Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng phát triển của giống sắn KM 21 12 tại thái nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------------

NGUYỄN BẢO NAM
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG
PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG SẮN KM21-12
TẠI THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa

: Nông học


Khóa học

: 2014 - 2018

Thái Nguyên - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------

NGUYỄN BẢO NAM
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG

PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG SẮN KM21-12
TẠI THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Lớp
Khoa
Khóa học
Giảng viên hướng dẫn

: Chính quy
: Trồng trọt
: K46 - TT – N01
: Nông học
: 2014 - 2018
: ThS. Hà Việt Long

Thái Nguyên - 2018


i

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến
nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, gia
đình và bạn bè. Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn đến quý
thầy cô ở Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên với tri thức và tâm huyết
của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời
gian học tập tại trường. Và đặc biệt, trong học kỳ này, khoa Nông Học đã tổ
chức cho chúng em được thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học trong thời
gian thực tập tốt nghiệp. Đây là thời gian giúp chúng em được tiếp cận với
phương pháp tiến hành một đề tài nghiên cứu, cách thu thập số liệu và viết
một báo cáo khoa học.
Để hoàn thành được đề tài này, trước tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đến Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Nông Học
Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi để em
hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp.Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thấy cô, anh chị ở trong khu thí
nghiệm cây trồng cạn và các bạn Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo ThS. Hà Việt Long
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em để hoàn thành đề tài này. Qua đây em xin
được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô và
các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 06 năm 2018
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Bảo Nam


ii

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
MỤC LỤC ......................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................. vi
PHẦN 1. MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................... 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài .............................................................. 3
1.2.1. Mục đích của đề tài ......................................................................... 3
1.2.2. Yêu cầu của đề tài ........................................................................... 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài ................................................................................... 3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học .............................. 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ............................................................................. 3
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................... 4
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài ...................................................................... 4
2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam ............... 5
2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới .............................. 5
2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam............................... 7
2.3. Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho sắn trên thế giới và
Việt Nam ........................................................................................... 11
2.3.1. Kết quả nghiên cứu về phân bón cho sắn trên thế giới ................. 11
2.3.2. Kết quả nghiên cứu về phân bón cho sắn ở Việt Nam.................. 15
PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................... 20
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu ......................................................... 20
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu........................................................ 20
3.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 20


iii

3.4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 20
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm...................................................... 20
3.4.2. Quy trình kỹ thuật ......................................................................... 21
3.4.3. Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi .............................. 22
3.5. Phương pháp xử lý số liệu.................................................................... 24
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................... 25
4.1. Ảnh hưởng một số tổ hợp phân bón đến khả năng sinh trưởng phát
triển của giống sắn KM 21-12 trồng tại Thái Nguyên ................................ 25
4.1.1. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến tỷ lệ mọc mầm, thời gian
mọc mầm và thời gian phân cành của giống sắn tham gia thí nghiệm ... 25
4.1.2. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến tốc độ tăng trưởng chiều
cao của giống sắn KM 21-12 .................................................................. 26
4.1.3. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến tốc độ ra lá của giống sắn
KM 21-12 ................................................................................................ 28
4.1.4. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến đến diện tích lá của giống
sắn KM 21-12 trồng tại Thái Nguyên ..................................................... 29
4.1.5. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến đặc điểm hình tháicủa
giống sắn KM 21-12 tại Thái Nguyên .................................................... 31
4.2. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến chất lượng, các yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất, chất lượng của giống sắn KM 21-12 trồng tại
Thái Nguyên ................................................................................................ 32
4.2.1. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành năng
suất của giống sắn KM 21-12 trồng tại Thái Nguyên ............................. 32
4.2.2. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến năng suất của giống sắn
KM 21-12 tại Thái Nguyên ..................................................................... 35
4.2.3. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến chất lượng của giống sắn
KM 21-12 tại Thái Nguyên ..................................................................... 37


iv

4.2.4. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân khoáng đến hiệu quả kinh tế của
giống sắn KM 21-12................................................................................ 39
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ........................................................... 41
5.1. Kết luận ................................................................................................ 41
5.2. Đề nghị ................................................................................................. 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 42
PHỤ LỤC


v

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất sắn trên thế giới, giai đoạn 2012 - 2016 ............ 5
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất sắn ở một số châu lục năm 2016 ....................... 6
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất sắn của Việt Nam giai đoạn 2012 - 2016 .......... 8
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của các vùng trong cả nước
năm 2016 ......................................................................................... 10
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến tỷ lệ mọc mầm, thời gian
mọc mầm và thời gian phân cành của giống sắn KM 21-12 .......... 25
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc độ tăng trưởng chiều cao
cây của giống sắn KM 21-12 .......................................................... 27
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc độ ra lá của giống sắn KM
21-12 ............................................................................................... 28
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến đến diện tích lá của giống
sắn KM 21-12 ................................................................................. 30
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến một số đặc điểm hình thái
của giống sắn KM 21-12 .................................................................. 31
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành năng
suất của giống sắn KM 21-12 ......................................................... 33
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến năng suất của giống sắn
KM 21-12 ........................................................................................ 36
Bảng 4.8: Ảnh hường của các tổ hợp phân bón đến một số chỉ tiêu phẩm chất
của giống sắn KM 21-12 ................................................................. 38
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến hiệu quả kinh tế của
giống sắn KM21-12 ........................................................................ 40


vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CV

: Coefficient variance (hệ số biến động)

Đ/C

: Đối chứng

FAO

: Food and Agriculture Organization (Tổ chức lương thực)

LSD

: Least Significant difference (sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa)

Ns

: Not significant (không có ý nghĩa)

NSCK

: Năng suất củ khô

NSTB

: Năng suất tinh bột

P

: Probabliity (xác suất)

