) và bị hại do tuyến trùng thấp nhất
là giống cơm xanh (0%, n=1). Trong lúc đó, mức độ bị thiệt hại năng suất cao nhất ở giống TN252
Green King (27,13% năng suất), Thái Lan No.1 (25,34% năng suất). Giống cà tím địa phương và
cơm xanh có mức độ thiệt hại về năng suất không đáng kể.
Các phương pháp xử lý đất của nông dân và biện pháp phòng chống tuyến trùng hại
cà tím của người sản xuất
Bảng 3.4 Tình hình xử lý đất trồng cà tím của nông dân tại Lâm Đồng (4/2014-6/2017)
Phương pháp xử lý
Tỉ lệ (%)
Liều lượng
Vôi
100
950 kg/ha
Hóa học
62,35
Sinh học
5,88
Vật lý
67,06
Không sử dụng biện pháp khác ngoài vôi
11,76
Tất cả các hộ điều tra đều sử dụng vôi để bón cho cà tím trước khi trồng nhằm mục đích xử
lý mầm bệnh, sâu đất và các yếu tố gây hại cho cà tím chiếm 100% số hộ. Biện pháp hóa học
cũng được sử dụng phổ biến chiếm 62,35% số hộ. Các loại thuốc hóa học được sử dụng là Nokaph
10GR (30,82%), Map Logic 90WP (5,88%), Basudin 10% dạng hạt (8,0%) và Binhtox 1,8EC
(17,64%). Có đến 67,06% số hộ sử dụng phương pháp vật lý như phơi ải đất, để đất tự nhiên, phủ
bạt đất. Chỉ có 5,88% số hộ sử dụng biện pháp sinh học để xử lý đất. Có khoảng 11,76% số hộ
nông dân không sử dụng biện pháp xử lý đất nào khác ngoài biện pháp bón vôi. Theo các hộ nông
dân thì biện pháp hóa học có hiệu quả nhất và mang lại lợi nhuận kinh tế cao nhất. Khi thấy biểu
hiện của cây còi cọc, rễ bị u sưng, khả năng sử dụng dinh dưỡng kém thì hầu hết người dân (chiếm
76,47% số hộ) thay đổi hình thức cung cấp dinh dưỡng cho cà tím bằng cách hòa phân bón vào
nước rồi tưới cho cây và bổ sung phân bón lá thay vì bón phân vào gốc như thời điểm trước đó.
Chỉ có 5,88% số hộ sử dụng Tervigo 020SC phun vào gốc nhằm hạn chế tuyến trùng rễ.
Các loại phân bón sử dụng và liều lượng dùng trong canh tác cà tím
9


Bảng 3.6 Tình hình sử dụng phân bón của nông dân trồng cà tím vùng nghiên cứu
(Lâm Đồng, 4/2014-6/2017)
Loại phân
Tỉ lệ sử dụng
Liều lượng
Chu kỳ bón
Hình thức bón
bón
(%)
Phân hữu cơ
100
Bón trước khi trồng
Rải vào luống
3-10 tạ/ha 10 ngày một lần
Rải đều vào gốc
Phân NPK
100
2 tạ/ha
10 ngày một lần
Tưới vào gốc vào
tháng thứ 5 trở đi
Phân bón lá
94,11
3 - lít/ha
1 tháng/lần, sau 60 Phun lên lá từ tháng
ngày trồng
thứ tháng thứ 2 trở
đi
Phân đạm
94,11
1- 2 tạ/ha Trong vòng 1-2 tháng Bón vào gốc
sau trồng
Phân lân
100
5-7 tạ/ha 01 lần trước trồng
Bón vào luống
Phân kali
100
1-2 tạ/ha Bón lót, thời kỳ thu trái Bón vào luống và gốc
Kết quả điều tra cho thấy 100% số hộ canh tác cà tím đều sử dụng phân hữu cơ và phân
NPK, phân lân và phân kali.Tuy nhiên chủng loại và liều lượng cũng khác nhau. Có đến 94,11%
số hộ sử dụng phần bón lá và phân đạm để bón cho cà tím.
3.1.2 Triệu chứng, mức độ gây hại một số sâu bệnh hại chính trên cà tím tại Lâm Đồng
Các loại bệnh hại phổ biến trên cà tím bao gồm bệnh héo rũ, bệnh héo xanh, bệnh thán thư,
bệnh đốm quả bệnh khảm virus. Tất cả các loại bệnh này đều có triệu chứng trên lá, không có
biểu hiện trên rễ, rễ cà tím không bị nốt sần.
Các loại côn trùng hại trên cà tím bao gồm sâu đất, sâu đục quả, bọ trĩ. Các loại côn trùng
này gây hại trên lá, thân và quả của cây, không gây hại trên hệ rễ.
Có 7 giống tuyến trùng ký sinh thực vật gây hại trên hệ rễ cà tím gồm Helicotylenchus,
Tylenchus, Meloidogyne, Criconemella, Pratylenchus, Rotylenchulus và Longidorus. Trong đó
giống Helicotylenchus có độ bắt gặp nhiều nhất với 100% vườn cà tím bị tuyến trùng này gây
hại. Tiếp theo là giống Tylenchus với độ bắt gặp là 91,76%, giống Meloidogyne với độ bắt gặp là
83,52%. Giống tuyến trùng có độ bắt gặp ít nhất là Longidorus với chỉ 2,35%. Mật độ cá thể
tuyến trùng trong đất cao nhất thuộc về giống Meloidogyne (667 cá thể/50cm3 đất), tiếp theo là
mật độ cá thể của giống Helicotylenchus với 570 cá thể/50cm3 đất. Mật độ cá thể giống tuyến
trùng Rotylenchulus thấp nhất chỉ có 16 cá thể/50cm3 đất. Điều này chứng tỏ rằng, tuyến trùng
nốt sần rễ có vai trò gây hại quan trọng trên cà tím.
Triệu chứng điển hình của tuyến trùng nốt sần rễ là xuất hiện những nốt sần trên rễ tạo
những nốt u sưng trên rễ phụ, nếu gây hại nặng thì nốt sần to, thậm chí kết thành những mảng u
sưng lớn và biểu hiện trên rễ chính của cây. Biểu hiện trên mặt đất khi cà tím bị tuyến trùng nốt
sần rễ khó nhận biết, đặc biệt là giai đoạn còn non. Khi cà tím trồng được 3-4 tháng tuổi nếu
tuyến trùng nốt sần rễ có biểu hiện ở mức gây hại 6 thì biểu hiện trên mặt đất mới thể hiện rõ ràng
như cây còi cọc, vàng lá, quả nhỏ và ít quả. Biểu hiện phần trên mặt đất thể hiện rõ nhất là vào
giai đoạn khoảng 6 - 8 tháng sau trồng. Đây là thời điểm mà cây cà tím đã thu hoạch được 4 - 6
tháng, sức sinh trưởng và sức đề kháng của cây giảm, hệ rễ già đi, ít hình thành rễ mới, khả năng
hấp thu chất dinh dưỡng kém.

10


3.1.3 Diễn biến mật độ, mức độ gây hại tuyến trùng nốt sần rễ (Meloidogyne spp.) hại cà tím tại Lâm
Đồng
Bảng 3.9 Mật độ ấu trùng Meloidogyne sp. tuổi 2 trong đất và trong rễ cà tím tại thời điểm điều
tra (Lâm Đồng, 4/2014-6/2017)
Mật độ ấu trùng tuổi 2
Trung bình
Trung bình Trung bình
trong năm
mùa mưa
mùa khô
3
Mật độ ấu trùng tuổi 2 trong đất (cá thể/50cm )
1455
1750
827
Mật độ ấu trùng tuổi 2 trong rễ (cá thể/5 g rễ)
728
939
331
Mức độ hại theo ước tính của người sản xuất (%)
4,04
5,13
2,85
Mức giảm năng suất (%)
12,41
14,89
7,19
Trong năm, mật độ ấu trùng tuổi 2 trong đất là 1455 cá thể/50cm3, trong rễ là 728 cá thể/5
g rễ. Mùa khô, mật độ tuyến trùng thấp hơn trung bình cả năm rất nhiều, cụ thể mật độ ấu trùng
tuổi 2 trong đất là 827 cá thể/50cm3 đất (thấp hơn 628 cá thể/50cm3 đất), trong rễ là 331 cá thể/5
g rễ (thấp hơn 397 cá thể/5g rễ).

