Tải bản đầy đủ

Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã đông nam dược, xã hà vị, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÝ HOÀI UYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA HTX ĐÔNG NAM DƢỢC XÃ HÀ VỊ - HUYỆN BẠCH THÔNG
TỈNH BẮC KẠN”

Hệ đào tạo

: Chính quy

Định hƣớng đề tài : Hƣớng nghiên cứu
Chuyên ngành

: Kinh tế nông nghiệp

Khoa


: Kinh tế và phát triển nông thôn

Khóa học

: 2014 - 2018

Thái Nguyên, năm 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÝ HOÀI UYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤTKINH DOANH
CỦA HTX ĐÔNG NAM DƢỢCXÃ HÀ VỊ - HUYỆN BẠCH THÔNG
TỈNH BẮC KẠN”

Hệ đào tạo
: Chính quy
Định hƣớng đề tài
: Hƣớng nghiên cứu
Chuyên ngành
: Kinh tế nông nghiệp
Lớp
: K46 - KTNN - N01
Khoa
: Kinh tế và phát triển nông thôn
Khóa học
: 2014 - 2018
Giáo viên hƣớng dẫn : ThS. Đỗ Hoàng Sơn
Giảng viên Trƣờng ĐH Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên, năm 2018


i

LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng giúp sinh viên trau dồi,
củng cố, bổ sung kiến thức đã học tập được ở trường. Đồng thời cũng giúp
sinh viên tiếp xúc với thực tế đem những kiến thức đã học áp dụng vào thực
tiễn sản xuất. Qua đó giúp sinh viên học hỏi và rút ra kinh nghiệm từ thực
tếđể khi ra trường trở thành một cán bộ có năng lực tốt, trình độ lí luận cao,
chuyên môn giỏi. Đáp ứng nhu cầu cấp thiết của xã hội.
Với mục đích và tầm quan trọng trên, được sự phân công của Khoa
Kinh tế và Phát Triển Nông Thôn, đồng thời được sự hướng dẫn của Thầy
giáo Ths. Đỗ Hoàng Sơn, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực
trạng hoạt động SXKDcủa HTX Đông Nam Dược, xã Hà Vị, huyện Bạch
Thông, tỉnh Bắc Kạn”.
Để hoàn thành khóa luận này, không thể thiếu sự hỗ trợ của các thầy
cô, các anh chị tại đơn vị thực tập, các cô, chú và người dân thôn khuổi thiêu
xã Hà Vị huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn.
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Trường Đại Học Nông Lâm
Thái Nguyên, quý thầy cô khoa kinh tế và phát triển nông thôn. Em cũng chân
thành cám ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các bác, các cô, chú ở HTX Đông
Nam Dược, và người dân của thôn Khuổi Thiêu xã Hà Vị huyện Bạch Thông
tỉnh Bắc Kạn.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Đỗ Hoàng Sơn đã hướng
dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Trong quá trình làm luận văn, em
không tránh khỏi có những sai sót. Mong quý thầy cô thông cảm và giúp đỡ.
Cuối cùng em xin chúc thầy và quý thầy cô khoa kinh tế và phát triển
nông thôn dồi dào sức khỏe và luôn thành công trong công việc.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 3năm 2018
Sinh viên thực tập

Lý Hoài Uyên


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Các thành viên trong HTX Đông Nam dược và hoạt động SXKD 27
Bảng 4.2: Diện tích đất có thể trồng dược liệu của các thành viên trong HTX
Đông Nam dược .............................................................................. 32
Bảng 4.3: Tư liệu sản xuất cho phát triển vùng trồng dược liệu tại HTX ...... 34
Bảng 4.4: Nguồn vốn huy động trồng dược liệu của các thành viên trong
HTX ................................................................................................ 35
Bảng 4.5. Hoạt động trồng và chế biến cây dược liệu .................................... 38
Bảng 4.6. Hoạt động của phòng khám đa khoa, chuyên khoa ........................ 40
Bảng 4.7. Hoạt động kinh doanh nhà tắm thuốc ............................................. 41
Bảng 4.8. Phân tích kết quả hoạt động SXKD của HTX ................................ 43


iii

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức ....................................................................... 29


iv

DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT

BQ

Bình quân

CP

Chi phí

DT

Doanh thu

GDP

Tổng sản phẩm nội địa

HQKT

Hiệu quả kinh tế

HTX

Hợp tác xã

LN

Lợi nhuận

NĐ-CP

Nghị định của chính phủ

QĐ-BYT

Quyết định của bộ y tế

QĐ-TTg

Quyết định của thủ tướng chính phủ

SXKD

Sản xuất kinh doanh

WHO

Tổ chức y tế thế giới

WWF

Quỹ thiên nhiên thế giới


v

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT .......................................... iv
MỤC LỤC ......................................................................................................... v
PHẦN 1. MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................... 3
1.2.1. Mục tiêu chung ........................................................................................ 3
1.2.2. Mục tiêu cụ thể ........................................................................................ 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 4
1.3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 4
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ........................................................................... 4
PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN............................................. 5
2.1. Cơ sở lý luận .............................................................................................. 5
2.1.1. Một số khái niệm có liên quan ................................................................ 5
2.1.2. Vai trò Hợp tác xã trong phát triển nông thôn ........................................ 8
2.1.3. Nhận thức về bản chất mô hình HTX trong nền kinh tế thị trường ........ 9
2.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 12
2.2.1. Phát triển dược liệu tại Việt Nam và Thế giới ...................................... 12
2.2.2. Các chính sách phát triển cây dược liệu tại Việt Nam .......................... 20
PHẦN 3. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..22
3.1. Đối tượng, thời gian và phạm vi nghiên cứu ........................................... 22
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 22
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 22
3.1.3. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................ 22
3.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 22