STT

: Số thứ tự


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây sắn (Manihot esculenta crants) là một trong những cây lương thực
dễ trồng, có khả năng thích ứng rộng, và trồng được trên những vùng đất
nghèo, không yêu cầu cao về điều kiện sinh thái, phân bón, chăm sóc. Sắn
được trồng rộng rãi ở 300 Bắc đến 300 Nam và được trồng ở trên 100 nước
nhiệt đới thuộc ba châu lục lớn là châu Phi, châu Mỹ và châu Á.
Trên thế giới sắn là cây lương thực, thực phẩm chính của hơn 500 triệu
người đồng thời là cây thức ăn gia súc và cũng là cây hàng hóa có giá trị xuất
khẩu cao.
Sắn là nguồn lương thực đáng kể cho con người, hiện nay nhiều nước
trên thế giới đã sử dụng sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn làm nguồn lương
thực chính, nhất là các nước của châu Phi. Tinh bột sắn còn là một thành phần
quan trọng trong chế độ ăn của hơn một tỷ người trên thế giới. Sắn cũng là
thức ăn cho gia súc, gia cầm quan trọng tại nhiều nước trên thế giới, ngoài ra
sắn còn là hàng hóa xuất khẩu có giá trị để làm nguyên liệu cho ngành công
nghiệp chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì, màng phủ sinh
học và phụ gia dược phẩm… Đặc biệt trong thời gian tới việc nghiên cứu phát
triển sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học đang được các quốc gia trên thế
giới quan tâm bởi các lợi ích của loại nhiên liệu này đem lại mà cây sắn là
nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol).
Việc nghiên cứu phát triển các giống sắn mới có năng suất tinh bột cao và kỹ
thuật canh tác sắn theo hướng sử dụng đất nghèo dinh dưỡng, đất khó khăn và
phù hợp với vùng sinh thái là việc làm có hiệu quả vì nó góp phần chuyển


2

một phần đất trồng sắn sang canh tác những cây trồng khác mà vẫn không
làm giảm sản lượng sắn.
Giống sắn mới KM21-12 do Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây
có củ (Viện CLT&CTP) chọn tạo từ nguồn giống nhập nội của Trung tâm
Quốc tế nông nghiệp nhiệt đới (CIAT). Giống sắn KM21-12 là con lai được
chọn lọc từ tổ hợp lai SM2354, dòng SM2354-4 có mẹ là CM805-15
(polycross) có nguồn gốc từ CIAT/Colombia (GY94.35 Z01), được nhập nội
bằng hạt lai vào Việt Nam từ năm 1996. KM21-12 đã được Cục Trồng trọt –
Bộ Nông nghiệp và PTNT đặc cách công nhận giống cây trồng mới theo
Quyết định 168/QĐ-TT-CLT, ngày 14 tháng 5 năm 2012. Năng suất củ tươi
của KM21-12 cao hơn KM94 từ 10-15% (3-5 tấn/ha) ở hầu hết các điểm
nghiên cứu; trên đất nghèo dinh dưỡng năng suất củ tươi đạt từ 30 tấn/ha đến
37 tấn/ha. Giống sắn KM21-12 có tỷ lệ tinh bột 28% và tỷ lệ chất khô
39,0% tương đương với KM94. Giống có ưu điểm: Thích hợp trên đất kém
màu mỡ, năng suất khá, dùng để chế biến tinh bột và thái lát phơi khô để làm
nguyên liệu cho sản xuất cồn sinh học và thức ăn chăn nuôi.
Tuy vậy, năng suất sắn KM21-12 tại nhiều địa phương ở Việt Nam
cũng như ở tỉnh Thái Nguyên còn thấp. Do người nông dân thường quan
niệm sắn là cây dễ trồng, thích ứng rộng, ít sâu bệnh, chịu đất chua, nghèo
dinh dưỡng và không đòi hỏi kỹ thuật phức tạp nên chưa chú ý đầu tư thâm
canh và chọn phân bón phù hợp. Để phục vụ cho chiến lược phát
triển bền vững ở tỉnh Thái Nguyên, việc nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón
cho giống sắn KM21-12 nhằm nâng cao năng suất, chất lượng của giống sắn
KM21-12 là vấn đề rất cần thiết. Từ nhữnglý do trên tôi tiến hành thực hiện
đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng phát triển
của giống sắn KM 21-12 tại Thái Nguyên ”.


3

1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích của đề tài
Xác định được tổ hợp phân bón cho năng suất, chất lượng và hiệu quả
kinh tế cao đối với giống sắn KM21-12 tại Thái Nguyên .
1.2.2. Yêu cầu của đề tài
- Theo dõi ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng của
giống sắn KM 21-12 trồng tại Thái Nguyên.
- Xác định ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến năng suất, chất
lượng của giống sắn KM 21-12 trồng tại Thái Nguyên.
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế của giống sắn KM 21-12 trồng tại
Thái Nguyên.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Thực tập tốt nghiệp giúp sinh viên củng cố lại kiến thức, kỹ năng và hệ
thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, áp dụng vào thực tế tạo điều kiện cho
sinh viên học hỏi thêm những kiến thức cũng như kinh nghiệm trong sản xuất.
- Giúp sinh viên nắm được phương pháp tổ chức, thực hiện một đề tài
nghiên cứu và viết báo cáo khoa học.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần xác định được tổ hợp phân khoáng thích hợp với giống sắn
KM 21-12 để cho năng suất cao, chất lượng tốt nhất để áp dựng vào sản xuất
đại trà nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của tỉnh Thái Nguyên nói
riêng cũng như các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc.