Hình 3.12 Tương quan giữa mức độ gây hại và năng suất cây trồng (Lâm Đồng, 4/2014-6/2017)
Mức độ gây hại của tuyến trùng nốt sần rễ càng cao thì năng suất cà tím giảm càng lớn và
có mối tương quan phi tuyến tính theo phương trình bậc 3 (y = 0,02+3,09x-2,41x2+0,49x3). Tại
các vườn trồng cà tím, mức độ gây hại của tuyến trùng nốt sần rễ từ 1-3 thì mức giảm năng suất
là 0%. Nhưng khi biểu hiện nốt sần rễ thấy rõ hơn trên rễ, cây có những biểu hiện còi cọc, lượng
phân bón sử dụng nhiều hơn, giảm số hoa, số quả, mức độ giảm năng suất cũng cao hơn. Ở mức
cây có trên 60% nốt sần rễ ở rễ, cấp hại 6 thì mức độ ảnh hưởng đến năng suất thể hiện rõ trên
cây trồng, lúc này mức độ giảm năng suất có thể lên đến 40 - 50%.
Mật độ ấu trùng nốt sần rễ trong đất vào khoảng từ 500 cá thể/50cm3 đất đến 1500 cá
thể/50cm3 đất. Trong số 71 mẫu điều tra, có 6 mẫu đất có mật độ ấu trùng nốt sần rễ vào khoảng
2000 – 3000 cá thể/50cm3, 4 mẫu đất có mật độ ấu trùng nốt sần rễ trong đất cao hơn 3000 cá
thể/50cm3. Điều này, chứng minh rằng, mật độ ấu trùng nốt sần rễ trong đất trồng cà tím cao, có
khả năng gây hại và làm giảm năng suất của cà tím.
3.1.4 Điều tra thu thập xác định thành phần loài tuyến trùng nốt sần rễ Meloidogyne spp.
Kết quả điều tra đất trồng cà tím ở Lâm Đồng cho thấy, trong số 85 mẫu đất thì có 71 mẫu
đất và rễ chiếm 83,52% mẫu điều tra có xuất hiện thành phần loài tuyến trùng nốt sần rễ. Có 2
loài hiện hữu trong 71 mẫu đất và rễ, trong đó có 48 mẫu đất điều tra có đặc điểm hình thái của
11


ấu trùng tuổi 2 của cùng một loài (loài 1), 17 mẫu mẫu đất còn lại có đặc điểm hình thái giống
nhau của một loài khác (loài 2) và 6 mẫu còn lại có hỗn hợp của 2 loài nói trên. Đặc điểm hình
thái, kích thước của ấu trùng tuổi 2 và vân mẫu con cái của 48 mẫu có chung đặc điểm của loài
tuyến trùng Meloidogyne incognita. Kết quả quan sát hình thái của 17 mẫu đất và rễ của cà tím
cho thấy có đặc điểm đặc trưng của một loài khác, không phải là M. incognita. Mô tả hình thái
của ấu trùng tuổi 2, đo chiều dài và kích thước của ấu trùng tuổi 2 và con cái, vân mẫu con cái
cho thấy đặc điểm của loài M. javanica theo khóa phân loại của của Whitehead (1968); Jebson
(1987) and Eisenback and Triantaphyllou (1991).

Hình 3.18 Tần suất xuất hiện các loài tuyến trùng nốt sần rễ tại vùng nghiên cứu
(Lâm Đồng, 4/2014 - 6/2017)
Kết quả điều tra thành phần loài tuyến trùng nốt sần rễ cho thấy, loài M. incognita có tần
suất xuất hiện nhiều nhất với 67,71%, tiếp theo là loài M. javanica với tần suất xuất hiện là
23,94% và hỗn hợp 2 loài M. incognita và M. javanica thấp nhất với tần suất là 8,45%.
Bảng 3.12 Độ bắt gặp, mức độ gây hại, loài gây hại và mật độ tuyến trùng nốt sần rễ gây hại cà
tím ở vùng nghiên cứu ((Lâm Đồng, 4/2014-6/2017)
Vùng
nghiên Độ bắt gặp Mức độ gây Mật
độ Loài gây hại
cứu
(%)
hại
J2/50cm3
Đơn Dương
88,09
4,91
789
M. incognita, M. javanica
Đức Trọng
84,85
4,03
547
M. incognita, M. javanica
Đà Lạt
60,00
3,12
356
M. incognita, M. javanica
Trong ba vùng nghiên cứu, Đơn Dương là vùng có sự xuất hiện tuyến trùng nốt sần rễ nhiều
nhất với độ bắt gặp 88,09%, tiếp theo là vùng Đức Trọng với độ bắt gặp là 84,85% và thấp nhất
ở vùng Đà Lạt chỉ 60%. Mật độ ấu trùng nốt sần rễ tuổi 2 trong đất, mức độ gây hại cao nhất ở
vùng Đơn Dương (789 cá thể/50cm3) và thấp nhất ở vùng Đà Lạt (356 cá thể/50cm3). Cả ba vùng
nghiên cứu đều có sự xuất hiện của 2 loài tuyến trùng M. incognita và M. javanica, tuy nhiên
mức độ bắt gặp của 2 loài này ở vùng Đơn Dương và Đức Trọng cao hơn Đà Lạt.
Kết quả định danh cho thấy không có mẫu DNA nào phù hợp với loài M. ethiopica, M.
arenaria, M. enterolobii và M. javanica trên cà tím. 4 mẫu thí nghiệm đều thành công khi chạy
với mồi Mi2F4/Mi1R và phù hợp với DNA của loài M. incognita.
Trong 85 mẫu điều tra về thành phần loài tuyến trùng nốt sần rễ hại cà tím, có 71 mẫu có
xuất hiện thành phần loài tuyến trùng nốt sần rễ, với 2 loài gây hại chủ yếu là loài M. incognita
và M. javanica. Trong đó, loài tuyến trùng nốt sần rễ M. incognita có vai trò gây hại quan trọng
với tần suất là 67,61%, loài tuyến trùng nốt sần rễ M.javanica với tần suất gây hại thấp hơn là
23,94%. Hỗn hợp 2 loài tuyến trùng nốt sần rễ gây hại chỉ với 8,45%.