vi

3.3. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 23
3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu ................................................................ 23
3.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu ................................................................... 24
3.4.1. Một số chỉ tiêu phân tích và cách tính hiệu quả .................................... 24
3.4.2. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ ................................ 26
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ SO SÁNH ................................. 27
4.1. Giới thiệu chung về HTX Đông Nam dược ............................................. 27
4.1.1. Khái quát về quá trình hình thành và phát triển HTX Đông Nam Dược ..........27
4.1.2. Cơ cấu tổ chức của HTX và chức năng nhiệm vụ ................................ 29
4.1.3. Đánh giá những điều kiện cơ bản của HTX Đông Nam dược .............. 31
4.1.4. Định hướng phát triển ........................................................................... 36
4.2. Thực trạng hoạt động SXKD của HTX Đông Nam Dược ....................... 37
4.2.1. Hoạt động trồng và chế biến cây dược liệu........................................... 37
4.2.2. Hoạt động của phòng khám đa khoa, chuyên khoa .............................. 40
4.2.3. Hoạt động kinh doanh nhà tắm thuốc ................................................... 41
4.2.4. Phân tích kết quả các hoạt động SXKD của HTX ................................ 43
4.3. Những thuận lợi và khó khăn trong SXKD của HTX Đông Nam dược ...........44
4.3.1. Thuận lợi ............................................................................................... 44
4.3.2. Khó khăn ............................................................................................... 45
4.4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả SXKD của HTX ................... 46
4.4.1. Các giải pháp chung .............................................................................. 46
4.4.2. Các giải pháp cụ thể .............................................................................. 50
PHầN 5.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................ 54
5.1. Kết luận .................................................................................................... 54
5.2. Những tồn tại của khóa luận .................................................................... 55
5.3. Kiến nghị .................................................................................................. 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 57


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước nông nghiệp, trong đó hơn 70% dân số sống ở vùng
nông thôn và canh tác nông nghiệp. Trong chiến lược phát triển nông nghiệp
và quá trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay cho thấy rằng, hợp
tác xã nông nghiệp đang có vai trò thiết yếu trong việc liên kết hộ nông dân đi
lên sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, đặc biệt tạo ra sức cạnh tranh
hàng hóa và chuỗi giá trị nông sản. Ở hầu hết các nước có phong trào hợp tác
xã phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, CHLB Đức, Hoa Kỳ v.v..
khẳng định hợp tác xã nông nghiệp có vai trò chủ đạo trong việc cung ứng vật
tư nông nghiệp, bao tiêu và tiếp thị sản phẩm cho người nông dân. Vai trò
cung ứng vật tư, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân đã trở thành
công cụ đắc lực và hữu hiệu cho thành viên hợp tác xã, người nông dân yên
tâm sản xuất, đồng thời tạo ra vòng tròn khép kín giữa người sản xuất - hợp
tác xã - thị trường. Tuy nhiên, ở Việt Nam, hầu hết các hợp tác xã nông
nghiệp, hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp tuy thực hiện hoạt động cung cấp vật
tư nông nghiệp, chế biến và tiêu thụ, tiếp thị sản phẩm nông sản nhưng vẫn
còn rời rạc, cầm chừng nên không có sức cạnh tranh cao dẫn đến người nông
dân thiếu niềm tin vào hợp tác xã, người nông dân “khi được mùa thì rớt giá
và chịu cảnh bị tư thương ép giá”.
Cần khẳng định, phát triển bền vững các HTX nông nghiệp là vấn đề
trụ cột cho thành công của mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam
theo hướng sản xuất hàng hóa đem lại giá trị cao. Một thực tế cho thấy, tái cơ
cấu nông nghiệp cần phải dựa vào dân và hướng vào lợi ích của người nông
dân. Tái cơ cấu nông nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung chỉ thực sự thành