4

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Sắn hiện là cây nguyên liệu chính để chế biến nhiên liệu sinh học có lợi
thế cạnh tranh cao của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trước
đây sắn chủ yếu để làm lương thực cho người, làm thức ăn chăn nuôi, thủy
sản nhưng ngày nay có đến 70% sắn ở châu Á được dùng làm nguyên liệu sản
xuất ethanol. Trong tình trạng dầu mỏ và những năng lượng hóa thạch khác
ngày một cạn kiệt, khan hiếm thì loài người càng kỳ vọng vào biodiezen và
cây sắn được lựa chọn số 1. Biodiezen có thể được chế biến từ lúa, ngô, mía
nhưng từ sắn là rẻ nhất. Cây sắn có hệ thống cố định Cacbon cho phép cây
tiếp tục quang hợp có hiệu quả trong thời gian thiếu nước kéo dài (Trịnh Xuân
Ngọ và cs, 2004)[9]. Vì vậy, sắn hiện nay đang được sử dụng như một nguyên
liệu phù hợp để sản xuất ethanol trên toàn châu Á, châu Phi và Mỹ Latin.
Nhiên liệu sinh học hiện có tầm quan trọng trong cuộc sống hiện đại kể từ khi
giá nhiên liệu hóa thạch đã bắt đầu tăng vọt do các vấn đề chính trị và cũng là
mối quan tâm ngày càng tăng trên tất cả các vấn đề về ô nhiễm môi trường.
Tuy nhiên, đến nay người nông dân vẫn quan niệm cây sắn là cây dễ
trồng nên không bón phân hoặc nếu có bón phân thì không đầy đủ và mất cân
đối, dẫn đến năng suất không cao. Nguyên nhân chính là do sắn trồng trên đất
dốc không hoặc rất ít áp dụng các biện pháp chống xói mòn bảo về đất. Với
đặc điểm canh tác nhiều năm liền, cộng với đặc thù là cây sắn thường được
trồng trên đồi độ phì nhiêu thấp, hàng năm bị rửa trôi nên việc trồng sắn hiện
nay đang đối diện với thách thức về sự suy thoái dinh dưỡng đất trồng (Hy
Nguyen Huu và cs, 2010) [21].


5

Việc bón phân đầu tư cho cây sắn ban đầu cũng như sự hoàn trả lại đất
chất hữu cơ từ thân lá chưa bù đắp được lượng dinh dưỡng mất đi hàng năm.
Bên cạnh đó giống sắn địa phương năng suất thấp và đã bị thoái hoá. Kỹ thuật
sản xuất chưa hợp lý, các khâu làm đất, mật độ trồng, bảo quản hom giống,
lựa chọn hom khi trồng cũng như chăm sóc sắn còn rất tuỳ tiện.
Thực tế này cho thấy việc cải tiến giống sắn kết hợp với áp dụng các
biện pháp kỹ thuật trong sản xuất đã nâng cao thu nhập cho nông dân (Dung
Tran Thi and Sam Nguyen Thi, 2002)[17].
2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam
2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới
Trên thế giới sắn được trồng phổ biến ở ba châu lục là châu Phi (66%),
châu Mỹ (14%) và châu Á (20%). Trong hơn thập kỷ qua diện tích, năng suất,
sản lượng sắn tăng dần qua các năm. Tình hình sản xuất sắn 5 năm gần đây
được trình bày ở bảng 2.1.
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất sắn trên thế giới, giai đoạn 2012 - 2016
Diện tích

Năng suất

Sản lượng

( triệu ha)

( tấn/ha)

(triệu tấn)

2012

23,27

11,24

261,44

2013

23,67

11,05

261,51

2014

23,21

11,82

274,33

2015

23,46

11,79

276,61

2016

23,48

11,80

277,10

Năm

(Nguồn: FAOSTAT, 3/2018) [27]
Số liệu bảng 2.1 cho thấy diện tích trồng sắn trên thế giới trong 5 năm
gần đây tăng giảm không đáng kể, từ 23,21 triệu ha (2014) lên 23,48 triệu ha
(2016). Năng suất sắn tăng chậm từ 11,05 tấn/ha (năm 2013) đến 11,82 tấn/ha
(năm 2014), sau đó lại giảm xuống 11,80 tấn/ha. Tuy nhiên do diện tích và
năng suất đều tăng nên sản lượng sắn trên thế giới tăng dần qua các năm tư
261,44 triệu tấn (năm 2012) lên 277,1 triệu tấn (năm 2016).Có được kết quả


6

đó là do chiến lược phát triển lương thực toàn cầu đã thực sự coi trọng giá trị
của cây sắn. Mặt khác, sắn lại là cây lương thực dễ trồng, thích hợp với nhiều
điều kiện kinh tế đặc biệt là có thể sinh trưởng và cho năng suất cao ở những
nơi đất nghèo dinh dưỡng, là cây trồng nông nghiệp có khả năng cạnh tranh
với nhiều cây công nghiệp khác.
Theo nghiên cứu thị trường sắn toàn cầu của Tổ chức Lương thực và
Nông nghiệp Quốc tế (FAO) và Viện Nghiên cứu Chính sách lương thực thế
giới (IFPRI), với tầm nhìn đến năm 2020 thì đến năm 2020 sản lượng sắn
toàn cầu ước đạt 275,10 triệu tấn, trong đó sản xuất sắn chủ yếu ở các nước
đang phát triển là 274,7 triệu tấn, các nước phát triển khoảng 0,40 triệu tấn.
Mức tiêu thụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt 254,60 triệu tấn so với
các nước đã phát triển là 20,5 triệu tấn. Khối lượng sản phẩm sắn toàn cầu sử
dụng làm lương thực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176,3 triệu tấn và thức ăn
gia súc 53,4 triệu tấn. Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm
sắn làm lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1,98 % và 0,95 %.
Trên thế giới sắn được trồng ở tất cả các châu lục, tuy nhiên do điều
kiện khí hậu, đất đai và trình độ thâm canh mỗi vùng khác nhau nên tình hình
sản xuất sắn các khu vực có sự khác biệt. Tình hình sản xuất sắn các châu lục
trên thế giới được trình bày ở bảng 2.2
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất sắn ở một số châu lục năm 2016
Diện tích