12


3.2 Đặc điểm hình sinh học, sinh thái của tuyến trùng Meloidogyne incognita
3.2.1 Đặc điểm hình thái của tuyến trùng Meloidogyne incognita
Vòng đời của tuyến trùng nốt sần rễ M. incognita trải qua các pha là pha trứng, ấu trùng
tuổi 1 nằm trong trứng (J1), ấu trùng tuổi 2, ấu trùng tuổi 3 (J3), ấu trùng tuổi 4 (J4), pha trưởng
thành (con cái trưởng thành và con đực). Đặc điểm cụ thể của từng pha như sau:
Pha trứng: Trứng hình oval, được chứa trong bọc trứng của con cái. Trứng được con cái đẻ
ra và hình thành các khối trứng trên bề mặt rễ.
Ấu trùng tuổi 1: Ấu trùng tuổi 1 của loài M. incognita được biến đổi thành dạng hình giun,
cuộn lại, nằm trong trứng, có thể di chuyển được. Khi gặp điều kiện thuận lợi, J1 phát triển thành
J2 và di chuyển vào đất.
Ấu trùng tuổi 2: Ấu trùng tuổi 2 của loài tuyến trùng nốt sần rễ M. incognita hình giun có
khả năng di chuyển. Đầu thuôn, có kim hút. Phần đuôi trong suốt.
Ấu trùng tuổi 3: Hình thuôn dài, phình to ở phần giữa. Đầu không có kim hút, đuôi ngắn.
Sống trong rễ.
Ấu trùng tuổi 4: Hình quả bơ, đầu không có kim hút, đuôi ngắn, nhỏ và trong.
Pha trưởng thành
Con cái trưởng thành: Con cái trưởng thành hình quả lê, ít di chuyển, có kim hút, sống trong rễ.
Con đực: Con đực hình giun, sống trong đất, có gai giao cấu ở phía đuôi và di chuyển. Kim
hút của con đực to và ngắn. Đầu hơi lõm.
Kích thước của các pha phát triển khác nhau của tuyến trùng nốt sần rễ loài M. incognita
được trình bày ở bảng 3.13 như sau:
Bảng 3.13 Kích thước một số pha sinh trưởng của loài M. incognita
Pha sinh trưởng
Chiều dài (µm) Chiều rộng (µm)
Kim hút (µm)
DEGO (µm)
Trứng
77,77
32,15
Ấu trùng tuổi 2
385,13
10,64
2,62
Con cái
627,17
404,17
15,34
2,90
Con đực
1595,53
26,95
2,50
Kích thước của tuyến trùng nốt sần rễ loài M. incognita có sự biến đổi lớn giữa các giai
đoạn phát triển khác nhau. Ở pha trứng, kích thước nhỏ nhất. Pha ấu trùng tuổi 2, con cái và con
đực có sự khác biệt rõ rệt giữa chiều dài, chiều rộng, đuôi, kim hút và lỗ đổ tuyến thực quản lưng.
Ấu trùng tuổi 2 và con đực đều có dạng hình giun, nhưng con đực có chiều dài cơ thể gấp gần 5
lần ấu trùng tuổi 2, kim hút của con đực cũng dài gấp 2,5 lần ấu trùng tuổi 2 nhưng lỗ đổ tuyến
thực quản lưng của con đực ngắn hơn ấu trùng tuổi 2. Trong lúc đó, con cái có chiều dài cơ thể
gấp 2 lần ấu trùng tuổi 2 và ngắn hơn rất nhiều so với con đực, kim hút và lỗ đổ tuyến thực quản
lưng của con cái dài hơn so với ấu trùng tuổi 2.
3.2.2. Đặc điểm sinh học của tuyến trùng Meloidogyne incognita
3.2.2.1 Vòng đời, đặc điểm các pha phát dục của M. incognita
Thời gian phát triển của ấu trùng tuổi 2 trong rễ cà tím trung bình là 8,01 ngày và không có
sự khác biệt giữa các ngưỡng độ ẩm khác nhau. Tỉ lệ xâm nhập vào rễ của ấu trùng tuổi 2 loài M.
incognita khác nhau ở 3 ngưỡng độ ẩm đất khác nhau. Ở độ ẩm đất trung bình là 36,13% thì tỉ lệ
xâm nhiễm vào rễ của ấu trùng tuổi 2 thấp nhất, chỉ đạt 85,68%, tỉ lệ xâm nhiễm cao nhất ở độ
ẩm đất 46,77% đạt 95,46% và đạt và 93,31% ở độ ẩm đất 57,11%.

13


Bảng 3.14 Thời gian phát triển và tỉ lệ xâm nhiễm vào rễ của ấu trùng tuổi 2 loài M. incognita
Đợt thí
Thời gian phát triển (ngày)
Độ ẩm
Tỉ lệ xâm nhiễm vào rễ
nghiệm
đất (%)
(%)
Ngắn nhất
Dài nhất
Trung bình
ns
c
1
7
9
8,04
36,13
85,68c
2
7
9
8,00
46,77b
95,46a
a
3
7
9
8,04
57,11
93,31b
Trung bình
8,04
46,67
91,48
Ở 3 điều kiện độ ẩm đất khác nhau là 36,13%, 46,77% và 57,11%, thời gian phát triển trung
bình của ấu trùng tuổi 3 là 3,98 ngày, thời gian phát triển của ấu trùng tuổi 4 chỉ có 2,13 ngày,
con cái trưởng thành loài M. incognita phát triển trong rễ cà tím là 8,02 ngày. Pha phát triển từ
ấu trùng tuổi 4 đến lúc hình thành con đực loài M. incognita kéo dài trong thời gian trung bình là
19,25 ngày và không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa 3 ngưỡng độ ẩm đất khác nhau.
Bảng 3.20 Vòng đời của loài tuyến trùng nốt sần rễ M. incognita
Pha sinh trưởng
Thời gian phát dục qua các đợt thí nghiệm (ngày)
Trung bình (ngày)
Đợt 1
Đợt 2
Đợt 3
Ấu trùng tuổi 2
8,04
8,00
8,04
8,03
Ấu trùng tuổi 3
4,00
4,00
3,93
3,98
Ấu trùng tuổi 4
2,13
2,07
2,20
2,13
Con cái
8,00
8,00
8,07
8,02
Trứng và ấu
5,27
4,80
4,93
5,00
trùng tuổi 1
Vòng đời
27,44
26,87
27,17
27,16
Con đực
19,00
20,00
19,00
19,25
o
Nhiệt độ ( C)
24±1
24±1
24±1
24±1
Độ ẩm đất (%)
36,13
46,77
57,11
46,67
Vòng đời của tuyến trùng nốt sần rễ loài M. incognita là 27,16 ngày ở nhiệt độ 24±1oC và
độ ẩm là 46,67%. Thời gian phát triển các pha sinh trưởng của loài M. incognita không có sự
khác biệt rõ rệt giữa 3 ngưỡng độ ẩm đất khác nhau. Pha ấu trùng tuổi 2 và con cái có thời gian
sinh trưởng dài nhất (8,02 ngày). Pha ấu trùng tuổi 4 ngắn nhất với chỉ 2,13 ngày, tiếp theo là ấu
trùng tuổi 3 với 3,98 ngày và pha trứng và ấu trùng tuổi 1 kéo dài trong vòng 5 ngày. Thời gian
phát triển con đực từ giai đoạn ấu trùng tuổi 4 đến con đực trưởng thành là 19,25 ngày. Tính từ
thời điểm ấu trùng tuổi 2 xâm nhập vào rễ đến thời điểm hình thành con đực di chuyển trong đất
ở điều kiện nhiệt độ 24oC±1oC là 46,67% là 33,39 ngày.
3.2.2.2 Tỉ lệ nở trứng của M. incognita
Bảng 3.21 Ảnh hưởng của môi trường khác nhau đến tỉ lệ nở trứng của M. incognita
STT
Môi trường
Tỉ lệ nở trứng (%)
1
Nước cất
69,30c
2
Dịch chiết rễ cà tím 1 tháng tuổi
90,72a
3
Dịch chiết rễ cà tím trên 6 tháng tuổi
83,00b
Tỉ lệ trứng nở của tuyến trùng M. incognita cao nhất trong dịch chiết rễ cà tím 1 tháng tuổi,
đạt 90,72%, tiếp theo là rễ cà tím 6 tháng tuổi với tỉ lệ nở trứng là 83,00% và cao hơn hẳn so với
môi trường nước cất với tỉ lệ nở trứng chỉ đạt 69,30%.