2

công khi có sự tham gia đồng thuận của người dân, từ đó tạo sự gắn kết trong
hợp tác kinh doanh và phát triển. Do đó cần tập trung hỗ trợ HTX củng cố và phát
triển bền vững làm nền tảng và động lực trong việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp.
HTX là một tổ chức đã được nhiều người biết đến trong nhiều năm qua.
Nhưng ý nghĩa thực sự của HTX là một tổ chức hợp tác sản xuất, dịch vụ trên
tinh thần tự nguyện tham gia cùng nhau sản xuất nhằm hỗ trợ, giúp đỡ tạo,
điều kiện cho xã viên sản xuất nâng cao đời sống kinh tế thì chưa hoàn toàn
được mọi người hiểu đúng, vì còn một số khó khăn trong việc chuyển đổi
theo luật HTX mới nên chưa tạo được niềm tin cho các nông hộ tự nguyện
tham gia hợp tác cùng sản xuất nâng cao chất lượng nông sản, tiết kiệm chi
phí và tăng lợi nhuận. Đồng thời để nền kinh tế nông nghiệp bắt kịp xu hướng
phát triển hiện nay của thế giới. Thì đòi hỏi phải đưa những tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp chứ không phải để tình cảnh sản xuất “con
trâu đi trước cái cày theo sau” và đất nhà ai nấy sản xuất, và ai thích sản xuất
gì thì sản xuất cái đó như trước kia.
HTX Đông Nam Dược huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn là một loại
hình HTX nông nghiệp hoạt động đa ngành gồm: Trồng và thu mua chế biến
dược liệu, khám chữa bệnh và bốc thuốc, kinh doanh dịch vụ tắm thuốc,…
Đây là một loại hình HTX nông nghiệp đặc thù, tuy mới được thành lập chưa
lâu nhưng bước đầu đã đạt được những thành công nhất định trong sản xuất
kinh doanh (SXKD). Bên cạnh những hoạt động truyền thống như khám chữa
bệnh, bốc thuốc và kinh doanh dịch vụ tắm thuốc, HTX Đông Nam dược là
đơn vị tiên phong của tỉnh Bắc Kạn trong việc gây trồng và phát triển vùng
trồng cây dược liệu, một loại cây trồng có tiềm năng đem lại giá trị kinh tế
cao, cao gấp nhiều lần so với nhiều cây trồng khác. Kết quả đáng thuyết phục
này đã góp phần tạo sự tin tưởng và hình thành quyết tâm gắn bó với cây
dược liệu của người dân. Trồng dược liệu quý đem lại nguồn lợi kinh tế cho


3

người nông dân là điều không thể phủ nhận. Bên cạnh những thành công bước
đầu, HTX Đông nam dược cũng gặp rất nhiều những khó khăn như: Trình độ
tổ chức quản lý HTX còn yếu, các cán bộ xã viên HTX năng lực hạn chế, kỹ
thuật trong trồng và chăm sóc cây dược liệu kém, khả năng nắm bắt thông tin
và kết nối thị trường không mạnh, thiếu kiến thức trong xây dựng kế hoạch
SXKD và hoạch toán kinh tế. Ngoài ra, thiếu vốn, thiếu đất sản xuất để mở
rộng sản xuất cung là một khó khăn không nhỏ. Để làm rõ những thuận lợi,
khó khăn và tồn tại trong hoạt động SXKD của HTX Đông Nam Dược, trên
cơ sở đó đưa ra được những giải pháp giúp hoạt động SXKD của HTX có
hiệu quả, phát triển ổn định là điều vô cùng cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu
thực tế trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng hoạt động
SXKD của HTX Đông Nam Dược, xã Hà Vị, huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng hoạt động SXKD của HTX Đông Nam Dược tại xã
Hà Vị, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Từ đó đưa ra một số định hướng,
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của HTX nông nghiệp
đặc thù này theo hướng ổn định và vững mạnh hơn.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
-Đánh giá được thực trạng hoạt động SXKD của HTX Đông Nam Dược.
- Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động SXKDcủa HTX.
- Làm rõ được những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động SXKD của
HTX Đông Nam Dược.
- Đề xuất đuộc một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
SXKD của HTX Đông Nam Dược.


4

1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản
và những kiến thức đào tại nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên
có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế.
- Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập,
nghiên cứu của sinh viên. Sinh viên biết vận dụng sáng tạo những kiến thức
đã học vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở tham khảo cho lãnh đạo HTX
Đông Nam Dược có cái nhìn cụ thể, chính xác và khách quan hơn về thực
trạng hoạt động SXKD của HTX mình. Trên cơ sở đó có những quyết định
chính xác và mạnh dạn hơn trong quy hoạch và lập kế hoạch SXKD của HTX
trong những năm tiếp theo.


5

PHẦN 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1.Một số khái niệm có liên quan
2.1.1.1. Khái niệm về Hợp tác xã (HTX)
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Đại hội liên minh hợp tác xã quốc tế (ICA)
lần thứ 31 tổ chức tại Manchester - Vương quốc Anh đã định nghĩa về hợp tác
xã như sau: "Hợp tác xã là hiệp hội hay là tổ chức tự chủ của cá nhân liên kết
với nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng
chung về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một tổ chức kinh tế cùng nhau
làm chủ chung và kiểm tra dân chủ".
Ở Việt Nam, Luật hợp tác xã năm 1996 định nghĩa về hợp tác xã như
sau: "Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu
cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của
pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp
nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”.
Luật Hợp tác xã năm 2003 đã kế thừa quy định của Luật hợp tác xã
năm 1996, tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế hợp tác xã, là một tổ chức
kinh tế mang tính cộng đồng và xã hội sâu sắc. Việc thành lập nên hợp tác xã
dựa trên nhu cầu, lợi ích chung của các thành viên nhằm phát huy sức mạnh
tập thể, cùng giúp nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao đời
sống vật chất cho xã viên và góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Tuy nhiên, so với Luật hợp tác xã năm 1996, thì ở Luật hợp tác xã năm
2003 đã mở rộng hơn về đối tượng tham gia hợp tác xã đó là cá nhân, hộ gia
đình, pháp nhân và được coi như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp


6

nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn
điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của
pháp luật. Điều này cũng tạo điều kiện cho kinh tế hợp tác xã phát triển về số
lượng và mở rộng thêm nguồn vốn đầu tư, tham gia vào hợp tác xã.
Luật Hợp tác xã 2012 đã khẳng định rõ Hợp tác xã không phải là
Doanh nghiệp, điều này cũng đã có những tranh luận gay gắt giữa các nhà
làm Luật Việt Nam với các chuyên gia trong và ngoài nước trước khi Luật
được thông qua. Như vậy ta có thể hiểu: “Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức
kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên
tự nguyện thành lập và 7 hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên,
trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý
hợp tác xã”.
2.1.1.2. Một số khái niệm về dược liệu
Cây dược liệu: là những loài thực vật có tác dụng dùng để chữa bệnh
hoặc bồi bổ cơ thể khi con người sử dụng. Việc dùng thuốc trong nhân dân ta
đã có từ lâu đời. Từ thời nguyên thuỷ, tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức
ăn, có khi ăn phải chất độc phát sinh nôn mửa hoặc rối loạn tiêu hoá, hoặc
hôn mê có khi chết người, do đó cần có nhận thức phân biệt được loại nào ăn
được, loại nào có độc không ăn được.
Phát triển cây dược liệu là: là một quá trình tăng tiến về mọi mặt của
nuôi trồng dược liệu trong một thời gian nhất định. Trong đó bao gồm cả sự
tăng trưởng về quy mô, diện tích, sản lượng và cơ cấu sản xuất của ngành.
Phát triển dược liệu bền vững: là sự đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu
dược liệu hiện tại nhưng không làm xấu đi khả năng đáp ứng ngày càng cao
về phát triển dược liệu cho tương lai.


7

2.1.1.3. Khái niệm về chi phí
- Chi phí:
+ Chi phí biến đổi: là những khoản chi phí thay đổi theo quy mô sản
xuất, hoặc doanh số như lao động, nguyên liệu hoặc chi phí hành chính….
+ Chi phí cố định: là các khoản chi phí không thay đổi tùy thuộc vào
quy mô sản xuất hoặc mức doanh số như tiền thuê nhà, thuê tài sản, tiền bảo
hiểm hoặc chi phí trả lãi vay…
+ Chi phí cơ hội: là chi phí của việc từ bỏ sản xuất cái khác đi sản xuất
cái này.
- Doanh thu là tổng lợi ích kinh tế mà các tổ chức, cá nhân SXKD thu
được, phát sinh từ các hoạt đông SXKD thông thường của tổ chức cá nhân đó.
- Lợi nhuận: là phần còn lại của tổng sản phẩm trừ đi tổng chi phí sản xuất.
2.1.1.4. Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một
phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực,
vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định. Từ khái niệm khái quát này,
có thế hình thành công thức biểu diễn khái quát phạm trù hiệu quả kinh tế như
sau: H = K/C
Với H là hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (quá trình kinh tế) nào đó;
K là kết quả thu được từ hiện tượng (quá trình) kinh tế đó và C là chi
phí toàn bộ để đạt được kết quả đó. Và như thế cũng có thể khái niệm ngắn
gọn: hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định
bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn
lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế. Theo quan niệm như thế
hoàn toàn có thể tính toán được hiệu quả kinh tế trong sự vận động và biến


8

đổi không ngừng của các hoạt động kinh tế, không phụ thuộc vào quy mô và
tốc độ biến động khác nhau của chúng.
Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế như đã trình bày ở trên, chúng ta có
thể hiểu hiệu quả kinh tế của hoạt động SXKD là một phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật
liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định.
2.1.2. Vai trò Hợp tác xã trong phát triển nông thôn
Ở những nước nông nghiệp như nước ta thì HTX nông nghiệp là tổ
chức kinh tế hợp tác của các hộ gia đình, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh
doanh, các dịch vụ cung ứng đầu vào, đầu ra phục vụ sản xuất trong các lĩnh
vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, diêm nghiệp... vì vậy hoạt
động của HTX nông nghiệp có tác động to lớn, tích cực đến hoạt động sản
xuất của hộ nông nghiệp, nông dân. Nhờ có hoạt động của HTX các yếu tố
đầu vào và các khâu dịch vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp được cung
cấp kịp thời đầy đủ đảm bảo chất lượng, các khâu sản xuất tiếp theo được
đảm bảo làm cho hiệu quả sản xuất của hộ nông dân được nâng lên. Thông
qua hoạt động dịch vụ vai trò điều tiết của HTX nông nghiệp được thực hiện,
sản xuất của hộ nông dân được thực hiện theo hướng tập trung, tạo điều kiện
hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên môn hoá. Ví dụ dịch vụ làm
đất, dịch vụ thuỷ lợi, dịch vụ bảo vệ thực vật… đòi hỏi sản xuất của hộ nông
dân phải được thực hiện thống nhất trên từng cánh đồng và chủng loại giống,
về thời vụ gieo trồng và chăm sóc.
HTX là nơi tiếp nhận những trợ giúp của Nhà nước tới hộ nông dân, vì
vậy hoạt động của HTX có vai trò làm cầu nối giữa Nhà nước với hộ nông
dân một cách có hiệu quả trong một số trường hợp, khi có nhiều tổ chức tham
gia hoạt động dịch vụ cho hộ nông dân hoạt động của HTX là đối trọng buộc
các đối tượng phải phục vụ tốt cho nông dân.