Năng suất

Sản lượng

(ha)

(tấn/ha)

(tấn)

Châu Phi

17.006.222

9,25

157.271.697

Châu Á

4.182.958

21,34

89.269.132

Châu Mỹ

2.267.294

13,37

30.311.826

Châu Đại Dương

25.579

9,77

249.909

Thế giới

23.482.052

11,8

277.102.564

Châu lục

(Nguồn: FAOSTAT, 3/2018) [27]


7

Số liệu bảng 2.2 cho thấy châu Phi là châu lục có diện tích trồng sắn
lớn nhất thế giới (năm 2016: 17.006.222 ha). Tuy nhiên do năng suất sắn
vùng này thấp (năm 2016: 9,25 tấn/ha) nên sản lượng sắn châu Phi chỉ đạt
157.271.697 tấn, chiếm 56,76% sản lượng sắn toàn thế giới. Dự báo sản
lượng năm 2020 sẽ đạt 168,6 triệu tấn. Trong đó, khối lượng sản phẩm sử
dụng làm lương thực thực phẩm là 77,2 %, làm thức ăn gia súc là 4,4 %.
Châu Á là nơi có diện tích trồng sắn đứng thứ 2 thế giới, năm 2016 là
4.182.958 ha. Song do năng suất sắn châu lục này cao (năm 2016: 21,34
tấn/ha. Do vậy sản lượng sắn châu Á năm 2016 đạt 89.269.132 triệu tấn,
chiếm 32,22% sản lượng sắn toàn thế giới. Cây sắn tiếp tục giữ vai trò quan
trọng trong nhiều nước châu Á, đặc biệt là các nước vùng Đông Nam Á nơi
cây sắn có tổng diện tích đứng thứ ba sau lúa và ngô và tổng sản lượng đứng
thứ ba sau lúa và mía. Chiều hướng sản xuất sắn phụ thuộc vào khả năng cạnh
tranh cây trồng. Giải pháp chính là tăng năng suất sắn bằng áp dụng giống
mới và các biện pháp kỹ thuật tiến bộ (Hoàng Kim, 2013)[8].
Đứng thứ 3 trên thế giới về diện tích và sản lượng sắn là châu Mỹ, năm
2016 diện tích trồng sắn châu lục này là 2.267.294 ha, với năng suất đạt 13,37
tấn/ha và sản lượng đạt 30.311.826 triệu tấn.
Châu Đại Dương là châu lục có diện tích trồng sắn ít nhất (25.579 ha),
với năng suất sắn là 9,77 tấn/ha. Do vậy sản lượng sắn châu lục này đạt thấp
nhất thế giới (năm 2016 là 249.909 triệu tấn).
2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam
Tại Việt Nam cây sắn được coi là cây trồng chính cung cấp nguồn
nhiên liệu cho sản suất năng lượng sinh học. Bộ Công thương đã hoàn thiện
việc quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu cho năng lượng sinh học(Bùi
Bá Bổng, 2012) [1]. Khi chương trình NLSH của Nhà nước vận hành, các nhà
máy sản xuất ethanol sẽ tiêu thụ một khối lượng sắn rất lớn. Năm 2012, sản


8

xuất ethanol đã tiêu thụ 16% sản lượng sắn, năm 2015 chiếm 35%, dự kiến
năm 2020 chiếm 41%, đến năm 2025 chiếm 48%. Các tính toán này dựa vào
dự báo nhu cầu xăng tăng 8,5%/năm; năm 2012 áp dụng E5, năm 2015 áp
dụng E10; sản lượng sắn tăng 5%/năm. Sự hình thành và phát triển của ngành
công nghiệp NLSH làm thay đổi kết cấu thị trường sắn Việt Nam theo hướng
có lợi cho nông nghiệp và nông thôn(Issaka N. R và cs, 2007) [22]. Diễn biến
về diện tích, năng suất và sản lượng sắn Việt Nam 5 năm gần đây được thể
hiện ở bảng 1.3
Số liệu bảng 2.3 cho thấy sản xuất của Việt Nam tăng dần trong 5 năm
gần đây, năm 2012 diện tích trồng sắn cả nước là 511.771 ha, đến năm 2016
đạt 579.898 ha. Năng suất tăng từ 17,64 tấn/ha (năm 2012) tăng dần qua các
năm và đạt 19,05 tấn/ha (năm 2016). Do diện tích và năng suất tăng nên sản
lượng sắn tăng dần trong 5 năm gần đây, từ 9.735.723 tấn (năm 2012) và đạt
cao nhất năm 2016 (11.045.184 tấn).
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất sắn của Việt Nam giai đoạn 2012 - 2016
Diện tích

Năng suất

Sản lượng

(ha)

(tấn/ha)

(tấn)

2012

551.771

17,64

9.735.723

2013

554.107

17,93

9.757.681

2014

552.760

18,47

10.209.882

2015

567.988

18,91

10.740.000

2016

579.898

19,05

11.045.184

Năm

(Nguồn:FAOSTAT, 3/2018) [27]
Về tình hình chế biến và tiêu thụ sắn, theo số liệu của Hiệp hội sắn Việt
Nam, cả nước có 100 nhà máy sản xuất tinh bột sắn quy mô công nghiệp,