14


3.2.3 Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái đến tuyến trùng Meloidogyne incognita
3.2.3.1. Ảnh hưởng của thành phần cấp hạt đất đến mật độ ấu trùng nốt sần rễ tuổi 2 trong đất
Bảng 3.22 Ảnh hưởng của sa cấu đất đến tuyến trùng nốt sần rễ hại cà tím tại Lâm Đồng
(4/2014-6/2017)
Hàm lượng sét Hàm lượng limon Hàm lượng cát Loại đất
Mật độ J2
(%)
(%)
(%)
(cá thể/50cm3)
54,00
28,54
17,46
Sét
222
40,99
40,80
18,21
Sét pha limon
365
18,72
58,95
22,33
Thịt pha limon
513
35,99
32,19
31,82
Thịt pha sét
547
23,14
37,74
39,12
Thịt trung bình
593
29,13
19,39
51,48
Thịt pha sét pha
782
liomon
38,53
8,25
53,22
Cát pha sét
891
17,34
21,05
61,61
Thịt pha cát
1735
Hệ số tương quan (r) giữa hàm lượng cát và J2
0,730
Các loại đất khác nhau có mật độ ấu trùng nốt sần rễ tuổi 2 khác nhau. Hàm lượng sét và
limon không có tương quan với mật độ ấu trùng trong đất nhưng hàm lượng cát có tương quan
với mật độ ấu trùng tuổi 2 (kết quả chỉ ra tại bảng 3.22). Trong các loại đất nghiên cứu thì đất sét
có mật độ ấu trùng tuổi 2 trong đất thấp nhất, trung bình là 222 cá thể/50cm3 đất, tiếp theo là đất
sét pha limon với mật độ trung bình là 365 cá thể/50cm3 đất, thịt pha limon với 513 cá thể/50cm3
đất. Mật độ ấu trùng tuổi 2 trong hai loại đất cát cao nhất với 891 cá thể/50cm3 đất trong đất cát
pha sét và 1735 cá thể/50cm3 đất trong đất thịt pha cát.
Trong 8 nhóm đất nghiên cứu thì đất thịt pha cát có mật độ ấu trùng tuổi 2 cao nhất và thấp
nhất là đất sét. Đất thịt mang đặc điểm trung gian của hai nhóm đất là đất cát và đất sét vì thế mà
mật độ ấu trùng nốt sần rễ tuổi 2 trong đất thịt nhỏ hơn đất cát và nhiều hơn đất sét.
3.2.3.2. Ảnh hưởng của chế độ mưa, nhiệt độ không khí và độ ẩm đất đến tuyến trùng M. incognita
trong đất trồng cà tím tại Lâm Đồng
Bảng 3.23 Tương quan giữa độ ẩm đất, nhiệt độ không khí và lượng mưa đến mật độ ấu trùng
M. incognita trong đất trồng cà tím tại Lâm Đồng (6/2014-5/2017)
Mật độ ấu trùng tuổi 2 Độ ẩm đất
Lượng
Nhiệt độ
3
(cá thể/50cm )
(%)
mưa (mm)
(oC)
Mật độ ấu
r
1
0,672*
0,678*
0,516
trùng tuổi 2
Sig. (2-yếu tố)
0,017
0,015
0,086
3
(J2/50cm )
N
12
12
12
12
*
**
Độ ẩm đất
r
0,672
1
0,812
0,598*
(%)
Sig. (2-yếu tố)
0,017
0,001
0,040
N
12
12
12
12
*
**
Lượng mưa
r
0,678
0,812
1
0,687*
(mm)
Sig. (2-yếu tố)
0,015
0,001
0,014
N
12
12
12
12
o
*
*
Nhiệt độ ( C) r
0,516
0,598
0,687
1
Sig. (2-yếu tố)
0,086
0,040
0,014
N
12
12
12
12
*. Tương quan ý nghĩa ở mức p= 0.05 (2-yếu tố).
**. Tương quan ý nghĩa ở mức p=0.01 (2-yếu tố).

15


Bảng 3.23 cho thấy có sự tương quan chặt chẽ giữa 3 yếu tố là lượng mưa, độ ẩm và nhiệt
độ, đồng thời cũng có sự tương quan chặt chẽ giữa 3 yếu tố trên với mật độ ấu trùng tuổi 2 trong
đất. Lượng mưa và độ ẩm đất có mối tương quan rất chặt chẽ (r=0,812). Độ ẩm đất và lượng mưa
có tương quan với mật độ ấu trùng tuổi 2 trong đất (0,50,672 và 0,678. Trong đó, độ ẩm đất và lượng mưa tương quan chặt chẽ với mật độ ấu trùng trong
đất với mức độ tin cậy là 95%. Điều này chứng tỏ, độ ẩm đất và lượng mưa có ảnh hưởng đến
mật độ ấu trùng nốt sần rễ trong đất.
3.2.3.3 Biến động mật độ tuyến trùng M. incognita trong một mùa vụ trồng cà tím tại Lâm Đồng

Hình 3.33 Diễn biến mật độ ấu trùng M. incognita tuổi 2 trong một mùa vụ trồng cà tím tại Lâm
Đồng (mùa vụ 2015 - 2017)
Vào thời điểm 30 ngày trước trồng mật độ tuyến trùng M. incognita thấp, chỉ 225 cá thể /50
3
cm đất, nhưng sau đó, vào thời điểm trồng mật độ ấu trùng tăng lên và tăng mạnh nhất vào thời
điểm 30 ngày và 60 ngày sau trồng với mật độ lần lượt là 3051 và 2975 cá thể/50cm3 đất. Mật độ
ấu trùng nốt sần rễ giảm mạnh vào các thời điểm 90 ngày, 120 ngày và 150 ngày sau trồng. Vào
thời điểm 180 ngày sau trồng trở về thời điểm cuối vụ, mật độ ấu trùng M. incognita tuổi 2 trong
đất giảm dần. Đặc biệt vào thời điểm cuối vụ, mật độ tuyến trùng trong đất giảm chỉ còn 476 cá
thể/50cm3.
3.2.3.4 Ảnh hưởng của nguồn vật liệu hữu cơ khác nhau đến tuyến trùng nốt sần rễ hại cà tím
Bảng 3.24 Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ đến mật độ ấu trùng tuổi 2(J2) M. incognita
trong đất, trong rễ, tỉ lệ nốt sần rễ và số lượng nốt sần rễ trên rễ cà tím (Lâm Đồng, 2014-2015)
Công thức
Mật độ ấu trùng Mật độ ấu trùng tuổi Tỉ lệ rễ bị nốt Số lượng nốt sần
tuổi 2 (cá
2 trong rễ
sần rễ (%)
rễ trên rễ (nốt/
thể/50cm3 đất)
(cá thể/g rễ)
rễ)
cd
c
c
Phân gà
1634,0
266,3
93,93
7,67 c
Phân lợn
2967,3 a
1055,0 b
100,00 a
18,67 b
c
b
ab
Phân dê
1859,3
1043,0
98,53
15,67 b
Phân bò
1360,7 d
1377,0 b
100,00 a
19,00 b
Phân hữu cơ
1825,3 c
309,7 c
95,27 bc
8,67 c
b
a
a
Đối chứng
2562,0
1989,7
100,00
22,67 a