9

2.1.3. Nhận thức về bản chất mô hình HTX trong nền kinh tế thị trường
Ở Việt Nam, dù mô hình hợp tác xã đã được áp dụng từ lâu, nhưng hầu
như nó không hoạt động theo đúng nghĩa. Người nông dân hầu như không
hợp tác lẫn nhau, dẫn tới sản xuất nông nghiệp có xu hướng nhỏ lẻ, phân tán,
không định hướng. Người nông dân làm ra của cải, nhưng họ chưa được
hưởng thụ thành quả lao động đó. Càng làm ra nhiều sản phẩm, họ càng chịu
thiệt nhiều. Lý do nằm ở chỗ, mỗi nông dân làm một kiểu, bán một kiểu, mua
một kiểu, số lượng ít không tạo ra hiệu quả kinh tế đủ lớn. Để giải quyết vấn
đề này, phải có những nhận thức đầy đủ về bản chất của mô hình hợp tác xã
Hợp tác xã (Co-operative) là một tổ chức kinh tế, do những cá nhân,
hay nhưng doanh nghiệp vừa và nhỏ có chung mục đích thành lập ra, được sở
hữu chung. Hợp tác xã là một tổ chức tương trợ phi lợi nhuận, được vận hành
một cách dân chủ, là một phần quan trọng của kinh tế tập thể.
Hợp tác xã do cá nhân tự nguyện đóng góp, nên họ là một nhà đầu tư.
Những ý kiến của mỗi cá nhân đều được tôn trọng và thực thi khi nhận được
sự đồng thuận của đa số. Hơn nữa, mỗi cá nhân sẽ nỗ lực tham gia, thể hiện
trách nhiệm để lợi ích nhận được ngày càng lớn hơn.
Hợp tác xã thuộc sở hữu của các thành viên tham gia. Do đó, Hợp tác
xã hoạt động chỉ nhằm phục vụ lợi ích của các thành viên đó. Những hỗ trợ
của hợp tác xã sẽ giúp cho sản xuất nông nghiệp bền vững hơn, chất lượng
hơn, điều chỉnh phù hợp với nhu cầu thị trường. Hợp tác xã còn chăm lo đời
sống của các thành viên, giúp cuộc sống địa phương thêm phong phú.
Nếu theo kinh tế thị trường thì những quy định trên phải là:
1) Hợp tác xã là tổ chức kinh tế (tư cách pháp nhân);
2) Tham gia: tự nguyện;
3) Hợp tác xã thuộc về các thành viên, mọi lợi ích đều thuộc về các
thành viên.


10

Cần nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí và đặc điểm kinh doanh của
các hợp tác xã nông nghiệp trong thời kỳ mới, thời kỳ kinh tế thị trường, hội
nhập. Đó là tổ chức lại các hợp tác xã theo hình thức vừa làm dịch vụ, vừa
kinh doanh để có lợi nhuận cho thành viên và hợp tác xã. Xây dựng các hợp
tác xã có khả năng mở rộng sản xuất và tự nó phải chủ động liên kết với thị
trường, liên kết với các doanh nghiệp, liên kết với tư thương, thì khi đó mới
bảo vệ được quyền lợi của nông dân, khi đó mới tạo điều kiện cho nền sản
xuất hàng hoá lớn, khi đó mới có nền nông nghiệp phát triển ổn định gắn với
thị trường.
Những nguyên tắc cơ bản của hợp tác xã:
(1) Là tổ chức kinh tế có tính tự chủ (có tư cách pháp nhân)
(2) Là tổ chức của nông dân (người lao động), do nông dân chủ động
lập ra.
(3) Là tổ chức do nông dân điều hành
(4) Là tổ chức có mục đích hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau
(5) Là tổ chức độc lập về chính trị
Điểm quan trọng của Hợp tác xã là: sự hỗ trợ lẫn nhau. Nhu cầu hỗ trợ
lẫn nhau thể hiện rất rõ trong lĩnh vực nông nghiệp. Thí dụ: mua hạt giống,
mua phân bón, áp dụng kỹ thuật, dùng chung máy móc, chế biến sau thu
hoạch, bán sản phẩm… Mỗi cá thể mua cùng một mặt hàng thì nếu “mua
chung” sẽ giảm được giá thành, chí phí vận chuyển. Ngoài ra, quá nhiều cá
thể sản xuất sẽ triệt tiêu lẫn nhau, mất sức cạnh tranh. Muốn xây dựng thương
hiệu nông sản, nâng cao năng lực cạnh tranh và vươn ra thành thị để chiếm
lĩnh thị trường, thì các cá thể phải kết hợp với nhau thành một pháp nhân. Khi
đó, sản xuất nông nghiệp mới tạo ra hiệu quả kinh tế, có chiến lược cạnh
tranh, nâng cao vị thế kinh tế, vị thế xã hội, ổn định kinh tế nông hộ.