9

trong đó có 7 nhà máy chế biến cồn từ tinh bột sắn. So với 5 năm trước đây,
con số này tăng gấp đôi về số lượng nhà máy và gấp 3 lần về công suất.
Sắn lát và tinh bột sắn là hai mặt hàng có lợi thế cạnh tranh cao và triển
vọng trên thị trường sắn. Sự kết hợp giữa phát triển sản xuất và chế biến sắn
làm tinh bột, thức ăn gia súc và làm cồn sinh học đã tạo ra nhiều việc làm,
tăng xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài và góp phần vào công nghiệp hóa,
hiện đại hóa một số khu vực nông thôn.
Ở Việt Nam, 70% sản lượng sắn và tinh bột được xuất khẩu, 30% tiêu
thụ nội địa. Trung Quốc vẫn là nhà nhập khẩu sắn lớn nhất của Việt Nam và
chiếm 90% thu nhập xuất khẩu của ngành công nghiệp trong đó sử dụng để
sản xuất ethanol. Hàn Quốc và Đài Loan là nước đứng thứ hai và thứ ba trong
tốp các nhà nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam.
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, 2015 [14], năm 2010 Việt Nam
xuất khẩu được 1,677 nghìn tấn sắn và các sản phẩm sắn, thu về 556 triệu đô
la Mỹ. Trong cơ cấu các sản phẩm sắn xuất khẩu của Việt Nam năm 2010,
sắn lát chiếm khoảng 56,8%, tinh bột sắn 42,9%. Diễn biến xuất khẩu sắn đang
theo hướng tăng tỷ trọng sản phẩm tinh, giảm tỷ trọng sản phẩm thô là tín hiệu
tốt trong bối cảnh nhiều ngành sản xuất trong nước có liên quan đến sắn như
thức ăn chăn nuôi, ethanol đang cần nguyên liệu và giá tinh bột sắn đang có xu
hướng tăng mạnh trên thị trường thế giới. Trung Quốc là thị trường lớn nhất
cho các sản phẩm sắn Việt Nam xuất khẩu năm 2010 chiếm 94,8 % tổng kim
ngạch xuất khẩu sắn lát (tương đương 196,5 triệu đô la Mỹ) và 90 % tổng kim
ngạch xuất khẩu tinh bột sắn (tương đương 315,4 triệu đô la Mỹ)(Hệ thống Cây
Lương thực Việt Nam, 2011a) [3]. Năm 2011 xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn
của Việt Nam đạt 2,68 triệu tấn và thu về 960,2 triệu USD(Fococev Foodstuffs
& Invesment Co, 2012) [18]. Tính đến hết năm 2012, xuất khẩu nhóm hàng
này của cả nước đạt 4,23 triệu tấn, tăng 57,7% và trị giá là 1,35 tỷ USD, tăng


10

40,8 %. Trung Quốc tiếp tục là thị trường chính nhập khẩu sắn và sản phẩm sắn
Việt Nam với lượng đạt 3,76 triệu tấn, tăng 54,4 % so với năm trước và chiếm
88,9 % tổng lượng xuất khẩu nhóm hàng này.
Hiện nay cây sắn được trồng ở tất cả 7 vùng sinh thái trên cả nước, tuy
nhiên diện tích tập trung nhiều nhất tại các tỉnh vùng Bắc Trung bộ, Duyên
hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên và Đông Nam bộ. Song do điều kiện địa
hình, đất đai và trình độ thâm canh mỗi vùng miền có nhiều khác biệt nên
năng suất sắn các vùng miền còn nhiều chênh lệch. Tình hình sản xuất sắn các
vùng miền trong cả nước được trình bày ở bảng 2.4
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của các vùng
trong cả nước năm 2016

Vùng
Cả nước

DT

NS

(nghìn ha) (tấn/ha)

SL
(nghìn
tấn)

569,9

19,18

10.931,8

1,6

19,88

31,8

Trung du và miền núi phía Bắc

114,6

12,87

1.474,9

Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung

174,5

18,61

3.247,4

Tây Nguyên

155,4

17,83

2.771,2

Đông Nam Bộ

187,8

16,54

3.106

3,8

23,92

90,9

Đồng bằng sông Hồng

Đồng Bằng sông Cửu Long

(Nguồn: MARD, sơ bộ 4/2018)[28]
Qua bảng 2.4 cho ta thấy: trong 7 vùng sinh thái nông nghiệp đều trồng sắn.
Trong đó vùng Đông Nam Bộ có diện tích sắn lớn nhất (187,8 nghìn ha), đứng
thứ 2 là vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miềnTrung diện tích là 174,5 nghìn ha
kế đến là vùng Tây Nguyên có diện tích là 155,4 nghìn ha.


11

Về năng suất, vùng Đồng Bằng sông Cửu Long có năng suất cao nhất
(239,2 tạ/ha), đứng thứ hai là vùng Đồng Bằng sông Hồng (198,8 tạ/ha), tiếp
theo là vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (18,61 tạ/ha). Các tỉnh
miền núi phía bắc còn gặp nhiều khó khăn, điều kiện canh tác còn lạc hậu nên
năng suất sắn thấp nhất (12,87 tạ/ha). Do vùng này sắn được trồng chủ yếu ở khu
vực có địa hình đồi núi và khoảng 68% diện tích trồng sắn là đất đá và 12% có
đất cát pha tương ứng. Trong khi đó sắn ở miền Nam, Việt Nam được trồng chủ
yếu trên đất cát màu xám, các loại đất này phẳng và nghèo chất dinh dưỡng, các
khu vực ven biển miền Trung và Đông Nam, chiếm khoảng 60% diện tích sắn
toàn miền Nam.
2.3. Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho sắn trên thế giới và Việt Nam
2.3.1. Kết quả nghiên cứu về phân bón cho sắn trên thế giới
Vấn đề nhu cầu dinh dưỡng khoáng của sắn đã được nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm. Howeler đã tổng kết kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả khác
nhau và chỉ ra rằng: Sắn có nhu cầu cao về dinh dưỡng khoáng, cao nhất là K,
kế đến là N, Ca, sau đó là P (Howeler R. H, 1993)[19]. Tại Thái Lan, giai
đoạn 1986-1995 năng suất sắn chỉ đạt 13-15 tấn/ha nhưng khi người dân bắt
đầu sử dụng phân bón hóa học thì năng suất bắt đầu tăng lên và đạt 22,67
tấn/ha vào năm 2009 (Howeler R. H, 2007)[20].
Tuỳ theo điều kiện đất đai, giống, thời gian thu hoạch mà trung bình
một tấn sắn củ tươi thu hoạch sẽ lấy đi của đất: 4,1 kg K; 2,3 kg N; 0,6 kg Ca;
0,5 kg P và 0,3 kg Mg. Nếu sản lượng sắn thu hoạch giả định là 25 tấn củ tươi
/ha và toàn bộ thân lá đều trả lại cho đất thì mỗi vụ thu hoạch củ sẽ lấy đi 120
kg K; 57 kg N; 15 kg Ca; 12 kg P và 7 kg Mg. Trong trường hợp thu hoạch cả
củ, thân lá mà không để lại trong đất một thứ gì, thì sắn lấy đi: 145 kg K; 122
kg N; 45 kg Ca; 27 kg P và 20 kg Mg. Điều này chỉ ra rằng: K, N là hai
nguyên tố sắn lấy đi nhiều nhất trong đất (Howeler R. H, 1993)[19].