16


Mật độ ấu trùng M. incognita tuổi 2 trong đất thấp nhất ở công thức sử dụng phân bò (1360
cá thể/50cm3 đất), tiếp đến là công thức sử dụng phân gà (1634 cá thể/50cm3 đất), phân hữu cơ
73% (1825 cá thể/50cm3 đất), phân dê (1859 cá thể/50cm3 đất) và cao nhất ở công thức sử dụng
phân lợn (2967 cá thể/50cm3 đất). Trong rễ, mật độ ấu trùng tuổi 2 thấp nhất ở công thức sử dụng
phân gà (266 cá thể/5g rễ) và phân hữu cơ thương phẩm 73% hàm lượng hữu cơ (309 cá thể/5g
rễ). Số lượng nốt sần rễ trên rễ cao nhất ở công thức đối chứng (22,67 nốt/rễ) và có sự khác biệt
về mặt thống kê so với công thức sử dụng phân lợn (18,67 nốt/rễ), phân dê (15,67 nốt/rễ) và phân
bò (19,00 nốt/rễ). Công thức sử dụng phân gà và phân hữu cơ thương phẩm có 73% hàm lượng
hữu cơ có số nốt sần rễ trên rễ thấp nhất, chỉ có 7,67 nốt/rễ ở công thức sử dụng phân gà và 8,67
nốt/rễ ở công thức sử dụng phân hữu cơ 73%.
3.2.3.5 Phản ứng của các giống cà tím khác nhau với tuyến trùng nốt sần rễ
Bảng 3.25 Mật độ ấu trùng M. incognita tuổi 2 trong đất qua các giai đoạn phát triển khác nhau
của cà tím (Lâm Đồng, 2017)
Mật độ ấu trùng tuổi 2 trong đất (cá thể/50cm3 đất)
Giống
Ban đầu
20 NSN
40 NSN 80 NSN 100 NSN C.V
ab
Thái Lan No.1
2000
577
1095 c
1431 a 1955 a
1123 ab
TN 252 Green King
2000
727 a
2433 a
1324 a 1697 abc 1285 a
ab
b
Giống địa phương
2000
561
1524
1044 b 1443 c
1179 ab
Cà tím đen NV123
2000
326 bc
971 c
1262 a 1763 ab
1023 b
Runako
2000
241 c
982 c
1062 b 1563 bc
1253 a
Cơm xanh
2000
357 bc
945 c
1344 a 1615 bc
1259 a
Ghi chú: C.V: cuối vụ

20 ngày sau nhiễm, mật độ ấu trùng tuổi 2 có xu hướng giảm và tăng vào thời điểm 40 ngày,
80 ngày, 100 ngày sau nhiễm. Mật độ ấu trùng tuổi 2 trong đất cao nhất ở đất trồng giống cà tím
TN252 Green King. Mật độ ấu trùng tuổi 2 trong đất thấp dần ở giống cà tím Thái Lan No.1, tiếp
đến là giống cà tím đen, thấp nhất ở giống cà tím Runako và cơm xanh.
Bảng 3.26 & 3.27 Mật độ ấu trùng M. incognita trong rễ, mức độ gây hại tại thời điểm
150 ngày sau nhiễm, số hoa, số quả và tỉ lệ đậu quả cà tím (Lâm Đồng, 2017)
Giống
Mật độ ấu trùng trong Mức độ gây Số hoa Số quả
Tỉ lệ đậu
rễ (cá thể /5g rễ)
hại
quả (%)
Thái Lan No.1
1228 ab
5,67 a
14,33 b 11,00 b
78,11 a
TN 252 Green King
1348 a
6,67 a
18,00 ab 10,33 b
57,80 b
Giống địa phương
939 d
4,00 b
15,67 b 11,67 b
76,90 a
Cà tím đen NV123
1008 cd
5,67 a
13,67 b 10,00 b
71,54 ab
bc
a
a
a
Runako
1121
5,67
22,67
16,67
75,68 a
Cơm xanh
981 cd
6,33 a
13,33 b 10,67 b
79,04 a
Mật độ ấu trùng M. incognita tuổi 2 trong rễ và mức độ gây hại thấp nhất ở giống địa phương
F1-033. Trong khi đó mật độ ấu trùng trong rễ và mức độ gây hại ở giống TN 252 Green King
cao nhất và không có sự khác biệt về mặt thống kê với giống Thái Lan No.1. Số hoa trên giống
Runako cao nhất (22,67 hoa/cây) và không có sự khác biệt thống kê so với giống TN 252 Green
King (18,00 hoa/cây) nhưng có sự khác nhiệt so với các giống còn lại. Số quả trung bình của cây
ở giống Runako cũng cao nhất (16,67 quả/cây) và có sự khác biệt hoàn toàn với các giống khác.
Trong lúc đó, tỉ lệ đậu quả của giống cơm xanh (79,04%), Thái Lan No1. (78,11%), địa phương
(76,79%) và Runako (75,68%) ở mức cao và có sự khác biệt so với giống TN252 Green King.
3.3 Kết quả nghiên cứu giải pháp phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ theo hướng quản lý tổng
hợp
17


3.3.1 Kết quả nghiên cứu biện pháp canh tác trong phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ hại cà tím
Bảng 3.28 Ảnh hưởng của biện pháp canh tác đến diễn biến mật độ tuyến trùng nốt sần rễ M.
incognita hại cà tím tại Lâm Đồng (2014-2016)
Công thức
Mật độ ấu trùng tuổi 2 trong đất
Hiệu lực phòng trừ
(cá thể/50cm3)
(%)
TT
30N
60N 90N C.V
30N
60N
90N
C.V
d
a
a
LC cải cúc
631
607
689
816
462
5,73
22,71 34,03 6,82a
c
LC cải thảo
822
767
1015
1927 590
8,56
12,60d -19,59d 4,46c
LC ớt sừng
630
975
1067
1601 441
-51,65e -19.88e -29,64e 2,54d
XC cô ve
805
624
922
1420 576
24,04a 18,93b 10,01c 4,75b
LC ngô ngọt
958
762
1164
1261 686
22,06b 14,00c 32,85b 4,69b
CC cà tím
780
796
1102
1529 586
LSD0,05
0,765 0,765 0,399 0,2113
Hầu hết các công thức thí nghiệm đều có mật độ ấu trùng tuổi 2 trong đất giảm sau 30 ngày
trồng và tăng lên vào thời điểm 60 ngày và 90 ngày sau trồng và giảm xuống vào thời điểm cuối
vụ. Luân canh cây cà tím với các loại cây trồng khác họ cho thấy mật độ ấu trùng nốt sần rễ trong
đất giảm rõ rệt vào thời điểm 30 ngày sau trồng. Hiệu lực phòng chống tuyến tùng cao nhất ở
công thức luân canh với cải cúc đạt 34,03%, tiếp theo là công thức luân canh với ngô ngọt đạt
32,85% và xen canh với đậu cô ve đạt 24,04%. Trong lúc đó, luân canh cà tím với ớt sừng có
hiệu lực âm tính vào các thời điểm 30 ngày, 60 ngày và 90 ngày sau trồng. Chứng tỏ, luân canh
ớt sừng với cà tím không có hiệu lực trong việc phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ M. incogonita
gây hại cà tím.
Bảng 3.29. Ảnh hưởng của biện pháp canh tác đến mức độ gây hại của tuyến trùng nốt sần rễ
trên cà tím tại Lâm Đồng (2014-2016)
Công thức
Mật độ ấu trùng trong rễ (cá Tỉ lệ nốt sần rễ Mức độ gây hại Năng suất
thể/ 5 g rễ)
(%)
(tấn/ha)
e
e
e
LC cải cúc
489
37,13
2,67
109,00a
b
b
b
LC cải thảo
1032
69,29
4,33
104,30ab
LC ớt sừng
1136a
73,40a
4,67a
93,00c
XC cô ve
833d
47,94d
3,97c
102,30b
c
c
d
LC ngô ngọt
933
49,83
3,67
103,00b
CC cà tím
1111a
72,15a
4,33b
94,67c
LSD0,05
35,03
1,311
0,2905
3,651
Mật độ ấu trùng tuổi 2 trong rễ cao nhất ở nhất ở công thức luân canh với ớt sừng (1136 cá
thể/5g rễ), giảm dần ở công thức chuyên canh cà tím (1111 cá thể/5g rễ) và luân canh với cải thảo
(1032 cá thể/5g rễ) và thấp nhất ở công thức luân canh với cải cúc (498 cá thể/5g rễ). Tỉ lệ nốt
sần rễ và mức độ gây hại trên rễ cà tím thấp nhất ở ở công thức luân canh với cải cúc (37,13% tỉ
lệ nốt sần rễ và 2,67 mức độ gây hại), tiếp theo là công thức thí nghiệm xen canh với đậu cô ve
với tỉ lệ nốt sần rễ là 47,94% và mức độ gây hại là 3,97 và công thức luân canh với ngô ngọt với
tỉ lệ nốt sần rễ là 49,83% và mức độ gây hại là 3,67.
Như vậy, trong các biện pháp canh tác thì biện pháp luân canh với cải cúc đã làm giảm mật
độ ấu trùng nốt sần rễ trong rễ, giảm tỉ lệ rễ bị nốt sần rễ và mức độ gây hại trên rễ cà tím giảm
xuống mức thấp nhất và làm tăng năng suất của cà tím, tiếp theo là xen canh với đậu cô ve, luân
canh với ngô ngọt và cải thảo. Luân canh cà tím với ớt sừng và chuyên canh cà tím làm tăng tỉ lệ
nốt sần rễ, tăng mức độ gây hại của tuyến trùng và làm giảm năng suất của cà tím.