11

Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, bản chất của HTX nông nghiệp
không phải là sự phủ định, sự thay thế kinh tế hộ, mà làm cho việc sản xuất cá
thể của các xã viên có sức cạnh tranh cao hơn, thu nhập của xã viên cao hơn
trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn, thông qua việc HTX cung
cấp các dịch vụ đầu vào với giá thấp, chất lượng cao cho các hộ xã viên, qua
việc phối hợp kế hoạch sản xuất, kinh doanh của các hộ và tổ chức tiêu thụ
sản phẩm của các hộ.
Nhìn trên góc độ tổ chức các HTX có thể thấy, để lôi kéo các hộ nông
dân tham gia vào HTX thì các HTX nông nghiệp Việt Nam phải đảm bảo giải
quyết được ngay việc giúp cho các hộ nông dân tiêu thụ các sản phẩm nông
nghiệp với giá phải chăng và chi phí thấp. Để làm được điều này khâu tổ chức
quản lý các HTX nông nghiệp Việt Nam phải đáp ứng được ba điều kiện:
+ Các thành viên trong Ban quản lý hợp tác xã phải có năng lực chuyên
môn, có tâm huyết với mục tiêu giúp nông dân làm giàu hơn là dùng hợp tác
xã để làm giàu cho cá nhân mình hay để tích luỹ lợi nhuận cho hợp tác xã.
+ Người nông dân hiểu được hợp tác xã chính là tổ chức tự họ giúp họ
nên hợp tác với ban quản lý nhằm thiết lập được chế độ hoạt động tối ưu cho
hợp tác xã.
+ Chính quyền địa phương không được can thiệp vào công việc của
hợp tác xã nhưng phải tạo điều kiện cho các mục tiêu xã hội của hợp tác xã có
thể thực hiện dễ dàng nhất.
Từ thực tiễn kinh nghiệm phát triển các HTX nông nghiệp trên thế giới
và Việt Nam thấy rằng, để có thể tồn tại và phát triển thì tôn chỉ mục đích của
hợp tác xã nông nghiệp phải mang đến những lợi ích cho nông dân như:
+ Bán hàng cho nông dân với giá phải chăng, tiện lợi và đảm bảo chất lượng.
+ Giúp nông dân tiêu thụ hàng hoá dễ dàng, có kế hoạch với chi phí
giảm, giá cả hợp lý, buôn bán văn minh, tiêu chuẩn hoá sản phẩm ở mức cao.


12

+ Tạo thế cạnh tranh tốt cho nông dân cả khi mua và khi bán hàng hoá.
+ Liên kết nông dân sử dụng có hiệu quả nguồn lực như lao động, máy
móc, tài chính, kỹ thuật,… để có chi phí sản xuất thấp.
+ Đào tạo năng lực tự quản lý, năng lực áp dụng kỹ thuật tiên tiến cho
nông dân.
2.2.Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Phát triển dược liệu tại Việt Nam và Thế giới
2.2.1.1. Phát triển dược liệu thế giới
Lịch sử nghiên cứu và sử dụng tài nguyên cây thuốc trên thế giới: Các
kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh được nghiên cứu ở các
mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của từng châu lục, từng quốc
gia và từng dân tộc. Hầu hết các quốc gia đã biên soạn các chuyên khảo về
cây thuốc trên quy mô toàn quốc hoặc vùng lãnh thổ. Nhiều công trình nghiên
cứu cây thuốc của các nước được sử dụng rộng rãi và có giá trị khoa học thực
tiễn lớn. Những kiến thức truyền thống về cây thuốc và kinh nghiệm bản địa
trong việc sử dụng cây thuốc không những góp phần quan trọng trong công
tác bảo tồn các giá trị văn hóa và đa dạng sinh học mà còn mở ra một triển
vọng cho việc phát triển thuốc mới.
Để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khỏe con người, cho sự
phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết phải kết
hợp giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của các dân
tộc là một vấn đề cấp thiết. Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyền
đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loại thuốc có ích trong tương lai.
Cho nên, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức
quan trọng. Các nước trên thế giới đang hướng về thực hiện chương trình
Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc.