12

Cây sắn hấp thu một lượng N rất lớn từ đất, nên bón đạm làm tăng số lá
trên thân, số đốt, số rễ củ và năng suất củ. Tuy nhiên, theo các tác giả khác thì
bón đạm làm giảm tỷ lệ tinh bột chứa trong củ. Ở các thí nghiệm dài hạn và
ngắn hạn cho thấy sắn phản ứng với đạm rất mạnh, nhất là ở các loại đất
nghèo dinh dưỡng. Phản ứng của sắn đối với các liều lượng đạm khác nhau đã
thể hiện rõ ngay từ năm đầu thí nghiệm. Ngoài ra có mối quan hệ khá rõ giữa
lượng đạm bón vào đất và hàm lượng N chứa trong thân lá sắn, hàm lượng N
trong thân lá tăng khi bón đạm tăng (Howeler R. H, 1993)[19].
Kali là nguyên tố được cây sắn hấp thụ nhiều nhất, nếu cung cấp đủ kali
không những làm tăng năng suất mà còn tăng hàm lương tinh bột của củ.
Theo tác giả Aiyer và cộng sự (1995) triệu chứng thiếu hụt K2O được đặc
trưng bởi sự giảm tốc độ sinh trưởng của cây sắn sẽ dễ dàng nhận thấy triệu
chứng thiếu K2O xuất hiện ở phiến lá và cuống lá già, thiếu K2O dẫn đến
những lá này bị rụng sớm. Khi cung cấp quá nhiều K sẽ làm giảm sự hấp thu
Mg và Ca. Theo các kết quả nghiên cứu khác tại Colombia, bón K2O làm tăng
năng suất sắn từ 23,0 lên 43,7 tấn/ha và có sự tương quan thuận giữa năng
suất và hàm lượng K2O chứa trong lá (Agyenim Boateng S., Boadi S,
2010)[16].
Kết quả thí nghiệm ở Ghana cho thấy việc bón phân kali là cần thiết
cho sắn để đảm bảo cho năng suất cao hơn. Sắn có phản ứng cao với kali như
nhau kể cả KCl và K2SO4. Không bón Kali dường như phân đạm và lân
không phát huy tác dụng đối với sắn, điều này cho thấy kali là nhân tố dinh
dưỡng rất quan trọng đối với cây sắn. Mức bón kali thấp nhất 30 kg/ha trong
tổ hợp với đạm và lân (60-60-30 kg NPK/ha) cũng đã cho thấy sự phản ứng rõ
rệt của sắn đối với loại phân này được trồng trên đất nghèo dinh dưỡng(Jean
Mianikpo Sogbedji và cs 2015) [23].


13

Nghiên cứu đánh giá phản ứng của sắn với 3 mức hàm lượng kali khác
nhau trồng trên đất đỏ giàu kim loại ở Tây Phi cho thấy mức bón 50 kg
K2O/ha kết hợp 60 kg N/ha và 60kg K2O/ha cho sắn được khuyến cáo áp
dụng góp phần nâng cao canh tác sắn bền vững trên đất đỏ hàm lượng kim
loại cao vốn dĩ đã bị thoái hóa(Agyenim Boateng S., Boadi S, 2010) [16].
Adjei và Nsiah (2009) [15] đã đánh giá 5 giống sắn về năng suất, sự
tích lũy N và ảnh hưởng của chúng lên đặc tính hóa học của đất. Hàm lượng P
trong đất đã tăng lên mạnh mẽ sau 14 tháng canh tác trong khi C hữu cơ, N và
hàm lượng K trao đổi giảm theo thời gian. Năng suất củ tươi dao động từ 17 35,9 tấn/ha, trong khi tổng lượng chất khô cũng dao động từ 18 đến 25 tấn/ha.
Tổng lượng N tích lũy trong tổng sinh khối cây dao động từ 228 - 288 kg
N/ha. Tổng lượng N hấp thu từ đất suốt thời kỳ thu hoạch cây dao động từ 59
- 123 kg N/ha, trong khi tổng lượng N hấp thu bồi đắp lại cho đất thông qua
các phế phẩm thân lá dao động từ 127 - 189 kg N/ha. Nghiên cứu cho thấy
rằng các giống sắn với năng suất chất khô củ cao có tiềm năng lấy đi khối
lượng lớn các dinh dưỡng từ đất trong khi các giống với phế phẩm thân lá cao
sẽ trao trả một lượng lớn dinh dưỡng hấp thu của cây.
Ảnh hưởng của áp dụng giảm mức tổ hợp phân bón khoáng NPK và
phân hữu cơ gia cầm đến dinh dưỡng đất và cây, sự sinh trưởng và năng suất
của sắn cũng được nghiên cứu tại Tây Nam Nigeria. Kết quả cho thấy các
công thức thí nghiệm đều làm tăng rõ rệt vật chất hữu cơ, N, P, K, Ca and Mg
trong đất. Bón kết hợp 2,5 tấn phân hữu cơ gia cầm và 450 kg NPK cho 1 ha
tạo các yếu tố dinh dưỡng trong đất có hàm lượng cao nhất. Sử dụng chỉ riêng
phân hữu cơ gia cầm hoặc kết hợp với phân khoáng làm tăng độ pH của đất
và, ngược lại chỉ bón riêng phân khoáng làm giảm độ pH của đất và công thức
được áp dụng là 2,5 tấn phân hữu cơ gia cầm + 450 kg phân NPK.