18


3.3.2. Kết quả nghiên cứu biện pháp vật lý trong phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ hại cà tím
Bảng 3.30 Ảnh hưởng của biện pháp vật lý đến diễn biến mật độ ấu trùng M. incognita trong
đất trồng cà tím tại Lâm Đồng (mùa vụ 2014 - 2015)
Mật độ ấu trùng tuổi 2 trong đất
Hiệu lực phòng trừ
(cá thể/50cm3)
(%)
Công thức
TXL 30N
60N
90N
C.V
30N
60N
90N
C.V
d
b
a
Phơi ải
1232 1315 1667 2560 1164 3,15
4,06
4,09
4,40c
c
c
a
Giữ cho đất khô 1321 1086 1862 2723 1195 25,40
0,06
4,87
8,47b
Phủ bạt
1329 902
1617 2858 1175 38,41b 13,73a 0,74b 10,54a
Đốt đất
1389 760
1883 2996 1370 50,35a 3,88b
0,44b 0,20d
Đối chứng
1116 1230 1574 2418 1103 LSD0,05
3,245
1,88
1,286 4,147
Mật độ ấu trùng tuổi 2 trong đất giảm mạnh vào thời điểm 30 ngày sau trồng, sau đó tăng
mạnh vào thời điểm 60 ngày và 90 ngày sau trồng và giảm mạnh vào thời điểm cuối vụ. Sau 30
ngày xử lý, hiệu lực phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ cao nhất ở công thức sử dụng biện pháp
đốt đất, đạt 50,35%, tiếp theo là công thức phủ bạt, đạt 38,41%, công thức phơi ải có hiệu lực
phòng trừ tuyến trùng thấp nhất với hiệu lực chỉ đạt 3,15%. Hiệu lực phòng chống tuyến trùng ở
các công thức thí nghiệm giảm mạnh vào các thời điểm 60 ngày, 90 ngày và thời điểm cuối vụ.
Bảng 3.31 Mật độ ấu trùng M. incognita trong rễ, tỉ lệ nốt sần rễ, mức độ xâm nhiễm và năng
suất cà tím tại Lâm Đồng (mùa vụ 2014-2015)
Mật độ ấu trùng rễ Tỉ lệ rễ bị nốt
Năng suất
Nghiệm thức
Mức độ gây hại
(cá thể/5 g rễ)
sưng (%)
(tấn/ha)
ab
b
bc
Phơi ải
611
62,03
5,67
102,70a
Giữ cho đất khô
512b
59,40b
6,00bc
103,30a
a
b
b
Phủ bạt
758
63,37
6,33
102,30ab
Đốt đất
484b
53,73b
5,33c
98,33b
Đối chứng
735a
81,67a
8,00a
103,30a
LSD0,05
167,6
10,14
0,977
4,256
Mật độ ấu trùng nốt sần rễ tuổi 2 trong rễ cao nhất ở công thức phủ bạt và đối chứng (758
cá thể/5g rễ và 735 cá thể/5g rễ). Mật độ ấu trùng tuổi 2 trong rễ thấp nhất ở công thức đốt đất
(484 cá thể/5g rễ) và có sự khác biệt so với công thức phơi ải (611 cá thể/5g rễ) và giữ cho đất
khô (512 cá thể/5g rễ). Tỉ lệ nốt sần rễ và mức độ gây hại của hai công thức thí nghiệm là đối
chứng (81,67% và 8,00) và phủ bạt (78,67% và 7,33) cao hơn và có sự khác biệt về mặt thống kê
so với các công thức thí nghiệm đốt đất (53,73% và 5,33), phơi ải (62,03 và 5,67) và giữ cho đất
khô (59,40 và 6,00). Sử dụng biện pháp đốt đất có năng suất thấp hơn các nghiệm thức còn lại
với chỉ 98,33 tấn/ha và khác biệt so với công thức phơi ải (102,70 tấn/ha), giữ cho đất khô (103,30
tấn/ha), phủ bạt (102,30 tấn/ha) và kể cả đối chứng (103,30 tấn/ha).

19


3.5.3 Kết quả nghiên cứu biện pháp sinh học trong phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ hại cà tím
Bảng 3.32 Ảnh hưởng của biện pháp sinh học đến diễn biến mật độ tuyến trùng trong đất trồng
cà tím tại Lâm Đồng (mùa vụ 2014-2015)
Công thức
Mật độ ấu trùng tuổi 2 trong đất (cá thể
Hiệu lực phòng trừ (%)
/50cm3)
TXL
30N
60N
90N
C.V
30N
60N 90N C.V
Chitosan
382
570
988
845
1549
-24,73 -17,40 41,77 -108,75
Vineem
835
649
1049
1067
1098
35,03
42,97 66,36 32,30
Abuna
511
1640
789
1083
1088
-168,28 29,91 44,21 -9,61
Biosun one 584
662
557
1744
1592
5,24
56,71 21,39 -40,34
Xông hơi
714
481
1199
1983
1401
43,69
23,77 26,89 -1,01
Đối chứng 591
707
1302
2245
1148
CV (%)
9,16
5,75
4,98
5,51
4,01
8,79
3,42 3,13 8,79
Kết quả Bảng 3.32 cho thấy: So với đối chứng, các công thức thí nghiệm đều có mật độ
tuyến trùng M. incognita giảm vào thời điểm 30 ngày, 60 ngày và 90 ngày sau xử lý và tăng mạnh
vào thời điểm cuối vụ. Đối với các công thức thí nghiệm Jianon chitosan super và Abunar 15GR
có hiệu lực âm tính từ thời điểm 30 ngày sau xử lý đến thời điểm cuối vụ. Hiệu lực phòng trừ
tuyến trùng cao nhất ở công thức Vineem vào thời điểm 90 ngày sau xử lý (66,36%), Biosun one
vào thời điểm 60 ngày sau xử lý (56,71%) và xông hơi sinh học (43,69%) vào thời điểm 30 ngày
sau xử lý.
Bảng 3.33 Ảnh hưởng của biện pháp sinh học đến mật độ trùng trong rễ, tỉ mức độ gây hại
và năng suất cà tím tại Lâm Đồng (mùa vụ 2014-2015)
Công thức
Mật độ ấu trùng trong Tỉ lệ nốt sần rễ Mức độ gây hại
Năng suất
rễ (cá thể/5 gam rễ)
(%)
(tấn/ha)
b
bc
c
Chitosan
1596
60,30
5,33
108,00a
Vineem
796e
68,37b
5,67bc
102,70b
Abuna
1400c
69,13b
6,33b
92,00e
Biosun one
974d
66,18b
5,67bc
99,00c
e
c
c
Xông hơi
874
53,61
5,00
95,67d
Đối chứng
2004a
78,03a
7,67a
95,67d
LSD0,05
95,5600
8,3240
0,7776
3,2970
Mật độ ấu trùng nốt sần rễ M. incognita tuổi 2 trong rễ cà tím cao nhất ở công thức đối
chứng (2004 cá thể/5g rễ), tiếp theo là công thức Jianon chitosan super (1596 cá thể/5g rễ), Abuna
15GR (1400 cá thể/5g rễ) và thấp nhất ở công thức sử dụng Vineem (796 cá thể/5g rễ) và công
thức xông hơi sinh học (874 cá thể/5g rễ). Tỉ lệ nốt sần rễ và mức độ gây hại thấp nhất ở công
thức xông hơi với chỉ số lần lượt là 53,61% và 5,00, tiếp theo là công thức Vineem (68,37% và
5,67), Jianon chitosan super (60,30% và 5,33), Biosun one (66,18% và 5,67). Công thức đối
chứng có tỉ lệ nốt sần rễ và mức độ gây hại ở mức cao nhất lên đến 78,03% và 7,67. Năng suất
cà tím trong thí nghiệm đạt cao nhất ở công thức sử dụng Jianon chitosan (108,00 tấn/ha), tiếp
theo là công thức Vineem (102,70 tấn/ha) và thấp nhất ở công thức Abuna 15 GR chỉ đạt 92,00
tấn/ha, thấp nhất ở công thức xông hơi sinh học và đối chứng chỉ đạt 95,67 tấn/ha.