13

Trên thế giới, nhiều nước đã sử dụng nguồn Lâm sản ngoài gỗ để làm
thuốc, nhiều nước đã có nhiều đề tài nghiên cứu về thuốc và họ cũng đã sử
dụng nhiều nguồn tài nguyên này xuất khẩu làm dược liệu và thu được nguồn
ngoại tệ đáng kể. Đặc biệt là Trung Quốc, có thể khẳng định đây là quốc gia
đi đầu trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh. Vào thế kỷ XVI, Lý Thời
Trân đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó năm 1955 cuốn bản thảo này được
in ấn lại. Nội dung cuốn sách đã đưa đến cho con người cách sử dụng các loại
cây cỏ để chữa bệnh. Năm 1954 tác giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành
công công trình “Dược dụng thực vật cấp sinh lý học” cuốn sách này giới
thiệu tới người đọc cách sử dụng từng loại cây thuốc, tác dụng sinh lý, hóa
sinh của chúng, công dụng và cách phối họp các loại cây thuốc theo từng địa
phương như “Giang Tô tỉnh thực vật dược tài chí”, “Giang Tô trung dược
danh thực đồ thảo” “Quảng Tây trung dược trí” …(Dẫn theo Trần Hồng
Hạnh,1996).[12]
Năm 1968 một số nhà nghiên cứu cây thuốc tại Vân Nam, Trung Quốc
đã xuất bản cuốn sách “Kỹ thuật gây trồng cây thuốc ở Trung Quốc” cuốn
sách đã đề cấp tới cây Thảo quả với nội dung sau: Phân loại cây Thảo quả:
gồm tên khoa học (Amomum tsao-ko Crevost Lemaire), tên họ Zingiberceae.
Hình thái: dạng sống, thân, gốc, rễ, lá, hoa, quả. Vùng phân bố ở Trung Quốc.
Đặc điểm sinh thái và kỹ thuật gây trồng: Nhân giống, làm đất, trồng, chăm
sóc, phòng trừ sâu bệnh. Thu hoạch và chế biến, phẩm chất quy cách, bao gói,
bảo quản.
Đây là cuốn sách tương đối hoàn chỉnh đã giới thiệu một cách tổng
quát và có hệ thống về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học.Năm 1992, J.H.de
Beer- một chuyên gia Lâm sản ngoài gỗ của tổ chức Nông lương thế giới khi
nghiên cứu về vai trò của thị trường và của lâm sản ngoài gỗ đã nhận thấy giá
trị to lớn của Thảo quả đối với việc tăng thu nhập cho người dân sống trong


14

khu vực rừng núi, nơi có phân bố Thảo quả nhằm xóa bỏ đói nghèo, đồng thời
là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội vùng núi và bảo tồn và phát
triển tài nguyên rừng. Năm 1996 Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây
thuốc dân tộc tại Viện Vệ sinh dịch tễ công cộng Trung Quốc biên soạn cuốn
sách “Bản thảo bức tranh màu Trung Quốc”. Cuốn sách đã mô tả tới hơn 1000
loài cây thuốc với nội dung đề cấp là: Tên khoa học, một số dặc điểm sinh vật
học và sinh thái học cơ bản, công dụng và thành phần hóa học. Năm 1999,
trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.s.de Padua, N.
Bunyapraphatsara và R.H.M.J.Lemmens đã tổng kết các nghiên cứu về các
cây thuộc chi Amomum trong đó có Thảo quả. Ở đây tác giả đề cập đến đặc
điểm phân loại của Thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật
học và sinh thái học của Thảo quả. Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân
giống, trồng, chăm sốc bảo vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn
bán Thảo quả trên thế giới (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002) [10].
Vị thuốc “Đông Trùng Hạ Thảo” của người Trung Quốc có giá tới 20005000 USD/ Kg. Hoặc ở Triều Tiên, cây Nhân Sâm đã mang lại một nguồn lợi
kinh tế khá lớn cho những cơ sở trồng trọt và sản xuất thuốc từ cây này.
Theo ước tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 –
70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh
trên toàn thế giới. Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý
giá của các dân tọc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe,
phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng
80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu
phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc qua các chất chiết suất từ dược liệu (Dẫn
theo Nguyễn Văn Tập, 2006) [7].


15

2.2.1.2. Phát triển dược liệu tại Việt Nam
Việt Nam có một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, có tiềm năng to
lớn về tài nguyên cây thuốc, đây cũng là điều kiện thuận lợi để phát triển
nguồn dược liệu, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thuốc trong nước. Tuy
nhiên, cho đến nay, nguồn dược liệu nước ta vẫn phải phụ thuộc rất nhiều vào
nguồn nguyên liệu nhập khẩu mà chưa phát huy được hết những tiềm năng
thảo dược tự nhiên.
Việt Nam hiện có 4.000 loài cây thuốc, hơn 50 loài tảo biển, 75 loài
khoáng vật và gần 410 loài động vật làm thuốc, trong đó có nhiều loại dược
liệu quý được thế giới công nhận như cây hồi, quế, atiso, sâm Ngọc Linh
…Tổng sản lượng dược liệu trồng ở Việt Nam ước tính khoảng 100.00
tấn/năm. Với sự đa dạng về khí hậu thổ nhưỡng – đất đai, ngay từ cưới những
năm của thập kỷ 60-80 ở Việt Nam đã hình thành những vùng trồng, sản xuất
cây dược liệu ở nước ta rất phong phú. Tuy nhiên bên cạnh tiềm năng như vậy
thì việc phát triển nguồn dược liệu trong thời gian qua vẫn còn bộc lộ nhiều
hạn chế. [17]
Theo Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây thuốc Dân tộc cổ truyền
(CREDEP) từ trước đến nay nhiều địa phương trong nước đã có truyền thống
trồng cây thuốc và có nhiều nghiên cứu về thuốc như: Quế (ở Yên Bái, Thanh
Hóa, Quảng Nam, Quảng Ngãi…), Hồi (ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang,
Lai Châu…), Hòe (ở Thái Bình), vv…Có những làng chuyên trồng thuốc như
Đại Yên (Hà Nội), Nghĩa Trai (Văn Lâm, Hưng Yên). Gần đây nhiều loài
thuốc ngắn ngày cũng được trồng thành công trên quy mô lớn như: Bạc Hà,
Ác Ti sô, Cúc Hoa, Địa Liên, Gấc, Hương Nhu, Ích Mẫu, Kim Tiền Thảo, Mã
Đề, Sả, Thanh Cao hoa vàng, Ý Dĩ, vv…
Từ trước đến nay đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu các
cây thuốc và vị thuốc để chữa bệnh như: Đỗ Tất Lợi (1999) trong cuốn