14

Một thí nghiệm khác tại Ghana cũng khẳng định liều lượng phân
khoáng bón cho sắn ở mức 60-60-60 kg N-P2O5-K2O/ha là tối ưu nhất
(Odedina N,2011)[24].Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của bón tro của quả
cây Cọ Dầu (OBA) với lượng 2,5 tấn/ha kết hợp phân NPK (15:15:15/ha) đến
số lượng, kích thước củ, năng suất củ khô, hàm lượng đạm, lân, kali trong lá
của sắn đắng được thực hiện tại phía Đông Nam của Nigiêria áp dụng bón sau
khi trồng 3, 6, 9 và 12 tháng đều làm tăng chiều dài, đường kính, số lượng và
năng suất củ, cũng như hàm lượng N, P và K trong lá.
Sự hấp thu và phân bố dinh dưỡng của cây sắn sự tích luỹ chất khô
chậm ở 02 tháng đầu, sau đó tăng lên và giữ ở mức trung bình trong suốt quá
trình sinh trưởng rồi giảm xuống ở tháng thứ 12 đến tháng thứ 14. Khi thu
hoạch khoảng 2/3 lượng vật chất khô được tích luỹ tập trung ở củ còn lại ở
thân lá. Tích luỹ chất khô ở thân lá tăng trong 3 - 4 tháng đầu, sau đó được
duy trì hoặc giảm khi hình thành lá mới và lá già rụng. Phần lớn lượng N
được trả lại cho đất hoặc tích luỹ ở bộ phận non. P và K được cây hấp thu hầu
như không đổi trong suốt chu kỳ sinh trưởng. Chúng được tích luỹ ở củ là chủ
yếu, chỉ một tỷ lệ nhỏ tích luỹ ở thân lá non. Vì vậy, nó sẽ được trả lại cho đất
khi lá rụng. Ca và Mg tích luỹ ở thân lá là chủ yếu. Canxi cũng được tích luỹ
ở lá già. Do đó, có tới 55% tổng lượng canxi hấp thu trong quá trình sinh
trưởng được trả lại cho đất khi lá già rụng xuống đất.
Khi so sánh ảnh hưởng của các loại phân chuồng đến sinh trưởng, năng
suất và dinh dưỡng cho cây sắn ở phía Tây Nam Nigeria. Trong các loại phân
chuồng được sử dụng (phân gia cầm, phân bò, phân dê và phân lợn), hàm
lượng N, K, Ca và Na cao nhất trong phân gia cầm, lân cao nhất trong phân
lợn, Mg cao nhất trong phân bò, trong khi đó phân dê chứa hàm lượng Na,
Ca, Mg and P thấp hơn cả. Bón một trong các loại phân chuồng hoặc tổ hợp
phân khoáng NPK làm tăng hàm lượng N, Zn và Fe trong lá tăng lên rõ rệt;


15

bón phân dê hoặc tổ hợp phân khoáng nâng cao hàm lượng đạm trong chồi
sắn; bón phân bò, phân gia cầm hoặc tổ hợp phân khoáng làm tăng hàm lượng
kali trong lá; bón phân lợn, phân bò hoặc tổ hợp phân khoáng làm tăng Ca
trong cây và bón phân gia cẩm làm tăng Mg trong lá
Những kết quả nghiên cứu khác tại Ấn Độ, Thái Lan, Inđônêxia,
Philippin và Trung Quốc cho thấy bón cân đối N, P, K có thể làm tăng năng
suất sắn lên 48% so với không bón phân. Cũng theo các kết quả nghiên cứu
tại các quốc gia này thì mức bón N, P, K dao động trong khoảng: (100kgN +
50kg P2O5+ 100kgK2O)/ha; (60kgN + 120kg P2O5+ 120kgK2O)/ha; (80kgN +
40kg P2O5+ 80kgK2O)/ha. Nghĩa là bón tỷ lệ N:P:K là 2:1:2 và 2:2:4 đều cho
năng suất và tỷ lệ tinh bột cao, đồng thời có thể duy trì được bộ phì của.
Những công trình nghiên cứu của tiến sỹ Lian thực hiện trên đất than bùn ở
Malaysia cho thấy công thức bón N:P:K thích hợp cho sắn là 150-250kg N +
30kg P2O5 + 80-160kg K2O/ha (Weite Z.,cs )[26].
2.3.2. Kết quả nghiên cứu về phân bón cho sắn ở Việt Nam
Hàng năm cây sắn đã lấy đi một lượng dinh dưỡng khá lớn so với các
cây trồng khác; mặt khác sắn trồng với mật độ thưa, diện tích che phủ thấp đã
làm tăng quá trình rửa trôi, xói mòn đất, dẫn đến sự cạn kiệt và mất cân đối
nguồn dinh dưỡng của cây, do vậy cần phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật
bón phân để duy trì sản xuất sắn bền vững (Nguyễn Viết Hưng ,2012) [5].
Bón phân hữu cơ cho cây trồng là phương pháp rất quan trọng để tăng
lượng mùn cho đất trồng, có vai trò và ý nghĩa rất lớn trong việc cải tạo thành
phần cơ giới của đất, đối với các loại đất dốc, bị rửa trôi do mưa lớn hàng
năm. Ngoài ra phân hữu cơ còn bổ sung tương đối đầy đủ và cân đối dinh
dưỡng cho cây gồm cả các nguyên tố đa lượng (NPK), trung lượng, vi lượng
và siêu vi lượng. Phân hữu cơ còn có tác dụng chuyển lân từ dạng khó tiêu