20


3.3.4 Kết quả nghiên cứu biện pháp hóa học trong phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ hại cà tím
Bảng 3.34 Ảnh hưởng của biện pháp hóa học đến mật độ ấu trùng M. incognita trong đất trồng
cà tím tại Lâm Đồng (mùa vụ 2014-2015)
Công thức
Mật độ ấu trùng tuổi 2 (cá thể/50cm3
Hiệu lực phòng trừ (%)
đất)
TXL
30N 60N
90N C.V
30N
60N
90N
C.V
a
a
a
Tervigo
1419
772
953
1559 2638
43,77 51,15
-3,18 -0,45a
d
b
Map logic
1220
1061 2061
1407 2538
10,12 -22,86
-8,31b -12,39b
Cazinon
1171
757
2230
1638 3300
33,19b -38,49c -31,37c -52,57c
990
830
1952
1588 3155
13,35c -43,39c -50,64d -72,19d
Vifu-super
Đối chứng
1112
1076 1529
1184 2058
LSD0,05
2,978 3,552
1,338 2,318
Kết quả thí nghiệm cho thấy mật độ ấu trùng M. incognita tuổi 2 trong đất trồng cà tím
trong mùa vụ 2014-2015 khi sử dụng các chế phẩm hóa học để phòng chống tuyến trùng nốt sần
rễ giảm mạnh vào thời điểm 30 ngày sau xử lý và tăng dần vào các thời điểm 60 ngày, 90 ngày
và thời điểm cuối vụ và cao hơn hẳng so với đối chứng. Tất cả các công thức thí nghiệm đều có
hiệu lực phòng chống tuyến trùng vào thời điểm 30 ngày sau xử lý thuốc nhưng không còn hiệu
lực vào thời điểm 60 ngày sau xử lý thuốc. Hiệu lực cao nhất ở công thức sử dụng Tervigo 020SC
và thấp ở công thức sử dụng Map logic 90WP và Vifu-super 5 GR.
Bảng 3.35 Ảnh hưởng của biện pháp hóa học đến mức độ gây hại và năng suất cà tím tại Lâm
Đồng (mùa vụ 2014-2015)
Mật độ ấu trùng tuổi 2 trong
Tỉ lệ nốt sần rễ Mức độ gây hại Năng suất
Công thức
rễ
(%)
(tấn/ha)
(cá thể/5 g rễ)
Tervigo
541c
38,27b
3,67c
104,00a
Map logic
681c
73,54a
6,33b
88,33c
Cazinon
867b
68,32a
6,33b
99,33ab
1184a
83,03a
7,00ab
88,67c
Vifu-super
b
a
a
Đối chứng
1019
87,69
7,33
95,67b
LSD0,05
154,4
20,02
0,9967
5,395
Bảng 3.35 cho thất mật độ ấu trùng M. incognita tuổi 2 trong rễ cao nhất ở công thức vifusuper (11184 cá thể/5g rễ), tiếp theo là đối chứng (1012 cá thể/5g rễ) và thấp nhất ở công thức
Tervigo (541 cá thể/5g rễ). Tỉ lệ nốt sần rễ ở công thức Tervigo có thấp nhất, chỉ 38,27% và có
sự khác biệt so với tất cả các công thức thí nghiệm còn lại. Mức độ gây hại của tuyến trùng ở
công thức đối chứng cao nhất (7,33) và không có sự khác biệt so với công thức vifu-super (7,00)
và có sự khác biệt so với công thức Cazinon và Map logic. Mức độ gây hại của tuyến trùng nốt
sần rễ của công thức Tervigo thấp nhất, chỉ có 3,68. Năng suất cà tím cao nhất ở công thức
Tervigo (104,00 tấn/ha) và không có sự khác biệt so vớ công thức Diazinon (99,33 tấn/ha) nhưng
khác biệt so với đối chứng (95,67 tấn/ha) và 2 công thức còn lại.
Nhìn chung; trong tất cả các biện pháp thử nghiệm phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ M.
incognita hại cà tím thì biện pháp hiệu quả nhất là biện pháp sinh học, tiếp theo là biện pháp vật
lý, hóa học và canh tác. Các biện pháp sinh học, vật lý và canh tác có hiệu lực phòng trừ đối với
tuyến trùng nốt sần rễ kéo dài, ít độc hại với môi trường và con người, đảm bảo sản phẩm an toàn
và giá thành thấp nên chúng tôi sử dụng kết hợp biện pháp canh tác, vật lý và sinh học trong mô
hình quản lý tổng hợp tuyến trùng nốt sần rễ hại cà tím, áp dụng tại 2 mô hình ở Đơn Dương và
Đức Trọng của tỉnh Lâm Đồng.
21