16

“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” giới thiệu 800 cây để làm thuốc;
Sách “Cây thuốc Việt Nam” của lương y Lê Trần Đức (1997) có ghi 830 cây
thuốc; Ts. Võ Văn Chi có cuốn “Từ Điển cây thuốc Việt Nam” ghi 3200 cây
thuốc trong đó có cả cây thuốc nhập nội… Theo tài liệu của Viện Dược liệu
(2004) thì Việt Nam có đến 3.948 loài cây làm thuốc, thuộc 1.572 chi và 307
họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng làm thuốc. Trong số đó có trên
90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên. Nhưng qua điều tra thì con số này
có thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc của một số đồng bào dân
tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ hay còn bỡ ngỡ. Trong
những năm qua, chỉ riêng ngành Y học dân tộc cổ truyền nước ta đã khai thác
một lượng dược liệu khá lớn. Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1995, chỉ
riêng ngành Đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng 20.000 tấn dược liệu
khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây. Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên
10.000 tấn nguyên liệu thô [13]. Hiện nay, do khai thác bừa bãi để chế biến
trong nước hoặc bán nguyên liệu thô qua biên giới sang Trung Quốc mà nhiều
loại cây dược liệu trở nên rất hiếm.
Theo Lê Trần Đức, 1997, Sa nhân là cây thuốc quý trong y học cổ
truyền phương Đông, Sa nhân dùng trong các trường hợp ăn không tiêu, kiến
lỵ, đâu dạ dày, phong tê thấp, sốt rét, đau răng, …Ngoài ra Sa nhân còn dùng
trong sản xuất hương liệu để sản xuất xà phòng, nước gội đầu. Các tác giả đã
nghiên cứu đặc điểm sinh thái học, vòng đời tái sinh, cấu tạo, nơi phân bố, kỹ
thuật, thời gian trồng, thu hoạch của Sa nhân (Lê Trần Đức, 1997) [3].
Khi nghiên cứu về trồng cây Nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới
tán rừng, Nguyễn Ngọc Bình đã tìm hiểu kỹ thuật gây trồng các loài cây dưới
tán rừng để tạo ra sản phẩm, tăng thu nhập cho các họ gia đình nhận khoán,
bảo vệ, khoanh nuôi rừng. Tác giả chỉ ra giá trị kinh tế, đặc điểm hình thái,
sinh thái, phân bố, kỹ thuật gây trồng 28 loài lâm sản ngoài gỗ như: Ba kích,


17

Sa nhân, Thảo quả, Trám trắng, Mây nếp, …(Nguyễn Ngọc Bình và cs,
2000). [5]
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Huyền tại xã Địch Quả - huyện
Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ về việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây
thuốc của cộng đồng dân tộc cho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây
thuốc của đồng bào dân tộc ở đây. Với kiến thức đó họ có thể chữa khỏi rất
nhiều loại bệnh nan y bằng những bài thuốc cổ truyền. Tuy nhiên những kiến
thức quý báu này chưa được phát huy và có cách duy trì hiệu quả, có tổ chức.
Tác giả đã chỉ rõ những loài thực vật rừng được người dân sử dụng làm thuốc,
nơi phân bố, công dụng, cách thu hái 10 chúng. Thêm vào đó họ còn đưa ra
một cách rất chi tiết về mục đích, thời vụ, và các điều kiêng kị khi thu hái cây
thuốc; Đánh giá mức độ tác động của người đân địa phương, nguyên nhân
làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc [9].
Trước yêu cầu bảo tồn và trồng thêm Ba kích để làm thuốc, từ 1994 2002, Viện dược liệu đã phối hợp với một số hộ nông dân ở huyện Đoan
Hùng, tỉnh Phú Thọ xây dựng thành công một số mô hình trồng cây Ba kích
trong đó có mô hình Ba kích trồng xen ở vườn gia đình và vườn trang trại, mô
hình trồng Ba kích ở đồi và đất nương rẫy cũ. Bước đầu các mô hình này đã
đem lại những hiệu quả đáng kể [13].
Trong công trình cây thuốc – nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đang
có nguy cơ cạn kiệt, Trần Khắc Bảo đã đưa ra một số nguyên nhân làm cạn
kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc như: diện tích rừng bị thu hẹp, chất lượng
rừng suy thoái hay quản lý rừng còn nhiều bất cập, trồng chéo kém hiệu quả.
Từ đó tác giả cho rằng chiến lược bảo tồn tài nguyên cây thuốc là bảo tồn các
hệ sinh thái, sự đa dạng các loài (trước hết là các loài có giá trị Y học và kinh
tế, quý hiếm, đặc hữu, có nguy cơ tuyệt chủng) và sự đa dạng di truyền. Bảo


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×