16

thành dạng dễ tiêu cho cây trồng(Nguyễn Văn Cương và Phạm Xuân Hào,
1998) [3],(Đặng Văn Minh, 2013)[11].
Ở miền Nam Việt Nam, hầu hết sắn được trồng trên đất cát ở vùng
duyên hải miền Trung và vùng Đông Nam Bộ, trong khi đó chiếm ưu thế ở
Gia Lai - Kon Turn và Đắc Lắc. Các vùng trồng sắn ở các tỉnh Tây Nguyên
có địa hình tương tự nhau. Vùng duyên hải miền Trung và vùng Đông Nam
Bộ, sắn được trồng chủ yếu trên đất xám bạc màu, một số ít đất đỏ bazan hoặc
đất cát ven biển. Các khu vực bằng phẳng, đất nghèo chất dinh dưỡng và
không thích hợp cho canh tác lúa. Diện tích sắn trồng trong loại đất nói trên
chiếm hơn 70 % tổng diện tích sắn của miền Nam. Ở đồng bằng sông Cửu
Long, sắn không phải là cây trồng chính. Tuy nhiên, cây sắn phát triển tốt trên
đất phèn ở đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện nitơ cao (N), kali (K) và
chất hữu cơ (OM) trung bình. Sắn không bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi độc
tính nhôm (A1) khi được trồng ở đất này. Với những khác biệt đáng kể của
tính chất đất trồng sắn, các nghiên cứu ở miền Bắc nên tập trung vào vấn đề
xói mòn và nâng cao độ phì của đất, trong khi nghiên cứu về phía Nam cần
cải tạo đất trồng sắn và bảo tồn bằng cách sử dụng các hệ thống xen canh là
ưu tiên cao nhất (Nguyễn Văn Bộ và cs, 2013) [2].
Sau một vụ trồng, để đạt năng suất 15 tấn sắn củ tươi và 15 đến 18 tấn
thân lá, cây sắn lấy đi lượng dinh dưỡng trung bình là 160kg đạm urê; 94kg
supe lân; 155kg kali clorua (Nguyễn Viết Hưng, 2012)[5]. Vì thế để duy trì
năng suất sắn nhất thiết phải bón phân đầy đủ và cân đối. Nhất là hiện nay các
giống sắn mới có tiềm năng năng suất cao lại càng cần phải tăng cường. Các
nghiên cứu về phân bón NPK cho sắn lâu năm tại trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên và tại Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Hưng Lộc cho thấy ở
công thức không bón kali và có bón đạm năng suất sắn thậm chí thấp hơn
công thức không bón phân. Lượng phân khoáng bón cho đất trồng sắn tại Đắc


17

Lắc (đất phiến thạch sét và đất bazan nâu đỏ) là 70kg N +50kg P2O5 +100kg
K2O/ha năng suất sắn tăng và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
Trên đất đỏ và đất xám ở miền Đông Nam Bộ, sắn phản ứng mạnh với
các mức bón phân NPK đặc biệt là đối với N, K. Công thức bón phân NPK
thích hợp cho sắn đạt năng suất củ và hiệu quả kinh tế cao trên đất đỏ và đất
xám ở Đông Nam Bộ là 80kg N + 40kg P2O5 + 80kg K2O/ha và 160kg N +
80kg P2O5 + 160kg K2O/ha với tỷ lệ bón kết hợp giữa N; P; K là 2: 1: 2
(Nguyễn Hữu Hỷ (2002), [7].
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Viết Hưng (2005)[5] cho thấy những nơi
có tổng lượng mưa trong năm thấp thì nên chọn đất có tỷ lệ sét cao để trồng sắn,
ngược lại ở nơi có lượng mưa trong năm cao thì nên chọn đất có tỷ lệ sét thấp
(Nguyễn Viết Hưng và cs , 2005)[4].
Kết quả nghiên cứu của (Nguyễn Hữu Hỷ và cộng sự, 2000) [6] trên đất
đỏ và đất xám Đông Nam Bộ, công thức bón phân khoáng thích hợp cho sắn
là 80kg N + 40kg P2O5 +80kg K2O/1ha.
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đối với giống sắn
KM94 tại huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai cho thấy mức phân bón thích hợp nhất là
10 tấn phân hữu cơ + 80kg N + 60kg P2O5+ 80kg K2O để đạt năng suất củ tươi
33,8 tấn/ha (Nguyễn Hữu Hỷ (2002) [7]. Cũng với giống sắn KM94 nhưng khi
được trồng trên đất cát trắng ven biển của huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
thì lượng kali và lân bón càng cao thì khả năng sinh trưởng và cho năng suất
càng cao tuy nhiên để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất nên duy trì mức bón 80kg
P2O5 + 100kg K2O/ha Issaka N. R[22],(Lê Văn Luận và Trần Văn Minh,
2009), [10].
Trồng sắn trên vùng đất cát và đất đồi của 3 tỉnh Ninh Thuận, Bình
Thuận, Quảng Ngãi có công thức phân bón thích hợp là (40kg N + 40kg P2O5
+ 60kg K2O + 6 tấn phân chuồng/ha) năng suất 28,69 tấn/ha và 28,50 tấn/ha.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×