3.4. Áp dụng một số giải pháp phòng chống tuyến trùng gây nốt sần rễ (Meloidogyne
incognita) hại cây cà tím theo hướng quản lý tổng hợp tại Lâm Đồng
3.4.1 Ảnh hưởng của các giải pháp quản lý tổng đến biến động mật độ quần thể tuyến trùng
M. incognita hại cà tím
Bảng 3.36 Ảnh hưởng của biện pháp quản lý tổng hợp lên mật độ ấu trùng M. incognita tuổi 2
trong đất trồng cà tím tại Lâm Đồng (mùa vụ 2016-2017)
Công thức
Mật độ ấu trùng tuổi 2 (cá thể/50cm3 đất)
Hiệu lực phòng trừ (%)
TXL
30N
60N
90N
C.V
30N
60N
90N
C.V
Đơn Dương 1031
708
458
701
1103
36,68 66,63 30,01 24,50
Đối chứng
1017
1103
1295
1129
1441
Đức Trọng 859
624
523
1010
1061
35,13 58,55 26,68 18,47
Đối chứng
868
972
1275
1392
1315
CV (%)
6,12
5,27
5,19
6,79
7,51
Mật độ ấu trùng trong đất ở hai mô hình có xu hướng giảm nhanh vào thời điểm 30 ngày
vào 60 ngày sau xử lý, thấp hơn so với đối chứng. Hiệu lực phòng trừ ở cả hai mô hình đều dương
và cao vào thời điểm 60 ngày sau xử lý đất đạt 66,63% ở mô hình Đơn Dương và 58,55% ở mô
hình Đức Trọng. Hiệu lực phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ kéo dài đến cuối vụ.
3.4.2 Kết quả mô hình thử nghiệm áp dụng các giải pháp quản lý tổng hợp đến mật độ tuyến
trùng trong rễ, tỉ lệ nốt sần rễ, mức độ gây hại và năng suất của cà tím
Mật độ tuyến trùng trong rễ, tỉ lệ nốt sần rễ, mức độ gây hại ở cả hai mô hình phòng trừ
tổng hợp (PTTH) đều thấp hơn so với đối chứng. Mật độ ấu trùng M. incognita tuổi 2 trong rễ ở
2 mô hình Đơn Dương (107 cá thể/5g rễ) và Đức Trọng (218 cá thể/5g rễ) thấp hơn so với đối
chứng của cả hai mô hình (727 cá thể/5g rễ ở mô hình Đơn Dương và 624 cá thể ở mô hình Đức
Trọng).
Bảng 3.37 Ảnh hưởng của biện pháp quản lý tổng hợp tuyến trùng nốt sần rễ đến mức độ gây
hại và năng suất cà tím tại Lâm Đồng (mùa vụ 2016-2017)
Công thức
Mật độ ấu trùng tuổi 2 trong Tỉ lệ nốt sần
Mức độ gây
Năng suất
rễ (cá thể/5 gam rễ)
rễ (%)
hại
(tấn/ha)
d
d
b
Đơn Dương
107
12,53
1,93
116,33a
Đối chứng
727a
37,32b
4,29a
91,67b
c
c
b
Đức Trọng
218
22,68
2,28
112,33a
Đối chứng
624b
41,51a
4,25a
95,67b
LSD0,05
49,29
3,706
0,4801
4,587
Tỉ lệ nốt sần rễ trên rễ cà tím ở mô hình Đơn Dương (12,53%) và Đức Trọng (22,68%) có
sự khác biệt so với đối chứng mô hình ở Đơn Dương (37,32%) và đối chứng mô hình ở Đức
Trọng (41,51%). Mức độ gây hại do tuyến trùng nốt sần rễ gây ra trên rễ cà tím ở mô hình Đơn
Dương thấp nhất (1,93) và có sự khác biệt so với đối chứng mô hình (4,29). Mức độ gây hại trên
rễ cà tím ở mô hình Đức Trọng (2,28) không có sự khác biệt thống kê so với mô hình Đơn Dương
và đối chứng ở Đơn Dương nhưng có sự khác biệt so với đối chứng ở Đức Trọng (4,25). Năng
suất cà tím ở cả hai mô hình cũng cao hơn đối chứng và đạt cao nhất trong tất cả các thí nghiệm
với 116,33 tấn/ha ở mô hình Đơn Dương cao hơn 24,66 tấn/ha so với đối chứng mô hình Đơn
Dương và 112,33 tấn/ha ở mô hình Đức Trọng tăng 16,67 tấn/ha so với đối chứng mô hình ở Đức Trọng.

22


3.4.3 Hiệu quả kinh tế của mô hình
Bảng 3.38 Hiệu quả kinh tế của mô hình phòng trừ tổng hợp tuyến trùng trên cà tím tại Lâm
Đồng (mùa vụ 2016-2017)
Công thức
Tổng chi
Năng suất
HQKT
Tăng so với đối chứng
(nghìn đồng)
(kg/ha)
(nghìn đồng)
(nghìn đồng)
Đơn Dương
125.820
116.330
107.240
49.600
ĐCĐD
125.500
91.670
57.640
Đức Trọng
123.520
112.330
99.240
33.600
ĐCĐT
123.800
95.670
65.640
ĐCĐD: Đối chứng mô hình Đơn Dương; ĐCĐT: Đối chứng mô hìn Đức Trọng HQKT: Hiệu
quả kinh tế
Theo ước tính, với năng suất của mô hình tăng thì lợi nhuận nông dân thu được cao hơn so
với cách thức áp dụng truyền thống. Với mô hình áp dụng tại Đơn Dương thì hiệu quả kinh tế
mang lại là 107.240 nghìn đồng (107.240.000 đồng/ha) tăng so với đối chứng là 49.600.000
đồng/ha, còn mô hình ở Đức Trọng hiệu quả kinh tế của mô hình mang lại so với đối chứng là
33.600 nghìn đồng (33.600.000 đồng/ha). Kết quả cho thấy rõ hiệu quả kinh tế của việc áp dụng
mô hình cao hơn hẳn so với việc áp dụng theo phương thức sản xuất của nông dân.
Nhìn chung, áp dụng biện pháp quản lý tổng hợp tuyến trùng nốt sần rễ hại cà tím vừa làm
giảm mức độ gây hại của tuyến trùng nốt sần rễ, vừa làm tăng năng suất và tăng hiệu quả kinh tế
so với phương pháp canh tác của nông dân.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
1. Đã ghi nhận được 2 loài tuyến trùng nốt sần rễ hại cà tím tại Lâm Đồng là M. incognita
và M. javanica. Trong đó, loài M. incognita có vai trò gây hại quan trọng với tần suất xuất hiện
cao nhất chiếm 67,61%, tiếp theo là M. javanica chiếm 23,94% và hỗn hợp giữa 2 loài M.
incognita và M.javanica với tần suất thấp nhất là 8,45%.
2. Vòng đời tuyến trùng nốt sần rễ M. incognita nhân nuôi trên rễ cà tím trong môi trường
đất cát (70% cát, 20% limon, 10% sét), với nhiệt độ trung bình là (24±1oC) là 27,16 ngày. Tỉ lệ
xâm nhiễm của ấu trùng tuổi 2 loài M. incognita vào rễ cà tím ở độ ẩm đất 46,77% và 57,11%
cao hơn ở độ ẩm 36,13%. Tỉ lệ nở trứng của loài tuyến trùng nốt sần rễ M. incognita cao nhất
trong dịch chiết rễ cà tím 1 tháng tuổi (90,72%) tiếp theo là dịch chiết rễ cà tím 6 tháng tuổi
(83,00%) thấp nhất trong nước cất (69,30%).
3. Hàm lượng cát trong đất càng cao thì mật độ ấu trùng nốt sần rễ M. incognita tuổi 2 trong
đất càng cao. Mật độ ấu trùng M. incognita tuổi 2 tăng khi lượng mưa tăng trong khoảng 0 160mm/tháng và độ ẩm đất tăng trong khoảng 30 - 55%, lượng mưa cao hơn 160mm/tháng và
độ ẩm lớn hơn 55% mật độ ấu trùng tuổi 2 giảm. Sử dụng phân gà có tác dụng làm giảm mật độ
ấu trùng tuổi 2 trong đất và trong rễ cà tím. Giống cà tím TN252 Green King là giống mẫn cảm
nhất với tuyến trùng nốt sần rễ M. incognita trong các giống nghiên cứu.
4. Phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ theo hướng quản lý tổng hợp: Đối với biện pháp canh
tác: Luân canh cà tím với cải cúc có hiệu quả cao nhất trong phòng trừ tuyến trùng nốt sần rễ M.
incognita đạt 34,03%, tỉ lệ nốt sần rễ (37,13%), mức độ gây hại (2,67). Biện pháp đốt đất có hiệu
quả phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ cao nhất đạt 50,35% trong các biện pháp vật lý thử
nghiệm, nhưng năng suất cà tím lại thấp nhất (98,33 tấn/ha). Chế phẩm Vineem, Biosun one có
hiệu lực phòng chống tuyến trùng nốt sần rễ cao nhất trong biện pháp sinh học thử nghiệm, đạt
66,36% và 56,71%. Thuốc hóa học Tervigo 020SC (hoạt chất abamectin) có hiệu lực phòng trừ
23


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×